1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngữ nghĩa của kết cấu teiru (ている) trong tiếng nhật (đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong thiếng việt)

167 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngữ nghĩa của kết cấu teiru (ている) trong tiếng Nhật (đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt)
Tác giả Đoàn Thị Minh Nguyện
Người hướng dẫn PGS.TS. Dư Ngọc Ngân
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 3,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu ngoài nước Theo một số tài liệu mà chúng tôi có được, ngữ nghĩa của Teiru ている đã được nghiên cứu từ những năm 1950 bởi Kindaichi Haruhiko, thông qua qua các nghiên

Trang 1



ĐOÀN THỊ MINH NGUYỆN

NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU TEIRU (ている) TRONG

TIẾNG NHẬT (ĐỐI CHIẾU VỚI Ý NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG

TRONG TIẾNG VIỆT)

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 8220240

LUẬN VĂN THẠC SỸ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 2



ĐOÀN THỊ MINH NGUYỆN

NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU TEIRU (ている) TRONG

TIẾNG NHẬT (ĐỐI CHIẾU VỚI Ý NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG

TRONG TIẾNG VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 8220240

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

Quý Thầy/Cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy và truyền thụ cho tôi những kiến thức chuyên ngành, kinh nghiệm nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Dư Ngọc Ngân, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi để có thể hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa Nhật Bản học Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và quý Chị/Em đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong công việc và trong nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn

Dù đã có nhiều cố gắng hết sức để có thể hoàn thành luận văn, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Do đó, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo từ quý thầy/cô, các cán bộ nghiên cứu và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Minh Nguyện

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Đoàn Thị Minh Nguyện, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Khoa Ngôn ngữ học, Khóa học 2018 – 2020, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật (đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt) ” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong

luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định của cơ sở đào tạo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Minh Nguyện

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

1 Bảng 0.1 Mối liên hệ giữa phạm trù Thì và phạm trù Thể (Kudoo

1995)

5

2 Bảng 1.1 Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 1 19

3 Bảng 1.2 Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 2 20

4 Bảng 1.3 Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 3 21

5 Bảng 1.4 Ví dụ cho Động từ thực và Động từ bổ trợ 22, 23

6 Bảng 1.5 Phạm trù thể của động từ tiếng Nhật và các dạng biểu

hiện

45

7 Bảng 2.1 Phân chia 2 nhóm động từ Trạng thái và Động thái 46

10 Sơ đồ 2.3 Diễn biến của động từ 太る [futoru] 48

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC VIẾT TẮT III DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU IV MỤC LỤC V

DẪN NHẬP 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

0.3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 8

0.6 Cấu trúc luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Khái quát về đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Nhật 11

1.2 Khái niệm động từ tiếng Nhật 12

1.3 Phân loại động từ trong tiếng Nhật 15

1.2.1 Phân loại động từ theo nghĩa 15

1.2.2 Phân loại động từ theo đặc điểm biến đổi 18

1.2.3 Phân loại động từ theo chức năng 22

1.2.4 Phân loại động từ theo sự tình (nhìn từ phương diện phạm trù thể của động từ) 24

1.4 Dạng Te (て-form) của động từ tiếng Nhật 27

1.4.1 Phương thức biến đổi sang dạng Te (-form) của động từ tiếng Nhật 27

1.4.2 Chức năng dạng Te () của động từ tiếng Nhật 29

1.5 Động từ biểu thị ý nghĩa tồn tại Iru (いる) trong mối liên hệ với các từ khác 30

1.6 Phạm trù ngữ pháp của động từ tiếng Nhật 33

Trang 8

1.6.1 Phạm trù Thì (Tense) 34

1.6.2 Phạm trù Thể (Aspect) 35

1.6.3 Phạm trù Dạng (Voice) 36

1.6.4 Phạm trù Tình thái (Modality) 37

1.7 Mối quan hệ với ý nghĩa thể của kết cấu Teiru (ている) 38

1.8 Một vài vấn đề về ý nghĩa thể trong tiếng Việt 40

TIỂU KẾT 43

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU TEIRU (ている) TRONG TIẾNG NHẬT 44

