TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ &KINH DOANH QUỐC TẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ &KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU
MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG
THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE
VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS Nguyễn Duy Đạt Lê Thị Ngọc Anh
Lớp: K56E3
Mã sinh viên : 20D130142
HÀ NÔI – 2023
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Duy Đạt Các nội dung nghiên cứu trong đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam” của tôi là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được cá nhân thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi rõ nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung bài khóa luận tốt nghiệp của mình
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2023
Sinh viên thực hiện
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận của mình, em muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến những người đã hỗ trợ và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn của em, TS Nguyễn Duy Đạt, vì đã cung cấp những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để em có thể hoàn thành khóa luận này Em cũng muốn gửi lời cảm ơn đến các anh chị trong công ty TNHH BSE Việt Nam vì đã cùng em thảo luận và cung cấp những số liệu thực tế suốt quá trình làm khóa luận Ngoài ra, em cũng muốn cảm ơn gia đình và bạn bè của mình
vì đã động viên và hỗ trợ em trong suốt thời gian này Cuối cùng, em muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả những thầy cô đã đọc và đánh giá khóa luận của em Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình làm khóa luận em không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô
Một lần nữa, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người đã giúp
đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận của mình
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2023
Sinh viên thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu đề tài 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.4 Đối tượng nghiên cứu 8
1.5 Phạm vi nghiên cứu 8
1.6 Phương pháp nghiên cứu 8
1.7 Kết cấu đề tài 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM 10
2.1 Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 10
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh 10
2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh 11
2.1.3 Các cấp độ năng lực cạnh tranh 13
2.2 Một số lý thuyết về hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp 16
2.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp 16
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp 17
2.2.3 Các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp 20
2.3 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp 22
2.3.1 Sản phẩm thay thế 22
2.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện hữu 23
2.3.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng 24
2.3.5 Khách hàng 25
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu 26
Trang 5CHƯƠNG 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN
ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM 27
3.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH BSE Việt Nam 27
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam trong giai đoạn 2020-2023 34
3.2.1 Khái quát về thị trường EU đối với sản phẩm linh kiện điện tử 34
3.2.2 Thực trạng xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 41
3.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 47
3.2.4 Các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 52
3.3 Các nhân tố tác động đến nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 53
3.3.1 Sản phẩm thay thế 53
3.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện hữu 54
3.3.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng 56
3.3.4 Khách hàng 56
3.3.5 Nhà cung cấp 58
3.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 59
3.4.1 Thành công 59
3.4.2 Vấn đề tồn tại và nguyên nhân 60
CHUƠNG 4: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM 63
4.1 Định hướng phát triển của mặt hàng linh kiện điện tử 63
4.1.1 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử 63
4.1.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 64
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam 65
4.2.1 Giải pháp nguồn nguyên liệu đầu vào và công nghệ 65
4.2.3 Giải pháp về marketing và quảng bá công ty 66
4.2.2 Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực 67
Trang 64.2.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường 67
4.3 Một số kiến nghị với chính phủ, các bộ ban ngành 68
4.3.1 Giải pháp về vốn đầu tư 68
4.3.2 Giải pháp về thị trường 69
4.2.3 Hoàn thiện hành lang pháp lý 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Giới thiệu công ty TNHH BSE Việt Nam 27 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH BSE Việt Nam giai đoạn 2020-2022 29 Bảng 3.3 Cơ cấu lĩnh vực kinh doanh chủ đạo của Công ty BSE Việt Nam 31 giai đoạn 2020 – 2022 31 Bảng 3.4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu chủ đạo của Công ty TNHH BSE Việt Nam giai đoạn 2020 – 2022 32 Bảng 3.5 Cơ cấu thị trường xuất khẩu chủ đạo của Công ty TNHH BSE Việt Nam giai đoạn 2020 – 2022 33 Bảng 3.6 Giá trị nhập khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của các nước trong khối Liên minh EU từ năm 2020 đến T6/2023 39 Bảng 3.7 Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu vào trong khối liên minh châu Âu từ năm
2022 đến T6/2023 40 Bảng 3.8: Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử của Việt Nam sang Liên minh châu Âu từ năm 2020 đến T6/2023 41 Bảng 3.9 Tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của công ty BSE Việt Nam sang với nước Liên minh Châu Âu từ năm 2020 đến T6/2023 44 Bảng 3.10 Xuất khẩu theo sản phẩm của BSE sang thị trường EU, giai đoạn 2019-2022 45 Bảng 3.11 Kim kim ngạch xuất khẩu linh kiện điện tử sang thị trường Hàn Quốc của BSE Việt Nam theo hình thức xuất khẩu giai đoạn từ 2020 đến T6/2023 46 Bảng 3.12 Thị phần xuất khẩu linh kiện điện tử của công ty BSE vào thị trường EU 47 Bảng 3.13 Trị giá sản phẩm linh kiện điện tử bị khách Eu trả lại của BSE giai đoạn 2020 đến T6/2023 49 Bảng 3.14 Bảng so sánh giá của các mặt hàng linh kiện điện tử của 4 công ty điện tử 50 Bảng 3.15 Bảng chi phí marketing của công ty TNHH BSE Việt Nam từ năm 2020 đến T6/2023 51 Bảng 3.16 Tỷ trọng nhập khẩu mặt hàng linh kiện thô của BSE Việt Nam giai đoạn 2019-2022 58
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH BSE Việt Nam 29 Hình 3.2 Kim ngạch xuất khẩu của Công ty TNHH BSE Việt Nam 30 Hình 3.3 Sản lượng ngành công nghiệp điện tử của Liên minh châu Âu EU từ năm 2016-2022 36 Hình 3.4 Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam từ năm 2020 đến T6/2023 42 Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu linh kiện điện tử của công ty TNHH BSE Việt Nam sang thị trường EU năm 2020-2023 43 Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện cơ cấu các nước nhập khẩu linh kiện điện tử của các nước vào thị trường EU năm 2022 55
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of South East
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương
EVFTA European - Vietnam Free
Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
Liên minh Châu Âu - Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới đang bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ, thương mại quốc tế là hạt nhân quan trọng của nền kinh tế, giúp các nước dần hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp có cơ hội xích lại gần nhau hơn để cùng cạnh tranh và phát triển Thương mại quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội giúp cho các quốc gia ngày càng lớn mạnh hơn, các doanh nghiệp dễ dàng phát triển hơn, tìm kiếm được nhiều khách hàng mới không chỉ giới hạn trong một quốc gia, một khu vực mà sẽ nằm trên toàn bộ thế giới, từ đó nền kinh tế của đất nước đi lên, cuộc sống của người dân được cải thiện một cách rõ rệt Bên cạnh đó, thương mại quốc tế mang lại cho các doanh nghiệp những thách thức, đặt các doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt, buộc các nhà quản trị phải có giải pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp mình, từ đó tồn tại và phát triển
Việt Nam tuy là một quốc gia nhỏ với nền kinh tế chỉ đang phát triển nhưng với tiềm năng về tài nguyên và lao động, nước ta đã và đang phát triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu, thâm nhập vào thị trường thế giới Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tính chung 9 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 259,67 tỷ USD, trong khi 37,99 tỷ USD Điều này đã cho thấy sự phục hồi của hoạt động ngoại thương ở nước ta sau khi dịch bệnh Covid- 19 đang dần được giải quyết Việc xuất khẩu hàng hóa không chỉ mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân mà còn thúc đẩy quan hệ đối ngoại với các quốc gia lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN…Việt Nam hiện nay đang là thành viên của rất nhiều tổ chức kinh tế, việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng các ngành nghề, các sản phẩm xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu
Những năm gần đây, công nghiệp điện tử là ngành công nghiệp trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân, có vị trí then chốt và tác động lan tỏa mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác Đồng thời là thước đo trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của mọi quốc gia trên thế giới Tốc độ tăng trưởng của nhóm hàng linh kiện điện tử đã vượt qua dệt may trở thành nhóm hàng xuất khẩu chủ lực lớn thứ 2 của Việt Nam kể từ năm
2019 đến nay Tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện đã khiến giá trị kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đạt 164,45 tỷ USD vào năm 2021, con số này đã giúp linh kiện điện tử vượt qua dệt may trở thành nhóm hàng xuất khẩu chủ lực lớn thứ 2 của Việt Nam Ngành linh kiện điện tử hiện đang là ngành
Trang 11sản xuất có vị trí then chốt bậc nhất trong nền kinh tế, hiện đang chiếm tỷ trọng khoảng 18% toàn ngành công nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất của ngành linh kiện điện tử giảm 5.8% so với cùng kỳ năm
2022 Theo báo cáo tổng hợp, điện thoại, linh kiện và máy tính là hai ngành hàng xuất khẩu lớn nhất của cả nước Tuy nhiên cả hai ngành hàng đều đã phải đối mặt sự sụt giảm đơn hàng chưa từng thấy từ quý IV/2022 kéo dài sang nửa đầu năm 2023 giảm 12,1% so với cùng kỳ năm trước Do đó, kim ngạch mà 2 ngành linh kiện điện tử này đóng góp trong nửa đầu năm mới chỉ đang dừng ở mức 49,5 tỷ USD
Theo số liệu từ Thương vụ Việt Nam tại EU, năm 2023 ước tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam và EU tăng khoảng 24%, đạt 80,1 tỷ USD Con số tuy cao nhưng vẫn thấp hơn mức tăng trưởng năm 2022 với 31% EU là một trong những thị trường xuất khẩu linh kiện điện tử quan trọng nhất của Việt Nam Trong những năm gần đây, xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam sang thị trường EU chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU và liên tục tăng Trong 9 tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang thị trường EU đạt gần 28,42 tỷ USD, tăng 31,86% so với cùng kỳ năm 2022 Trong thời gian tới, quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và EU có nhiều cơ hội phát triển hơn nữa khi cả hai nước cùng tham gia và hưởng lợi nhiều lợi ích từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng không nhỏ để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử vào thị trường
EU Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng có những khó khăn, thách thức nhất định khi ngày càng gia tăng các đối thủ cạnh tranh trong ngành cả nội địa và quốc tế; nhu cầu của mặt linh kiện điện tử cũng chịu nhiều tác động bởi tình hình biến động phức tạp của thế giới nói chung và thị trường EU nói riêng, Chính vì vậy, bản thân công ty cần có chiến lược thích hợp để nâng cao năng lực trong hoạt động xuất khẩu, giúp tăng hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường
Tận dụng cơ hội trong nền kinh tế hội nhập, công ty TNHH BSE Việt Nam liên tục đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU, nghiên cứu, phát triển các dòng sản phẩm mới, các chiến lược mới để nâng cao tính cạnh tranh so với các đối thủ mạnh trên thế giới Năm 2022 có thể là một năm bùng nổ của công ty BSE Việt Nam bởi kim ngạch xuất khẩu ra thế giới đạt 9,76 tỷ USD, tăng 48% so với năm 2021 và kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 4,89 tỷ USD Con số này cho thấy, BSE đã có những bước tiến lớn trong việc thâm nhập vào được những thị trường khó tính, và có những
có hội mới để chiếm lĩnh được thị trường này Tuy nhiên, BSE cũng gặp nhiều thách
Trang 12thức bởi BSE phải cạnh tranh rất nhiều với nhiều đối thủ khác để có thể có một vị trí nhất định trên thị trường Các doanh nghiệp nước ngoài thường chiếm ưu thế về vốn, công nghệ, tính kỉ luật lao động, văn hóa kinh doanh Công ty BSE là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, luôn trong tình trạng thiếu vốn, công nghệ còn hạn chế, kỉ luật lao động chưa cao cũng như chưa hình thành được một nét văn hóa kinh doanh đặc thù
Vì thế, để có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thị trường EU, BSE Việt Nam cần phải có những giải pháp để nâng cao tính cạnh tranh của mình để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, vượt xa các đổi thủ lớn mạnh khác
Xuất phát từ vai trò, tính cấp thiết của việc xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử đối với nền kinh tế thị trường và công ty Thông qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng về vấn đề xuất khẩu của công ty, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu
khóa luận tốt nghiệp của mình là: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt
hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam
1.2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu đề tài
Năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu giúp doanh nghiệp tạo vị thế trên thương trường Cho đến hiện tại, có không ít nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh xuất khẩu nói riêng Tuy nhiên mỗi nghiên cứu đều có cách nhìn nhận khác nhau thông qua cách tiếp cận về chủ thể, phương pháp, nội dung và tiêu chí đánh giá Một vài công trình, luận
án nghiên cứu có liên quan đến đề tài như sau:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập mới” (năm 2020) của Tiến sĩ Phạm Thị Vân Anh đánh giá năng lực hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế quốc tế thế giới của Việt Nam từ năm 2011 đến năm 220 dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau Cùng với quá trình đổi mới, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam liên tục có sự cải thiện đáng kể Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam, hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, xếp hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam trong những năm qua đều đang có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực Đồng thời tác giá cũng đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong các giai đoạn 2020-2025 nhằm mục đích giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn trên thị trường quốc tế
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghệ điện tử Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (năm 2015) của Thạc sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Hoa-
Đại học kinh tế Hồ Chí Minh nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh và kinh nghiệm của một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc nâng cao
Trang 13năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam theo các tiêu chí lựa chọn từ năm 2010-
2015 Đồng thời, tác giả cũng đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới
Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty thương mại Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Đoàn Minh Thịnh (2018) Trên cơ
sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, trên cơ sở phân tích thực tiễn và xu hướng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam nói chung và Tổng công
ty thương mại Hà Nội nói riêng Tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh của tổng công ty thương mại Hà nội trong điều kiện hội nhập kinh tế rồi từ năm 2015-2018, sau đó đưa ra những giải pháp, đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh của trong việc xuất khẩu sản phẩm Tuy trong luận văn đã đề cập đến những hạn chế nhưng vẫn chưa đưa ra những giải pháp thiết thực định hướng cho công ty
Bộ Công Thương (2014) với đề án: "Nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt
hàng XK Việt Nam thời kỳ 2014 - 2020, định hướng đến 2030" Đề án tập trung đã sử
dụng phương pháp tiếp cận mới phổ biển trên thế giới hiện nay để kết hợp với cách tiếp cận truyền thống đó là tiếp cận trực tiếp và cụ thể vào các yếu tố vi mô của hàng hóa được tiêu dùng Nghiên cứu đã xây dựng các nhóm giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề từ ở tầm vĩ mô đến cấp vì mô nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
Đề tài luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Quảng Thành Việt Nam" tác giả Phạm Thị Lê Vy (2017), chuyên ngành Quản trị doanh
nghiệp Đây là một đề tài phản ánh đầy đủ về năng lực cạnh tranh, phân tích rõ thực trạng của công ty TNHH Quảng Thành và cũng đưa ra các giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty Tuy nhiên luận văn vẫn gặp phải những hạn chế khi chỉ phân tích thực trạng và giải pháp trong hoạt động kinh doanh của công ty chứ không đi sâu vào phân tích năng lực cạnh tranh của công ty
Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu tại Công ty TNHH Thực phẩm Xuất khẩu Hai Thanh”, Trần Nguyễn Ngọc Hiếu (2017), Trường
Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh Luận văn đã hệ thống được cơ sở lý luận liên quan đến nâng cao năng lực xuất khẩu, nêu ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Công ty dựa trên lý thuyết và đã nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu của công ty từ năm 2014 – 2017 Tuy nhiên, bài chưa đưa ra và phân tích các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận của công ty trong giai đoạn 2014
Trang 14– 2017 Dựa trên cơ sở phân tích thực trạng, nêu ra ưu điểm và - nhược điểm, bài luận
