1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty hewlett packard việt nam

92 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 569,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháttriển dịch vụ thương mại là một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu đó.Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin không những là một lợi thế cạnh tranhcủa các công ty kinh doanh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -ĐỖ HOÀNG LAN

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD

VIỆT NAM

LUÂṆ VĂN THACC̣ SỸQUẢN TRI C̣KINH DOANH

Hà Nội – Năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -ĐỖ HOÀNG LAN

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD

VIỆT NAM

Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh

Mã số: 60 34 05

Tóm Tắt luâṇ văn thacC̣ sy ̃Quản tri Kinḥ doanh

Người hướng dâñ kho a hocc̣: TS Trần Văn Bão

Hà Nội – 2010

2

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MUCc̣ VIẾ

T TẮ

T i

DANH MUCc̣ BẢNG ii

DANH MUCc̣ HÌNH VE iii

DANH MỤC CÁC HỘP iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 5

1.1 Dịch vụ máy tính cá nhân và sự cần thiết phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 5

1.1.1 Máy tính cá nhân và ứng dụng của máy tính cá nhân 5

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ máy tính cá nhân 7

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin 10

1.2 Nội dung phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin 11

1.2.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới 11

1.2.2 Các quan điểm phát triển dịch vụ mới 17

1.2.3 Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động sáng tạo trong phát triển dịch vụ mới. 17

1.2.4 Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới 19

1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 20

1.3.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 20

1.3.2 Nhân tố nội tại doanh nghiệp 24

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH

CÁ NHÂN CỦA CÔNG TY HEWLETT PACKARD VIỆT NAM 28

2.1 Khái quát về công ty Hewlett-Packard Việt Nam 28

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 28

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh 32

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 37

2.2 Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 38

2.2.1 Quy trình phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 38

2.2.2 Kết quả phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 56

2.2.3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 63

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD VIỆT NAM 69

3.1 Dự báo thị trường dịch vụ máy tính cá nhân tại Việt Nam và chiến lược kinh doanh của HP Việt Nam 69

3.1.1 Dự báo thị trường dịch vụ công nghệ thông tin 69

3.1.2 Chiến lược kinh doanh của HP Việt Nam 71

3.2 Những đề xuất và kiến nghị cơ bản nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 76

3.2.1 Những đề xuất với HP 76

3.2.2 Những kiến nghi c̣với nhànước 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

2

Trang 5

R&D

PC

VNPT

Trang 6

Số Hiệu Bảng

Bảng 1.1 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4

4

Trang 7

DANH MUCC̣ CÁC HÌNH VE

Số Hiệu Hình

chiến lược, chương trình marketing

Hình 2.3 Kênh phân phối của HP Việt Nam đối với khách hàng dự án

Trang 8

Số Hiệu Hộp

Hộp 1.1 Hộp 2.1 Hộp 2.2

6

Trang 9

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Dịch vụ là một phương thức cạnh tranh hữu hiệu và có xu hướng ngàycàng phát triển nhanh, mạnh ở tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.Dịch vụ là yếu tố “phần mềm” của sản phẩm hoàn thiện – Sản phẩm theo quanđiểm của người tiêu dùng, thỏa mãn tối đa chuỗi nhu cầu của người tiêu dùng.Dịch vụ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng kinh doanh, chất lượng phục

vụ khách hàng Vì thế, dịch vụ đóng góp vào việc hình thành văn hóa kinhdoanh, tạo nên thương hiệu, khẳng định uy tín và vị thế của doanh nghiệp.Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi nói đến kinh doanh, không thể khôngnói đến cạnh tranh và không thể không chú trọng đến công cụ cạnh tranh Pháttriển dịch vụ thương mại là một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu đó.Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin không những là một lợi thế cạnh tranhcủa các công ty kinh doanh máy tính mà còn là nhu cầu cấp thiết của ngườitiêu dùng hiện nay

Công ty TNHH Hewlett Packard Việt Nam (HP Việt Nam) được thành lậpvào ngày 29 tháng 12 năm 1995 chuyên kinh doanh sản phẩm và dịch vụ côngnghệ thông tin Trong hơn 12 năm qua, công ty đã đạt được những kết quả kinhdoanh đáng ghi nhận và đã trở thành công ty số một trên thị trường Việt Namtrong lĩnh vực công nghệ thông tin Mặc dù đã đạt được những thành tựu quantrọng bước đầu, nhưng để không ngừng phát triển, nâng cao uy tín hơn nữa,ngoài những nỗ lực về chất lượng sản phẩm công nghệ cao, cải tiến công tácquản lý kinh doanh, công ty cần đẩy mạnh phát triển dịch vụ công nghệ thôngtin nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng Tuy những năm qua, công

ty đã chú ý đến phát triển dịch vụ công nghệ thông tin, song chất lượng, loạihình dịch vụ chủ yếu là dịch vụ phần cứng (sửa chữa, thay thế), còn hạn chếtrong việc cung cấp các dịch vụ tổng thể tích hợp về giải pháp đa chức

Trang 10

năng cho cả phần cứng và phần mềm nên chưa thỏa mãn được nhu cầu ngàycàng cao, đa dạng và phong phú của thị trường công nghệ thông tin Điều nàyđặt ra vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này nhằm đưa ra các giải pháp

để phát huy dịch vụ công nghệ thông tin, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường vànâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett-Packard Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc

sỹ quản trị kinh doanh

Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin liên quan đến phạm vi rất rộng và liênquan đến ba nhóm dịch vụ:

Nhóm máy tính cá nhân

Nhóm in ấn và hình ảnh

Nhóm máy chủ và giải pháp

Tuy vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh này, dịch vụcông nghệ thông tin sẽ chỉ liên quan đến nhóm máy tính cá nhân Máy tính cánhân là thiết bị có sự tích hợp cả dịch vụ phần cứng lẫn phần mềm, do vậy, cóthể đo lường sự phát triển của dịch vụ công nghệ thông tin của HP một cách dễdàng hơn

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tuy lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam đã được hình thành và pháttriển trong 10 năm qua, song lĩnh vực này thực sự được quan tâm và trở thànhmột điều kiện thiết yếu của người sử dụng chỉ mới trong 5 năm trở lại đây, khinhững yêu cầu hiện đại hóa công nghệ thông tin nhằm phục vụ công tác quản

lý Nhà Nước tại các bộ ngành như: Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế, Tổng CụcHải Quan… và đặc biệt khi thị trường chứng khoán bùng nổ, sự ra

đời của hàng loạt các ngân hàng cổ phần; khi bãi bỏ sự độc quyền của Tổngcông ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) hàng loạt các công ty viễnthông trong & ngoài nước ra đời Lĩnh vực công nghệ thông tin và đặc biệt là

8

Trang 11

dịch vụ công nghệ thông tin là một lĩnh vực hoàn toàn mới và non trẻ, do đó chưa có công trình khoa học cũng như luận văn tốt nghiệp thạc sỹ nghiên cứu

ở công ty Hewlett-Packard Việt Nam

3. MỤC ĐÍCH & NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu đề tài này tác giả nhằm mục đích: Đề xuất các giải pháp nhằmphát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam, và

do vậy góp phần phát triển dịch vụ công nghệ thông tin ở Việt Nam

Để thực hiện được mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

- Khảo sát thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

- Đưa ra các đề xuất và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

- Luận văn có đối tượng nghiên cứu chính là phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin, trong đó bao gồm cả phần cứngvà phần mềm

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn ở các dịch vụ máy tính

cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam; Thời gian đánh giá thực trạng

từ năm 2007 đến năm 2009, giải pháp hướng tới năm 2015

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứuchủ yếu như: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương phápquan sát thực tiễn (khảo sát); phương pháp phân tích so sánh, phương phápchuyên gia

Trang 12

6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã có những đóng góp sau đây:

- Hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của các doanh nghiệp công nghệ thông tin

- Đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện và phát triển hoạt độngdịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam và có thể ứngdụng cho các doanh nghiệp cùng điều kiện cũng như góp phần phát triển dịch

vụ máy tính cá nhân ở Việt Nam

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ máy

tính cá nhân của các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công

ty Hewlett-Packard Việt Nam.

Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

10

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Dịch vụ máy tính cá nhân và sự cần thiết phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân

1.1.1 Máy tính cá nhân và ứng dụng của máy tính cá nhân

Với chiếc máy tính cá nhân, những câu chuyện khoa học viễn tưởng đãtrở thành khoa học thực tế

Ra mắt lần đầu cách đây 27 năm, chiếc PC khi ấy rất to, lúc hoạt động kêu

ầm ĩ, chỉ thực hiện được các chức năng soạn thảo văn bản và các phép tính cơbản Nhưng ngày nay, những máy tính sử dụng tại gia đình đã trở thành một cỗ

máy tất cả trong một vô cùng mạnh mẽ, thực hiện chức năng như một nhà hát

kỹ thuật số, phòng chiếu phim, phòng chụp ảnh và máy chơi game điện tử.Đối với các công ty trên khắp thế giới, chiếc PC đã tạo năng suất và hiệuquả cao chưa từng có cho quá trình hoạt động kinh doanh của họ Với một PCnối mạng Internet, ngay cả các công ty nhỏ nhất cũng có thể bán sản phẩm vàcung cấp dịch vụ cho khách hàng trong một khoảng thời gian được tính bằngphút và giờ trên phạm vi toàn cầu Trong vòng hai thập kỷ qua, sự tiến bộkhông ngừng về mặt công nghệ và sự phát triển của Internet đã thay đổi tươnglai của công nghệ điện toán, nếu mỗi chiếc máy PC được ra đời là một lần đổimới về công nghệ

Ngày nay, có khoảng 75% máy tính dành cho môi trường doanh nghiệp,trong khi chỉ 25% cho người dùng là cá nhân hoặc gia đình Theo thống kê vàtính toán của Gartner Dataquest, năm 2008, ngành công nghiệp máy tính đãsản xuất chiếc PC thứ 2 tỷ với cơ hội tăng trưởng lớn nhất tại các thị trườnglớn mới nổi như: Trung Quốc, châu Mỹ Latin và Đông Âu

Trang 14

Trong các thập kỷ tới, chiếc PC và hậu duệ của nó sẽ giúp cho các nềnkinh tế mới nổi phát triển thành nền kinh tế thông tin Tuy nhiên, việc mở rộngthị trường sẽ đòi hỏi PC phải nhỏ hơn và thậm chí rẻ hơn hiện tại, hơn nữa,phải có nhiều chức năng và hoạt động tốt hơn Những động lực này sẽ thúc đẩycải tổ công nghệ nhiều hơn, hứa hẹn đem lại những thay đổi liên tục trongchiếc máy tính cá nhân hiện nay và trước đó.

Tại Mỹ, hiện nay có khoảng 60% số hộ gia đình sử dụng PC Tỷ lệ này tạiTây Âu và châu Á - Thái Bình Dương lần lượt là 49% và 38% Cuối năm

2007, khoảng gần nửa tỷ người trên khắp thế giới đã có thể truy cập Internet tạinhà Năm 2008, các giao dịch thương mại điện tử trên toàn cầu tạo ra thu nhậptrên 615 tỷ USD

Trước đây, chính bộ vi xử lý đã giúp cho các chuyên gia xây dựng nênnhững chiếc máy tính đơn giản, nhưng loại chip đó vẫn đầy đủ chức năng Nềntảng có nhiều ảnh hưởng đầu tiên là CP/M của Digital Research, cung cấp một

hệ điều hành hoàn thiện được xây dựng trên Basic I/O System (BIOS), có thểtùy chỉnh theo thiết kế phần cứng CP/M cho phép một ứng dụng phần mềmchuẩn chạy trên nhiều nền phần cứng khác nhau, và cho phép các nhà pháttriển phần mềm vươn tới những thị trường khổng lồ Tuy nhiên, ngành côngnghiệp này đã phải tiêu hao một khối năng lượng khổng lồ cho việc tạo ra cácnền phần cứng khác nhau, khiến chi phí tương đối cao mà thị trường lại nhỏ.Cống hiến của Intel đối với cuộc cách mạng về máy tính cá nhân bắt đầubằng việc phát minh ra bộ vi xử lý, vốn được coi như bộ não của máy tính cánhân, vào năm 1971 Cơ hội lớn dành cho máy tính cá nhân xuất hiện cùng vớiviệc giới thiệu máy PC của IBM vào năm 1981 Mặc dù chiếc máy của IBMhồi đó rất đắt và có một số lượng nhất định những chi tiết vô dụng, nó đã đưa

ra những chuẩn mực bọc thép cho ngành máy tính cá nhân.

Từ chip Intel 8080 sử dụng cho máy Altair đến bộ xử lý Intel 8088 4,77MHz dành cho phát minh máy tính IBM năm 1981, tới nay, quá trình lịch sửcủa tiến bộ công nghệ đã đưa chúng ta bước vào kỷ nguyên của Intel Pentium

12

Trang 15

4, bộ xử lý nhanh nhất thế giới hiện nay Các máy tính chạy bộ xử lý IntelPentium 4 tốc độ 2,53 GHz tạo tính năng cao hơn cho các ứng dụng phươngtiện kỹ thuật số và các ứng dụng đa nhiệm dành cho người sử dụng Thập kỷvừa qua là một quá trình phát triển vượt bực cho công nghệ chip, từ Pentium 4sang Pentium 4 dual core đến chip core 2 duo và mới nhất hiện nay là core i.Ông Pat Gelsinger, Phó chủ tịch kiêm Giám đốc công nghệ của tập đoànIntel, phát biểu: "Ngày nay, con người phải làm việc với máy tính bằng ngôn ngữmáy tính Sau này, chúng tôi muốn bắt máy tính làm việc với con người bằngngôn ngữ của con người" Viễn cảnh đó bao gồm cả việc phát triển máy tính cánhân có thể nhận diện giọng nói và động tác của con người cũng như hình ảnhvideo, và điều đó có nghĩa là phải đạt được những tiến bộ vượt bậc hỗ trợ cho sựtương tác giữa con người và máy tính, khiến đôi bên thực sự trở nên hòa nhập.Tầm nhìn của Intel về việc hoạch định tương lai ngành công nghiệp máy

tính bao gồm phát triển những phương tiện dễ sử dụng, kích thước nhỏ gọn, hỗ

trợ các mô hình ứng dụng mới và có tính di động Tất cả đều cộng hưởng tíchcực phục vụ cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp tại những thị trường đãtrưởng thành cũng như mới nổi

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ máy tính cá nhân

1.1.2.1 Dịch vụ máy tính cá nhân là một tích hợp phần cứng và phần mềm

Máy tính cá nhân là một sản phẩm dịch vụ gồm có cả hai cấu phần củacông nghệ thông tin: phần cứng và phần mềm Phần cứng và phần mềm phảitương thích thì máy tính cá nhân mới hoạt động được Chỉ có phần cứng màkhông có phần mềm thì máy tính cá nhân chỉ như là một vật vô tri vô giác,ngược lại không có phần cứng mà chỉ có phần mềm thì phần mềm cũng vônghĩa vì không phát huy được tác dụng Đặc điểm này rất quan trọng đối vớingười mua Họ chỉ nhìn thấy phần cứng nhưng lại hiểu rằng phần mềm mớimang lại lợi ích chính cho họ

Trang 16

Nền công nghiệp máy tính cá nhân gần đây có hai hệ thống chất lượngđiều hành phần mềm cạnh tranh Một hệ thống là của Apple Computer, nổitiếng với hệ thống điều hành Macintosh Nó cực kỳ được sử dụng thông dụngvà chạy trên phần mềm chính xác điều đó có nghĩa phần mềm Apple PC sẽkhông chạy trên máy tính khác Bộ nhớ của nó là bộ vi xử lý được cài đặt trongMotorola Trong nhiều năm, hệ thống Macintosh đặc biệt với giá cao.