2.1 Phân biệt ý nghĩa động thái (動態動詞 – Dootaidooshi) và ý nghĩa trạng thái (状態動詞 - Jootaidooshi) trong tiếng Nhật 44

2.1.1 Ý nghĩa Động thái (動態 – Dootai) và Trạng thái (状態- Jootai) 44

2.1.2 Động từ Động thái (動態動詞 – Dootaidooshi) trong tiếng Nhật 46

2.1.3 Động từ Trạng thái (状態動詞 - Jootaidooshi) trong tiếng Nhật 52

2.2 Ý nghĩa của kết cấu Teiru (ている) trong câu tiếng Nhật 57

2.2.1 Sự tình biểu thị “Hoạt động đang diễn ra” (進行中 – Shinkoochuu) 57

2.2.2 Sự tình biểu thị “Sự lặp đi lặp lại” (繰り返し – kurikaeshi) 60

2.2.3 Sự tình biểu thị “Trạng thái kết quả của hoạt động” (結果の状態 – Kekka no jootai) 64

2.2.4 Sự tình biểu thị “Kinh nghiệm” (経験 – Keeken) 69

2.2.5 Sự tình biểu thị “Tình trạng vốn có, thuộc tính” (元からの状態 – Motokara no jootai) 74

2.3 Các thành tố bổ sung nghĩa cho sự tình chứa kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật 77

2.3.1 Yếu tố thời gian và góc nhìn của người phát ngôn trong sự tình chứa kết cấu Teiru (ている) 77

Trang 9

2.3.2 Các thành tố tham gia vào sự tình chứa kết cấu Teiru (ている) 80

2.3.2.1 Nhóm phó từ bổ sung ý nghĩa cho quá trình diễn ra hoạt động 82

2.3.2.2 Nhóm phó từ bổ sung ý nghĩa cho trạng thái kết quả và kinh nghiệm 86

TIỂU KẾT 89

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU TEIRU (ている) VỚI Ý NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT 90

3.1 Đối chiếu ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt qua cách dịch ngữ liệu chứa sự tình biểu thị “Hoạt động đang diễn ra” 91

3.2 Đối chiếu ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt qua cách dịch ngữ liệu chứa sự tình biểu thị “Sự lặp đi lặp lại” 97

3.3 Đối chiếu ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt qua cách dịch ngữ liệu chứa sự tình biểu thị “Trạng thái kết quả của hoạt động” 102

3.4 Đối chiếu ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt qua cách dịch ngữ liệu chứa sự tình biểu thị “Kinh nghiệm” 111

3.5 Đối chiếu ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt qua cách dịch ngữ liệu chứa sự tình biểu thị “Thuộc tính, tính chất vốn có” 112

TIỂU KẾT 116

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 1 128

PHỤ LỤC 2 140

PHỤ LỤC 3 150

Trang 10

DẪN NHẬP

0.1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển trong nhiều lĩnh vực như thương mại, xây dựng, y tế, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa và giáo dục Trung tâm Giao lưu văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam - Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản cho biết, năm 2018, Việt Nam là nước có số người học tiếng Nhật lớn thứ 6 trên thế giới sau Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan và đứng thứ 3 ở Đông Nam Á Trong tình hình số lượng người theo học tiếng Nhật ngày càng đông, việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Nhật theo hướng chuyên sâu ngày càng cần được chú trọng và phát triển Các nội dung liên quan đến ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa trong tiếng Nhật ngày càng được đầu tư nghiên cứu thấu đáo hơn ở nhiều góc độ bao gồm cả lý thuyết đến thực tế vận dụng nhằm xây dựng những giáo trình, tài liệu cụ thể, phù hợp hơn cho người học

Xét về khía cạnh loại hình học, tiếng Nhật là loại hình ngôn ngữ chắp dính, các từ loại như động từ, danh từ, tính từ thay đổi dạng, thêm và bớt các phụ tố, thể hiện nhiều