đã có những kiến nghị về giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu rõ ràng Bài nghiên cứu nói chung về tình hình xuất khẩu trên tất cả các thị trường, không tập trung vào một thị trường cụ thể
“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của Công ty TNHH Thương mại kỹ thuật Trí Việt sang thị trường Nhật Bản đến năm 2020” (2017) của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến là một đề tài phản ánh đầy đủ về năng
lực cạnh tranh, phân tích rõ thực trạng của công ty TNHH Thương Mại Kỹ Thuật Tri Việt và cũng đưa ra các giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực cạnh tranh cho công
ty Tuy nhiên luận văn vẫn gặp phải những hạn chế khi chỉ phân tích thực trạng và giải pháp trong hoạt động kinh doanh của công ty chứ không đi sâu vào phân tích năng lực cạnh tranh của công ty
Khóa luận: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng công ty Cổ phần Dệt may Hà Nội” (2022) của tác giả Lê Thị
Anh, trường Đại học Thương Mại Khóa luận phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu theo góc độ của sản phẩm là hàng may mặc Tác giả tập trung phân tích các tiêu chí đánh giá (chất lượng sản phẩm, danh tiếng và thương hiệu của doanh nghiệp và thị phần xuất khẩu may mặc của doanh nghiệp) cùng cùng các nhân tố ảnh hưởng (nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong) đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc của Tổng công ty sang Mỹ Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Tổng công ty giúp công trình hoàn thiện hơn Tuy nhiên các giải pháp đề xuất vẫn còn chung chung, chưa thiết thực và cụ thể giúp Tổng công ty nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của mình
Khóa luận: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu các sản phẩm nhựa công nghiệp sang thị trường Nhật Bản của Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội” (2022) của tác
giả Nguyễn Thị Thư, trường Đại học Thương Mại Tác giả phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu của công ty thông qua các yếu tố cấu thành (bao gồm: trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh về sản phẩm của doanh nghiệp, khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp, và công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp) và nhân tố ảnh hưởng (nhà cung ứng và đối thủ cạnh tranh) để đánh giá và đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao năng lực canh tranh xuất khẩu sản phẩm nhựa công nghiệp sang thị trường Nhật Bản của Tổng công
ty Tuy nhiên công trình chưa đi vào phân tích sâu về các tiêu chí đánh giá và các nhân
tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Tổng công ty
Trang 15Luận văn: “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam của công ty Simexco Daklak sang thị trường EU" của Th.S Trần Thị
Tuyết Nhung (2020) Đây là đề tài nghiên cứu đã thể hiện rõ được thực trạng sản xuất
và xuất khẩu của mặt hàng cà phê sang thị trường Châu Âu từ năm 2015 đến năm
2029, tác giả đánh giá về năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê của công ty dựa trên các tiêu chí năng lực sản xuất, năng lực tiếp cận thị trường, năng lực quản lý, năng lực đổi mới đồng thời tác giả cũng đưa ra giải tận trung hóa vào thị trường mục tiêu là
EU nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường khó tính này Tuy nhiên những giải pháp của tác giả đưa ra của tác giả vẫn còn lý thuyết, chưa phù hợp với hoàn cảnh và tài chính hiện tại của công ty Simexco Daklak
Luận văn: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm may mặc sang thị trường EU của Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Và Thương Mại TNG" (2022) của TS
Nguyễn Thị Khánh Linh, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả tập trung vào các nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Công ty TNG sang thị trường EU với sản phẩm là hàng may mặc như: Thị phần xuất khẩu, mặt hàng
và chất lượng sản phẩm xuất khẩu, thực trạng về năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu (trong đó tác giả phân tích về năng lực và tay nghê người lao động, công tác nghiên cứu thị trường, và công tác quản trị hệ thống phân phối và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp, cùng một vài nội dung khác về doanh nghiệp) Tuy nhiên giải pháp của khóa luận chưa gắn liền với những hạn chế tác giả đưa ra sau nghiên cứu tìm hiểu về
Từ đó tác giả có cái nhìn tổng quan và chi tiết về những thành công và hạn chế trong nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu chè của cách doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu Việt Nam, và phân tích mô hình SWOT Thông qua đó, tác giả đưa
ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu chè vào thị trường EU của các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 16“Thực trạng về thị trường linh kiện điện tử EU và nâng cao năng lực xuất khẩu linh kiện điện tử của công ty TNHH M-Holdings” (3/2023) của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Thư, Tác giả phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu của công ty thông qua các yếu tố cấu thành (bao gồm: trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh về sản phẩm của doanh nghiệp, khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp, và công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp) và nhân tố ảnh hưởng (nhà cung ứng và đối thủ cạnh tranh) để đánh giá và đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm nhựa công nghiệp sang thị trường EU của Tổng công ty Tuy nhiên công trình chưa đi vào phân tích sâu về các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Tổng công ty
Trong các bài nghiên cứu, luận văn trên, vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh đã được đề cập cho một số ngành nghề và quốc gia, bên cạnh đó, còn có các công trình đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các đơn vị sản xuất kinh doanh Tuy nhiên đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam” chưa có một cá nhân hay tổ chức nào thực hiện,
em đã kế thừa và chọn lọc những ý tưởng liên quan đến đề tài để phân tích tình hình thực tiễn và tìm một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty TNHH BSE Việt Nam sang thị trường EU với mặt hàng linh kiện điện tử
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của Công ty TNHH BSE Việt Nam
Mục tiêu cụ thể: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu chung nói trên, luận văn tập
trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp lý luận chung về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 17- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm và các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của công ty
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm tại Công
ty TNHH BSE Việt Nam
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của công ty TNHH BSE Việt Nam
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của công ty TNHH BSE Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của công
ty TNHH BSE Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về sản phẩm: Linh kiện điện tử (HS code: 85171100)
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu giai đoạn từ năm 2020 đến tháng
6 năm 2023
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Tham khảo từ Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian năm 2020, năm 2021, năm 2022 và 6 tháng đầu năm
2023
1.6.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo nội bộ công ty như báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm (2020 2022); tìm hiểu thông tin, dữ liệu trên trang web của International Trade Administration, Tổng cục Hải quan và các nguồn dữ liệu khác
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
- Phương pháp thống kê: thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, các báo đàng tin cậy liên quan khác Phân tích, giải thích, trình bày và tổ chức dữ liệu
Trang 18- Phương pháp tổng hợp: dựa trên thông tin đã tìm hiểu, thu thập được, đánh giá mức độ liên quan và tính chính xác, tổng hợp lại
- Phương pháp so sánh bằng cách sử dụng hệ thống bảng biểu đề so sánh, đối chiếu và phân tích các dữ liệu thu thập được
1.7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM
2.1 Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ cạnh tranh thường được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành sản phẩm hay quốc gia Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về cạnh tranh Có nhiều cách tiếp cận
để đưa ra khái niệm cạnh tranh, điển hình là một số quan niệm như sau:
Từ điển thuật ngữ kinh doanh Anh - Việt (xuất bản năm 1992) định nghĩa:
“Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (tái bản năm 1997): “Cạnh tranh là
hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”
Theo Từ điển Tiếng Việt (Tác giả: Viện ngôn ngữ học – Tái bản năm 2010):
“Cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những
tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau"
Theo Luật cạnh tranh (2004), "Cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tế giữa các
nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường, qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn."