Các lĩnh vực PC khác (và tất nhiên chất lượng nổi trội hơn) dựa vào hệthống điều hành Microsoft’s Windows Hệ thống điều hành Windows dựa vào

sử dụng bộ hướng dẫn phần mềm thay đổi và biểu tượng để hướng dẫn sử dụngđặc biệt và tổ chức các chức năng PC có hiệu quả Trong nhiều cách, sự lớnmạnh của công nghệ PC trong suốt những năm 1990 có thể được tìm thấy ởphần hệ thống điều hành Window (3.0,3.1), Window95… Trong những năm

2000 Window XP và mới đây nhất là Window7, phiên bản thay thế choWindow Vista đã chiếm được trên 90% người sử dụng lựa chọn bởi tính năng

dễ dàng cài đặt nhiều chương trình đa dạng khác nhau vào máy tính với tốc độnhanh và chất lượng tốt bởi các nhà quản lý cần hiểu sự tác động mạnh mẽ củamôi trường đối với chiến lược và hoạt động của công ty

1.1.2.2 Dịch vụ máy tính cá nhân gắn với nhu cầu sử dụng cá nhân

Ngay tên gọi máy tính cá nhân cũng đã phần nào phản ánh tính cá nhâncủa việc sử dụng máy Vì vậy, máy tính cá nhân thường thể hiện cái tôi củangười sử dụng, chứa đựng những thông tin mà cá nhân đó có được Vì vậy, khiphát triển dịch vụ máy tính cá nhân cần phân loại khách hàng theo các tínhcách tiêu biểu Từ đó cho ra đời các loại máy tính khác nhau: Máy tính doanhnhân, máy tính sinh viên, máy tính thời trang, máy tính văn phòng…

Trong những năm đầu tiên của thập kỷ 80, mặc dù máy tính cá nhân đượcbắt đầu sản xuất và phân phối với số lượng lớn nhưng nó đã trở thành công cụchính ở văn phòng, phòng thí nghiệm, nhà máy, nhà riêng, trong vali và bây giờthậm chí ở trong xe hơi Sự có mặt khắp nơi của máy tính cá nhân ở nhiều dạngbiểu tượng điểm đến thông tin hoặc không gian nơi mà sự tiện dụng, giá rẻ, đa

14

Trang 17

tác dụng, ưu thế, tốc độ và những ứng dụng nhanh của máy tính chiếm ưu thế.Máy tính cá nhân (PC) rất sẵn để buôn bán với số lượng lớn, không chỉ hãngbán lẻ điện tử như Best Buy, Circuit City và Radio Shack mà trực tuyến từ nhàsản xuất và cung cấp qua Internet là một hiện tượng mà chỉ có máy tính cánhân có thể thực hiện và phát triển khắp mọi nơi.

"Sản xuất máy tính "thể hiện cá tính" là cam kết của chúng tôi với khách hàng, cũng như là động lực thúc đẩy khách hàng đưa ra quyết định trải nghiệm những công nghệ tiên tiến của HP." ông Todd Bradley, Phó Chủ tịch cấp cao, Nhóm Máy Tính Cá Nhân của HP, phát biểu "Từ những thiết kế tinh tế thể hiện cá nhân, công nghệ đột phá cho ra đời các giao diện cảm ứng "hiểu ý" người dùng, đến công nghệ màn hình hiển thị hơn một tỷ màu đã chứng minh cho người tiêu dùng, cũng như các ngành công nghiệp trên toàn thế giới sự nỗ lực của chúng tôi, nhằm sản xuất những sản phẩm phần cứng và phần mềm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu ngày càng đa dạng của họ" (Nguồn:

http//:www.hp.com)

1.1.2.3 Dịch vụ máy tính cá nhân có chu kỳ sống ngắn

Những nhà sản xuất máy tính cá nhân lớn của thế giới đều biết rằng, mộtdòng máy tính cá nhân xuất hiện và suy thoái rất nhanh, tức là chu kỳ sống củamột dòng sản phẩm ngày càng rất ngắn Vì vậy phải tính kỹ giá cả cũng nhưchính sách phân phối để không bị các đối thủ cạnh tranh đánh bại bằng tốc độđổi mới bằng các máy tính cá nhân có bộ vi xử lý nhanh hơn, kiểu dáng đẹphơn, giá cả rẻ hơn Máy tính cá nhân hiện hành đa tác dụng hơn bất kỳ sảnphẩm cùng loại chỉ cách đây mấy tháng trước đó Chúng có thể được thấy ở hầuhết các màn hình, cỡ, đối với PC thế hệ mới nhất được thiết kế sao cho phù hợpvới lòng bàn tay Mỗi thế hệ PC mới, với chức năng, tốc độ và độ đa tác dụnghơn thế hệ cũ Sự đa chức năng của PC dùng trong (Ví dụ: email, máy fax, truycập internet, video game, hệ thống máy tính điều khiển tại nhà, giải trí video vàaudio) đang biến PC thành công cụ toàn cầu đa chức năng như bộ não tổng hợpđiều khiển nhiều bộ phận riêng biệt Các bộ vi xử lý (như Intel

Trang 18

pentium, core 2 duo, core I hay AMD chips) phát triển qua nhiều năm dễ dàngcho mọi lứa tuổi có thể sử dụng PC trong vài giờ Việc học qua PC trở nên dễdàng hơn bởi nhiều tiến bộ phần mềm mới nhất không đòi hỏi khách hàng ghinhớ lắp đặt số và chương trình máy của họ sử dụng hướng dẫn khó hiểu Thậmchí PC thế hệ đầu có thể chuyển fax, chuyển thư điện tử, chơi video, tính thuế,làm bảng tính và thậm chí cân đối sổ sách.

Theo quy luật trong 30 năm qua, giá của máy tính cá nhân mỗi giảmxuống 15- 20%, sự phát triển mạnh nhất của PC xuất hiện trong mẫu hàng bánvới giá dưới 1000 USD, hiện nay tốc độ nhanh hơn và hữu hiệu hơn so với cácmẫu hàng đã bán trên 3.500$ mấy năm trước đó Loại máy dưới 1.000$, nhìnchung có nhiều ưu điểm nổi trội, bao gồm bộ vi xử lý nhanh, hệ thống điềukhiển phần mềm CD-ROM, máy stereo và vô số bộ phận với các chức năngkhác đa dạng như scanners, máy in, máy in, máy camera kỹ thuật số, và cácphụ kiện khác

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công tycông nghệ thông tin cơ bản là:

1.1.3.1 Thị phần của công ty trong ngành máy tính cá nhân

Thị phần là tiêu chí rõ nhất cho thấy mức độ phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân của công ty công nghệ thông tin Thị phần được đo bằng tỷ lệ giữadoanh thu máy tính cá nhân của công ty so với doanh thu của toàn ngành Nếuthị phần càng lớn thì mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân càng cao vàngược lại Ngoài ra cũng có thể sử dụng tiêu chí doanh thu của công ty so vớidoanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành cung cấp dịch vụ máytính cá nhân để đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của chínhcông ty

16

Trang 19

1.1.3.2 Mức độ nổi tiếng của thương hiệu

Thương hiệu là một sự nhận thức cố hữu trong tâm trí khách hàng Nókhông phải là trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, vật dụng hay đội ngũ nhân lực Vìvậy độ nổi tiếng của thương hiệu cũng được coi là tiêu chí đánh giá mức độphát triển dịch vụ của công ty công nghệ thông tin, vì nó cho biết công ty đãtạo ra ấn tượng về sản phẩm và dịch vụ của mình cung cấp trong tâm trí kháchhàng đến đâu Mức độ ấn tượng của khách hàng càng cao hay nói cách khácmức độ nổi tiếng của thương hiệu càng lớn thì chứng tỏ độ thành công củaphát triển dịch vụ máy tính cá nhân cao

1.1.3.3 Số lượng dự án phát triển sản phẩm mới được thị trường chấp nhận

Công ty đã tiến hành được bao nhiêu dự án về máy tính cá nhân, bao

nhiêu trong đó là được thị trường chấp nhận, bao nhiêu là phải từ bỏ Tỷ lệthành công của các dự án về máy tính cá nhân so với tỷ lệ thất bại cũng đượccoi là một trong những tiêu chí đánh giá về thành công của phát triển dịch vụmáy tính cá nhân của công ty công nghệ thông tin

1.2 Nội dung phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

1.2.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới

1.2.1.1 Phát hiện và tìm kiếm ý tưởng

Ý tưởng về sản phẩm mới có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, có thể nóxuất hiện từ nội bộ doanh nghiệp: từ các nhân viên hay từ những nhà quản lý vàcũng có thể nó đến từ bên ngoài thông qua các tổ chức nghiên cứu, khách hànghoặc chính các đối thủ cạnh tranh…

Doanh nghiệp có càng nhiều ý tưởng thì khả năng chọn được ý tưởng tốtcàng cao Đối với doanh nghiệp nhỏ nên chủ động khai thác nguồn ý tưởng từnội bộ do nguồn này dễ tác động, ít tốn kém về tiền bạc và thời gian để khaithác Và hơn thế nữa các ý tưởng này thường khả thi, sát với thực tế hơn bởi vìcác ý tưởng từ nội bộ thường nảy sinh do va chạm với thực tế, tiếp xúc với

Trang 20

khách hàng và quan sát đối thủ cạnh tranh Ngược lại các doanh nghiệp có quy

mô lớn, có vị thế nhất định trong thị trường thì ngoài việc tận dụng ý tưởng từnội bộ thông qua các hoạt động nghiên cứu, tiếp xúc thì cũng có thể xem xétmua lại quyền sáng chế từ các cá nhân, tổ chức nghiên cứu hoặc từ chính đốithủ cạnh tranh Làm như vậy doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian, tạodựng được vị thế cho doanh nghiệp mình một cách nhanh chóng

