đề cương ôn thi kết thúc học phần môn Tài chính công, có ví dụ phân tích cụ thể chia tiếtttttttttttttttttttttttttt đếnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnn từngggggggggggggggggggggggggg câuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuu
Trang 14 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, phân tích đánh giá thu nhập công 15
7 Khái niệm, nội dung, nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN 21
10 Quan niệm về cân đối NSNN và một số lý thuyết về cân đối NSNN gồm: Lýthuyết cổ điển về thăng bằng NSNN, Lý thuyết hiện đại về cân đối NSNN, Lýthuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt, Lý thuyết về ngân sách chu kỳ 25
12 Các nguyên tắc cân đối NSNN, công cụ tổ chức cân đối NSNN 28
14 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tín dụng nhà nước 31
16 Các hình thức huy động vốn tín dụng của Nhà nước 32
17 Quản lý hoạt động huy động vốn tín dụng nhà nước theo phương thức phát
18 Chính sách sử dụng, nguyên tắc quản lý sử dụng nguồn vốn tín dụng nhànước; Các hình thức sử dụng vốn tín dụng nhà nước 33
19 Khái niệm, các hình thức nợ công, quản lý nợ công 35
20 Khái niệm, nội dung hoạt động của một số quỹ tài chính công ngoài NSNN,gồm: Quỹ bảo hiểm xã hội, Quỹ dự trữ nhà nước, Ngân hàng phát triển (Quỹ hỗ
- Dạng 1: Phát biểu sau đây là đúng hay sai? (Hoàng Thùy) 39
- Dạng 2: Điền từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống của phát biểu sau đây? (Hoàng
1 Nội dung chức năng giám đốc của tài chính công Nhận xét về việc phát huy tácdụng của chức năng này trong thực tế hoạt động thu NSNN ở Việt Nam hiện nay
Trang 2công Cho ví dụ minh họa 41
4 Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội? Liên hệ với thực tế Việt
5 Các nguyên tắc hoạt động của tài chính công Thực tế vận dụng các nguyên tắc
6 Khái niệm, các đặc trưng cơ bản của tài chính công? Ý nghĩa của việc nghiên
7 Khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập công? Ý nghĩa của việc nghiêncứu? Nhận xét về tác động của những nhân tố này đến thu nhập công của Việt
8 Các chỉ tiêu đánh giá thu nhập công? Ý nghĩa của từng chỉ tiêu? 47
9 Vai trò của chi tiêu công? Lấy dẫn chứng thực tế ở Việt Nam hiện nay để làm rõcác vai trò đó? Bình luận, đánh giá về hoạt động chi tiêu công cho đầu tư pháttriển và chi thường xuyên của Việt Nam trong những năm vừa qua? 49
10 Nội dung của quy trình đánh giá chi tiêu công? 50
11 Khái niệm, các nguyên tắc và nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước?Việc quán triệt các nguyên tắc này trong phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nướcViệt Nam hiện nay? (lý thuyết câu 7 nhóm câu hỏi 1) 50Việc quán triệt các nguyên tắc này trong phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
12 Các nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN? Việc quán triệt các nguyên tắc đótrong thực tế tổ chức hệ thống NSNN ở Việt Nam hiện nay? 54
13 Khái niệm bội chi NSNN, các nguyên nhân dẫn đến bội chi NSNN? Nhận xét
về nguyên nhân dẫn đến thâm hụt NSNN Việt Nam trong 5 năm vừa qua? Các giảipháp mà Chính phủ Việt Nam đã và đang áp dụng để khắc phục tình trạng thâm
14 Các nguyên tắc cân đối Ngân sách Nhà nước? Các biện pháp để cân đối thu chi Ngân sách nhà nước? Nhận xét về việc thực hiện các nguyên tắc đó trong quátrình điều hành Ngân sách Nhà nước Việt Nam hiện nay? Biện pháp nào là hiệuquả nhất để đảm bảo cân đối thu - chi Ngân sách Nhà nước trong điều kiện Việt
15 Tính tất yếu khách quan của tín dụng nhà nước? Đặc điểm của tín dụng nhà
16 Khái niệm, vai trò tín dụng Nhà nước? Việc phát huy các vai trò đó trong quátrình phát triển nền kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua? 62
17 Nội dung chính sách cho vay vốn tín dụng Nhà nước? Nguyên tắc quản lý sử
18 Các hình thức nợ công? Các nguyên tắc quản lý nợ công? Liên hệ thực tế triển
19 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của các quỹ tài chính công ngoài Ngân sách Nhànước? Lấy ví dụ về một quỹ tài chính công ngoài Ngân sách Nhà nước ở Việt namhiện nay để minh họa cho các vai trò, đặc điểm đó? 65
20 Nội dung hoạt động của Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ dự trữ nhà nước, Ngân
Trang 3hàng phát triển (Quỹ hỗ trợ phát triển), Quỹ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Quỹ
Quốc gia giải quyết việc làm? Nhận xét gì về hoạt động của các quỹ này ở Việt
Ví dụ về tài chính công: Các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được kiểm soát và tài trợ phần lớn bởi các đơn vị Chính phủ đều là các pháp nhân (trực thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ), nhưng chúng được công nhận có thực hiện các chính sách của Chính phủ Nhiều Chính phủ lựa chọn sử dụng các thể chế phi lợi nhuận thay các cơ quan Chính phủ để thực hiện một số chính sách nhất định, do thể chế phi lợi nhuận thường được coi là khách quan và không phụ thuộc vào áp lực chính trị Ví dụ như hoạt động của các lĩnh vực nghiên cứu, bảo vệ môi trường, y tế, giáo duc,…
- Về mặt sở hữu: Tài chính công thuộc sở hữu của Nhà nước và gắn liền với quyền lực chính trị của
Nhà nước Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữutoàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu Nhà nước
- Về mục đích sử dụng: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công được sử dụng vì
lợi ích chung của toàn xã hội, toàn thể cộng đồng, vì mục tiêu kinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợinhuận Nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính công cho việc thực hiện các chức năng kinh tế, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, xã hội của mình thông qua các khoản chi tiêu công không mang tính hoàn trảhoặc hoàn trả không ngang giá
- Về tính chủ thể: Các hoạt động thu chi bằng tiền trong tài chính công do các chủ thể công tiến
hành Các chủ thể công ở đây là Nhà nước thuộc các cơ quan, tổ chức của nhà nước được Nhà nướcgiao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động thu chi đó (gọi chung là Nhà nước) Việc tạo lập và sử dụngcác quy công, đặc biệt là Ngân sách Nhà nước, luôn gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước
và những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận Chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất cóquyền lập pháp và quy định hệ thống pháp luật bắt buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp mộtphần thu nhập của mình cho Nhà nước với tư cách là một chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ kinh tếvới Nhà nước Nhà nước cũng là người quyết định nội dung, cơ cấu và mức độ các khoản chi nhằmđảm bảo thực hiện cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công sao cho đạt hiệu quả cao nhất Nhà nước sửdụng tài chính công như là một công cụ hữu hiệu duy trì hoạt động và hiệu lực của bộ máy Nhànước và can thiệp vào các lĩnh vực kinh tế
- Về khía cạnh pháp luật: Gắn với chủ thể là Nhà nước, các quỹ công được tạo lập và sử dụng gắn với quyền lực kinh tế chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.Các quan hệ tài chính công chịu sự điều chỉnh bởi các luật lệ do Nhà nước ban hành, dựa
Trang 4trên các quy phạm pháp luật, mệnh lệnh, quyền uy của Nhà nước Khác với các quan hệ tài chính tư,được điều chỉnh dựa trên các quy phạm pháp luật mang tính hướng dẫn, thỏa thuận, ngoài ra còn bịchi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường.
Khi xem xét tới đặc điểm, cần phân tích các thành phần của tài chính công.Các thành phần sẽ bao gồm những hoạt động liên quan tới thu ngân sách, chi tiêu hỗ trợ xã hội và thực hiện các chiến lược tài trợ.
- Thu thuế: Nguồn thu chính của nhà nước gồm thuế thu nhập, thuế tài sản, thuế bất động sản, thuếbán hàng, …
- Ngân sách: Là kế hoạch thể hiện những gì Chính phủ định chi tiêu trong một năm tài chính
Các khoản chi tiêu: Gồm những thứ mà Chính phủ thực hiện chi tiền như chương trình xã hội, cơ sở
hạ tầng, giáo dục, … Phần lớn các chi tiêu sẽ ở hình thức phân phối lại thu nhập hoặc của cải nhằmmục đích mang đến lợi ích cho xã hội
- Thâm hụt/thặng dư: Nếu Chính phủ thực hiện thu nhiều hơn chi thì doanh thu sẽ đạt thặng dư.Ngược lại nếu chi nhiều hơn thu sẽ gây thâm hụt
Chức năng phân phối
*Kn: Chức năng phân phối của tài chính công là khả năng khách quan mà nhờ vào đó Nhà nước có
thể tiến hành phân phối tổng nguồn lực tài chính quốc gia để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ côngmột cách có hiệu quả, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nướcđảm nhận trong từng thời kỳ
Trong chức năng này, chủ thể phân phối là các chủ thể công mà đại diện là Nhà nước với tư cách làngười có quyền lực chính trị, có quyền chiếm hữu và chi phối các nguồn lực tài chính công Đốitượng phân phối là nguồn lực tài chính công - một bộ phận của tổng nguồn lực tài chính quốc giađược tập trung vào Nhà nước
*Nội dung của chức năng phân phối bao gồm:
- Thông qua quá trình phân phối, nguồn lực tài chính công được hình thành và thể hiện bằng mộtlượng giá trị tập trung vào các quỹ tiền tệ của NN
- Thông qua chức năng phân phối, NN thực hiện việc phân phối lại đảm bảo giải quyết được yêu cầucông bằng và bình đẳng
Quá trình phân phối của tài chính công được thực hiện qua hai kênh cơ bản Kênh thứ nhất phản ánhcác khoản thu nhập công của nhà nước (thu thuế, phí, lệ phí, vay nợ và thu khác) Kênh thứ hai phảnánh các khoản chi tiêu công của nhà nước (chi đầu tư và chỉ thường xuyên)
Kết quả của quá trình phân phối của tài chính công: Hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, điềuchỉnh thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội
Chức năng kiểm tra, giám sát:
*Kn Chức năng kiểm tra, giám sát là khả năng khách quan mà nhờ vào đó nhà nước có thể xem xét
tính đúng đắn, hợp lý của quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội để tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
Trang 5Với chức năng này, chủ thể kiểm tra, giám sát là các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quantài chính, kiểm toán của nhà nước, thanh tra nhà nước Đối tượng kiểm tra, giám sát là quá trìnhphân phối của cải xã hội (chủ yếu là sản phẩm mới tạo ra) để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của
NN nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ
*Nội dung kiểm tra, giám sát của tài chính công bao gồm:
- Kế hoạch hóa tài chính, tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính công, trên các mặt NSNN,TDNN, BHXH
- Chấp hành luật pháp, chính sách trong lĩnh vực tài chính công
- Thu thập và phân tích các dữ liệu, thông tin tài chính để rút ra những nhận xét, đánh giá, kiến nghị
- Kiểm tra tính cân đối, hợp lý, tính tiết kiệm và hiệu quả trong việc phân phối của cải xã hộiKết quả của vận dụng chức năng kiểm tra, giám sát của tài chính công trong thực tiễn là: Đảm bảocho việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước được đúng đắn, hợp lý Và gópphần điều chỉnh quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
ở các chủ thể kinh tế - xã hội khác
● Vai trò
Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội
Thứ nhất, tài chính công là công cụ đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước
Khi Nhà nước ra đời, để tồn tại và hoạt động đòi hỏi phải có nguồn tài chính để đảm bảo cho cácnhu cầu chi tiêu Tài chính công chính là công cụ tài chính mà Nhà nước sử dụng để thực hiện huyđộng, tập trung các nguồn lực tài chính quốc gia nhằm duy trì hoạt động của mình trên các mặt: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Vai trò này của tài chính công được thể hiện trêncác điểm sau:
- Tài chính công là công cụ để khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển Các
nguồn lực tài chính này được Nhà nước động viên từ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân và từ nướcngoài, từ mọi lĩnh vực hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức huy động khácnhau (thuế, công trái, phí, lệ phí, ) mang tính hoàn trả và không hoàn trả, bắt buộc và tự nguyện,trong đó tính bắt buộc và không hoàn trả là nét đặc trưng
- Tài chính công phân phối các nguồn tài chính đã tập trung trong các quỹ công cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm: vừa đảm bảo duy trì sự tồn tại và tăng
cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, vừa đảm bảo thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội củaNhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế
- Tài chính công là công cụ kiểm tra, giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối
được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản
lý Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai, tài chính công là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Trang 6Tài chính công trở là một công cụ quan trọng đóng vai trò chủ yếu trong việc điều chỉnh các quan hệkinh tế - xã hội nhằm đạt tới các mục tiêu đã định của kinh tế vĩ mô Vai trò kể trên của tài chínhcông được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
- Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.