Trong Đại từ điển Kinh tế thị trường (Viện Nghiên cứu và Phổ biển tri thức
Bách Khoa, Hà Nội 1998) cũng đưa ra định nghĩa: “cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp mà các mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của các đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý"
Trang 20Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Cac-Mac – F.Anghen ( tái bản năm 1993)
cho rằng: “Cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa theo chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất gây ra cạnh tranh, theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà tư bản đưa ra những biện pháp sử dụng để cạnh tranh là thường xuyên cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động, để thu lợi nhuận siêu ngạch"
Theo K Marx (1987): “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Các nhà kinh tế học Samuelson và Nordhaus (1997) cho rằng: “Cạnh tranh là
sự kình địch giữa các với nhau để giành khách hàng và thị trường”
Theo nhà kinh tế học người Mỹ - Michael Porter (1996): "Cạnh tranh là việc
giành giật từ đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh hông phải là tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh để họ có thể lựa chọn cho mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh"
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004): “Cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối
thủ mà là mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao, mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh”
Theo tác giả Đặng Đức Thành (2010) cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ
kinh tế nảy sinh trong cơ chế thị trường, trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua với nhau nhằm giành lấy những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu hút khách hàng về phía mình, tối đa hóa lợi nhuận còn khách hàng đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”
Như vậy, trong luận văn này, có thể hiểu: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các
chủ thể kinh tế, bằng mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, mục tiêu thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất, mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi ích”
2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, mỗi học giả có những cách tiếp cận khác nhau nên đưa ra những định nghĩa khác nhau
về năng lực cạnh tranh:
Trang 21Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2002): “Năng lực cạnh tranh
là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế”
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997): Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động”
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1977): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”
Theo quan điểm của UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển)(1999): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum) (2006), “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỉ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”
Theo quan điểm của Giorno Durand và cộng sự (1987), Anderton và Dunnett (1987) và Fagerberg (1988): “ Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là lợi thế về giả của hàng hóa/dịch vụ của quốc gia đó trên thị trường quốc tế”
Theo quan điểm của Michael Porter (1990): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hòa các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, tổ chức và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường”
Theo quan điểm của tác giả Cho, D (1994) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng chiếm lĩnh được vị trí cao trên thị trường thông qua mức lợi ích cao và tăng trưởng liên tục so với đối thủ cạnh tranh Một quốc gia không thể có NLCT quốc tế nếu chỉ có một hoặc hai ngành công nghiệp thành công
và quốc gia đó cần phải tạo ra những ngành có lợi thể CT có sức lan tỏa tới những ngành công nghiệp khác
Trang 22Theo Pitts và Lagnevik (1997): “Năng lực cạnh tranh chỉ là một khái niệm tương đổi và có tính chất động do các điều kiện về thị trường liên tục thay đổi Nó liên quan với việc duy trì hoặc tăng thị phần trong tương lai của quốc gia, một ngành, hay một DN
Theo tác giả Momaya và Ambastha (2004): “Năng lực cạnh tranh đơn giản là khả năng cạnh tranh” Ngày nay đây là một khái niệm phố biển để chỉ sức mạnh về mặt kinh tế của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một doanh nghiệp khi so sánh với các đối thủ của nó trong nền kinh tế thị trường toàn cầu mà ở đó hàng hóa, dịch vụ, con người, kỹ năng và ý tưởng có thể dịch chuyển tự do không giới hạn bởi các biên giới địa lý
Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học của tác giả Hữu Khuê Mai (2001): “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trường”
Theo Bạch Thụ Cường (2002) trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại:
“Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”
Dựa vào các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất khái niệm về
NLCT như sau: “Năng lực cạnh tranh của một chủ thể kinh tế là khả năng sử dụng
nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm chiếm vị trí cao trên thị trường được thể hiện thông qua thị phần và danh tiếng so với đối thủ cạnh tranh”
2.1.3 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Scott và Lodge (1985) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của một quốc gia tạo ra, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế
và thu được nguồn lợi tăng lên tử các nguồn lực của nó
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tiếp cận khái niệm này cụ thể hơn dựa trên các trụ cột của một quốc gia: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hưởng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn" Năng lực cạnh tranh của một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nước đó Vì vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành thông qua tác động đến các doanh nghiệp trong
Trang 23nước của ngành; thêm vào đó tác động đến thu hút đầu tư nước ngoài – thứ mà sau cùng cũng tác động đến năng lực cạnh tranh của những ngành thu hút được đầu tư nước ngoài
Theo Asia Development Outlook (2003): “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế” Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ảnh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó
Trong bảo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (1997) đã nêu khái niệm: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một quốc gia được xác định là năng lực của
một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư tốt, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân
Năng lực cạnh tranh cấp ngành
Theo IMD (2004): “Năng lực cạnh tranh ngành là cuộc cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình tuân và giá trị sản xuất” Năng lực cạnh tranh ngành thường được dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đương đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài
Vì vậy, năng lực cạnh tranh ngành không chỉ được quyết định bởi các yếu tố nội tại của ngành, tức năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, mà còn bởi các yếu tố từ Chính phủ trong việc xây dựng môi trường kinh doanh, tức là năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Công nghiệp Canada (1995) và Grossi (1990): “Năng lực cạnh tranh cấp
doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư
Trang 24vào hoạt động sản xuất kinh doanh” Ở cấp độ này, chỉ số cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như khả năng sinh lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần Bên cạnh
đó, các yếu tố như các kĩ năng quản trị, tài chính, những kiến thức về mặt công nghệ, bản chất của thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Michael Porter (1990) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả
năng của một doanh nghiệp nhất định cạnh tranh thành công trong một môi trường kinh doanh nhất định”
Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997): “Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khải niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động"
Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (1992): “Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu
tổ sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế."