Để thu thập ý tưởng về sản phẩm mới đòi hỏi các nhà quản trị cần quántriệt khái niệm về sản phẩm mới ở hai khía cạnh sau: chỉ rõ những lợi ích sẽđược khách hàng tiềm năng chấp nhận và nhận diện các đặc trưng vật lý hoặc

kỹ thuật nào sẽ mang lại những lợi ích đó Chính quan niệm về sản phẩm đó làđường dẫn cho việc phát hiện và tìm ra ý tưởng

1.2.1.2 Sàng lọc ý tưởng

Không phải mọi ý tưởng đều có thể thực hiện được, nên doanh nghiệp cần

có công đoạn sàng lọc ý tưởng khả thi Ở giai đoạn này một số lượng lớn các ýtưởng sẽ được đánh giá để lựa chọn ra những ý tưởng thích hợp nhất Qua đó,nhà quản trị đã bắt đầu đánh giá về mức độ của nhu cầu tiềm năng, nhận diệncác cơ hội thành công cũng như thách thức của sản phẩm, dự đoán được mức

độ không chấp nhận sản phẩm

Việc đánh giá các ý tưởng dựa trên cơ sở thông tin có được từ các hoạtđộng như nghiên cứu tiềm năng thị trường, thử nghiệm quan điểm (thăm dòmối quan tâm của khách hàng về sản phẩm trước khi phát triển mẫu sản phẩm)và mô hình cho điểm (đánh giá tính hấp dẫn chung của các quan niệm về sảnphẩm mới)

Trang 21

Kiến trúc sản phẩm là những đặc trưng của các bộ phận, các yếu tố cấuthành, các tập hợp, kỹ thuật và mối quan hệ giữa chúng Kiến trúc là kế hoạch

cơ sở để tin tưởng rằng quan niệm sản phẩm sẽ được thực hiện

- Ứng dụng thiết kế công nghiệp

Thiết kế công nghiệp là quá trình tạo ra và phát triển những đặc trưng củasản phẩm cho phép tối ưu hóa chức năng, giá trị và sự xuất hiện của sản phẩm.Thiết kế công nghiệp giúp công ty tin tưởng rằng sản phẩm có thể thực hiệnđược và nó cũng là một cách giới thiệu tốt sản phẩm với thị trường

- Đánh giá những yêu cầu của sản xuất.

Việc phát triển sản phẩm luôn phải đối mặt giữa mâu thuẫn về tăng các lợiích của sản phẩm và giảm chi phí sản xuất sản phẩm Nhiệm vụ của khâu này làđánh giá chi phí sản xuất của dự án và quyết định loại bỏ các chức năng nào đócủa sản phẩm để có thể giảm thiểu được chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo mức

độ hiệu quả của sản phẩm

1.2.1.4 Thử nghiệm sản phẩm và thử nghiệm thị trường

Mục đích của giai đoạn này nhằm cung cấp sự đánh giá chi tiết hơn về cơhội thành công của sản phẩm, nhận diện các điều chỉnh cần thiết cuối cùng chosản phẩm và phát hiện các yếu tố cấu thành quan trọng của chương trìnhmarketing sử dụng khi giới thiệu sản phẩm

Giai đoạn này gồm 4 hoạt động thử nghiệm sau:

- Thử nghiệm kỹ thuật: Những thông tin có được ở giai đoạn này sẽ

giúp ích cho việc đưa ra các thiết kế cải tiến cuối cùng của sản phẩm mới vàđưa ra các gợi ý cho các chương trình marketing của doanh nghiệp Đồng thờiviệc thử nghiệm kỹ thuật cũng cung cấp thông tin về đời sống của sản phẩm,những khiếm khuyết tiềm năng, thời gian bảo quản thích hợp và những vấn đềphát sinh khi sử dụng

- Thử nghiệm ƣu tiên lựa chọn của khách hàng và sự thỏa mãn:

Khách hàng sẽ được thử nghiệm với phiên bản cuối cùng của sản phẩm mới Nó

Trang 22

cho phép những người làm marketing nhìn ra hướng đi đúng cho chiến lược quảng

bá sản phẩm và ước lượng được doanh thu có thể thu được từ sản phẩm mới

- Thử nghiệm thị trường giả: hay còn gọi là thử nghiệm trong phòng thí

nghiệm Đó là việc thực hiện phỏng vấn thái độ và ưu tiên lựa chọn khi muacủa khách hàng trước và sau khi thử nghiệm cho khách hàng dùng thử sảnphẩm Nó cung cấp thông tin cho nhà quản trị quyết định có nên đưa sảnphẩmo mới ra thử nghiệm ở thị trường thực hay không

- Thử nghiệm marketing: trước khi sản phẩm mới có mặt trên thị trường

hoàn hảo đòi hỏi nhà quản trị phải thử nghiệm sản phẩm mới tại một thị trườngmục tiêu nhất định Việc bán hàng sẽ được thực hiện trong khoảng thời gianmột hoặc vài tuần và một nghiên cứu marketing sẽ được thực hiện song songvới nó Doanh nghiệp cũng không nhất thiết phải thực hiện thử nghiệm thịtrường nếu sản phẩm mới có các đặc tính sau: Rủi ro không thành công là thấptrong mối quan hệ với chi phí thử nghiệm marketing, sản phẩm mới có chu kỳđời sống ngắn, sự tấn công của đối thủ là quan trọng, vì sản phẩm mới có thể dễdàng bắt chước và giá cơ bản, bao bì và khuyến mại có thể dự đoán chính xácđược

1.2.1.5 Phân tích kinh doanh

Mục đích của bước này là để nắm được tình hình tài chính một cách đầy

đủ hơn về việc giới thiệu sản phẩm mới đem lại, những dự báo cho thị trườngcũng như những tác động đến sản phẩm hiện có

Phân tích tài chính cho một sản phẩm mới luôn khác xa so với phân tíchtài chính cho sản phẩm hiện tại về khung thời gian Lượng bán và chi phí chosản phẩm mới thường thay đổi rất nhanh theo thời gian Lượng bán và chi phícho sản phẩm mới thường ít thích nghi ngay và chi phí cho marketing thườngcao hơn trong năm đầu tiên đưa sản phẩm ra thị trường so với các năm tiếp theo

do cần tạo sự thức tỉnh của khách hàng, khuyến khích dùng thử và tạo động lựccho phân phối

20

Trang 23

Nhà quản lý cần đánh giá được quy mô đầu tư yêu cầu khi đo lường khảnăng sinh lời của sản phẩm mới Các chi phí tăng thêm của sản phẩm mới cầnđược xem xét đầy đủ, những tác động tới lượng bán của sản phẩm hiện tại cũngcần phải được chú ý tới Các sản phẩm mới có thể đòi hỏi khoản đầu tư bổ sung

để mua sắm trang thiết bị đây cũng phải được xem xét tới cả ở chi phí cơ hộicho việc dùng khoản tiền đó đầu tư cho một dự án khác

1.2.1.6 Thương mại hóa sản phẩm

Thương mại hóa bao gồm lập kế hoạch và thực hiện chiến lược phát độngvà giới thiệu sản phẩm trên thị trường Chiến lược này gồm 3 yếu tố cấu thành

- Quyết định về thời gian giới thiệu sản phẩm

Thời gian là quan trọng đứng trên cả quan điểm nhu cầu khách hàng vàcạnh tranh Đối với nhu cầu khách hàng, một số loại sản phẩm mang tính thời

vụ do đó thời điểm giới thiệu tốt nhất là trước giai đoạn nhu cầu là cao nhất vì:Khi lượng bán của ngành đạt được mức độ cao, sản phẩm mới sẽ đạt đượcdoanh thu ở mức cao hơn, nó sẽ bù đắp được chi phí marketing cao Thêm vào

đó, rất nhiều người mua hàng không cần thiết mua nhãn hiệu ở thời điểm nhữngtháng có nhu cầu cao do đó ít trung thành hơn đối với sản phẩm hiện tại Trênquan điểm cạnh tranh, công ty thâm nhập thị trường càng sớm thì cơ hội đạtđược sự thức tỉnh của khách hàng và thị phần càng cao Sản phẩm của đối thủcạnh tranh càng giống sản phẩm của công ty thì việc tham gia sớm và thịtrường càng là quan trọng

- Lựa chọn chiến lƣợc nhãn hiệu

Sự chấp nhận của khách hàng đối với sản phẩm mới thường chịu ảnhhưởng bởi hình ảnh của tên nhãn hiệu Nhãn hiệu sản phẩm có giá trị cao sẽlàm giảm rủi ro chấp nhận sản phẩm của khách hàng và làm tăng hi vọng vềthành công của sản phẩm Nếu nhãn hiệu của công ty là mạnh thì việc sử dụng

nó cho sản phẩm mới sẽ rất thành công cho sản phẩm mới tham gia vào chu kỳđời sống của loại sản phẩm Nhưng cũng có thể các sản phẩm hiện tại sẽ phảichia sẽ khách hàng với sản phẩm mới cùng loại vì thế một số công ty có thể lựa

Trang 24

chọn việc thiết lập một nhãn hiệu mới để tạo ra hình ảnh cần thiết hỗ trợ chochiến lược marketing hoặc do nhà quản trị muốn thu hút khách hàng của đốithủ cạnh tranh.