Vai trò này được phát huy nhờ vào việc vận dụng chức năng phân phối của tài chính công trong hoạtđộng thực tiễn thông qua công cụ thuế và chi NSNN Bằng việc thiết lập hệ thống thuế hợp lý có tácdụng định hướng đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, vùng lãnh thổ, khuyếnkhích các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh Bằng việc thực hiện chính sách chi tiêucông, Nhà nước phân bổ nguồn lực tài chính huy động được cho các công trình đầu tư xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các công trình trọngđiểm, hỗ trợ đầu tư cho các thành phần kinh tế, giải quyết các mối quan hệ cân đối lớn của nền kinh
- Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô Sự ổn
định của một nền kinh tế được đánh giá trên nhiều tiêu chí như: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tếhợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao; thực hiện cân đối cán cân thanh toánquốc tế; bình ổn thị trường và kiểm soát lạm phát
Để đảm bảo các yêu cầu của các tiêu chí kể trên, Nhà nước sử dụng công cụ tài chính công, đó là:tạo lập hệ thống các quỹ tài chính ngoài NSNN và sử dụng nó một cách linh hoạt nhằm ứng phó vớinhững biến động của nền kinh tế
Ví dụ, Quỹ dự trữ Nhà nước, quỹ bình ổn giá; Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ dự trữ ngoại tệ, Ngoài ra,các biện pháp tài chính khác như: Cắt giảm chi tiêu Ngân sách, điều tiết tiêu dùng và đầu tư quathuế, sử dụng công cụ tín dụng nhà nước pháp, ổn định nền kinh tế vĩ mô và lãi suất, được sửdụng một cách đồng bộ để kiểm soát chặt chẽ lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô
● Nguyên tắc hoạt động
- Nguyên tắc không hoàn lại
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng của tài chính công Các quan hệ tài chính,các nghiệp vụ tài chính phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực tài chính công luôn luôn phản ánh tínhchất không hoàn lại Khi các pháp nhân và thể nhân thực hiện nghĩa vụ tài chính theo luật định đốivới NSNN thì Nhà nước có nguồn thu nhập tài chính và không thực hiện hoàn lại cho người nộp.Đối với các khoản chi tiêu công, khi Nhà nước cấp phát cho các chủ thể công quyền sử dụng theo dựtoán được duyệt thì các chủ thể này cũng không phải hoàn trả lại cho Nhà nước
Nguyên tắc không hoàn lại đảm bảo cho nhà nước tập trung được nguồn lực tài chính công với sốlượng và cơ cấu hợp lý vào các quỹ tiền tệ của nhà nước Điều này đảm bảo cho nhà nước thực hiệnchức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định
Trang 7- Nguyên tắc không tương ứng
Trên cơ sở huy động tập trung các bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào các quỹ tiền tệ thuộc sởhữu nhà nước tiến hành phân bổ và sử dụng các nguồn lực này cho các mục đích xác định Để thựchiện các chức năng kinh tế và xã hội của mình nhà nước hoạch định, ban hành và triển khai thựchiện các chính sách, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên toàn lãnh thổ quốc gia
Thông qua các khoản chi tiêu công như: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trợ cấp, hỗ trợ,chi BHXH, Nhà nước cung cấp nguồn lực tài chính, cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cho cácchủ thể ở khu vực công và khu vực tư Việc cung cấp này hoàn toàn không vì mục đích lợi nhuận vàcũng không tương ứng với nghĩa vụ tài chính của họ đối với Nhà nước Thông thường, công dân cóthu nhập cao sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước nhiều hơn những công dân có thunhập thấp, nhưng trong việc thụ hưởng các hàng hoá dịch vụ công là bình đẳng như nhau (điều này
do đặc trưng của hàng hóa dịch vụ công tạo nên)
Nguyên tắc này được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh xã hội của sự phân phối, đặcbiệt trong điều kiện kinh tế thị trường đang diễn ra sự phân hoá mạnh về thu nhập và phân hoá giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư
- Nguyên tắc bắt buộc
Nguyên tắc này xuất phát từ việc sử dụng quyền lực chính trị của Nhà nước Các Nhà nước ở bất kỳchế độ xã hội nào muốn tồn tại và hoạt động đều phải dùng quyền lực chính trị để ban hành các sắcluật, trong đó có luật tài chính nhằm tập trung các nguồn lực trong xã hội về các quỹ tiền tệ của Nhànước Phần lớn các khoản thu của tài chính công mang tính bắt buộc và rất đa dạng (thu thuế, thuphí, lệ phí, BHXH bắt buộc và các khoản đóng góp bắt buộc khác)
Việc vận dụng nguyên tắc này đòi hỏi các chủ thể trong xã hội phải nhận thức và thực hiện tráchnhiệm tài chính của mình trước nhà nước và xã hội, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ cương, luật pháp tàichính của Nhà nước
2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung quản lý tài chính công
Quản lý TCC là hđ của các chủ thể quản lý TCC thông qua việc sử dụng có chủ định các phươngpháp và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hđ tài chính công nhằm đạt được các mụctiêu đã định
- Quản lý tài chính công là sự quản lý kết hợp giữa yếu tố con người và yếu tố tài chính suy cho
cùng thì mọi hoạt động của tài chính công đều gắn liền với sự hoạt động của cơ quan hưởng thụnguồn lực tài chính công các cơ quan này vừa thụ hưởng kết quả của hoạt động tài chính của nhànước vừa tổ chức các hoạt động tài chính công vì vậy các cơ quan này cũng đối tượng quản lý củanhà cua tài chính công và nói đến quản lý tài chính công trước hết phải nói đến việc quản lý conngười trong tổ chức đó
Mặt khác quản lý tài chính công thực chất là quản lý các quỹ công quản lý hoạt động tạo lập thu và
sử dụng cho các quý công giao đó phải lấy yếu tố hoạt động tài chính là mục tiêu để soi rọi lại động
cơ biện pháp cách thức điều chỉnh của các cơ quan tổ chức và thụ hưởng nguồn lực tài chính công
Trang 8Tuy nhiên cần có sự hiện kết hợp chặt chẽ giữa quản lý yếu tố con người với quản lý yếu tố tài chính
có như vậy mới đảm bảo cho các nguồn lực tài chính công được sử dụng hợp lý đúng mục đích và
có hiệu quả
- Quản lý tài chính công là sự kết hợp chặt chẽ tổng hòa các phương pháp và công cụ quản lý như
đã đề cập ở trên để đạt được mục tiêu trong quản lý tài chính câu phải sử dụng nhiều phương pháp
tổ chức hành chính kinh tế và công cụ quản lý pháp luật đòn bẩy kinh tế thanh tra kiểm tra đánh giákhác nhau mỗi phương pháp công cụ quản lý có đặc điểm riêng cách động riêng và các ưu nhượcđiểm riêng
Phương pháp hành chính tổ chức có ưu điểm là đảm bảo tính tập trung thống nhất dựa trên cácnguyên tắc chỉ huy quyền lực xong lại hạn chế về tính kích thước tính năng động của các khách thểquản lý ngược lại phương pháp kinh tế với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế lại phát huy được tínhchủ động sáng tạo nhưng có nhược điểm chế tính tập trung thống nhất trong việc tổ chức các hoạtđộng tài chính công theo cùng một hướng đích
Trong thực tế quản lý tài chính công tùy theo từng đối tượng quản lý cụ thể trong từng giai đoạn cụthể mà người ta nhấn mạnh việc lựa chọn sử dụng các phương pháp và công cụ chủ yếu trên nguyêntắc tập trung là sử dụng đồng bộ kết hợp chặt chẽ nhiều phương pháp và công cụ quản lý
- Quản lý tài chính công là sự quản lý mang tính chất thống nhất giữa hai mặt hiện vật và giá trị.
Xét về bản chất tiềm lực tài chính của một quốc gia là sự biểu hiện giá trị tài sản của quốc gia đó.Nội dung vật chất của tài chính công là nguồn lực tài chính thuộc các quỹ công đại diện cho một lựclượng của vật của xã hội đã được nhà nước tập trung huy động Các nguồn lực tài chính đó có thểtồn tại dưới hình thái giá trị tiền hoặc giới hình thể hiện thật tài sản do vậy trong quản lý tài chínhcông vừa phải quản lý nguồn tài chính dưới cả hình thái hiện vật và giá trị vừa phải quản lý sự vậnđộng của chúng trong mối quan hệ cân đối của nền kinh tế
- Quản lý quá trình thu NSNN: Thu NSNN chính là quá trình tạo lập quỹ NSNN, do vậy, quản lý thuNSNN phải dựa trên các yêu cầu cơ bản:
(i) Đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào Nhà nước để đáp ứng nhu cầuchi tiêu của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử
(ii) Đảm bảo khuyến khích thúc đẩy sản xuất phát triển, nuôi dưỡng nguồn thu lớn hơn trong tươnglai
(iii) Đảm bảo công bằng xã hội trong việc động viên của Nhà nước
Phương pháp quản lý thu NSNN là: Xác lập một hệ thống chính sách thu đồng bộ, phù hợp với thựctrạng của nền kinh tế Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch thu sát, đúng hàng năm, xác lập quy trình
Trang 9thu và biện pháp tổ chức thụ phù hợp với từng khoản thu cụ thể Tổ chức bộ máy thu gọn nhẹ, đạthiệu quả cao.
- Quản lý quá trình chi NSNN
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu cho việc thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước về mọi mặt Hoạt động chi của NSNN có phạm vi rộnglớn, liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều chủ thể trong xã hội, chính vì vậy, để hoạt động chi NSNNđem lại hiệu quả mong muốn, quản lý quá trình chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu:
(i) Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các cơ quan công quyền thực hiện các nhiệm vụ được giaotheo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước
(ii) Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả
(iii) Gắn nội dung quản lý các khoản chi NSNN với nội dung quản lý các mục tiêu của kinh tế vĩmô
Công tác quản lý chi NSNN rất phức tạp và đa dạng, với mỗi khoản chỉ mang tính chất khác nhau,trong từng hoàn cảnh cụ thể, phương pháp và nguyên tắc quản lý cụ thể cũng khác nhau Song biệnpháp quản lý chi NSNN chung nhất là:
(i) Thiết lập hệ thống các định mức chi đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, đảm bảo yêu cầu tiếtkiệm và hiệu quả
(ii) Xác lập thứ tự ưu tiên các khoản chi của NSNN theo mức độ cần thiết đối với từng khoản chỉtrong tình hình cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội, về thực hiện các chức năng của cơ quan côngquyền
(iii) Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế tối đa những tiêu cựcnảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chỉ của các cơ quan cóthẩm quyền
(iv) Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm phát hiện và ngăn chặn những biểu hiệntiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước, đồng thời phát hiện những bất cập đểhoàn thiện chính sách, chế độ
- Quản lý quá trình cân đối NSNN: Cân đối thu chi NSNN là một mặt cân đối lớn của nền kinh tếquốc dân, nó vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của các mặt cân đối khác trong nền kinh tế Trongthực tiễn, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hoạt động thu chi NSNN không phảilúc nào cũng cân đối Mất cân đối NSNN có thể xảy ra ở dạng bội thu hoặc bội chi NSNN Xu thếmất cân đối NSNN theo hướng bội chỉ là một xu thế phổ biến, vì vậy, quản lý quá trình cân đốiNSNN thực chất là quản lý việc tìm nguồn bù đắp thâm hụt và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đó đểgiải quyết vấn đề thâm hụt NSNN Tùy theo cách tiếp cận nguyên nhân của sự thâm hụt NSNN mà
có các phương pháp giải quyết khác nhau Tuy nhiên, phương pháp phổ biến là sử dụng công cụ tíndụng Nhà nước, tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ, dự phòng tài chính
Quản lý tín dụng Nhà nước thực chất là tính toán xác định nhu cầu nguồn lực tài chính cần thiết phảihuy động qua con đường tín dụng, tính toán khả năng chỉ trả, lựa chọn các hình thức tín dụng thíchhợp, tổ chức và kiểm soát chặt chẽ quy trình giải ngân, đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn tíndụng và đo lường hiệu quả Quản lý dự trữ, dự phòng tài chính của Nhà nước là việc xác lập các
Trang 10định mức trích, hình thành các quy chế sử dụng, xây dựng chế độ kiểm tra, kiểm soát thích hợp vớiđặc điểm của quỹ dự trữ dự, phòng của Nhà nước.
● Thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam
- Kết quả đạt được
Việt Nam thực hiện cải cách tài chính công chưa được bao lâu, nhưng những kết quả đạt được trongcải cách là rất cơ bản
Hệ thống thuế: Chính sách thuế đã được đổi mới theo hướng thích ứng dần với cơ chế thị trường và
phù hợp với thông lệ quốc tế Thuế đã bảo đảm nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện tốt các nhiệm
vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Trong hệ thống chính sách thuế đã từngbước giảm dần sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để cácdoanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu;thủ tục hành chính trong thu nộp thuế được đơn giản hóa, công tác quản lý thuế được đổi mới và dầnđược hiện đại hóa
Chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng áp dụng thống nhất đối vớicác loại hình doanh nghiệp và bước đầu phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần khuyến khích đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh
Ngân sách nhà nước: Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp,
tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh
tế-xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề tế-xã hội bức xúc Công tác quản lý và phân cấp ngânsách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địaphương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủ tục không cần thiết trong cấpphát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính Bội chi ngân sách nhànước được xử lý theo hướng tích cực và được kiềm chế trong giới hạn cho phép Giải quyết thànhcông cơ cấu lại nợ nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệquốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chínhbước đầu đã thu được kết quả tích cực
Cơ chế tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp: Trên cơ sở phân định rõ các đơn vị hành
chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính,Nhà nước đã ban hành Nghị định số 130/2005/NĐ – CP, ngày 17-10-2005 “Quy định chế độ tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước”
và Nghị định số 43/2006/NĐ – CP, ngày 25-4-2006 “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềthực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập” Tómlại, cơ chế tài chính đối với khu vực hành chính sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theo hướng tiếtkiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính Cơ chế tài chính trong việc cung cấp dịch
vụ công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu tư để thực hiện và cung cấpmột số dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực sự nghiệp, thu hút được nguồn nội lựcđáng kể cho phát triển sự nghiệp
Cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công: Cơ chế này đã được hoàn thiện nhằm tăng
cường huy động các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế – xã hội Bước đầu đã hình thành hệthống các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý tài sản nhà nước, bao gồm các chế độ, định mức,
Trang 11tiêu chuẩn, vừa tạo thuận lợi cho đơn vị sử dụng, vừa có tác dụng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tàichính, tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành, các đơn vị trong quản lý và sử dụng tiết kiệm vàhiệu quả tài sản nhà nước, từng bước xác lập chủ sở hữu đích thực về tài sản nhà nước Hình thànhthống nhất tổ chức quản lý tài sản nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA đã được sử dụng để khôi phục, nâng cấp
và xây dựng mới hàng loạt các dự án quốc gia quy mô lớn trong các lĩnh vực giao thông, điện, thủylợi, cấp thoát nước, y tế, giáo dục và đào tạo Đồng thời, vốn ODA cũng được chú trọng hơn vàolĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản, sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, lĩnhvực du lịch và dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự gia tăng giá trị sản lượng nông nghiệp và tạo ra nguồnthu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài Nhờ vậy, nguồn vốn ODA đã đóng góp tích cực phát triển kinh tế– xã hội của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH, HĐH, giải quyết các vấn đề xã hội và xóa đói giảm nghèo Nguồn vốn ODA cho vaylại đối với các doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn để thực hiện các mục tiêu đầu tưcho các doanh nghiệp, thực hiện đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng caođời sống cho người lao động
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Việc gia tăng vốn đầu tư thực hiện thể hiện môi
trường đầu tư và kinh doanh ở nước ta đã ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện để các dự án saukhi được cấp phép triển khai có hiệu quả Trong 2 năm gần đây, cơ cấu đầu tư nước ngoài có chuyểnbiến tích vượt bậc, đặc biệt là việc gia tăng tỷ trọng đầu tư vào kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹthuật của một số ngành mũi nhọn và một số lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Quản lý nợ nước ngoài: Đã thực hiện thành công quá trình cơ cấu lại các khoản nợ trước đây của
Việt Nam đối với các chủ nợ nước ngoài, làm giảm đáng kể nghĩa vụ trả nợ của Việt Nam, tạo điềukiện khai thông quan hệ tài chính – tín dụng với các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài.Thực hiện thanh toán trả nợ với các khoản vay mới và các khoản đã cơ cấu lại nợ đã bảo đảm trả nợđúng như các hiệp định đã ký, không để phát sinh nợ quá hạn Đã linh hoạt xử lý theo hướng chuyểnđổi một phần nợ nước ngoài thành các khoản tài trợ cho các dự án đầu tư trong nước; xử lý giảm số
nợ thông qua mua lại nợ, chuyển đổi nợ, giảm nợ… Bổ sung, sửa đổi cơ chế chính sách quản lý vềvay và trả nợ nước ngoài; tăng cường giám sát về nợ nước ngoài, hợp lý và hiện đại hóa nghiệp vụquản lý nợ
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện cải cách tài chính công ở Việt Namcòn tiềm ẩn những yếu tố chưa ổn định; chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển cònthấp; nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển lớn, nhưng mức đáp ứng vốn còn hạn chế, nhiều tiềm năngvốn trong nước và vốn nước ngoài chưa được khai thác tốt
Đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng cao, nhưng mức đóng góp vào tăng trưởng thấp, chưa tươngxứng Quy mô tài chính còn nhỏ, cân đối ngân sách nhà nước chưa thực sự vững chắc, tỷ trọng thuếtrực thu còn thấp Vốn đầu tư thực hiện tăng, nhưng tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốnđầu tư toàn xã hội có xu hướng giảm do tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chậm hơn tốc
độ tăng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác
Trang 12Cơ cấu đầu tư nước ngoài còn mất cân đối cả về cơ cấu vùng và ngành Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ
có xu hướng giảm sút so với các năm trước Mặc dù, Chính phủ đã áp dụng chính sách ưu đãi,nhưng đầu tư nước ngoài vào các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn chưa đáng kể Chưachú ý khai thác vốn thông qua các “kênh” gián tiếp và thông qua thị trường vốn Phạm vi đánh thuếcòn hạn hẹp, hệ thống thuế chưa bao quát hết các nguồn thu nhập, bỏ sót nguồn thu và đối tượngnộp thuế
Tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước chưa được khắc phục, bao cấp chưa được xóa bỏ triệt để;hiệu quả đầu tư còn thấp; thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng đất đai, quản lý vốn đầu tưxây dựng cơ bản và chi tiêu ngân sách còn nghiêm trọng, chi tiêu hành chính còn nhiều bất hợp lý,chi ngân sách cho một số lĩnh vực nhu cầu chăm lo phát triển con người như giáo dục, y tế chưa đápứng nhu cầu cần thiết Trong nông nghiệp còn nặng về đầu tư thủy lợi (chiếm khoảng 70%) chủ yếuphục vụ trồng lúa; việc đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu giống cây con, chuyểngiao công nghệ, chế biến để nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế.Trong công nghiệp và các ngành kinh tế còn quá chú trọng đầu tư để tăng công suất (số lượng) chưachú ý đến đầu ra của sản phẩm; công tác quy hoạch ngành còn nhiều hạn chế Hệ số ICOR nhữngnăm 1991 – 1995 khoảng 3,5 (để tăng được 1 đồng GDP cần đầu tư 3,5 đồng), những năm 1996 –
• Chi tiêu công thể hiện các khoản chi của NSCP hàng năm đã được QH thông qua
- Theo q.điểm của các nhà KT học cổ điển: Hoạt động của CP không mang lợi cho QG về mặt k.tế
mà CTC là những khoản chi có t.chất TD phải giảm tối đa CTC để tránh lãng phí n.lực của đấtnước
- Theo q.điểm hiện đại: CTC hoàn toàn không mất đi mà nó tạo ra sự tái phân phối giữa các KVtrong nền k.tế (Thông qua CTC NN trả lại các khoản TNC bằng việc cung cấp các hàng hóa công
mà KV tư không có khả năng c.cấp hoặc c.cấp không có hiệu quả)
- Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư
ở các vùng hay phạm vi quốc gia.
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của Nhân nước, và cũngchính trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hoá côngkhổng lồ cho nền kinh tế
- Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội
mà Nhà nước thực hiện.
Các khoản chi tiêu công do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quyđịnh trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chi tiêu công này nhằm đảm bảo cho các cấp chính
Trang 13quyền thực hiện chức năng quản lý phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, các cấp của cơ quan quyềnlực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi tiêu côngnhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
- Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng
Chỉ tiêu công tưởng ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hoá dịch vụ nhằmthực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Đồng thời đó cũng là những khoản chi cầnthiết, phát sinh tương đối ổn định như: chỉ lượng cho viên chức bộ máy Nhà nước, chỉ hàng hóa dịch
vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư
- Các khoản chỉ tiêu công mang tinh không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công.
Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế xã hội của nhà nước Ví dụ:Thuế là khoản thu nhập công thường xuyên của Nhà nước, được thu từ các tổ chức và cá nhân trongnền kinh tế, nhưng Nhà nước không hoàn trả lại cho các tổ chức và cá nhân đó một cách tương ứngqua tất cả các hàng hóa dịch vụ công mà họ cần; mà chỉ có những hàng hóa dịch vụ công mà khuvực từ không có khả năng đảm nhiệm, hoặc để cho khu vực tư cung cấp thì sẽ gây ra tổn thất xã hộithì Nhà nước mới thực hiện chi tiêu công để cung cấp và khoản chi này cũng cần phải tương ứng vềmức độ và số lượng với các khoản thu nhập công
● Phân loại
Mục đích của việc phân loại:
- Giúp Chính phủ thiết lập được những chương trình hành động
- Tăng cường tính hiệu quả trong việc thi hành NSNN nói chung và chi tiêu công nói riêng
- Quy định tính trách nhiệm trong việc phân phối và sử dụng nguồn lực Tài chính nhà nước
- Cho phép p.tích ảnh hưởng của những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền KT
* Căn cứ theo chức năng của Nhà nước, chỉ tiêu công được chỉ cho các hoạt động:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng
- Tòa án và viện kiểm soát
- Hệ thống quân đội và an ninh xã hội
* Căn cứ theo tính chất kinh tế, chỉ tiêu công được chia thành:
Trang 14- Chi thường xuyên là nhóm chỉ phát sinh thường xuyên, cần thiết cho hoạt động của các đơn vị khuvực công, bao gồm các khoản chỉ cứu
+ Chỉ hoạt động sự nghiệp: Sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, nghiên khoa học và công nghệ y
tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao,
- Chi hành chính: bao gồm các khoản chi lương cho đội ngũ công chức Nhà nước, các khoản chỉmua hàng hoá để đáp ứng nhu cầu hoạt động của bộ máy Nhà nước
+ Chỉ chuyển giao bao gồm các khoản chỉ cứu tế xã hội, an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội và cáckhoản trợ cấp
+ Chi an ninh, quốc phòng
- Chi đầu tư phát triển là nhóm chi gắn liền với chức năng kinh tế của Nhà nước, bao gồm:
+ Chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ưu tiên cho những công trình không
* Căn cứ theo trình tự lập dự toán NSNN, chỉ tiêu công được chia thành:
- Chỉ tiêu công theo các yếu tố đầu vào Căn cứ vào nhu cầu mua sắm, trang bị các phương tiện cầnthiết cho hoạt động của các cơ quan đơn vị Chính phủ xác định mức kinh phí tài trợ Thông thường,
có các khoản mục cơ bản như chỉ mua tài sản lưu động, chỉ mua tài sản cố định, chi tiền lương vàcác khoản phụ cấp, chỉ bằng tiễn khác
- Chỉ tiêu công theo yếu tố đầu ra: Mức kinh phi phân bố cho một cơ quan, đơn vì không căn cứ vàocác yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạtđộng của đơn vị
để phát triển theo Cơ sở hạ tầng giao thông phải luôn có một bước trong việc thu hút vốn đầu tư đểphát triển kinh tế
Ở bất kỳ giai đoạn nào, để cho nền kinh tế phát triển của đối thì giữa các ngành trong tổng thể nềnkinh tế phải được duy trì theo một cơ cấu hợp lý, và do vậy, cần phải có "cú hích" sự đầu tư trọn góiban đầu của Chính phủ vào các ngành công nghệ mới, công nghệ mũi nhọn thuộc bề nổi nhưngkhông thu hút được vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân Sự đầu tư của Chính phủ vào những
Trang 15lĩnh vực ưu tiên này sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển hay công nghiệp hóa cho phần còn lại của nềnkinh tế Phối hợp với chính sách đầu tư trọn gói là chính sách hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ cho cácdoanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau, như: trợ giá, đầu tư và hỗ trợ vốn, góp vốn liêndoanh, cổ phần và
Sự hỗ trợ của Chính phủ thường tập trung vào các lĩnh vực quan trọng nhằm bù đắp các thua thiệtcủa các doanh nghiệp phải hoạt động theo chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế Mặt khác, sự hỗ trợcủa Chính phủ về nguồn nhân lực thông qua chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp giáo dục, đàotạo, nghiên cứu khoa học, y tế, đã góp phần rất quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xãhội của đất nước
- Chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
Hoạt động chi tiêu công của Chính phủ đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tổng cầu xã hộiphát triển Chính phủ đã tiêu dùng một khối lượng hàng hóa to lớn trong quá trình vận hành bộ máyhoạt động của mình, từ đó hình thành nên một thị trường đặc biệt Trên góc độ này mà nói, thịtrường Chính phủ trở thành công cụ kinh tế quan trọng của Chính phủ nhằm tích cực tái tạo lại cânbằng của thị trường hàng hoá khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các quan hệ cung cầu thôngqua tăng hay giảm mức độ chỉ tiêu công ở thị trưởng này,
- Chi tiêu công góp phần tài phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân ca, thực hiện công bằng xã hội.