Theo TS Nguyễn Minh Tuấn (2010) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm,
mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao, đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững”
Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa (2004) trình bày trong bài viết "Phương pháp
luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp” được đăng trên tạp chí khoa học thương mại của trường ĐH Thương Mại thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là: “Tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của doanh trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định"
Từ đây, ta có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:
"Khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững"
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Đối với khái niệm này, cho đến nay các nhà nghiên cứu kinh tế cũng vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất Các khái niệm đưa ra đều dựa trên khái niệm
về năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp:
Trang 25Theo Porter (1990) thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm là: “Sự vượt trội về
các chỉ tiêu so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ cung cấp trên cùng một thị trường” Như vậy thực chất NLCT của SP là:
Khả năng đáp ứng các tiêu chỉ của thị trường đặt ra đối với SP như chất lượng, tỉnh nổi trội, độ an toàn giá trị sử dụng và tính thẩm mĩ cao
Theo hai tác giả Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro (1995) nhận định: “Sản
phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm Sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại một giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh"
Theo một số tác giả: “năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó
về các tiêu chí so với sản phẩm cùng loại do đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường” Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm
về số lượng, chất lượng, bao bì, mẫu mã, về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng so với sản phẩm cùng loại mà các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường
Một số tác giả khác lại cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là
năng lực nằm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định”
Như vậy thực chất năng lực cạnh tranh của sản phẩm là: Khả năng đáp ứng
các tiêu chỉ của thị trường đặt ra đối với sản phẩm như chất lượng, tỉnh nổi trội, độ an toàn giá trị sử dụng và tính thẩm mĩ cao
2.2 Một số lý thuyết về hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
2.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập và mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu diễn
ra mạnh mẽ, bên cạnh đó, xuất khẩu sản phẩm chịu sự cạnh tranh gay gắt Tuy nhiên
từ trước đến nay chưa có nhiều khái niệm diễn tả năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm Có thể hiểu năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm đó là sự vượt trội sản phẩm của một quốc gia so với các sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác về chất lượng
Trang 26và giá cả, với cùng điều kiện đáp ứng được yêu cầu của thị trưởng nhập khẩu trong cùng một thời điểm Tuy nhiên, ngày nay vẫn để cạnh tranh không chỉ còn là việc so sánh giữa giá cả và chất lượng mà còn nhiều yếu tố khác như thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, sự độc đáo của sản phẩm, sự khác biệt của sản phẩm Nếu sản phẩm chỉ có giá rẻ hơn hoặc chất lượng hơn chưa chắc đã thuyết phục người tiêu dùng chọn mua
Với cách nhìn nhận như trên kết hợp với sự kế thừa, tác giả đề xuất khái niệm
năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm là sự vượt trội cả về định tính (gồm: chất
lượng, thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, ) và định lượng (gồm: giá bán, thị phần, sản lượng, doanh thu, ) của một sản phẩm xuất khẩu so với các sản phẩm cùng loại ở thị trường nước ngoài tại cùng một thời điểm Đồng thời để đánh giá năng lực
cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu cần sử dụng các tiêu chí như: chất lượng, số lượng sản phẩm bán ra, doanh thu, giá cả, thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng, sự độc đáo, sự khác biệt của sản phẩm, so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh tại thời điểm nghiên cứu
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp
Thị phần
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định:
Thị phần của doanh nghiệp =
Chi tiêu này cảng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trưởng của doanh nghiệp càng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trưởng nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh
Bằng chi tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
so với đối thủ ta còn dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỉ lệ so sánh về doanh thu
Trang 27của Công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể
và xác thực của đối thủ
Tăng trưởng thị phần và lợi nhuận
Lợi nhuận là phần còn lại của doanh thu khi đã trừ các chi phí dùng vào hoạt động kinh doanh Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao là doanh nghiệp có doanh thu lớn và chi phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của mình so với đối thủ cạnh tranh Ta thưởng tỉnh chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận:
Tỉ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng doanh thu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp Vì nếu doanh nghiệp có thu được doanh thu lớn nhưng kèm theo là chi phí lớn thì hiệu quả không cao Doanh nghiệp cần phấn đấu làm sao vừa tăng doanh thu nhưng phải kết hợp với giảm chi phí
để đạt được lợi nhuận cao
Chất lượng của sản phẩm
Chất lượng là một trong các yếu tố quan trọng tạo lên ưu thế cạnh tranh của sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao phải đặt trong mối quan hệ với giá cả, mẫu mã và các các dịch vụ của doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường Sản phẩm có chất lượng cao, giá cả, mẫu mã phù hợp với thị trường mục tiêu sẽ tạo ra ưu thế, uy tín riêng của doanh nghiệp về sản phẩm của mình
Các doanh nghiệp xuất khẩu muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các nước khác trên thế giới Nâng cao chất lượng sản phẩm gắn liền với sự phát triển công nghệ của doanh nghiệp, và đặc biệt là với yếu tố chi phí Nâng cao chất lượng với chi phí tối thiểu cho phép là biện pháp mà doanh nghiệp nào cũng muốn nhưng để thực hiện nó là cả một vấn đề
Giá cả sản phẩm
Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của doanh nghiệp và khả năng sinh lời Đồng thời, giá cả còn là một công cụ linh hoạt nhất, mềm
Trang 28dẻo nhất trong cạnh tranh Giá của sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua thỏa thuận giữa người bán và người mua Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, khách hàng là thượng đế, họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất Với cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn đối với sản phẩm mà họ cần mua
Khi thu nhập của đại bộ phận dân cư đều tăng, khoa học kỹ thuật phát triển thì việc doanh nghiệp định giá thấp chưa hẳn là giải pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng với việc suy giảm chất lượng Vì vậy, định giá thấp, định giá ngang thị trường hay định giá cao, làm sao sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh lợi hại là tùy thuôc vào chiến lược marketing của doanh nghiệp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tùy thuôc vào đặc điểm của từng vùng thị trường
Trình độ công nghệ
Máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới một doanh nghiệp Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giả thành và giá bán sản phẩm
Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhất định sẽ có chất lượng cao Ngược lại không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có năng lực cạnh tranh cao khi mà trong tay họ là cả hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu
Thương hiệu
Thương hiệu của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Xây dựng được một thương hiệu có tên tuổi trên thị trường là một điều khó đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược lâu dài và đúng đắn Để giữ được thương hiệu lại càng khó hơn Thương hiệu là bản chứng nhận
uy tín của doanh nghiệp trên thị trường đối với khách hàng Thương hiệu là một tài sản
vô hình của doanh nghiệp, khó thấy rõ lợi ích mà nó mang lại ngay trước mắt những ảnh hưởng của nó là vô cùng to lớn với các hoạt động của doanh nghiệp Một khi doanh nghiệp tạo được uy tín với bạn hàng, khách hàng thì đó là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp trong tương lai
Độ nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng
Trang 29mức độ tin cậy từ người tiêu dùng cao thì năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ tốt hơn
Chi phí sản xuất
Chi phí là số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh, bởi vậy mà nó được coi là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Xét một cách tổng thể chi phí thấp sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm giá bán → tăng số lượng bán ra → tăng lợi nhuận → tăng khả năng cạnh tranh Ngược lại chi phí cao sẽ dẫn đến giá thành cao, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kém so với đối thủ
có chi phí thấp Để sử dụng chi phí có hiệu quả doanh nghiệp cần đưa ra được định mức chi phí cho từng công việc và giảm bớt chi phi không cần thiết Nhớ xét về tỉ suất chi phí: khi tỉ suất chi phí cao có nghĩa là để có một đồng lợi nhuận doanh nghiệp phải
bỏ ra nhiều đồng chi phí, tức là doanh nghiệp đã chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh bằng chi phí Do vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch trong việc sử dụng mức chi phí nào cho hoạt động nào để đảm bảo tỉ suất chi phí giảm dần qua các năm, có ý nghĩa là tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí
từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố về marketing như khả năng tiếp cận thị trường, khả năng xây dựng thương hiệu, khả năng đưa ra chiến lược giá cả cạnh tranh, quản lý quan hệ khách hàng và khả năng xây dựng mối quan hệ với các đối tác cũng có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp
2.2.3 Các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
Thông qua việc phân tích 5 áp lực cạnh tranh trong ngành đồng thời xem xét điểm mạnh và điểm yếu, các doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược phù hợp để tạo nên
Trang 30lợi thế cạnh tranh nhất Theo Michael Porter đã xác định ba chiến lược cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể áp dụng
Thứ nhất là chiến lược dẫn đầu về chi phí
Chiến lược dẫn đầu về chi phí (Cost Leadership Strategy) nhấn mạnh đến tỉnh hiệu quả Mục tiêu của chiến lược này là giành thị phần bằng cách bán sản phẩm với mức giá thấp nhất trong đoạn thị trường mục tiêu Để thu được lợi nhuận và đạt được tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao, công ty phải áp dụng sản xuất một khối lượng lớn các sản phẩm tiêu chuẩn nhằm tận dụng lợi thế theo quy mô và tác động của đường cong kinh nghiệm Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp chỉ áp dụng được đổi với những doanh nghiệp lớn có khả năng sử dụng lợi thế kinh tế theo quy mô với khối lượng sản xuất và thị phần lớn, có năng lực quản lí tốt và có chính sách giá linh hoạt
Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp có một số ưu điểm như: Doanh nghiệp bán sản phẩm với mức chi phí thấp hơn đối thủ mà vẫn duy trì được mức lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận trên vốn như mong đợi, với mức chi phí thấp sẽ nâng cao sức chịu đựng của công ty nếu xảy ra chiến tranh về giá cả hay có sức ép về giá từ phía nhà cung cấp, đồng thời mức chi phí thấp sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh và từ đó tạo nên rào cản gia nhập ngành đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Bên cạnh nhiều ưu điểm, chiến lược này cũng bộc lộ một số rùi to như: nguy cơ xuất hiện các đối thủ cạnh tranh hiệu quả hơn về chi phí, những thay đổi không ngưng về công nghệ sẽ làm cho nguồn đầu
tư vào dây chuyền sản xuất khổng lồ trở thành vô nghĩa, thậm chỉ sản phẩm có thể bị thay thế hoàn toàn gây lãng phí rất lớn, chỉ phí thấp cũng tạo ra hiệu ứng e ngại trong tâm lí của khách hàng
Thứ hai là chiến lược khác biệt hóa sản phẩm
Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm (Differentiation Strategy) là chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ có sự khác biệt rẻ so với đối thủ cạnh tranh Mục tiêu của chiến lược khác biệt hoá sản phẩm là có được lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ có thể thỏa mãn các loại như cầu có tính chất độc đáo hoặc các loại nhu cầu cụ thể của một nhóm khách hàng khác nhau của doanh nghiệp Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm chỉ phủ hợp với những công ty có quy mô lớn, có năng lực marketing, nghiên cứu & phát triển mạnh Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm mang lại một số ưu điểm cho doanh nghiệp như khả năng áp đặt mức giá vượt trội so với đối thủ cạnh tranh, từ đó tối đa hóa lợi nhuận thu được; các sản phẩm được khác biệt hóa sẽ dễ dàng lấy được lòng trung thành của khách hàng hơn với ít nỗ lực marketing hơn; đồng thời điều này tạo nên một
Trang 31rào cản gia nhập nhất định với các đối thủ muốn gia nhập ngành Tuy nhiên, chiến lược này còn một số hạn chế như Sản phẩm dễ bị làm giả, làm nhái ảnh hưởng đến doanh thu và thương hiệu của công ty; sự trung thành của khách hàng dễ bị đánh mất khi thông tin ngày càng nhiều và chất lượng của các sản phẩm cạnh tranh ngày càng tăng, gia tăng sự khác biệt về chi phí giữa công ty theo đuổi chiến lược khác biệt hóa sản phẩm với công ty theo đuổi chiến lược dẫn đầu chi phí thấp, do đó tạo động lực để khách hàng trung thành chuyển đổi thương hiệu, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn khi nhu cầu và thị hiểu của khách hàng thay đổi nhanh, nếu doanh nghiệp tụt hậu quả nhiều sẽ để mắt thị trường vào tay doanh nghiệp dẫn đầu chi phí thấp
Thứ ba là chiến lược tập trung trọng điểm
Chiến lược tập trung trọng điểm (Focus Strategy) như tên gọi của nó là chiến lược tập trung vào thị trường mà doanh nghiệp có ưu thế vượt trội hơn so với các đối thủ khác trên
cơ sở ưu thế chi phí thấp nhất hay khác biệt hoá sản phẩm trên phân đoạn thị trường ngách mục tiêu Nói cách khác, chiến lược tập trung trọng điểm chuyên tâm vào việc phục vụ một ngách thị trường đặc biệt được phân định theo địa lý, theo hạng khách hàng hoặc theo phân khúc nhỏ trên một tuyển sản phẩm đặc thù Mục tiêu của chiến lược này là tập trung đáp ứng cầu của 1 nhóm người tiêu dung nào đó hay một đoạn thị trường Chiến lược này phù hợp với những công ty có quy mô nhỏ, sản xuất một hay một số loại sản phẩm hướng vào một tập khách hàng hay vùng địa lí nhất định
Những ưu điểm mà chiến lược này mang lại gồm việc tạo sức mạnh thương hiệu với khách hàng vì công ty là người cung cấp sản phẩm/dịch vụ độc đáo, tạo nên rào cản gia nhập với các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, cho phép doanh nghiệp tiến gần đến khách hàng và phản ứng kịp thời trước những thay đổi về nhu cầu, đồng thời công ty