ý nghĩa ngữ pháp khác nhau Trong khi đó tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập sử dụng phương thức trật tự từ và sử dụng hư từ để biểu đạt các ý nghĩa ngữ pháp Chính

vì thế, việc học tiếng Nhật trở nên khó khăn khi người học là người Việt cần phải nắm vững rất nhiều các quy tắc biến đổi từ cũng như việc thêm bớt phụ tố trong từng trường hợp, từ đó dẫn đến việc khó phân biệt các nét nghĩa khi các yếu tố trong câu thay đổi Trong chương trình học tiếng Nhật sơ cấp, một trong những nội dung được đưa vào học tập và vận dụng từ rất sớm đó là nội dung liên quan đến kết cấu Teiru (ている) Nghiên cứu của Kobayashi (2013) về Teiru (ている) đã chỉ ra rằng, Teiru (ている) là một yếu tố đi sau động từ, nét nghĩa của yếu tố này được khu biệt dựa trên động từ mà

Trang 11

nó đi kèm Có thể nói, Teiru (ている) là một tổ hợp giữa 2 động từ bao gồm động từ biến đổi về dạng “Te” (て) và động từ “Iru” (Verb て+いる), mà sau đây, trong bài nghiên cứu xin được gọi là kết cấu Teiru (ている) Kết cấu Teiru (ている) kết hợp cùng động từ nhằm biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp riêng biệt Những ý nghĩa ngữ pháp này được

các giáo trình dạy tiếng Nhật (Chẳng hạn như giáo trình Mina no Nihongo – Tiếng Nhật

cho mọi người) hiện nay khái quát thành các trường hợp cơ bản như sau:

1/ Biểu thị hoạt động đang diễn ra tại thời điểm phát ngôn

2/ Biểu thị hoạt động được lặp đi lặp lại nhiều lần

3/ Biểu thị tình trạng kết quả của hoạt động

4/ Miêu tả thuộc tính, tính chất vốn có của chủ thể

Tuy nhiên, các cơ sở lý thuyết cụ thể và các ý kiến diễn giải để phân biệt các trường hợp sử dụng trên vẫn chưa được nhắc đến và giải thích một cách rõ ràng trong các giáo trình tiếng Nhật khiến người học gặp không ít khó khăn trong việc tiếp thu và vận dụng Các trường hợp sử dụng của kết cấu Teiru (ている) lại vô cùng đa dạng và có liên hệ mật thiết với loại của động từ Bên cạnh đó, các nghiên cứu tiếng Nhật trong nước vẫn còn rất hạn chế khiến cho người học và người dạy có rất ít cơ hội tiếp cận các cơ sở

lý thuyết Nhật ngữ học nói chung và các lý thuyết liên quan đến kết cấu Teiru (ている) nói riêng Chính vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU TEIRU (ている) TRONG TIẾNG NHẬT (ĐỐI CHIẾU VỚI Ý NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT)” nhằm làm rõ các vấn đề ngữ pháp, ngữ nghĩa liên quan đến kết cấu Teiru (ている), đồng thời đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong

Trang 12

tiếng Việt thông qua các cứ liệu dịch thuật, từ đó mong muốn có thể góp một phần nhỏ vào ngữ liệu tham khảo, nghiên cứu học tập, giảng dạy tiếng Nhật hiện nay

0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo một số tài liệu mà chúng tôi có được, ngữ nghĩa của Teiru (ている) đã được nghiên cứu từ những năm 1950 bởi Kindaichi Haruhiko, thông qua qua các nghiên cứu

về phân loại sự tình dựa trên sự phân loại các nhóm động từ, ông đã tiến tới nghiên cứu

về phạm trù thể trong tiếng Nhật, mà trong đó ông đã chỉ ra Teiru (ている) là một trong những biểu hiện của phạm trù thể trong tiếng Nhật Cụ thể Kindaichi (1950) với nghiên cứu 国語動詞のー分類 (Một hướng phân loại động từ trong tiếng Nhật) đã phân loại động từ tiếng Nhật thành 4 nhóm

a 状態動詞 (joutai doushi – động từ biểu thị trạng thái) là nhóm động từ không thể biến đổi về dạng Teiru (ている)

b 継続動詞 (keizokudoushi – động từ biểu thị hoạt động) là nhóm động từ biểu thị sự tiến triển của hoạt động khi biến đổi về dạng Teiru (ている)

c 瞬間動詞 (shunkandoushi – động từ hoạt động có kết quả tức thời) là nhóm động từ biểu thị tình trạng kết quả của hoạt động sau khi biến đổi về dạng Teiru (ている)

d 第四種の動詞 (daiyonshu no doushi – động từ miêu tả thuộc tính) là nhóm động từ chỉ có thể xuất hiện trong phát ngôn dưới dạng Teiru (ている)