- Phối hợp chương trình marketing giới thiệu sản phẩm

Thành công của bất cứ sản phẩm mới nào cũng bị ảnh hưởng bởi tính hiệuquả của các chương trình marketing được sử dụng cho việc giới thiệu mới Do

đó đòi hỏi các chương trình này cần tạo ra mức độ tin tưởng chắc chắn về sựthức tỉnh và sự hiện diện của sản phẩm

Quá trình phát triển dịch vụ mới không hoạt động một cách độc lập mà nó

có mối quan hệ mật thiết với các chiến lược khác trong công ty Điều đó đượcthể hiện khá rõ trong hình 1.1

Kế hoạch marketing của công ty

Chiến lược marketing

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và

các chiến lược, chương trình marketing

Trang 25

22

Trang 26

1.2.2 Các quan điểm phát triển dịch vụ mới

1.2.2.1 Quan điểm “Gác cổng”

Mục đích của việc xây dựng quy trình chính thức cho phát triển sản phẩmmới là quản lý sự tiến triển của tư tưởng sản phẩm mới vì nó phải trải qua cáchoạt động phát triển và thử nghiệm khác nhau Ở mỗi giai đoạn nhà quản lý cầnthu thập những thông tin bổ sung để giảm thiểu tính thông chắc chắn về sự phùhợp của sản phẩm qua đó ra các quyết định tức thời tại từng công đoạn của quátrình phát triển sản phẩm mới

Thực chất của quan điểm này là duy trì sự kiểm soát về chi phí cho việcphát triển sản phẩm mới thông qua xác lập cân đối giữa chi phí đầu tư và giá trịcủa thông tin bổ sung Thông qua đánh giá mỗi ý tưởng sau mỗi giai đoạn, nhàquản trị sẽ quyết định mở cổng tiếp hay không nhàu thủ tiêu các chi phí về thờigian và tiền bạc khi lợi nhuận mang lại của sản phẩm mới là không đáng kể

1.2.2.2 Quan điểm phát triển song song

Mặc dù quá trình phát triển sản phẩm mới xây dựng cho từng bước nhưng

nó cũng bao gồm một nhóm các hoạt động do đó cũng có một số các nghiệp vụđược thực hiện đồng thời nhau trong mỗi giai đoạn nhất định với mục đích làmcho quá trình phát triển nhanh nhất có thể Nó cho phép các nhà quản trị ở cácvị trí khác nhau có thể tham gia sớm hơn vào quá trình phát triển sản phẩm mớitạo ra một động lực thúc đẩy quá trình phát triển sản phẩm mới sẽ nhanh hơn.Trong kinh doanh, tốc độ là rất quan trọng vì khi sản phẩm mới được đưa

ra thị trường sớm hơn nó sẽ làm giảm thiểu chi phí về thời gian và quản lý choviệc phát triển sản phẩm mới, hơn nữa nó sẽ kéo dài thời gian tồn tại của sảnphẩm trên thị trường Bên cạnh đó, việc tham gia sớm cho phép công ty có thểtấn công đối thủ cạnh tranh, đạt được thị phần cao hơn so với những người đếnmuộn

23

Trang 27

1.2.3 Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động sáng tạo trong phát triển dịch

vụ mới

Các công ty thường sử dụng rất phổ biến hình thức tổ chức các đội côngtác trong quá trình phát triển sản phẩm mới Thông thường, các đội công tácđược hình thành khi ý tưởng về sản phẩm mới được chấp nhận Quy mô và cơcấu của đội phụ thuộc vào quy mô của dự án, tính chất phức tạp về kỹ thuật vàmức độ mới của sản phẩm Để đảm bảo thành công cho sản phẩm mới, việc xâydựng các đội công tác phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Tất cả các chức năng cơ bản (ít nhất là marketing, sản xuất, kỹ thuật) phải được hiện diện trong đội

- Các thành viên phải được bố trí gần nhau

- Các thành viên phải tham gia trong suốt quá trình

- Các thành viên phải tự nguyện tham gia và hoạt động với toàn bộ thời gianViệc phát huy tối đa sự đóng góp của tất cả các thành viên trong công ty làhết sức quan trọng Thông thường để tạo ra một môi trường làm việc hiệu quả,phát huy tối đa khả năng sáng tạo của nhân viên thì đòi hỏi nhà quản trị phảichú trọng đến một số điểm sau:

- Tăng sự tín nhiệm đối với nhân viên, tạo tính chủ động trong công việccho nhân viên Tin nhầm và hoài nghi nhân viên là chất độc đối với sự sáng tạophải bị loại ra khỏi hệ thống quản lý

- Tạo ra cơ chế hoạt động thông thoáng, ở đó người lao động có thể trực tiếptham gia vào quá trình sáng tạo và đóng góp ý kiến kịp thời cho cấp lãnh đạo

- Có chế độ khen thưởng động viên thích hợp đối với người lao động cả vềvật chất lẫn tinh thần Những đóng góp của người lao động phải được công nhận.Một số lãnh đạo sẵn sàng trích phần trăm lợi nhuận cho những ý tưởng mới

- Mở rộng và khám phá sự đặc biệt Phải tạo ra một hệ thống quản lý coitrọng sự khác biệt, sự bất đồng và sự phân rẽ cũng như sự hài hòa, đồng nhất vàliên kết

Trang 28

- Tái sáng tạo việc đưa ra chiến lược như một quá trình nổi bật Trong mộtmôi trường cạnh tranh luôn thay đổi đòi hỏi nhà quản trị thường xuyên phảilàm mới lại các chiến lược kinh doanh của mình.

- Mở rộng hơn trí tưởng tượng của các nhân viên Điều này hầu như đượchiểu là điều gì khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên Nhận thức này cần phảiđược áp dụng tốt hơn trong việc thiết kế hệ thống quản lý, hỗ trợ các nhân viên cóchung sự say mê trong công việc Để tối đa hóa sự tham gia của các nhân viên, hệthống quản lý phải hỗ trợ việc thành lập các cộng đồng tự định và đam mê

- Đào tạo lại tư tưởng về quản lý Các kỹ năng phân tích và suy diễntruyền thống của nhà quản lý phải được bổ sung với các kỹ năng suy nghĩ hệthống và khái niệm

Trong hệ thống quản lý sáng tạo, nhà quản trị phải vừa biết động viên và vừatạo điều kiện cho các thành viên tham gia vào quá trình sáng tạo Cung cấp cáckhóa đào tạo cho nhân viên của mình, tạo thói quen tiếp thu ý kiến khách hàng chocác nhân viên và phát huy tối đa tính tự chủ của nhân viên trong công việc

1.2.4 Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới

Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới là hết sức quantrọng, nó phải được tiến hành thường xuyên tại các khâu trong hoạt động pháttriển dịch vụ mới: Thu thập ý tưởng, sàng lọc và phát triển ý tưởng đến khâuthử nghiệm, phân tích và triển khai thực hiện tới khách hàng Những thông tin

có được từ công tác kiểm tra đánh giá ở từng giai đoạn sẽ là căn cứ để ngườiquản lý quyết định có nên tiếp tục phát triển sản phẩm nữa hay không

Việc phát triển sản phẩm mới luôn chứa đựng những rủi ro rất cao về sựthành công của nó Chúng ta đều biết sự cần thiết phải phát triển sản phẩm mớilà điều dễ tìm thấy sự nhất trí trong những người có trách nhiệm của doanhnghiệp Song họ lại không thể khẳng định được một cách chắc chắn sự thànhcông của việc tung sản phẩm mới ra thị trường, hoặc mức độ thành công có thểthu được từ phát triển sản phẩm mới sẽ là bao nhiêu Dù đã có sự nghiên cứu

25

Trang 29

thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh, nhưng những rủi ro có thể gặpphải trong kinh doanh sản phẩm mới và mức độ tác động của những rủi ro nàylà những yếu tố không thể tiên liệu hết, thậm chí không thể tiên liệu trước được.