có thể phát triển những thế mạnh của mình để tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận Tuy nhiên, bên cạnh đó chiến lược này cũng có một số nhược điểm như chi phí cao do sản xuất quy mô nhỏ, do phụ thuộc vào một đoạn thị trường duy nhất nên vị thế cạnh tranh
có thể suy yếu do thay đổi về công nghệ, thị hiếu của khách hàng hay thay đổi đoạn thị trường tập trung, vấp phải sự cạnh tranh mạnh từ các doanh nghiệp khác biệt hóa hay dẫn đầu chỉ phí thấp trên diện rộng
2.3 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp
2.3.1 Sản phẩm thay thế
Những sản phẩm thay thế là cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng ngành Sự ra đời của sản phẩm thay thế
Trang 32mới là nhu cầu tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú Chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế Các sản phẩm thay thế nó sẽ chiếm ưu thế hơn về công nghệ, mẫu mã, giá cả
và dần thu hẹp thị trường của sản phẩm bị thay thế Để khắc phục tình trạng thị trường
bị thu hẹp thì các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sản phẩm mới nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm thay thế hay nói cách khác doanh nghiệp phải luôn hướng tới khách hàng để tìm độ thỏa dụng mới
Yếu tố sản phẩm thay thế bao gồm:
- Tính đa dạng và chất lượng sản phẩm thay thế: Nếu có nhiều lựa chọn sản phẩm thay thế tốt hơn về chất lượng hoặc đa dạng hơn về mẫu mã, thương hiệu, giá cả, đặc tính kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn
- Thị trường tiêu thụ: Việc xuất khẩu sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào thị trường tiêu thụ Nếu thị trường đó có nhiều sản phẩm thay thế tốt hơn về chất lượng, giá cả, tiêu chuẩn chất lượng và đặc tính kỹ thuật thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh và tiếp cận thị trường đó
- Đặc tính của sản phẩm: Sản phẩm của doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, đặc tính kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng của thị trường đó Nếu sản phẩm của doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu này thì sản phẩm thay thế có thể thay thế vị trí của sản phẩm đó trên thị trường
- Sự đa dạng của ngành công nghiệp: Nếu ngành công nghiệp có nhiều sản phẩm thay thế, doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với nhiều đối thủ khác nhau trên thị trường Điều này đặt áp lực cao đối với doanh nghiệp để đảm bảo sản phẩm của mình luôn được cải tiến và nâng cao chất lượng để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường
Vì vậy, để tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp cần chú ý tới các yếu tố trên để đưa ra các giải pháp cải tiến sản phẩm, tăng cường năng lực sản xuất
2.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện hữu
Yếu tố đối thủ cạnh tranh hiện hữu có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm:
- Số lượng đối thủ cạnh tranh: Số lượng đối thủ cạnh tranh càng nhiều, doanh nghiệp càng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn Điều này yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tiếp cận và giành được thị phần
Trang 33- Tính chất và chất lượng của sản phẩm đối thủ cạnh tranh: Nếu sản phẩm đối thủ có chất lượng tốt hơn, tính đa dạng hơn và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn
- Chiến lược cạnh tranh của đối thủ: Chiến lược cạnh tranh của đối thủ cũng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu đối thủ có chiến lược cạnh tranh tốt hơn và hiệu quả hơn thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khó khăn hơn
- Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ của sản phẩm cũng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu thị trường đó có nhiều đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn để giành được thị phần
Vì vậy, để tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp cần đối mặt với các đối thủ cạnh tranh một cách chủ động, đưa ra các chiến lược cạnh tranh phù hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm và tìm kiếm thị trường mới để giành được thị phần
2.3.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Yếu tố đối thủ cạnh tranh tiềm tàng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm: Số lượng và tính đa dạng của đối thủ tiềm tàng: Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng có thể xuất hiện từ nhiều quốc gia khác nhau với nhiều sản phẩm khác nhau Điều này có thể ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp khi đối mặt với các đối thủ mới trên thị trường
- Tính đột phá của sản phẩm đối thủ tiềm tàng: Sản phẩm đối thủ tiềm tàng có thể có tính đột phá cao, có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường một cách tốt hơn Điều này có thể ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp
- Chiến lược tiếp cận thị trường của đối thủ tiềm tàng: Đối thủ tiềm tàng có thể
có chiến lược tiếp cận thị trường tốt hơn, sáng tạo hơn và hiệu quả hơn Điều này có thể khiến cho doanh nghiệp đối mặt với sự cạnh tranh khó khăn hơn khi tiếp cận thị trường
- Thị trường tiêu thụ tiềm tàng: Thị trường tiêu thụ tiềm tàng cũng là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp Thị trường tiêu thụ tiềm tàng có thể có nhiều đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện, gây ra
sự cạnh tranh gay gắt hơn
Do đó, để tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp cần phải đưa ra các chiến lược cạnh tranh phù hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm và nghiên cứu thị trường tiềm tàng để đối phó với các đối thủ cạnh tranh mới
Trang 34số lượng, chất lượng, kịp thời về thời gian và ổn định về giá cả Muốn vậy, doanh nghiệp bên cạnh lựa chọn nhà cung cấp chính và ổn định thì cũng phải đa dạng hóa các nguồn cung cấp để tránh độc quyền chèn ép từ các nhà cung ứng
Yếu tố nhà cung cấp là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm:
- Độ tin cậy của nhà cung cấp: Độ tin cậy của nhà cung cấp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn cung sản phẩm, độ chính xác của sản phẩm và thời gian giao hàng Nếu nhà cung cấp không đảm bảo được các yếu tố này, doanh nghiệp
sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
- Chi phí của nguyên liệu: Chi phí của nguyên liệu cũng là một yếu tố quan trọng Nếu chi phí quá cao, doanh nghiệp sẽ không thể cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường
- Chất lượng của nguyên liệu: Chất lượng của nguyên liệu ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng Nếu nguyên liệu không đảm bảo chất lượng, sản phẩm cuối cùng sẽ không được đánh giá cao và doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu sản phẩm
- Thời gian giao hàng: Thời gian giao hàng cũng là yếu tố quan trọng Nếu thời gian giao hàng quá lâu, doanh nghiệp sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và có thể mất thị phần trên thị trường xuất khẩu
2.3.5 Khách hàng
Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng hóa của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thì khách hàng là nhân tố sống còn quan trọng nhất của doanh nghiệp, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Khách hàng giải quyết khâu cuối cùng của sản xuất, đó là khâu tiêu thụ Chỉ khi tiêu thụ được hàng hóa thì doanh nghiệp mới thu được vốn để tải sản xuất và lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động Cùng với sự phát triển của
Trang 35nền kinh tế thì đời sống của người dân cũng nâng lên kéo theo nhu cầu cũng cao hơn không chỉ đơn thuần là “ăn no mặc ấm” nữa mà còn nâng lên thành “ăn ngon mặc đẹp” Do vậy doanh nghiệp muốn kéo khách hàng về phía mình thì không