Sau đó Kindaichi (1955) trong luận án 日本語のテンスとアスペクト(Thì và thể trong tiếng Nhật) đã đưa ra các nghiên cứu về phạm trù thì và phạm trù thể, chỉ ra

Trang 13

các mối liên hệ giữa hai phạm trù này trong tiếng Nhật, đồng thời khẳng định Teiru (ている) là một trong những biểu hiện của phạm trù thể Nghiên cứu này được xem là một trong các nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu sau này về các vấn đề liên quan thể

trong tiếng Nhật nói riêng

Tuy nhiên, khi xem xét cách phân loại của Kindaichi dựa trên yếu tố “thời gian” , Okuda Yasuo (1988, 1994, 1997) nghiên cứu về thì và thể của vị từ trong tiếng Nhật Okuda đã đưa ra một nghiên cứu có sự thay đổi khá lớn so với hệ thống phân loại của Kindaichi Theo Okuda, các động từ có thể được phân loại như sau:

a 状態動詞 (joutaidoushi – động từ biểu thị trạng thái) là nhóm động từ không

có biểu hiện của phạm trù thể

b 非変化動詞 (hi-henkadoushi – động từ phi biến đổi) là nhóm động từ biểu thị

sự tiến triển của hoạt động khi biến đổi về dạng Teiru (ている)

c 変化動詞 (henkadoushi – động từ biến đổi) là nhóm động từ biểu thị trạng thái kết quả của hoạt động sau khi biến đổi về dạng Teiru (ている)

Từ nghiên cứu này có thể thấy, tiêu chuẩn để khu biệt các nét nghĩa của Teiru (ている) đã thay đổi từ “thời gian” sang “sự biến đổi” Nền tảng phân loại này đã tiếp tục được Takahashi (1985) tiếp tục xây dựng và sau đó được hoàn thiện trong nghiên cứu của Kudoo (1995) Theo Kudoo (1995) kết cấu Teiru ている không chỉ đơn thuần là biểu hiện của phạm trù Thể, mà hậu tố này là một dạng phức hợp (複合体 - fukugoutai) bao gồm sự kết hợp của 2 động từ, phức hợp này bao hàm nhiều nét nghĩa khác nhau trong đó tiêu biểu là nét nghĩa của phạm trù Thì và phạm trù Thể Thực tế cũng cho thấy, khi các nhà nghiên cứu tiến hành xem xét biểu hiện của một trong hai phạm trù Thì hoặc Thể trong một ngôn ngữ nào đó, thì việc xem xét phạm trù còn lại là hoạt động không

Trang 14

thể thiếu Dưới đây là mối liên hệ giữa hai phạm trù Thì và Thể được đúc kết từ nghiên cứu của Kudoo (1995)

Aspect (Thể)

Thể hoàn thành (完成相)

Thể không hoàn thành (未完成相)

Tense

(Thì)

Thì phi quá khứ (非過去) Dạng る (ru) Dạng ている (teiru) Thì quá khứ (過去) Dạng た (ta) Dạng ていた (teita)

Bảng 0.1 Mối liên hệ giữa phạm trù Thì và phạm trù Thể (Kudoo 1995)

Kết quả nghiên cứu trên của Kudoo (1995) được xem là kim chỉ nam cho các nhà Nhật ngữ học hiện đại khi nghiên cứu về phạm trù Thể trong tiếng Nhật

Trên lĩnh vực nghiên cứu ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている), có các nghiên cứu của Mihara (1997) và Kanamizu (2000); các tác giả này đã đưa ra quan điểm rằng cần phân biệt thành hai nhóm khi nghiên cứu ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている), đó

là nhóm nghĩa gốc và nhóm nghĩa phái sinh Nhóm nghĩa gốc gồm nét nghĩa “trạng thái đang diễn ra của hoạt động” và “trạng thái kết quả của hoạt động”; và nhóm nghĩa phái sinh gồm “trạng thái lặp đi lặp lại của hoạt động”, “ký ức hoặc kinh nghiệm”, “trạng thái, tính chất đơn thuần”

0.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến động từ trong tiếng Nhật có Trần Thị