Về mặt xã hội, tài chính công góp phần điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư bằng
cả hai công cụ là thuế và chỉ tiêu công Trong khi thuế là công cụ mang tính chất động viên nguồnthu cho ngân sách nhà nước thì chỉ tiêu công mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến nhữngngười có thu nhập thấp thông qua khoản khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giảiquyết việc làm, xóa đói giảm nghèo nhằm tạo ra sự công bằng xã hội
4 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, phân tích đánh giá thu nhập công
Thu nhập công là các khoản thu nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước thamgia phân phối sản phẩm XH dưới hình thái giá trị Nó phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trongquá trình phân chia các nguồn tài chính để tạo lập nên các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụcho việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước
- Phần lớn các khoản thu nhập công không mang tính bồi hoàn trực tiếp Các tổ chức và cá nhân
nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là phải mua một hàng hóa hay dịch vụ nào đó của Nhà nước.Tuy nhiên, Nhà nước sẽ dùng tiền thuế thu được nhằm tạo ra những hàng hoá và dịch vụ công và tất
cả hàng hoá và dịch vụ công sẽ được thụ hưởng bởi chính người dân trong nước Như thế, các khoảnthu nhập công được chuyển trở lại cho dân chúng theo một cách gián tiếp và công cộng
Trang 16- Thu nhập công gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Nhà nước thu để tài trợ
cho mọi hoạt động của mình, tức là thu để chi tiêu công chứ không phải là thu để kiếm lợi nhuận
Do đó, thu nhập công phát triển theo các nhiệm vụ của nhà nước
- Thu nhập công luôn gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, tỷ giá
hối đoái Xuất phát từ bản chất, thu nhập công phản ánh các quan hệ phân phối dưới hình thái giátrị, do vậy nó chịu sự ảnh hưởng chi phối của các phạm trù giá trị
● Phân loại thu nhập công
Phân loại thu nhập công nhằm quản lý và sử dụng các nguồn lực công phù hợp với pháp luật và cótrách nhiệm trước công chúng Có thể phân loại thu nhập công theo các tiêu thức khác nhau
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Thu nhập công được chia thành 2 nhóm: Thu trong nước và thu từ nước ngoài
- Thu trong nước bao gồm: Thu thuế, phí, lệ phí, vay trong nước cho thuê cộng sản, khai thác và bảntài nguyên, thu khác Thu trong nước là nguồn nội lực cơ bản giúp chính phủ xây dựng một NSNNchủ động, đảm bảo nền tài chính lành mạnh
- Thu từ nước ngoài bao gồm: Thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ nước ngoài, vay nước ngoài Đây
là nguồn lực tài chính quan trọng, có thể giúp đất nước mau chóng tích tụ và tập trung vốn đầu tưvào nhiều công trình then chốt, từ đó có thể tạo ra những “cú hích” trong quá trình phát triển
* Căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản thu
Thu nhập công được chia thành: Các khoản thu không mang tính chất kinh tế và các khoản thumang tính chất kinh tế
- Các khoản thu không mang tính chất kinh tế, gồm: Thu thuế, các khoản quyên góp, viện trợ khônghoàn lại từ nước ngoài và thu khác (thu tiền phạt vi cảnh, thanh li tài sản tịch thu, thu từ quà biếutặng )
Trong đó, thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, khôngphân biệt chế độ chính trị Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân
và Nhà nước Còn quyên góp và viện trợ nước ngoài là những khoản thu hình thành trên cơ sở tựnguyện, các khoản thu này ngày càng mang tính hoàn lại và luôn kèm theo những điều kiện về chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội và nhỏ dần về mặt tỷ trọng
Những khoản thu này không mang tính chất đối ứng với việc thụ hưởng các hàng hoá, dịch vụ côngcủa các chủ thể Tức là, không phải một chủ thể cử nộp vào Ngân sách Nhà nước nhiều thuế, hayủng hộ cho Chính phủ nhiều, là sẽ thụ hưởng nhiều hàng hoá, dịch vụ công hơn người khác
- Các khoản thu mang tính chất kinh tế bao gồm: Thu phí, thu lệ phí, vay nợ, cho thuê cộng sản, bántài nguyên thiên nhiên,
Trong đó, phi và lệ phí là những khoản thu mang tính đối giá Tỷ trọng của phí và lệ phí trong tổngthu nhập công nhỏ hơn so với thuế nhưng góp phần rất quan trọng cho quá trình nâng cao hiệu quảcung cấp và sử dụng hàng hoá, dịch vụ công, đảm bảo phân phối một cách tương đối công bằngphúc lợi công cộng cho mọi thành viên trong xã hội
Vay nợ trong và ngoài nước là những khoản thu có tính bồi hoàn Chúng mang tính hai mặt Mặt tíchcực là đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích tụ vẫn để tạo ra những công trình lớn, khi mà các khoản
Trang 17thu từ thuế, phí, lệ phí chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu chi đầu tư phát triển của Nhà nước.Nhưng mặt khác, nếu những công trình đầu tư từ vay nợ mà không mang lại lợi ích kinh tế - xã hộinhư mong muốn thì nó sẽ trở thành một gánh nặng do phải trả vốn và lãi hàng năm Do đó, vấn đềkhông phải ở chỗ có nên vay nợ hay không mà là ở chỗ vay nợ cho mục đích gì và sử dụng nợ nhưthế nào?
Cho thuê công sản bao gồm: Cho thuê đất, cho thuê bầu trời, mặt nước, vùng lãnh thổ Khoản thunày tương đối hấp dẫn, nhưng cái giả phải trả là sự tổn hại về môi trường thiên nhiên sau thời hạncho thuê
Thu từ bán tài nguyên thiên nhiên là những khoản thu do báo quặng, dầu thô, than, sản vật của rừngnguyên sinh, Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lợi do thiên nhiên ban tặng và đa phần làkhông thì tái tạo Do đó, cần phải có chính sách khai thác hợp lí để tránh rơi và tình trạng vắt kiệt tàinguyên để tạo thu nhập
* Căn cứ vào tính chất phát sinh các khoản thu
Thu nhập công bao gồm: Các khoản thu thường xuyên và g khoản thu không thường xuyên và cáckhoản thu không thường xuyên
- Các khoản thu thường xuyên như: Thu thuế, phí, lệ phí
- Các khoản thu không thường xuyên như: Thu từ lợi tức và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu từtài sản bị tịch thu, thu tiền phạt, từ quà biếu tặng…
● Phân tích đánh giá thu nhập công
* Khái niệm đánh giá thu nhập công
Đánh giá thu nhập công là hệ thống quan điểm, phương pháp luận và chỉ tiêu nhằm phân tích, xemxét tính hợp lý về mặt kinh tế, xã hội lẫn chính trị các khoản thu nhập công
* Các quan điểm đánh giá thu nhập công
Việc đánh giá thu nhập công phải dựa trên một hệ thống các điểm nhất định đó là:
- Trách nhiệm giải trình Mọi khoản thu nhập công đều phát trinh t bạch và được giải trình thấu đáo
về mục đích, ý nghĩa Đánh giá thu nhập công cũng phải tiến hành minh bạch và công bố một phầnhay toàn bộ kết quả đánh giá
- Tránh gây xung đột về lợi ích giữa các tầng lớp dân cư và định bảo thực thi công bằng nghĩa vụcủa dân cư Đây là quan điểm chính trị không thể xem nhẹ, nói đúng hơn đây là quan điểm, là mộttham số trọng khi sắp đặt và đánh giá thu nhập công quan
- Phân tích lợi ích - chi phí giữa khoản thu vào NSNN với chi phí bỏ ra để thu được các khoản thu
đó (chỉ phi hành thu) Đây là quan điểm kinh tế: không thể bỏ ra hơn một đồng để thu về chỉ mộtđồng Đôi khi quan điểm chính trị xung đột với quan điểm kinh tế Lúc đó, Nhà nước sa có tráchnhiệm lựa chọn, ưu tiên quan điểm nào hơn trong những tình huống và giai đoạn cụ thể
- Hạn chế gánh nặng cho thế hệ tương lai Nếu Chính phủ gia tăng tỷ trọng nợ trong tổng thu nhậpcông thì gánh nặng nợ sẽ đè lên vai thể hệ tương lai Nếu Chính phủ tăng thuế thay cho vay nợ thìgánh nặng thuế sẽ dồn vào thế hệ hiện tại Trong khi đó, công việc kiến thiết đất nước thì không phải
là nghĩa vụ riêng của một thế hệ nào cho nên tỷ phần giữa thuế và nợ trong cơ cấu thu nhập côngcần được xem xét một cách thân trong
Trang 18- Phù hợp thông lệ quốc tế Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện đại, xu thế hội nhập quốc tếngày càng nổi lên như một đòi hỏi tất yếu, mặc dù thu nhập công tại một quốc gia nào là do Nhànước tại quốc gia đó quyết định, song không thể quá khác biệt so với quốc tế Chính vì thế, càng đòihỏi tính chuẩn mực và tính thống nhất quốc tế trong thu nhập công.