Do đó, cần phải đánh giá và dự báo mức độ rủi ro khi đưa sản phẩm mới ra thịtrường một cách chính xác nhất

Đánh giá những kết quả về tài chính cho sự phát triển sản phẩm mới Phát triểnsản phẩm mới bao giờ cũng đòi hỏi những điều kiện về kinh tế - tài chính màkhông phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng bảo đảm được Với các doanhnghiệp quyết tâm thực hiện phát triển sản phẩm mới, cần phải dành một ngânquỹ thỏa đáng cho việc thực hiện các công việc khác nhau của quá trình pháttriển sản phẩm mới Ngân quỹ này phải đủ lớn để nắm bắt được những thànhtựu mới của khoa học và công nghệ liên quan đến doanh nghiệp, để phản ứngmau lẹ với sự thay đổi của thị trường Và điều quan trọng là phải đánh giá đượckết quả của sản phẩm mới đem lại có thể đủ bù đắp cho những chi phí màdoanh nghiệp đã bỏ ra

1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ máy tính cá nhân

1.3.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.3.1.1 Internet

Việc xuất hiện Internet đã làm cho nhu cầu về dịch vụ máy tính cá nhântăng lên rất nhanh Người ta giao tiếp và làm việc với nhau thông qua mạngInternet Kể từ khi nhà khoa học người Anh – Tim Berners-Lee phát kiến ramạng toàn cầu và đăng tải địa chỉ web đầu tiên vào năm 1991 thì cách nhìn vềmáy tính cá nhân bắt đầu thay đổi: đánh dấu giai đoạn chuyển từ hệ thống

vi tính dựa trên máy tính sang các hệ thống dựa trên Internet Từ thời điểmnày, số người sử dụng các tiện ích do internet và web đem lại đã tăng với tốc

độ rất nhanh Trong vòng năm năm, số lượng người sử dụng internet tăng vọt

từ 600.000 lên 40.000.000 Có những giai đoạn, số lượng người sử dụng liên

Trang 30

tục tăng gấp đôi chỉ sau 53 ngày Việt Nam cũng không là ngoại lệ của xu hướng này (xem bảng 1.1).

Bảng 1.1: Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008

1.3.1.2 Sự phát triển của kinh tế tri thức

Khái niệm kinh tế tri thức xuất hiện vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20,nhưng chỉ gần đây mới rộ lên, nhất là từ khi phát triển máy tính cá nhân, rồiInternet và xa lộ thông tin Cách đây khoảng một số năm, thị trường chứngkhoán ở Mỹ bốc lên đột ngột theo sự bùng nổ các công ty dot.com, nhiềungười tưởng thế giới này chỉ có đầu tư vào đó mới là khôn ngoan nhất Nhưngrồi cũng xẹp xuống như bong bóng Sau một thời các ngành kinh doanh dựavào công nghệ thông tin phát đạt chưa từng thấy, thì bóng ma suy thoái lại rình

27

Trang 31

rập Thị trường vi tính chững lại, hàng loạt công ty công nghệ cao, kinh doanhđiện tử, ngay cả ở Silicon Valley, bắt đầu những cuộc sa thải, co cụm lại đểchống đỡ luồng khí lạnh có cơ lan tràn (riêng cổ phiếu Microsoft đã sụt hàngchục tỷ USD) Tuy nhiên, nhiều người đánh giá, đây chỉ là thời kỳ tạm lắng đểchuẩn bị bùng lên theo một hướng mới Chính vì thế mà Chính phủ Nhật Bản,mặc dù kinh tế còn ảm đạm, vẫn dự định đầu tư 30 tỷ USD vào công nghệthông tin trong vài năm tới, coi đó là một trong các hướng chính để thoát rakhỏi thế trì trệ kéo dài mấy năm nay.

Các bộ óc lớn đang chuẩn bị cho một bước ngoặt công nghệ mới: Saumáy tính cá nhân là gì? Phải chăng là Truyền thông đa phương tiện không dây,

từ điện thoại di động 3G, 4G, phát triển lên truyền thông đa phương tiện gọnnhẹ, nhanh chóng mà không cần dây nhợ lòng thòng, cho phép không chỉ điệnthoại, thư điện tử và fax, mà cả kết nối Internet, truy cập Web, thực hiện mọidịch vụ điện tử hai chiều, ở đâu cũng nhận được và gửi đi được mà không cầnđến máy tính cá nhân hay để bàn cố định như hiện nay Có nghĩa là xã hội đaphương tiện không dây đang tới gần Các hãng Nokia (Phần Lan), Ericsson(Thụy Điển), DoCoMo (NTT Nhật Bản) hiện đã đi trước Motorola của Mỹtrong cuộc chạy đua về cái đích đó Bên cạnh đó, nào là bản đồ gen người,nhân bản người vô tính, thực phẩm biến đổi gen, rồi bệnh bò điên, dịch súc vật

lở mồm long móng, v.v , biết bao nhiêu chuyện rắc rối nảy sinh từ cách mạngcông nghệ và toàn cầu hóa Có người gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng, đểnhấn mạnh rằng chưa bao giờ thế giới tràn ngập những tổ chức mạng như bâygiờ, cho nên cách nghĩ, cách quản lý, cách làm việc theo một hệ thống có trên

có dưới, tôn ti trật tự theo kiểu phong kiến hay tư bản thời công nghiệp hiệnđại cũng đã lỗi thời Nói theo thuật ngữ khoa học, chưa bao giờ thế giới bộc lộtính hệ thống phức tạp cao như bây giờ Không gian mở rộng, thời gian rútngắn, thông tin dồn dập, các loại hiệu ứng dây chuyền (kiểu như khủng hoảngtài chính châu Á năm 1997), hiệu ứng phụ (kiểu như các hiệu ứng môi trường),hiệu ứng cộng năng (như Internet), ngày càng tác động mạnh Sự vật biến hóa

Trang 32

theo những quy luật phi tuyến (cấp số nhân hay hàm mũ: chẳng hạn cứ 18tháng, tính năng máy tính tăng gấp đôi nhưng giá thành còn bằng nửa), với độngẫu nhiên và phức tạp không ngừng tăng lên Nhiều vấn đề quản lý kinh tế xãhội đều không thể nhìn nhận theo tầm mắt và quan niệm cũ Hơn bao giờ hết,thành công trên các lĩnh vực kinh doanh hay khoa học, công nghệ thường bắtnguồn ở những ý tưởng mới, ngược lại thất bại thường do tư duy xơ cứng,không chuyển kịp tình hình Đã bước sang kỷ nguyên kinh tế tri thức vớinhững đột biến công nghệ liên tục thì trên mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, đốivới từng người hay từng cộng đồng sự thành bại được quyết định trước hết bởikhả năng nhận thức được kịp thời những thay đổi và thích ứng mau lẹ vớinhững thay đổi đó, kể cả bằng cách tự thay đổi và hoàn thiện bản thân Nhìn lạixã hội Việt Nam ta cũng thấy rõ mọi thành công hay hư hỏng đều có nguồngốc sâu xa là tư duy có đổi mới kịp tình hình hay không.