Chung Toàn (2002) với luận án Động từ phức tiếng Nhật với các đơn vị tạo nghĩa tương

đương trong tiếng Việt, là một trong số ít những nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về động

từ tiếng Nhật tại Việt Nam Bên cạnh luận án này, tác giả cũng có các đóng góp khác

liên quan đến lĩnh vực động từ như Sổ tay động từ phức tiếng Nhật (Trần Thị Chung

Toàn, 2004) cùng nhiều nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề phân loại từ loại tiếng Nhật và vấn đề giảng dạy tiếng Nhật cho sinh viên Việt

Trang 15

Kế đến, Vũ Thúy Nga (2018) với luận án Thời trong tiếng Nhật và các biểu hiện

tương đương trong tiếng Việt, luận án nghiên cứu về khía cạnh các biểu hiện của phạm

trù thời (thì) của tiếng Nhật Luận án của Vũ Thúy Nga (2018) nghiên cứu về phạm trù thời (thì), mà trong đó có một phần liên hệ với phạm trù thể, tác giả đã viết rằng “Thời, thể có những đặc trưng cơ bản là phản ánh trực tiếp thuộc tính của hoàn cảnh, sự vật như: thời điểm diễn ra hành động; hành động có tính kéo dài hay không kéo dài, có bị hạn định hay không có hạn định bởi thời gian hay một thuộc tính nào đó v.v… Do vậy, thời, thể biểu hiện tình thái khách quan và có mối liên hệ gắn kết với nhau khi cùng liên quan đến vấn đề biểu hiện thời gian trong từng ngôn ngữ Phạm trù thể giúp làm rõ biểu đạt ngữ nghĩa trạng thái của các động từ liên quan đến thời gian chứ không phải định vị diễn tiến sự tình ngay trên trục thời gian một cách trực chỉ như thời” Luận án đã chỉ ra kết cấu Teiru (ている) vừa là biểu hiện của thời phi quá khứ, vừa là biểu hiện của thể

chưa hoàn thành hoặc thói quen (Thời trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương

trong tiếng Việt, 2018, tr.36-37) Đây được xem là đóng góp quan trọng trong lĩnh vực

nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ Nhật nói chung, và động từ tiếng Nhật nói riêng

Bên cạnh đó còn có luận án của Trương Thị Mai (2016) về Động từ tiếng Nhật –

Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki, luận án đã nêu lên các vấn đề liên quan đến từ đa nghĩa, từ đồng nghĩa và các

vấn đề liên quan đến động từ ngoại động – nội động trong tiếng Nhật

Nhìn chung, các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến tiếng Nhật nói chung và động từ tiếng Nhật nói riêng vẫn còn rất hạn chế tại Việt Nam Các nghiên cứu liên quan đến kết cấu Teiru (ている) tại Nhật Bản đã được thực hiện từ rất sớm, tuy nhiên tại Việt Nam, vấn đề này hiện vẫn chỉ mới là một phần nhỏ được khảo sát trong nghiên cứu thuộc nội dung khác, vẫn chưa được đề cập và nghiên cứu một cách riêng biệt, độc lập

Trang 16

0.3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1 Mục đích nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, luận văn khảo sát, miêu tả ngữ nghĩa - ngữ pháp của kết cấu Teiru (ている), qua đó làm rõ cấu trúc, chức năng của kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật với tư cách là một phương thức cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành xác định những điểm tương đồng

và dị biệt của cách biểu đạt Teiru (ている) trong tiếng Nhật và ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt Luận văn cung cấp thêm nguồn ngữ liệu tham khảo về các trường hợp

sử dụng của kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật cho người đang theo học tiếng Nhật

nói riêng, và người đang nghiên cứu, giảng dạy về tiếng Nhật nói chung

0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Miêu tả, phân tích khía cạnh ngữ nghĩa – ngữ pháp của kết cấu Te-iru với chức năng là phụ tố của động từ thể hiện sự tình, từ đó liệt kê các sự tình mà kết cấu Teiru (ている) biểu thị

- Tiến hành xem xét các yếu tố bổ nghĩa tham gia vào sự tình có chứa kết cấu Teiru (ている), từ đó khái quát các trường hợp sử dụng của Teiru (ている)