* Các chỉ tiêu đánh giá thu nhập công
- đánh giá khả năng huy động một phần tổng sản phẩm quốc nội
- đánh giá cơ cấu thu nhập công
- đánh giá kn tài trợ chi tiêu công
- dự báo triển vọng thu nhập công
5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập công
Thu nhập công được xây dựng trên nền tảng kinh tế đó là sự trao đổi giữa các nghĩa vụ: các tổ chức
và cá nhân có nghĩa vụ trích chuyển một phần thu nhập vào Ngân sách nhà nước để hình thành cácquỹ tài chính của Nhà nước đổi lại nhà nước có nghĩa vụ sử dụng hiệu quả các nguồn thu nhập này
Có năm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến thu nhập công bao gồm: Trình độ phát triển kinh tế, trình độ
tổ chức hoạt động thanh toán và hạch toán, trình độ nhận thức của dân chúng, năng lực pháp lý của
bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của Chính phủ
Thứ nhất Trình độ phát triển kinh tế
Thu nhập công chủ yếu được hình thành từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra, muốn thu nhập côngnhiều và bền vững thì chỉ có cách duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế sáng tạo ra ngày càng nhiều giátrị gia tăng chứ không phải là nhà nước dùng quyền lực ép buộc dân chúng và các tổ chức kinh tếtrích chuyển thu nhập cho mình nhiều hơn
GDP là cơ sở duy nhất và bền vững nhất của thu nhập công, mối quan hệ giữa GDP và thu nhậpcông được mô tả bằng công thức: Thu nhập công = f (GDP)
Mọi nguồn vay hay viện trợ chỉ đáp ứng nhu cầu tạm thời và đều phải trích từ thuế để trả, vì vậychăm lo phát triển kinh tế chính là chăm lo nguồn thu nhập công trong tương lai
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quyết định đặc biệt tới các nước đang phát triển Nó là tiền đề vậtchất để giảm khoảng cách tụt hậu với các nước phát triển, củng cố quốc phòng, an ninh chính trị, tạoniềm tin cho cộng đồng quốc tế Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết thất nghiệp, tăng thunhập và phúc lợi xã hội cho nhân dân, của cải xã hội làm ra ngày càng tăng, thu nhập công cũngngày càng tăng mà không tăng gánh nặng cho xã hội
Mặt khác, thu nhập công ngày càng tăng, nhà nước có đủ điều kiện hơn để đầu tư cho các công trình
sự nghiệp, các chương trình phúc lợi xã hội, các cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển đất nước…Từ đó,giúp kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, thu nhập công lại được đảm bảo, lại là điều kiện để giúp kinh tếtăng trưởng nhanh hơn Đó là mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tương hỗ nhau, cùng tạo đà cho nhauphát triển Và ngược lại, nếu nền kinh tế chậm phát triển, tụt hậu, của cải xã hội tạo ra ít, tình trạngthất nghiệp gia tăng thì sẽ làm giảm đáng kể thu nhập công Muốn ổn định kinh tế thì nhà nước lạiphải tăng thêm chi tiêu công, khi mà nguồn thu nhập công không đủ bù đắp các khoản chi tiêu côngthì gây ra tình trạng mất cân đối ngân sách
Thứ hai Tiềm năng của đất nước về tài nguyên thiên nhiên
Trang 19Nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia thuộc sở hữu của Nhà nước NHà nước là đại diện chủ
sở hữu toàn dân thực hiện khảo sát, tìm kiếm, bảo quản, giữ gìn, quản lý, khai thác, sd Vì vậy nếuquốc gia có nguồn Tài nguyên phong phú sẽ làm tăng thu cho NSNN, thu nhập công sẽ tăng
Thứ ba Trình độ tổ chức hđ thanh toán và hạch toán
Khi trình độ hiện đại trong thanh toán và hạch toán gia tăng, thu nhập công cũng sẽ tự động tăngtheo mà không cần điều chỉnh mức thu vì lúc đó mọi khoản thu và chi phí của mọi tổ chức và cánhân được ghi chép và phản ánh minh bạch hơn, nên quá trình Nhà nước động viên một phần thunhập của nhân dân cũng chính xác và công bằng hơn, đặc biệt trong quản lý và thu thuế Vì trongthu nhập công, thuế chiếm hơn 70% tổng thu ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Trình độ thanhtoán và hạch toán càng hiện đại, nhà nước có thể giảm và kiểm soát phần nào sự thất thoát trong thungân sách, tăng thu ngân sách và đảm bảo công bằng giữa các chủ thể trong xã hội
Tính hiện đại trong công nghệ thanh toán thể hiện trước hết ở sự phong phú đa dạng của các phươngtiện thanh toán, loại hình thanh toán, trình độ công nghệ, sự phát triển của các tổ chức tài chínhtrung gian cung cấp dịch vụ và thói quen của dân chúng Xu hướng chung khi mà nền kinh tế cácphát triển thì tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế càng tăng Cuối tháng8-2007, thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị về thực hiện chi trả lương các đối tượng đượchưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước qua tài khoản từ đầu năm 2008.Từ đó tiết kiệm nhân lực
và tiết kiệm hàng loạt chi phí cho các đơn vị chi trả lương, tiết kiệm chi phí cho hệ thống Kho bạcNhà nước và tiết kiệm thời gian cho người hưởng lương…
Hiệu quả chung mà cả nền kinh tế tiết kiệm được thật sự là rất lớn Cũng chính nhận thấy hiệu quảcủa dịch vụ này mà các đơn vị tiên phong chính là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặcbiệt là các doanh nghiệp có đông công nhân, đã chủ động phối hợp với các Ngân hàng thương mạithực hiện từ nhiều năm qua Bởi vì tiết kiệm các chi phí trong chi trả lương cũng đồng nghĩa vớiviệc nâng cao sức mạnh cạnh tranh, vì có thể giảm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận Từnhững lợi ích đó mà thu nhập công tăng lên
Ngoài tiện ích thông thường, nhiều dịch vụ mới cũng được triển khai mở rộng và nhờ đó, thay vì chỉthực hiện rút tiền, chủ các tài khoản có thể mua sắm hàng hóa, dịch vụ qua mạng, đặt vé máy bay.Song khi mà năng lực đầu tư cơ sở hạ tầng ATM, POS của các tổ chức cung ứng còn hạn chế cũngnhư thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến, dịch vụ trả lương qua tài khoản đến nay vẫn chưa thểphát huy hết các tiện ích cho người sử dụng
Hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác hạch toán kế toán với các phần mềm tiện íchnhư : Misa ,fast ,bravo… công tác kế toán đã được đơn giản hoá, chính xác và minh bạch hơn Từ
đó cung cấp các số liệu chính xác hơn, là cơ sở để nhà nước thu thuế, tránh được tình trạng thamnhũng lãng phí quỹ công
Thứ tư Trình độ nhận thức của người dân
Khi ý thức của người dân càng cao họ càng nhận ra sự cần thiết của nhà nước và trách nhiệm củamỗi bên trong tiến trình thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Trình độ nhận thức cao của dân chúngcũng giúp Chính phủ có những hành xử công bằng sòng phẳng hơn và cung cấp hàng hóa dịch vụcông cộng đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn
Trang 20Tuy nhiên vẫn toàn tại một bộ phận người dân vẫn chưa thực sự hiểu được vai trò của tài chính côngđối với sự phát triển của Xã hội, chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của Nhà nước Chính vì vậynên họ cũng chưa ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước Nên đâu đó một
bộ phận người dân cố tình khai khống thuế, trốn thuế, cá biệt có doanh nghiệp cố tình dây dưachiếm dụng tiền thuế làm thất thu Ngân sách Nhà nước mỗi năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng ảnhhưởng tới chương trình phát triển kinh tế Xã hội của chính phủ ta
Thứ năm Năng lực pháp lý của bộ máy nhà nước và hiệu quả hđ của Chính phủ
Chính Phủ là một bộ máy do xã hội xây dựng đế dẫn dắt xã hội đạt được những mục tiêu công cộng
Do đó bộ máy này đương nhiên phải dựa trên một văn bản pháp lý vững chắc và phải được mọithành viên trong xã hội tôn trọng Năng lực pháp lý của bộ máy nhà nước được nâng cao sẽ giúpChính phủ đặt ra và quản lý hữu hiệu các khoản thu phù hợp thể chế và khả năng chịu đựng củadoanh nghiệp cũng như của dân chúng Đồng thời hạn chế thất thu đến mức tối thiểu ở cả khu vựcNhà nước lẫn khu vực ngoài Nhà nước Qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch trong quá trìnhđộng viên và sử dụng một phần của cải của xã hội
Năng lực pháp lý của nhà nước đối với thu nhập công thể hiện ở chỗ hệ thống bộ máy thu thuế, phí,
lệ phí, và các khoản thu khác hoàn thiện tới đâu, chặt chẽ tới đâu, chặt chẽ đến đâu và có hiệu quảđến đâu
Để đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác quản lý thu thuế, Chính phủ sẽ ban hành Luật quản
lý thuế nhằm quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các tổchức, cá nhân khác có liên quan và bổ sung quyền cưỡng chế thuế, điều tra khởi tố các vụ vi phạm
về thuế Thực hiện hệ thống phục vụ đối tượng nộp thuế có chất lượng cao theo mô hình “một cửa”,giảm chi phí cho cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế Xây dựng các quy trình, thủ tục quản lý thuếđơn giản, minh bạch
6.Khái niệm, nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổchức hoạt động, quản lý các khoản thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách tương ứngvới mỗi cấp chính quyền
Trang 21- Cơ sở về kỹ thuật: Nguồn thu của NSNN mặc dù phân bổ trên khắp các vùng lãnh thổ quốc gianhưng được sáng tạo trong một cơ cấu kinh tế chính thể thống nhất Vì vậy, về mặt kỹ thuật, việcthiết lập một NSNN thống nhất về chính sách và thể chế thu chi trong cả nước nhằm giảm đến mứctối thiểu những biệt lập, gây ra tình trạng phân tán làm suy yếu nguồn lực tài chính của Nhà nước;thống nhất hệ thống báo cáo vi các chỉ tiêu trong việc thu thập và xử lý thông tin về NSNN.
* Nguyên tắc tập trung và dân chủ
Nội dung của nguyên tắc tập trung thể hiện sự tập trung quyền lực của Quốc hội trong việc quyếtđịnh NSNN; sự tập trung quyền lực của Chính phủ trong việc quản lý NSNN; tính chủ đạo củaNSTU trong hệ thống NSNN Nguyên tắc tập trung được thiết lập là nhằm đảm bảo tính thống nhấttrong hệ thống NSNN và tăng quyền lực của chính quyền trung trong Tuy vậy, phù hợp với xuhướng phát triển nền dân chủ chính trị đi đôi với tăng cường thể chế, tăng cường tập trung quyềnlực của chính quyền trung ương cần phải thực hiện đầy mạnh thể chế dân chủ thông qua việc thựchiện phân cấp quản lý NSNN và mở rộng quyền từ chủ cho các cấp ngân sách trong việc tổ chức vàkhai thác nguồn lực của địa phương để thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
* Nguyên tắc công khai, minh bạch
Nguyên tắc này trong quản lý NSNN xuất phát từ xu hướng mở rộng chế độ dân chủ trong hệ thốngchính trị Người dân có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước, ngược lại họ có quyền yêu cầu Chính phủphải công khai tình hình thu, chi NSNN để người dân có thể đánh giá mức độ minh bạch, hiệu quả
và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công.Theo nguyên tắc này, dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán NSNN, ngân sách các cấp, các đơn vị
dự toán ngân sách phải công bố công khai cho công chúng
* Nguyên tắc cân đối
Nguyên tắc này thể hiện mối tương quan giữa thu, chi NSNN Trong quản lý NSNN cần phải tôntrọng nguyên tắc này về: Cân đối NSNN là một trong những cân đối tổng thể của kinh tế vĩ mô, cótác động đến cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư, cân đối cán cân thanh toán quốc tế: cân đối NSNNphản ánh các nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể chi phối trực tiếp để sao cho thực hiện cácnhiệm vụ được Hiến pháp quy định Trong khuôn khổ tài chính công, NSNN được cân đối trênnguyên tắc: Tổng số thu từ phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chỉ thường xuyên và góp phần tích lũyngày càng cao vào chỉ cho đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách NSĐP được cânđối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu Trường hợp các địa phương có … nhu cầu đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng nhưng vượt quá khả năng cân đối của NSĐP thì được phép huy động vốntrong nước và phải cân đối ngân sách hàng năm để chủ động trả nợ khi đến hạn
7 Khái niệm, nội dung, nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là quá trình nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, tráchnhiệm nhất quán cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách
● Nội dung
Quan hệ giữa các cấp chính quyền về chính sách, chế độ
Nhà nước giữ vai trò quyết định lại thu như thuế, phí, lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu chuẩn địnhmức chi tiêu thống nhất trong cả nước
Trang 22Ngoài các chế độ, tiêu châu, định mức chi tiêu do Chính phủ Thủ tướng Chính phủ Bộ trưởng BộTài chính ban hành, đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương Hội đồng nhândân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương.Riêng những khoản chỉ có tính chất tiền lương, tiền công, phục cấp, trước khi quyết định phải có ýkiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính việc ban hành các chế độ chi ngân sách ở địaphương dễ tổng hợp và giám sát việc thực hiện
Hội đồng nhân dân cấp tính quyết định một số chế độ thu phi gắn với quản lý đất đai, tài nguyênthiên nhiên, gần với chức năng quản lý hành chính Nhà nước của chính quyền địa phương và cáckhoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật Việc huy động vốn đầu tư xây dựng côngtrình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngàn sách cấp tỉnh được quy định theo những điều kiện nghiêmngặt nhằm tránh tình trạng sử dụng vốn phi hiệu quả, chồng chất nợ nần lên NSTW
Quan hệ các cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi
Trong Luật Ngân sách quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chỉ giữa NSTW và NSĐP được ổn định
từ 3 đến 5 năm Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100% Các khoản thu phân chiatheo tỷ lệ phần trăm (%) cũng như nhiệm vụ chi của từng cấp trên cơ sở quán triệt các nguyên tắcphân cấp
NSTW hưởng các khoản thu quan trọng không gần trực tiếp với công tác quản lý của địa phươngnhư: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô, hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chianhư thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán từng ngành
NSTW chỉ cho các hoạt động có tính chất đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọngcủa quốc gia như: chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, chỉ quốc phòng, an ninh, chỉ giáo dục, y
tế, chỉ dùm báo xã hội do Trung ương quản lý và hồ tự các địa phương chưa cân đối được thu, chingân sách
NSĐP được phân cấp nguồn thu để đảm bảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giáo, gầntrực tiếp với công tác quản lý tại địa phương như: thuế nhà, đất, thuế - môn bài, thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thuế thu nhập với người có thu nhập cao…
NSĐP chỉ chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh do địaphương trực tiếp quản lý Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên Xãhội và trình độ quản lý các Vùng miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năngcủa địa phương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà Nước trên phạm vi từng địa phương
Ngân sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân sách cấp dính với hai hình thức:
Bổ sung gấp và bổ sung có mục tiêu Luật NSNN quy định các nguồn thu về nhà đất phải phân cấpkhông dưới 70% cho ngân sách xã, đối với lệ phí trước bạ thì phải phân cấp không dưới 50% chongân sách các thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình Ngân sách Nhà nước
Mặc dù ngân sách Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng lồng ghép giữa các cấp chính quyền trong chutrình ngân sách nhưng quyền hạn và trách nhiệm Hội đồng nhân đầu các cấp trong việc quyết định
dự toán ngân sách, phân bố ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách đã được tăng lên đáng kể
Trang 23Bên cạnh các quyền có tính chất truyền thống như: quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân
bổ ngân sách địa phương, phân bố dự toán chi ngân sách cho sở, hàn ngành theo từng lĩnh vực cụthể, quyết định số bổ sung từ ngân sách cấp minh cho từng ngân sách cấp dưới trực tiếp phê chuẩnquyết toán ngân sách địa phương Hội đồng nhân dân cấp tinh còn có nhiệm vụ
Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ cho từng cấp ngân sách ở địa phương Quyếtđịnh tỷ lệ % phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương với phần ngân sách địaphương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa NSTW với NSĐP và các khoản thu có phânchia giữa các cấp ngân sách ở địa phương
Ngoài ra việc tổ chức lập ngân sách ở địa phương được phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương quy định cụ thể cho từng cấp ở địa phương Theo luận về dự toán với cơ quantài chính chỉ thực hiện và năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, các năm tiếp theo chi tiến hànhkhi địa phương có đề nghị
● Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
- Thứ nhất phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xãhội quốc phòng an ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
- Thứ hai phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải đảm bảo vai trò chủ đạo của Ngân sáchtrung ương và tính độc lập chủ động của ngân sách địa phương
- Thứ ba phân định rõ nhiệm vụ thu chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia cáckhoản thu số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm
- Thứ tư đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách
● Liên hệ Việt Nam
Trong những năm qua, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo các nguồn lực tài chínhquốc gia được huy động và phân phối sử dụng một cách hiệu quả nhất và đạt được những kết quảquan trọng sau:
- Thứ nhất: đảm bảo thực quyền của Quốc hội, tăng tính chủ động của Hội đồng nhân dân các cấptrong việc quyết định dự toán ngân sách, quyết định phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toánngân sách
Luật ngân sách nhà nước quy định Quốc hội thảo luận và quyết định phân bổ ngân sách chi tiết theolĩnh vực đến từng bộ, cơ quan trung ương và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương đã thể hiện quyền lực tối cao của cơ quan đại diện cao nhất củanhân dân trong quyết định ngân sách nhà nước
- Thứ hai, phân cấp quản lý ngân sách theo Luật ngân sách nhà nước năm 2015 đã góp phần thúcđẩy nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà nước Việc ban hành và thực hiệnchính sách chế độ mới làm tăng chi ngân sách, tình trạng cấp ban hành chính sách phải có giải phápđảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của từng cấp
- Thứ ba, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đã đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trungViệc quy định ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo và hưởng các nguồn thu quan trọng đã đủnguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia; Đảm bảo nguồn lực để bổ sung chocác địa phương khó khăn, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, qua đó góp phần nâng
Trang 24cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, từng bước phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh nghèo,các xã vùng sâu, vùng xa.