Yếu tố khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm:
- Nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất Nếu doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, chất lượng, giá cả và dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
- Sự tín nhiệm của khách hàng: Sự tín nhiệm của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường Nếu khách hàng tin tưởng và hài lòng với sản phẩm của doanh nghiệp, họ sẽ tiếp tục sử dụng sản phẩm đó và giới thiệu cho người khác sử dụng
- Sự đa dạng của khách hàng: Sự đa dạng của khách hàng cũng là yếu tố quan trọng Nếu doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu của nhiều khách hàng khác nhau, doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
- Sự phát triển của thị trường: Sự phát triển của thị trường cũng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Nếu thị trường phát triển
và có nhu cầu cao về sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường này
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công ty TNHH BSE Việt Nam
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của công ty trong
việc xuất khẩu linh kiện điện tử, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty, các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh, cũng như các giải pháp đưa ra để tăng cường sức mạnh cạnh tranh của công ty
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu có thể được xác định cụ thể dựa
trên phương pháp và phạm vi của nghiên cứu
- Phạm vi địa lý: Nghiên cứu tập trung vào hoạt động xuất khẩu mặt hàng linh
kiện điện tử sang EU của công ty TNHH BSE Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM 3.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH BSE Việt Nam
Công ty TNHH BSE Việt Nam 100% vốn Hàn Quốc, chuyên sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng, linh kiện điện tử, dùng cho các thiết bị di động Hiện đang cung cấp
hàng cho các tập đoàn điện tử lớn như Samsung, LG, Nokia, và các đơn vị khác
Bảng 3.1 Giới thiệu công ty TNHH BSE Việt Nam
Tên quốc tế BSE VIETNAM COMPANY LIMITED (Viết tắt: BSE
VIETNAM CO.,LTD)
Loại hình hoạt động Công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài nhà nước
Vốn điều lệ 480.000.000.000 VNĐ (Bốn trăm tám mươi tỷ đồng)
Địa chỉ Cụm công nghiệp Ba Hàng, Phường Ái Quốc, Thành
phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương, Việt Nam
Trang 37- Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 15/11/2011, Công ty TNHH BSE Việt Nam được thành lập ngày với
100% vốn Hàn Quốc, là nơi nơi chuyên sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng, linh kiện điện tử, dùng cho các thiết Qua 12 năm hoạt động, công ty TNHH BSE Việt Nam đã
và đang tạo được vị thế trong lĩnh vực linh kiện điện tử Hiện nay, công ty là một trong những nhà cung cấp linh kiện điện tử hàng đầu cho những nhà sản xuất điện thoại di động lớn trên thế giới như: Samsung, Nokia, Motorola, HTC
- Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty
2640: Sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng: Sản xuất, lắp ráp, gia công linh kiện
âm thanh; sản xuất, lắp ráp, gia công tai nghe, loa, mic dùng cho máy điện thoại di động, TV, máy tính và các thiết bị di động và điện tử khác
2610: Sản xuất linh kiện điện tử: Sản xuất, gia công, lắp ráp linh kiện điện tử siêu nhỏ 4690: Bán buôn tổng hợp: Thực hiện quyền nhập khẩu hàng hóa có mã HS
851770; 851810; 85182920; Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa có mã HS 851770; 851810; 85182920
7020: Hoạt động tư vấn quản lý
7110: Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan
7120: Kiểm tra và phân tích kỹ thuật Cơ cấu tổ chức: Sơ đồ tổ chức của Công
ty được thể hiện một cách chuyên nghiệp với cơ cấu tổ chức các phòng ban cũng như phân chia trách nhiệm công việc ở các phòng ban rõ ràng và linh hoạt Sự phối hợp chặt chẽ giữa khối khối văn phòng và khối sản xuất giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả nhất
Sơ đồ tổ chức của Công ty được thể hiện một cách chuyên nghiệp với cơ cấu tổ chức các phòng ban cũng như phân chia trách nhiệm công việc ở các phòng ban rõ ràng và linh hoạt Sự phối hợp chặt chẽ giữa khối khối văn phòng và khối sản xuất giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả nhất
Trang 38Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH BSE Việt Nam
Nguồn: Hồ sơ năng lực Công ty TNHH BSE Việt Nam
3.1.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2020-2023
Hoạt động kinh doanh
Hiện nay, Công ty TNHH BSE Việt Nam cũng đang sở hữu các dây chuyền sản xuất với công nghệ hiện đại, có thể sản xuất và cung ứng các linh kiện điện tử để phục vụ cho nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH BSE Việt Nam giai
Giá trị Tăng trưởng
(so với năm 2020)
Giá trị Tăng trưởng
(so với năm 2021)
1 Doanh thu thuần 116.47 138.78 +19.15% 167.34 +21.57%
Trang 39Dựa trên số liệu tài chính của Công ty TNHH BSE Việt Nam giai đoạn
2020-2022 được thể hiện trên Bảng 2.1, có thể thấy:
Về lợi nhuận:
Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Công ty được biểu hiện rõ qua lợi nhuận đạt được Mức lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng trưởng đều qua các năm trong giai đoạn 2012 - 2022 Cụ thể, Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2020 là 10.28 tỷ đồng Năm 2021, lợi nhuận tăng trưởng vượt trội 56.90% so với năm 2019, đạt mức 16.13 tỷ đồng, cho thấy công ty đã phục hồi lợi nhuận nhanh chóng sau đại dịch toàn cầu Năm
2022, lợi nhuận đạt mức 18.89 tỷ đồng, tăng 17.11% so với năm 2021 Công ty TNHH BSE có hoạt động sản xuất và cung cấp linh kiện điện tử cho doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong đó, xuất khẩu là hoạt động mà doanh nghiệp tập trung đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trên khắp Thế giới
Kim ngạch xuất khẩu
Hình 3.2 Kim ngạch xuất khẩu của Công ty TNHH BSE Việt Nam
giai đoạn 2020 – 2022
Đơn vị: Tỷ đồng Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty TNHH BSE Việt Nam giai đoạn 2019 - 2021
82.48
113.56
128.97
0 20 40 60 80 100 120 140
Trang 40Qua Biểu đồ 3.2 có thể thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty giai đoạn 2020-2022 khá khả quan với mức tăng trưởng ổn định qua các năm Cụ thể: Năm
2021, tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt hơn 113 tỷ USD, tăng 33.69% so với năm 2020 (tương ứng 31.18 tỷ VNĐ)
Sau đó, năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty đã dần ổn định và tăng 64.90% so với năm 2021 (tương ứng gần 15 tỷ VNĐ) Và trong 6 tháng đầu năm
2023, doanh nghiệp cũng đã có những bước tiến mới trong việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm và có một chỗ đứng ổn định trên thị trường
Cơ cấu lĩnh vực xuất khẩu chính
Trong giai đoạn 2020 - 2023, Công ty Cổ phần TNHH BSE Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu hai lĩnh vực chủ đạo, bao gồm: sản phẩm điện tử dân dụng (linh kiện
âm thanh; tai nghe, loa, mic dùng cho máy điện thoại di động, TV, máy tính và các thiết bị di động và điện tử khác) và linh kiện điện tử (linh kiện điện tử siêu nhỏ)
Bảng 3.3 Cơ cấu lĩnh vực kinh doanh chủ đạo của Công ty BSE Việt Nam
giai đoạn 2020 – 2022
Đơn vị: Tỷ đồng
Kim ngạch
xuất khẩu
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Nguồn: Báo cáo thường niên công ty TNHH BSE giai đoạn 2020-2022
Dựa vào Biểu đồ cơ cấu lĩnh vực kinh doanh có thể nhận thấy, sản phẩm điện tử dân dụng đã có sự tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2020-2022 bao gồm cả giá trị xuất khẩu lẫn tỷ trọng Giá trị sản phẩm điện tử dân dụng năm 2020 đạt 53.76% chiếm