Như vậy, môi trường thể chế liên quan đến dịch vụ máy tính cá nhân gồmcác yếu tố:

- Chính sách quản lý đối với internet

- Chính sách đối với sản xuất và xuất nhập khẩu máy tính cá nhân

- Chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng xa lộ thông tin

29

Trang 33

1.3.1.4 Môi trường tâm lý xã hội

Môi trường tâm lý xã hội cũng ảnh hưởng khá mạnh đến nhu cầu sử dụngmáy tính cá nhân ở Việt Nam Dân số Việt Nam trẻ, khao khát thông tin nênthuận lợi cho việc phát triển dịch vụ máy tính cá nhân Tuy nhiên có một số ràocản đối với các công ty công nghệ thông tin trong việc phát triển dịch vụ máytính cá nhân: (i) rào cản kỹ thuật: người tiêu dùng lo lắng về sự phức tạp củamáy tính và những khó khăn khi học hỏi cách sử dụng cũng như rủi ro hỏnghóc có thể gặp phải khi vận hành máy tính; (ii) rào cản kinh tế: đối với đại đasố người tiêu dùng, giá trị của chiếc máy tính cá nhân vượt xa nhu cầu chitrả…

1.3.2 Nhân tố nội tại doanh nghiệp

1.3.2.1 Chiến lược của doanh nghiệp

Chiến lược của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đối với phát triểndịch vụ máy tính cá nhân Các công ty công nghệ thông tin thường có cácchiến lược khác nhau trong từng giai đoạn

Microsoft ngay từ khi thành lập đã không định hướng vào phần cứngnhưng tập trung phát triển phần mềm cho máy tính cá nhân Phương châmchiến lược của Microsoft là: “Hãy đứng trên vai người khổng lồ” Vì vậy họhợp tác chặt chẽ với IBM để phát triển dịch vụ máy tính cá nhân cho toàn thếgiới và làm thay đổi cả chiến lược của IBM Chính sự hợp tác Microsoft –IBM đã góp phần tạo ra tiêu chuẩn cho ngành kinh doanh máy tính cá nhân.Dell tập trung vào chiến lược tạo ra máy tính cá nhân cho đại chúng Vìvậy, họ đi vào chế tạo các loại máy tính có giá thấp

Apple đi vào chiến lược đa dạng hóa, phát triển nhiều loại máy tính cánhân ở các phân khúc thị trường khác nhau Tuy nhiên, có thời kỳ, chiến lượcnày suýt bị thất bại (xem hộp 1.1)

Trang 34

tổ chức có cơ cấu xử lý các vấn đề như: huy động vốn, marketing, quản trị, hoạch định chiến lược, thiết kế công nghệ, sản xuất,… Một Apple Computer với cơ cấu

tổ chức hình nón đáy bẹt và tản quyền được hình thành Cách bố trí nhân sự đó đã khơi dậy được tính sáng tạo, linh động và có khả năng thích ứng trước những tình huống bất ổn.

Năm 1982, sự tăng trưởng nhanh chóng của công ty cùng với các sản phẩm đưa ra đa dạng hơn như: máy điện toán Lisa, Macintosh, AppleII Công ty Apple Computer nhận thấy phải phân nhiệm rõ ràng hơn, và cần phát triển thêm với nhiều cấp điều hành hơn Một cơ cấu tổ chức phân nhánh, theo đó mỗi mặt hàng được chế tạo ở một phân nhánh và mỗi nhánh đều có riêng các nhóm chức năng chuyên môn Tuy nhiên, cùng với cơ cấu tổ chức này một số vấn đề phát sinh Các thương hiệu máy điện toán của Apple Computer trỏ nên đối chọi nhau (Macintosh đối chọi với Lisa) Những cuộc cạnh tranh trong nội bộ diễn ra, đẩy chi phí quản lý tăng lên đột ngột, nhiều chức năng chuyên môn ở các phân nhánh trùng lặp Hậu quả là công ty IBM đã tước đoạt khỏi tay Apple vị trí dẫn đầu ngành công nghệ máy điện toán cá nhân.

(Nguồn: Nguyễn Tấn Phước, Chiến lược & chính sách kinh doanh,

NXB Thống kê, Hà Nội, 1996)

1.3.2.2 Văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa của các doanh nghiệp khác nhau rất lớn ở mức độ mà văn hóa đóđược áp dụng trong các thói quen làm việc và các chuẩn mực cư xử của công

ty Văn hóa của doanh nghiệp cũng có thể bị suy yếu và trở nên dễ đổ vỡ docùng một lúc có rất nhiều những cộng đồng văn hóa nhỏ cùng tồn tại, rất ít các

31

Trang 35

giá trị và chuẩn mực cư xử được áp dụng rộng rãi và cũng có rất ít nhữngchuẩn mực truyền thống Trong những trường hợp đó, các thành viên trong tổchức thường không có những ấn tượng sâu sắc về bản sắc của doanh nghiệp,

họ chỉ coi công ty của họ gần như một nơi để làm việc và công việc chỉ là mộtcách để kiếm sống Trong khi họ có thể có những cảm xúc như là sự trungthành đối với phòng ban của họ, với đồng nghiệp, với tập thể, với nhà quản trịthì họ lại thường không có được sự trung thành lớn đối với công ty hay vớinhững sứ mệnh kinh doanh của công ty Mặt khác, văn hóa của một doanhnghiệp lại có thể rất mạnh và có sự kết dính thể hiện ở chỗ công ty điều hànhhoạt động kinh doanh theo một loạt các quy tắc và giá trị rõ ràng và minh bạchvà ở đó, việc quản trị phần lớn là để giới thiệu những quy tắc và giá trị này vớicác thành viên của tổ chức và giải thích cho họ hiểu những quy tắc đó có liênquan như thế nào với môi trường kinh doanh và rằng những giá trị đó đượcmọi người áp dụng rộng rãi thế nào trong công ty – từ những cán bộ quản trịcấp trung hay những nhà quản trị cao cấp Những công ty có nền văn hóadoanh nghiệp mạnh thường có những phát biểu về những giá trị và niềm tin, vàcác nhà quản trị thường nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc sử dụng nhữnggiá trị và quy tắc như một nền tảng để ra quyết định và có những hành độngđược tiến hành trong toàn bộ công ty Những công ty có văn hóa doanh nghiệpmạnh có những giá trị và chuẩn mực cư xử được bén rễ sâu đến mức chúng rất

ít thay đổi khi một Chủ tịch hội đồng quản trị mới lên thay – mặc dù chúng cóthể bị mai một dần đi nếu như vị Chủ tịch mới không liên tục nuôi dưỡngchúng Những công ty xuất sắc thường có một kiểu văn hóa động rất giống vớitinh thần chinh phục

1.3.2.2 Năng lực điều hành của giới quản trị

Đây là yếu tố mang tính quyết định Năng lực quản trị luôn có vai trò rấtquan trọng, nó có thể đưa đến thành công hay thất bại Trong đó, người thựchiện công tác này chính là nhà quản trị Như vậy, ta có thể thấy rằng đối với sựphát triển của doanh nghiệp thì nhà quản trị đóng vai trò chính Thông qua các

Trang 36

chức năng quản trị của mình, cụ thể là nhà quản trị tiến hành Hoạch định, Tổchức, Lãnh đạo, Kiểm soát để nhằm đạt được các mục tiêu mà dự án đề ra.Mỗi quyết định của nhà quản trị đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp Đó cóthể là những quyết định đúng hay sai, lớn hay nhỏ và tác động của nó đối vớidoanh nghiệp cũng tuỳ theo các cấp độ khác nhau Nhà quản trị không thể luônchắc chắn một điều là những quyết định mình đưa ra không bao giờ sai Tuynhiên, nhà quản trị hoàn toàn có thể chủ động trong việc đưa ra các quyết địnhcủa mình Nhà quản trị cần không ngừng trau dồi, học hỏi, làm giàu thêm vốnsống, kiến thức, kinh nghiệm của mình Chỉ có như vậy thì mới có thể hạn chếtối đa các sai lầm trong quá trình thực hiện chức năng quản trị kinh doanh.

33

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA

CÔNG TY HEWLETT PACKARD VIỆT NAM

2.1 Khái quát về công ty Hewlett-Packard Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

HP được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1939 bởi Bill Hewlett và DavePackard, với hình thức là nhà sản xuất công cụ đo lường và kiểm định với vốnđầu tư là 538 USD Cả hai đã tốt nghiệp Đại học Stanford năm 1934 Công tykhởi đầu trong một ga-ra khi họ còn đang học sau đại học ở Standford Vì thếcâu chuyện của họ là về những trí thức trở nên giàu có chứ không phải là những

kẻ nghèo khó trở nên giàu có

Sản phẩm đầu tiên là máy tạo dao động âm chính xác, kiểu 200A Điểmmới của họ là đã dùng bóng đèn nhỏ (loại dùng để chiếu sáng) như là một điệntrở nhiệt trong một phần quan trọng của mạch điện Nhờ vậy họ đã bán kiểu200A này với giá $54.40 trong khi các đối thủ cạnh tranh bán các máy tạo daođộng ít ổn định hơn với giá trên $200 Loạt máy phát kiểu 200 được tiếp tụcsản xuất đến năm 1972 với kiểu 200AB, vẫn dựa trên đèn điện tử nhưng có cảitiến về mẫu mã 33 năm, đó có lẽ là mẫu thiết kế điện tử được bán lâu nhấttrong mọi thời đại