- Thứ tư, cơ chế phân cấp quản lý NSNN đã giao quyền chủ động cho các địa phương tăng thu, tiếtkiệm chi ngân sách nhà nước để có nguồn lực phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Cơ chế phân cấp
cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách đã khuyến khích chính quyền địa phương:Chủ động trong việc xác định, bồi dưỡng nguồn thu, tăng thu ngân sách để thực hiện các nhiệm vụchi đã được phân cấp, với cơ chế: tăng thu thì tăng chi, giảm thu thì giảm chi đã khắc phục được tìnhtrạng ỷ lại vào cấp trên
8 Khái niệm, nguyên tắc xây dựng mục lục NSNN
Theo nghĩa thông thường, mục lục là những nội dung tóm tắt chính yếu của một tài liệu nào đó Đốivới NSNN, xét về hình thức nó là một bản dự toán tổng hợp thu, chi của các cơ quan Nhà nước vớinhiều nội dung khá phức tạp Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý NSNN, việc thiết lậpmục lục NSNN là rất cần thiết Thực tế cũng đã minh chứng, mục lục NSNN là công cụ quản lýNSNN có hiệu quả
Có thể khái niệm: Mục lục NSNN là bảng phân loại các nội dung thu, chi của Nhà nước theo nhữngtiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho việc điều hành quản lý NSNN trên các phương diện lập, chấphành, quyết toán NSNN cũng như kiểm soát và phân tích kết quả hoạt động của NSNN
* Nguyên tắc đầy đủ
Nguyên tắc này đòi hỏi mục lục NSNN phải phản ánh toàn diện và đầy đủ những giao dịch tại chínhcủa Nhà nước Có như vậy, mục lục NSNN mới là tài liệu quan trọng cung cấp cho những cơ sở dữliệu có độ tới cây cao, phục vụ cho việc đánh giá hoạt động NSNN cũng như công tác hoạch địnhchính sách phát triển kinh tế - tài chính của quốc gia
* Nguyên tắc tiết kiệm chi phí và hiệu quả
Khi xây dựng mục lục NSNN cần phải đáp ứng yêu cầu đơn giản, dễ hiểu, dễ làm nhưng vẫn đảmbảo cung cấp đầy đủ số liệu và thông tin cần thiết cho việc quản lý NSNN
* Nguyên tắc mở
Nguyên tắc này yêu cầu khi xây dựng mục lục NSNN phải tính đến những thay đổi về phân cấpngân sách, chính sách thu, chi của NSNN trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi Những chỉmục và mã số của mục lục NSNN cần phải được xây dựng có tính chất mở để khi phát sinh nhữngchỉ mục mới có thể cập nhật và bổ sung nhưng không làm thay đổi lớn mục lục NSNN
9 Khái niệm quản lý chu trình NSNN
Trang 25Chu trình NSNN: Chu trình ngân sách là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ hoạt động của một ngân
sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trìnhngân sách gồm 3 giai đoạn nối tiếp nhau, đó là lập dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách và quyếttoán ngân sách
● Các giai đoạn của chu trình ngân sách nhà nước
Lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chutrình quản lý ngân sách Lập dự toán ngân sách thực chất là lập kế hoạch (dự toán) các khoản thu chicủa ngân sách trong một năm tài chính (hoặc trong giai đoạn ngân sách dự kiến) Kết quả của khâunày là dự toán ngân sách được các cấp có thẩm quyền quyết định
Lập dự toán ngân sách cần phải dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhànước trong niên độ kế hoạch và dựa vào hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thu -chi của ngân sách nhà nước
Chấp hành ngân sách
Đây là khâu tiếp theo khâu lập ngân sách Đó chính là quá trình sử dụng tổng hợp các biện phápkinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch ngân sách nhànước năm trở thành hiện thực
Việc chấp hành ngân sách nhà nước có mục tiêu là biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch ngânsách năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực Từ đó, góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội của nhà nước
Kiểm tra việc thực hiện các chính sách chế độ, tiêu chuẩn về kinh tế và tài chính Đối với quản língân sách nhà nước, chấp hành ngân sách nhà nước là khâu trọng tâm có ý nghĩa quyết định đếnmột chu trình ngân sách
Chấp hành ngân sách nhà nước phải thực hiện tốt theo dự toán thu và dự toán chi; thu ngân sáchphải trên cơ sở không ngừng bồi dưỡng, phát triển nguồn thu, động viên khai thác để đáp ứng nhucầu chi tiêu của nhà nước; chi ngân sách phải tiết kiệm và đạt kết quả cao
Quyết toán ngân sách
Quyết toán ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Mục đích là nhằmđánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của thu, chi ngân sách nhà nước, từ đó rút ra ưu, nhược điểm vàbài học kinh nghiệm
Quyết toán ngân sách nhà nước thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từdưới lên để bảo đảm tính hệ thống
Quyết toán ngân sách nhà nước phải bảo đảm tính chính xác, trung thực và kịp thời để từ đó có thểrút ra những kinh nghiệm trong công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
10 Quan niệm về cân đối NSNN và một số lý thuyết về cân đối NSNN gồm: Lý thuyết cổ điển
về thăng bằng NSNN, Lý thuyết hiện đại về cân đối NSNN, Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt, Lý thuyết về ngân sách chu kỳ
Quan niệm về cân đối NSNN
Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là việc cân bằng ngân sách bởi trạng thái này chỉ
có thể xảy ra mang tính thời điểm, xét cả một thời kỳ thì nó khó thể có 1 ngân sách nhà nước thăng
Trang 26bằng Ngày nay thuật ngữ cân đối ngân sách nhà nước thường được hiểu với ý nghĩa thu Ngân sách
có đáp ứng được các chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ hay không Như vậy có
thể hiểu: cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong 1 năm với sự phân phối sử dụng nguồn thu đó nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong năm đó.
● Một số lý thuyết về cân đối NSNN
- Lý thuyết cổ điển về cân bằng NSNN
Theo lý thuyết này, nội dung của cân bằng ngân sách rất đơn giản: “ Mỗi năm số thu phải ngang với
số chi” Quan điểm này bao gồm hai nguyên tắc cơ bản sau: Một là, tổng số những khoản chi khôngđược quá tổng số những khoản thu Hai là, tổng số những khoản thu của ngân sách không bao giờđược lớn hơn tổng số những khoản chi của ngân sách Tức là ngân sách nhà nước phải được cânbằng tuyệt đối, bội chi hay bội thu ngân sách đều biểu hiện sự lãng phí về nguồn lực trong nhândân.Ngoài ra, thuyết này còn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải cân bằng cả khi lập dự toán và trongquá trình thực hiện, nếu chỉ cân bằng khi lập dự toán còn trong quá trình thực hiện lại không cânbằng thì không thể coi là cân bằng thực sự
- Lý thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước
Các nhà kinh tế học hiện đại, nổi bật là J.M Keynes lại cho rằng Chính phủ còn kích thích tiêu dùngcủa dân chúng bằng cách cắt giảm thuế và gia tăng chi tiêu của Chính phủ Lý thuyết này ủng hộthảm hụt Ngân sách Nhà nước vì đây chính là công cụ tải chính để Chính phủ có thể tác động vàotổng cầu và công ăn việc làm của chính sách của nền kinh tế Keynes còn cho rằng có thể bù đắpthâm hụt Ngân sách Nhà nước hằng cách in thêm tiền phát hành vào lưu thông
Các nhà kinh tế học người Mỹ đã phát triển quan điểm trên thành trưởng phải Keynes, ủng hộ việcNhà nước tăng các khoản nợ và coi đây là biện pháp chủ yếu để thu hút vốn cho Nhà nước Tưtưởng này cũng nhận được sự đồng thuận của nhà kinh tế học P.A Samuelson
Cũng dòng quan điểm này, những nhà kinh tế học Lerner làm rõ: Chính phủ vay nợ dần thông quahình thức phát hành trái phiếu là nợ nội bộ Khi Chính phủ hoàn trả nợ trái phiếu, chính là có sựchuyển nhượng thu nhập từ nhóm dân cư không nắm giữ trái phiếu đến nhóm dân cư nắm giữ tráiphiếu Như vậy, không hề tạo ra gánh nặng nợ cho tương lai Tuy nhiên, cần cảnh giác khi Chínhphủ đi vay nước ngoài, đây là khoản nợ bên ngoài và sẽ đặt gánh nặng trả nợ lên vai thế hệ tươnglai
- Lý thuyết về ngân sách chu kỳ
Nền kinh tế trải qua một chuỗi dài các chu kỳ, mỗi chu kỳ đều trải qua giai đoạn phồn thịnh và suythoái Ở giai đoạn phồn thịnh của nền kinh tế thì của cải vật chất tạo ra nhiều, năng suất lao động xãhội cao, thất nghiệp ít Do đó nguồn thu vào ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn nhu cầu chỉ tiêu vàngân sách nhà nước thường ở tình trạng bội thu Vì vậy nếu không xem xét cân đối ngân sách nhànước theo chu kỳ, Nhà nước rất dễ dùng số bội thu này chi tiêu vào những việc không cần thiết.Ngược lại, khi có khủng hoảng xảy ra nền kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất
Trang 27tạo ra ít, năng suất lao động của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng Dẫn đến việc thu ngân sách gặpnhiều khó khăn, ngoài ra Nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xãhội phát sinh làm cho ngân sách nhà nước dễ rơi vào tình trạng bội chi Như vậy, theo thuyết này sựcân bằng ngân sách nhà nước sẽ không duy trì được trong khuôn khổ một năm mà sẽ duy trì trongkhuôn khổ một chu kỳ kinh tế Nghĩa là, nguyên tắc cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước vẫnđược tôn trọng nhưng sự cân bằng ngân sách nhà nước phải thực hiện trong một chu kỳ phát triểnkinh tế.
- Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt
Lý thuyết cổ điển đã chỉ ra, muốn thăng bằng ngân sách trong giai đoạn suy thoái thì phải giảm thuhoặc tăng chi Nhưng cả hai phương pháp này đều kiểm hãm sự phát triển kinh tế, làm cho nền kinh
tế càng đình trệ hơn Do vậy khi kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, phải tránh sự kìm hãm đó bằngcách cố gắng hy sinh thăng bằng ngân sách, phải sử dụng sự mất cân đối ngân sách, tăng chi tiêu đểđưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái Tuy nhiên, việc cố ý tạo sự thiếu hụt ngân sách nhà nước có thểảnh hưởng xấu đến chính sách tiền tệ, lạm phát gia tăng Nhưng những người ủng hộ thuyết này chorằng: “ Sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để ngân sách nhà nước trở về tình trạng cân bằng vàđẩy lùi lạm phát”
==> Tóm lại, mỗi thuyết bàn về cân đối ngân sách ở mỗi khía cạnh, góc độ và thời điểm khác nhaunhưng cùng hướng tới vấn đề làm sao cho ngân sách nhà nước được cân bằng, nóđã đóng vai tròđáng kể trong lịch sử kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước các quốc gia trên thế giới Ngày naychính phủ các quốc gia không nhất định phải tuân thủ một lý thuyết cân đối ngân sách nào trong quátrình quản lý và thực thi ngân sách nhà nước mà các chính phủ thường kết hợp giao thoa giữa cácthuyết này tùy thuộc vào từng thời kỳ của đất nước mà có sự vận dụng cho phù hợp
11 Khái niệm, phân loại, nguyên nhân bội chi NSNN
Khái niệm: Bội chi NSNN là tình trạng chi tiêu của NSNN vượt quá số thu của NSNN trong một
năm
Phân loại: Dựa vào 2 tiêu thức phân loại
❖ Căn cứ vào yếu tố thời gian:
- Bội chi NSNN trong ngắn hạn: Là sự thiếu hụt tạm thời về các nguồn thu NSNN mà chủ yếu làthuế Điều này bắt nguồn từ những khoản chi NSNN thì phát sinh rất đều đặn, trong khi nguồn thu
từ thuế lại được tiến hành theo từng đợt
- Bội chi NSNN dài hạn: Là trạng thái tổng chi NSNN lớn hơn các khoản thu NSNN diễn ra trongnhiều tài khóa liên tục Đây là biểu hiện của trạng thái suy yếu nghiêm trọng của các khoản thuNSNN, do bộ máy hành thu kém hiệu quả và quá trình quản lý chi tiêu NSNN không chặt chẽ,thường xảy ra ở các nước đang phát triển, các nước vừa trải qua khủng hoảng kinh tế, chính trị…
❖ Căn cứ vào nguồn gốc của bội chi:
- Bội chi cơ cấu (Bội chi mang tính chủ động): Bắt nguồn do NN thay đổi chính sách thu, chi NSNNtheo hướng đẩy mạnh các hoạt động chi đầu tư phát triển khiến tổng thu ngân sách < tổng chi ngânsách, nhưng vẫn đảm bảo chi thu thường xuyên > chi thường xuyên
- Bội chi chu kì: Là một dạng của bội chi NSNN bị động Bắt nguồn từ sự ảnh hưởng biến động củachu kì kinh tế, do kinh tế suy thoái nên số thu thường xuyên không tăng, hoặc tăng không kịp tốc độ
Trang 28chi tiêu của Chính phủ nên tổng chi > tổng thu Thực tế, Chính phủ các nước đã ứng dụng bội chi cơcấu để tác động đến chu kỳ kinh doanh, từ đó gây ra bội chi chu kì.
Nguyên nhân:
❖ Nguyên nhân mang tính khách quan:
Nguyên nhân cơ bản là do biến động của chu kỳ kinh tế đã làm cho nguồn thu NSNN bị giảm, nềnkinh tế trong chu kỳ suy thoái dẫn đến nguồn thu NSNN giảm, hoặc nền kinh tế gặp phải thiên tai,địch họa… thì thu Ngân sách sẽ gặp khó khăn Nguyên nhân khác là do nhu cầu chi tiêu của NSNNtăng vọt để đáp ứng nhu cầu phục hồi, phát triển kinh tế, phục vụ an ninh, quốc phòng… Cơ cấu dân
số mất cân đối, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm, lượng người trong độ tuổi nghỉ hưu ngàycàng cao, dẫn đến những khoản an sinh xã hội luôn là áp lực cho chi NSNN hàng năm của quốcgia…
❖ Nguyên nhân mang tính chủ quan:
- Điều hành NSNN không hợp lý dẫn đến khả năng hạn chế khai thác nguồn thu cho NSNN gây thấtthu, đồng thời cơ cấu chi tiêu bất hợp lý, quản lý chi tiêu thiếu chặt chẽ gây lãng phí, thất thoát vốnNhà nước
- Quá trình phân cấp NSNN còn nhiều bất cập làm Ngân sách địa phương luôn rơi vào tình trạngkhông tự cân đối, chi hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho địa phương ngày càng nhiều
- Chủ trương chuyển đổi nền kinh tế nảy sinh nhu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp,làm tăng các khoản trợ cấp, ưu đãi để khuyến khích phát triển, làm ảnh hưởng đến cơ cấu thu, chiNSNN
12 Các nguyên tắc cân đối NSNN, công cụ tổ chức cân đối NSNN
🌞Ở Việt Nam, nguyên tắc cân đối Ngân sách Nhà nước được quy định bởi Luật NSNN, cụ thể như sau:
- NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chithường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao và chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi,thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi NSNN
- Bội chi NSNN được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước Vay bù đắp bội chi NSNNphải bảo đảm nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển vàbảo đảm bố trí NSNN để chủ động trả nợ hết khi đến hạn
- Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu;trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc TW có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầngthuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã đượcHĐND cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán,thì được phép huy động vốn trong nước, và phải cân đối ngân sách tỉnh hàng năm để chủ động trả
nợ hết khi đến hạn Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư XDCBtrong nước hàng năm của ngân sách tỉnh
🌞Công cụ tổ chức cân đối NSNN:
Để cân đối Ngân sách Nhà nước, Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa Có thể xem xét dưới haigóc độ: Chính sách tài khóa cùng chiều và chính sách tài khóa ngược chiều Giả định của lý thuyếtvận dụng chính sách tài khóa cùng chiều và chính sách tài khóa ngược chiều là Chính phủ thiết lập
Trang 29một chính sách thu - chi Ngân sách sao cho tại mức sản lượng sản xuất và tiêu dùng tiềm năng củanền kinh tế thì Ngân sách cân bằng Mức thuế thu được từ nền kinh tế có mối quan hệ tỉ lệ thuận vớimức sản lượng tiềm năng Như vậy, tại bất kỳ mức sản lượng nhỏ thấp hơn mức sản lượng tiềmnăng thì Ngân sách Nhà nước sẽ bội chi, ngược lại, với bất kì mức sản lượng lớn hơn mức sản lượngtiềm năng thì Ngân sách Nhà nước sẽ thặng dư.
❖ Chính sách tài khóa cùng chiều
Khi mục tiêu của Chính phủ là cần phải đạt được Ngân sách cân đối cho dù sản lượng có thể thayđổi thế nào, thì chính sách tài khóa áp dụng sẽ là chính sách cùng chiều, tức là thu và chi Ngân sáchphải cùng tăng hoặc cùng giảm Theo đó, khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng,tức là thu Ngân sách có xu hướng giảm, cần phải tăng đồng thời cả thu Ngân sách và chỉ Ngân sách
để làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên, kích thích sản xuất, gia tăng sản lượng sản xuất tiêudùng: Ngược lại, khi sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng, thì nên giảm thu Ngânsách và giảm chi Ngân sách là tốt hơn để đưa sản lượng thực tế giảm về gần mức sản lượng tiềmnăng, kiềm chế được lạm phát Khi sản lương thực tế chạm mức sản lượng tiềm năng, thực hiện tăngthu và chi Ngân sách sẽ làm gia tăng lạm phát, còn giảm thu và chi Ngân sách sẽ đưa nền kinh tếđến mức thất nghiệp cao
❖ Chính sách tài khóa ngược chiều
Theo chính sách này, Chính phủ sẽ cố định mức thu hoặc mức chi Ngân sách, để điều chỉnh thay đổimức chi hoặc mức thu còn lại Giả sử sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng, muốntăng mức sản lượng thực tế để chạm mức sản lượng tiềm năng thì cần phải tăng tổng cầu của nềnkinh tế Cách thứ nhất là giữ nguyên các mức thu Ngân sách mà chủ yếu là thu từ thuế, trong khi đótăng chi Ngân sách để kích cầu tiêu dùng Cách thứ hai là giữ nguyên nhu cầu chi Ngân sách, đồngthời giảm thu thuế Điều này cần đến thu nhập khả dụng của nền kinh tế tăng lên Phần thu nhậptăng thêm của dân chúng do được giảm thuế sẽ được đưa vào tiêu dùng và đầu tư, tức là tổng cầucủa nền kinh tế sẽ tăng lên, khiến sản lượng thực tế sẽ tăng chạm mức sản lượng tiềm năng
Trong một số trường hợp, Chính phủ quyết định thay đổi cả mức thu và mức chi Ngân sách để tạo ratrạng thái cân đối Tuy nhiên, mức thay đổi ra sao và xu hướng thay đổi như thế nào cần phải đượctính toán rất cẩn trọng để tránh những tác động ngược chiều không mong đợi
Việc sử dụng chính sách Tài khóa có tác dụng trong cân đối Ngân sách nhưng bản thân nó cũngchứa đựng những hạn chế nhất định Thứ nhất là hạn chế về độ trễ của thời gian Vì Chính phủ phảimất một khoảng thời gian nhất định (ít nhất là 6 tháng) mới có thể nhận biết được sự thay đổi củatổng cầu Và cũng cần phải có thời gian để Chính phủ cân nhắc các kế hoạch chi tiêu rồi mới có thể
ra quyết định về chính sách tài khóa Thứ hai, việc tăng giảm thu chi Ngân sách luôn là một nhiệm
vụ rất khó đối với mọi Chính phủ, bởi điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của dân chúng và dễgây ra làn sóng phản đối chính quyền Thứ ba, bội chi trong bối cảnh kinh tế suy thoái thường rấtcao Khi đó, tăng chỉ tiêu của Chính phủ thực chất sẽ làm tình trạng bội chi Ngân sách ngày cànglớn hơn dẫn đến không chỉ gây ra lạm phát mà còn gây áp lực gia tăng nợ công Chính vì những hạnchế này mà các quốc gia có xu hướng can thiệp cân đối Ngân sách Nhà nước bằng một chính sách vĩ
mô khác có phản ứng mau lẹ hơn
❖ Sử dụng chính sách tiền tệ nhằm tăng tổng cầu
Trang 30Khi Ngân sách Nhà nước mất cân đối do sản lượng thực tế không chạm mức sản lượng tiềm năng,cho dù là bội chi Ngân sách (sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng) hay thặng dư Ngânsách (sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng) thì Chính phủ có thể sử dụng chính sách tiền
tệ can thiệp ngay Bằng các công cụ điều chỉnh mức cung tiền như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụthị trường mở, lãi suất tái chiết khấu, chính sách tiền tệ tác động gián tiếp đến tổng cầu của nền kinh
tế khiến mức sản lượng thực tế thay đổi về hướng sản lượng tiềm năng
Nhìn chung, để có thể cân đối Ngân sách Nhà nước, đưa bội chi Ngân sách Nhà nước về mức chophép thì Chính phủ các quốc gia cần phối hợp cả hai nhóm chính sách tài khóa và chính sách tiền tệmột cách hợp lý bởi bội chi Ngân sách đặc biệt ở mức độ cao là một bài toán khó và việc thực thicác chính sách để xử lý bội chi không phải dễ dàng và thường có tác dụng hai mặt
13 Các biện pháp cân đối NSNN
Các nước thường duy trì tình trạng bội chi để nền kinh tế phát triển (mức bội chi khoảng <=5%/GDP) Nhưng nếu bội chi ở mức quá cao thì sẽ làm cho nền kinh tế mất ổn định Chính vì vậy,khi xảy ra bội chi sẽ phải tiến hành cân đối thu chi Biện pháp truyền thống để thực hiện cân đối thuchi khi xảy ra bội chi là tăng thu và giảm chi Cụ thể
Tăng thuế và kiện toàn hệ thống thuế: tăng các mức thuế suất và cải cách hệ thống các sắc thuế,
mở rộng diện chịu thuế, kiện toàn và nâng cao hiệu quả bộ máy hành thu nhằm chống thất thuthuế… Tuy nhiên việc áp dụng các hình thức tăng thuế còn cần phụ thuộc vào mức độ chịu đựng củanền kinh tế Áp dụng biện pháp này quá đà có thể dẫn đến triệt tiêu tiết kiệm ở khu vực tư nhân, dẫnđến thiếu vốn đầu tư phát triển nền kinh tế trong lâu dài Vì vậy cần xem xét khả năng thu thuế cũngnhư những nguyên tắc để biện pháp được hiệu quả
Giảm chi NSNN: Hướng tới cắt giảm những khoản chi mang tính chưa cấp bách, không quá thiết
yếu đối với quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nhằm rút ngắnkhoảng cách chênh lệch giữa thu chi ngân sách Cũng giống như tăng thu, cắt giảm chi tiêu Ngânsách làm cho nền kinh tế phải trả giá nhất định, đó chính là sự giảm sút tiết kiệm ở khu vực tư nhân
Sự sụt giảm này không tương ứng với mức tăng quỹ do tiết kiệm của NSNN Giảm chi chỉ phát huy
ưu điểm khi cắt giảm hợp lý như xoá bỏ chi bao cấp, chi lãng phí, thực hành tiết kiệm chi tiêu quaviệc nâng cao hiệu quả của quá trình kiểm soát chi tiêu công, cơ cấu lại hệ thống chi nhằm giảmnguy cơ tham ô trong quá trình sử dụng vốn NSNN Như này, cần phân biệt giữa lãng phí với tăngchi tiêu để kích cầu, giảm tính hiệu quả, tiết kiệm với việc cắt giảm chi tiêu Ngân sách một cách bàytiện Nhưng nhìn chung, biện pháp này bị đánh gửi là tiêu cực vì đứng trên góc độ điều tiết vĩ mỏ,các khoản chi tiêu của NSNN luôn ảnh hưởng đến lợi ích của công chúng, của doanh nghiệp nênviệc cắt giảm chi thị dễ gây phản ứng từ phía công luận
Vay nợ: Có thể nói, trong các biện pháp nhằm cân đối NSNN thì vay nợ là một biện pháp khá phong
phủ Nguồn vay nợ của Chính phủ bao gồm: Vay nợ qua phát hành các giấy tờ có giá trên thị trườngvốn trong và ngoài nước (phát hành công trái, phát hành trái phiếu Chính phủ, vay qua NHTW, vay
từ các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, vay từ Chính phủ các nước khác Biện pháp này tận dụngđược nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trên thị trường, nguồn vốn quốc tế giúp Chính phủ có thể tranhthủ được những nguồn vốn với quy mô lớn, có lãi suất ưu đãi Bên cạnh những lợi điểm trên, vay nợ
Trang 31cũng có những nhược điểm riêng Biện pháp này đã tạo ra áp lực lớn cho NSNN về tổng số nợ quốcgia, từ đó cần phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả sử dụng tiền vay, thời hạn hoàn trả, lãi suất Nhìnchung, càng vay nợ càng gia tăng gánh nặng nợ của Chính phủ Nếu bội chi Ngân sách Nhà nướckéo dài và không kiểm soát được thì sẽ ngày càng lún sâu vào vực xoáy thâm hụt-suy thoái-khủnghoảng nợ công Ngoài ra, vay nợ nhiều tạo áp lực buộc Nhà nước phải tăng thuế trong tương lai đểtrả nợ vay, gây tổn thất về tính hiệu quả của công cụ thuế trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế và tănggánh nặng trả nợ lên vai thế hệ tương lai.