- Đối chiếu với bản dịch tiếng Việt các trường hợp sử dụng này nhằm tìm ra được nét nghĩa tương đương cũng như phương thức biểu hiện trong tiếng Việt và bước đầu xác định những điểm tương đồng, khác biệt giữa hai ngôn ngữ

Trang 17

0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) trong các sự tình chứa động từ tiếng Nhật, có đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

0.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) trong câu (sự tình) tiếng Nhật trên bình diện hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa (trường hợp động từ làm vị ngữ trong câu) Bên cạnh đó, việc đối chiếu ý nghĩa của kết cấu Teiru (ている) với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt được thực hiện trong phạm vi ngữ liệu

0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

0.5.1 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu thập, phân loại ngữ liệu, luận văn vận dụng chủ yếu các phương pháp sau đây:

Phương pháp miêu tả: Luận văn dùng phương pháp này để miêu tả hình thái, cấu

trúc, ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) Đồng thời, luận văn cũng vận dụng phương pháp này để trình bày, miêu tả các ngữ liệu thu thập được nhằm tìm ra ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

Phương pháp phân tích ngữ nghĩa- cú pháp: Luận văn dùng phương pháp này để

phân tích hoạt động của kết cấu Teiru (ている) trong các sự tình, nhằm chỉ ra được nội dung sự tình mà Teiru (ている) biểu thị Bên cạnh đó, phương pháp này được dùng để phân tích các ngữ liệu tiếng Nhật chứa Teiru (ている) nhằm đối chiếu với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

Trang 18

Phương pháp so sánh - đối chiếu: Luận văn lấy tiếng Nhật làm ngôn ngữ nguồn,

tiếng Việt làm ngôn ngữ đích, sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm góp phần làm rõ hoạt động của kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật từ góc nhìn tiếng Việt và các phương tiện biểu đạt ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

0.5.2 Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu dùng để khảo cứu cho luận văn là các công trình nghiên cứu về Nhật

ngữ học, Việt ngữ học liên quan đến kết cấu Teiru (ている) và nguồn ngữ liệu tiếng

Nhật có văn phong chuẩn mực, các ấn phẩm văn hóa đáng tin cậy, một số tiểu thuyết của các nhà văn có tầm ảnh hưởng tại Nhật đã được dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt

như:

- Tác phầm 窓ぎわのトットちゃん (Madogiwa no Totto chan) của nhà văn Kuroyanagi Tetsuko, xuất bản năm 1991 bởi NXB Aoitori Bunko, được dịch sang tiếng Việt bởi dịch giả Trương Thùy Lan, xuất bản năm 2019 bởi NXB Nhã Nam, tên

tác phẩm trong tiếng Việt là Totto-chan bên cửa sổ

- Tác phẩm 考え方 (Kangaekata) của tác giả Inamori Kazuo , xuất bản năm

2017 bởi NXB Daiwashobo, được dịch sang tiếng Việt bởi dịch giả Nguyễn Đỗ An

Nhiên, tên tác phẩm trong tiếng Việt là Nghĩ thiện để cuộc đời và công việc được viên

mãn, tác phẩm được xuất bản năm 2022 bởi NXB Trẻ

0.6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn dự kiến chia thành 3 chương chính sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này, chúng tôi tiến hành tổng hợp các cơ sở lý thuyết liên quan đến động từ trong tiếng Nhật, cách phân loại động từ, mối liên hệ giữa động từ với ý nghĩa

Trang 19

thể, đồng thời nêu lên một số lý thuyết khái quát liên quan đến vấn đề thể ngữ pháp trong tiếng Việt

Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) trong tiếng Nhật Trong chương này, chúng tôi tiến hành phân loại các sự tình chứa kết cấu Teiru (ている) và chỉ ra đặc trưng ngữ nghĩa của các sự tình này Bên cạnh đó chúng tôi cũng nêu lên vai trò của các thành tố bổ sung nghĩa cho sự tình chứa kết cấu Teiru (ている)

Chương 3: Đối chiếu ngữ nghĩa của kết cấu Teiru (ている) với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

Trong chương này, chúng tôi tiến hành phân tích các cứ liệu dịch thuật thu thập được nhằm đối chiếu ngữ nghĩa của Teiru (ている) với ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt

Trang 20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát về đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Nhật