Tên công ty, Hewlett-Packard, được hình thành từ họ của hai nhà sáng lập.Nếu Bill không thắng trong việc tung đồng xu, thì có thể hiện nay tên công tyđược biết sẽ là Packard-Hewlett Một trong những khách hàng sớn nhất củacông ty là Walt Disney Productions, họ đã mua tám máy tạo dao động kiểu200B (với giá $71.50/cái) để kiểm tra hệ thống Fantasoundstereophonic sound

trong những rạp sẽ chiếu phim Fantasia

Ban đầu, hoạt động của công ty không tập trung, công ty làm việc tronglĩnh vực rộng về các thiết bị điện cho công nghiệp và thậm chí cả nông nghiệp.Cuối cùng họ chọn tập trung vào thiết bị điện cho đo lường và kiểm định chất

Trang 38

lượng cao Suốt những năm 1940 đến những năm 1990 công ty tập trung sảnxuất máy phát tín hiệu, máy đo hiệu điện thế, máy dao dộng ký, máy đếm, vànhững thiết bị kiểm định khác Điểm nổi bật của chúng là tăng giới hạn đolường và độ chính xác Ví dụ, hầu hết mọi vôn kế hoặc máy phát tín hiệu HPđều có hơn một hoặc nhiều bậc trên công tắc so với sản phẩm của các đối thủcạnh tranh Vôn kế hay Ampe kế HP có thang đo tăng và giảm hơn 10 tới 100lần so với những máy khác Dù có nhiều lý do cho việc tại sao các máy cạnhtranh chỉ ngừng ở đơn vị 1 vôn, các kỹ sư của HP tìm ra những cách để tăngphạm vi đo lường của thiết bị lên một cách đáng kể Họ cũng tập trung vào việcchính xác và ổn định tuyệt đối, làm ra những máy đếm, vôn kế, nhiệt kế, vàđồng hồ có phạm vi đo lường rộng nhưng rất chính xác và ổn định.

Thời kỳ những năm 60 và 70, HP được công nhận là nhà sáng lập củathung lũng Silicon, dù công ty đã không chủ động đầu tư vào các thiết bị bándẫn mãi đến vài năm sau, sau khi "Tám kẻ phản bội" đã từ bỏ WilliamShockley để lập nên công ty bán dẫn Fairchild vào năm 1957 Công ty cổ phần

HP của Hewlett-Packard, thành lập năm 1960, đã phát triển các thiết bị bán dẫnchỉ để dùng trong nội bộ Các dụng cụ đo lường và máy tính là những sản phẩm

sử dụng các thiết bị này

HP được Tạp chí Wired công nhận là nhà sản xuất máy tính cá nhân đầutiên trên thế giới, vào năm 1968, với loại máy Hewlett-Packard 9100A HP gọi

nó là máy tính để bàn (desktop calculator), vì Bill Hewlett phát biểu rằng, "Nếuchúng tôi gọi nó là máy tính (computer), các bậc thầy về máy tính sẽ phản đối

vì nó không giống IBM Vì thế chúng tôi quyết định gọi nó là máy tính(calculator), và những thứ vô lý đó không còn nữa" Là một thắng lợi trong kỹthuật lúc đó, các mạch điện logic được sản xuất mà không có vi mạch tích hợpnào; quá trình lắp ráp một đơn vị xử lý trung tâm – CPU (central processingunit) hoàn toàn được tiến hành với các bộ phận rời rạc Với màn hình CRT(cathode ray tube), card lưu trữ bằng từ tính, và máy in, giá sản phẩm khoảng

$5000

35

Trang 39

Công ty được thế giới tín nhiệm với nhiều mặt hàng Họ đã giới thiệu máy

tính điện tử khoa học cầm tay đầu tiên trên thế giới vào năm 1972 (máy HP-35), máy tính lập trình đầu tiên vào năm 1974 (máy HP-65), máy tính lập trình có hiển thị số đầu tiên, vào năm 1979 (máy HP-41C), và máy tính hình thức có thể

vẽ đồ thị đầu tiên HP-28C Giống như các máy tính khoa học và thương mại,máy dao động ký, máy phân tích logic, và các thiết bị đo lường khác của công

ty cũng rất nổi tiếng vì độ bền và tính tiện dụng (những sản phẩm đo lường nàybây giờ là các dòng sản phẩm của công ty Agilent tách ra từ HP) Triết lý trongthiết kế của công ty trong giai đoạn này có thể tóm tắt là "thiết kế cho ngườingồi ở ghế kế bên."

Thời kỳ những năm 80 và 90, HP trở thành một cầu thủ lớn trong ngànhcông nghiệp máy tính trong những năm 1980 với một loạt các dòng máy tính,

từ máy tính để bàn đến thiết bị di động như máy tính mini mạnh mẽ HP cũngliên kết với các công cụ máy tính điện tử , y tế và các sản phẩm phân tích, làmcho chúng nhanh hơn và mạnh hơn HP xâm nhập vào thị trường máy in với sự

ra mắt của máy in phun và máy in laser kết nối với máy tính cá nhân Các dòngmáy in HP LaserJet, được ra mắt vào năm 1984, đã trở thành dòng sản phẩmmang lại sự thành công vang dội cho HP Chất lượng và độ tin cậy của máy in

HP đã làm cho HP trở thành một thương hiệu rất dễ nhận biết của cả người tiêudùng và doanh nghiệp

Gần cuối thập kỷ này, HP được thị trường công nhận nhờ lịch sử pháttriển kinh doanh phong phú cũng như các phát minh công nghệ tiên tiến và sảnphẩm của mình Tại nhà để xe, nơi công ty bắt đầu được tuyên bố là mốc lịch

sử California, và HP tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ở đó

Sản phẩm của HP đã chính thức cung cấp tại Trung Quốc khi Packard mở văn phòng đại diện tại Bắc Kinh năm 1981

Hewlett-Hệ thống thư điện tử được phát triển bởi HP Limited tại Vương quốc Anhlà lần đầu tiên chính thức mở rộng mạng lưới thương mại của loại hình này dựatrên các máy tính mini vào năm 1982

Trang 40

Sản phẩm HP 9000 là tiến bộ vượt bực trong tính toán kinh doanh khi nóđược sử dụng bằng superchip "32-bit" công nghệ Các dòng máy tính để bàn cókhả năng tính toán lớn trở nên lớn mạnh vào năm1960 Sản phẩm HP-150 ànhình cảm ứng: HP cho phép người dùng kích hoạt tính năng trên máy tính của

họ chỉ đơn giản bằng cách chạm vào màn hình khi nó giới thiệu màn hình cảmứng đầu tiên của máy tính cá nhân, các HP-150

Bill Hewlett được trao tặng Huân chương Khoa học Quốc gia, "Đối vớinhững thành tựu tiên phong trong việc tạo ra và sản xuất điện tử và bán dẫn,thiết bị và dụng cụ điện tử kiểm tra." Ông được Tổng thống Reagan trao tặngtại một buổi lễ của Nhà Trắng, ngày 27 tháng 2 năm 1985 HP bắt đầu chươngtrình tái chế phần cứng đối với hệ thống máy tính nội bộ Năm 1987, HP đạtdoanh thu 8,1 tỷ đô la Mỹ với 82 nghìn nhân viên trên toàn cầu và được xếphạng thứ 49 trong danh sách Fortune 500 HP được niêm yết trên thị trườngchứng khoán Tokyo, đó là lần đầu tiên HP tham gia vào thị trường chứng khoánbên ngoài nước Mỹ HP mua lại Apollo Computer, một hãng sản xuất máy trạmdựa trên Massachusetts năm 1989

Sự ra đời của thiết bị thử nghiệm và đo lường các hệ thống ngôn ngữ TMSL (Test and measurement system language) giúp loại bỏ sự cần thiết phảiviết phần mềm để tạo điều kiện giao tiếp giữa các nhạc cụ khác nhau trong một

-hệ thống thử nghiệm TMSL khởi tạo một tiêu chuẩn ngành công nghiệp truyềnthông mới

HP giới thiệu lần đầu tiên lưu trữ dữ liệu kỹ thuật số - DDS (Digital datastorage) Dựa trên công nghệ tiên phong phát triển trong HP Labs cho việc sửdụng băng ghi âm quét xoắn ốc cho dữ liệu lưu trữ, DDS sẽ trở thành bộ lưu trữ

dữ liệu kỹ thuật số bán chạy nhất trên thế giới Năm 1989, HP đạt doanh thu11,9 tỷ đô la Mỹ với 95 nghìn nhân viên trên toàn

Bước vào thế kỷ 21, HPQ là mã giao dịch của HP trên thị trường chứngkhoán New York kể từ ngày 6 tháng 5 năm 2002

37

Ngày đăng: 16/10/2020, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w