Nhận viện trợ: Viện trợ có 2 loại Viện trợ không hoàn lại 100% và viện trợ ưu đãi, tức là cho vay
với mức lãi suất thấp, trong một khoảng thời gian dài Ưu điểm của nhận viện trợ là có thể khắcphục được tình trạng thiếu hụt trong hoạt động NSNN nhưng Chính phủ nhận viện trợ dễ bị tác độngphụ thuộc, đôi khi phải nhượng bộ trước những yêu cầu của nước viện trợ về kinh tế, chính trị, Vìthế, nhận viện trợ cũng cần phải cân nhắc cẩn thận về tính hiệu quả cũng như cái giá phải trả khi sửdụng biện pháp này để bù đắp thâm hụt Ngân sách
Phát hành tiền: Theo biện pháp này Nhà nước phát hành tiền để bù đắp bội chi Ngân sách Do vậy,
biện pháp này mang tính kịp thời cao, giúp Nhà nước nhanh chóng giải quyết tình trạng bội chi màkhông cần bận tâm đến gánh nặng của nợ quốc gia Mặc dù rất nhiều ý kiến cho rằng đây là biệnpháp tiêu cực, dễ dàng gây tổn thất cho nền kinh tế song nếu lượng tiền cung ứng tăng lên do pháthành tiền vẫn nằm trong giới hạn có thể kiểm soát của NHTW thì việc phát hành tiền lại là giải pháp
để kích thích tăng cầu về đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế Ngược lại, nếu phát hành tiền bị lạmdụng thì dễ dẫn đến lạm phát cao, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế - xã hội, gây ảnh hưởng nặng
nề đến uy tín của Nhà nước trước công chúng
14 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tín dụng nhà nước
Khái niệm: Tín dụng nhà nước là hoạt động tín dụng giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội
nhằm phục vụ cho mục đích quản lý vĩ mô của Nhà nước
Đặc điểm của tín dụng nhà nước
Mang đầy đủ bản chất của tín dụng, đó là các quan hệ tài chính trong quá trình chuyển quyền sửdụng một lượng giá trị nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả
Tín dụng nhà nước là một hình thức tín dụng đặc biệt, vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội
và chính trị Sự kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội là đặc điểm của tín dụng Nhànước và là mục tiêu hoạt động động của tín dụng nhà nước
Nguồn vốn để cho vay bao gồm từ NSNN được cân đối để cho vay đầu tư hoặc nguồn vốn huy độngtheo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ đầu tư phát triển theo kế hoạch của Nhà nước thông qua cáchình thức như công trái, tín phiếu, trái phiếu… Nguồn vốn tín dụng nhà nước là rất đa dạng
Tổ chức tín dụng làm nhiệm vụ quản lý, huy động và cho vay là hệ thống những đơn vị, cơ quanchuyên môn của Nhà nước được thành lập theo quyết định của Chính phủ
Đối tượng được cấp tín dụng là các dự án đầu tư theo chương trình mục tiêu, định hướng theo chủtrương của Nhà nước
Tín dụng nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, vì vậy lãi suất không phải là lãi suất thịtrường Lãi suất huy động thường thấp nhất trên thị trường tài chính do trái phiếu chính phủ là công
Trang 32cụ có độ an toàn cao nhất, còn lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi do Nhà nước điều tiết phù hợp vớiyêu cầu, đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước.
Vai trò của tín dụng nhà nước:
Thứ nhất, TDNN là một công cụ sắc bén trong việc lành mạnh hóa nền tài chính - tiền tệ quốc gia Thứ hai, TDNN góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế: tạo ra nguồn bổ sung cho NSNN và các quỹ hỗ
trợ đầu tư của Nhà nước Giải quyết các khuyết tật của nền kinh tế thị trường như khủng hoảng thừa,khủng hoảng thiếu, suy thoái kinh tế, phân hóa giàu nghèo…
Thứ ba, TDNN góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, xóa bỏ bao cấp về đầu tư: nếu như không có cơ
chế tín dụng, thì mọi khoản chi đầu tư từ NSNN sẽ được thực hiện bằng cơ chế cấp phát và việckhông ràng buộc nghĩa vụ phải trả nợ sẽ không tạo ra các động lực thực hiện đầu tư một cách hiệuquả
Thứ tư, TDNN giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh: sự phát triển
của cơ chế TDNN đã tạo ra một thị trường tài chính năng động, thực hiện tốt theo chức năng chuchuyển, điều hòa các nguồn tài chính trong nền kinh tế, mở rộng và phát triển nền sản xuất hànghóa
15 Các nguyên tắc huy động vốn của Nhà nước
Nguyên tắc đảm bảo cân đối tài chính, tiền tệ quốc gia
- Thực hiện theo cơ chế tập trung, thống nhất
- Huy động nguồn vốn TDNN phải đặt trong quan hệ với các kênh huy động khác, đảm bảo cân đốitích lũy, tiêu dùng, đầu tư trong nền KT
- Nợ nước ngoài của Nhà nước phải cân đối trong tổng nợ nước ngoài để đảm bảo các chỉ tiêu antoàn nợ nước ngoài, đảm bảo khả năng chi trả nghĩa vụ nợ của Nhà nước trong tổng thu NSNN hằngnăm theo nguyên tắc
+ Tổng dư nợ nước ngoài/GDP <= 5%
+ Tổng dư nợ nước ngoài/xuất khẩu <= 150%
+ Tổng nghĩa vụ trả nợ XK <= 20%
+ Tổng nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/thu NSNN <= 12%
- Huy động tín dụng đầu tư Nhà nước phải cân đối với nhu cầu sử dụng nguồn vốn thực tế, hạn chếtình trạng vốn chờ dự án
- Huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư NN cần được xem xét, cân đối trong mqh điều tiết tiền hàng,nhằm ổn định và phát triển thị trường tài chính lành mạnh
Nguyên tắc cân đối thời hạn huy động nguồn vốn
- Hình thức huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước được chứng khoán hóa
- Lãi suất thị trường hóa
- Cơ chế phát hành phải được thực hiện thông qua đấu thầu
- Phải tăng cường phát hành chứng khoán Chính phủ trên thị trường thứ cấp
Nguyên tắc xác định lãi suất huy động nguồn vốn tín dụng NN: Là lãi suất thị trường, thực hiện
thông qua đấu thầu chứng khoán Chính phủ
Trang 3316 Các hình thức huy động vốn tín dụng của Nhà nước
Huy động vốn trong nước thông qua phát hành các giấy tờ có giá của Nhà nước: đây là hình thứchuy động vốn chủ yếu của Nhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và mở rộng chi đầu tư pháttriển
- Tín phiếu Nhà nước: chứng chỉ vay nợ ngắn hạn của Nhà nước, phát hành không quá 1 năm (huyđộng vốn ngắn hạn giải quyết mất cân đối tạm thời NSNN trong năm tài chính)
- Trái phiếu đô thị và thương mại: do chính quyền địa phương , pháp nhân do CQĐP phát hành vớimục đích huy động vốn trung và dài hạn để xây dựng các công trình mang tính công cộng Tráiphiếu đô thị chia làm 3 loại: trái phiếu chung, trái phiếu thu nhập dự án, trái phiếu thu nhập dànhriêng
- Trái phiếu chính phủ: các loại trái phiếu do kho bạc Nhà nước phát hành và các trái phiếu doCQĐP, cơ quan của CP phát hành được CP đảm bảo: là công cụ quan trọng của TTTC, CC huy độngvốn, CC QLKT và làm nhiều các CC nợ khác
+ Tín phiếu kho bạc (TH dưới 1 năm)
+ Trái phiếu kho bạc (TH từ 1 năm trở lên)
+ Trái phiếu công trình TW (Th từ 1 năm trở lên)
+ Trái phiếu đầu tư (TH từ 1 năm trở lên)
+ Trái phiếu ngoại tệ (TH từ 1 năm trở lên)
+ Công trái XD Tổ quốc
+ Trái phiếu được CP bảo hành
+ Trái phiếu CQĐP
Huy động vốn tín dụng thông qua các hình thức vay nợ nước ngoài của Nhà nước
- Vay nợ nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
- Vay nợ nước ngoài dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu được Chính phủbảo lãnh trên thị trường vốn quốc tế
- Vay thương mại nước ngoài
Huy động vốn tín dụng thông qua nguồn vốn nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước
17 Quản lý hoạt động huy động vốn tín dụng nhà nước theo phương thức phát hành trái phiếu (phần này không học)
18 Chính sách sử dụng, nguyên tắc quản lý sử dụng nguồn vốn tín dụng nhà nước; Các hình thức sử dụng vốn tín dụng nhà nước
Chính sách sử dụng nguồn vốn tín dụng nhà nước:
Chính sách TDNN là một trong những công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước, tác động trựctiếp tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân và lôi cuốn các hoạt động đầu tư trong nền KT Chính sáchTDNN có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH
- Trong từng thời kỳ chính sách cho vay vốn tín dụng Nhà nước đối với đầu tư phát triển sẽ hướngvào các trọng điểm đầu tư mà Nhà nước đã hoạch định Chính sách cho vay của Nhà nước được mởrộng và phát triển theo hướng tập trung vốn cho các ngành kinh tế mũi nhọn phục vụ sự nghiệp