Tiếng Nhật là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, tức là cấu trúc của

từ phân chia thành 2 phần: căn tố và phụ tố Tiếng Nhật sử dụng nhiều phụ tố khác nhau

để cấu tạo từ và biểu thị những mối quan hệ ngữ pháp khác nhau Mỗi phụ tố trong các ngôn ngữ chắp dính chỉ biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp, ngược lại, mỗi ý nghĩa ngữ pháp chỉ được biểu thị bằng một phụ tố.Ví dụ:

話す (hanasu) : す(su) là phụ tố biểu thị dạng nguyên mẫu của động từ

話した (hanashita) :た (ta) là phụ tố biểu thị thời quá khứ của động từ

話さない (hanasanai): ない (nai) là phụ tố biểu thị ý nghĩa phủ định của động từ

Trong khi đó, ở một số trường hợp, căn tố có thể hoạt động độc lập Chẳng hạn động từ 話す (hanasu) có nghĩa là “nói, trò chuyện”, có căn tố là 話し (hanashi), là một danh từ, có ý nghĩa là “cuộc trò chuyện”

Trong tiếng Nhật, vị ngữ đứng cuối câu là một nguyên tắc bất di bất dịch Hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng các phương thức biến đổi bên trong từ chứ không phải là bằng trật tự từ trong câu Điều này khác với tiếng Việt vốn thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp phần lớn bằng trật tự từ, hoặc các hư từ trong câu Ví dụ câu: “Mèo ăn cá” trong tiếng Việt, nếu thay đổi trật tự từ (chủ ngữ và bổ ngữ) trong câu thành “Cá ăn mèo” thì nghĩa của câu sẽ bị thay đổi hoàn toàn Tuy nhiên, trong tiếng Nhật, nhờ chức năng xác định từ của “Trợ từ chỉ cách” (格助詞- kakujoshi) đi kèm mà các từ trong câu

dù có đổi chỗ cho nhau cũng không làm thay đổi ý nghĩa, ngoại trừ vị từ ở cuối câu VD1:

ねこが さかなを 食う [neko ga sakana wo kuu]

Mèo cá ăn

Trang 21

Tạm dịch: Mèo ăn cá

Thì câu trên cũng có thể được đảo các thành phần như sau:

さかなを、ねこが 食う [sakana wo, neko ga kuu]

Cá mèo ăn

Nghĩa của hai câu trên vẫn như nhau, không hề có bất cứ sự biến đổi nào

1.2 Khái niệm động từ tiếng Nhật

Trong bất kì ngôn ngữ nào, động từ luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống

từ loại Cũng như các ngôn ngữ khác, đặc trưng của động từ trong tiếng Nhật là biểu thị

ý nghĩa hành động, động tác, trạng thái, … của một chủ thể nào đó Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2021) động từ là “Từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình, thường dùng làm vị ngữ trong câu “Chạy”, “ở”, “phát triển” đều là động từ.”

Có một chút khác biệt so với tiếng Việt là ngôn ngữ mà động từ được nhận diện căn cứ vào mặt ý nghĩa và khả năng kết hợp với các yếu tố khác, trong tiếng Nhật, theo

Từ điển 広辞苑 (Koojiten) (Shinmura Izuru chủ biên, 1991), động từ được định nghĩa (tạm dịch) “Là từ biểu thị hành động, tác dụng, trạng thái, sự tồn tại của sự vật, sự việc

sẽ diễn biến hoặc biến đổi theo thời gian Trong chữ quốc ngữ (tiếng Nhật), động từ được phân chia thành các nhóm Ngũ đoạn, Thượng nhị đoạn, Hạ nhị đoạn, Thượng nhất đoạn,

Hạ nhất đoạn, trong đó biến đổi hình thái ở các dòng phát âm カ (ka), dòng サ (sa), dòng

ナ (na) và dòng ラ (ra)” Từ định nghĩa này, chúng ta có thể nhận định động từ tiếng Nhật là do đặc trưng hình thái của từ quy định

Động từ tiếng Nhật ở dạng nguyên thể (hay còn gọi là dạng từ điển) được cấu tạo

từ một bộ phận thân từ (căn tố) mang ý nghĩa từ vựng và một bộ phận cuối từ (vĩ tố) có chức năng linh hoạt biến đổi tùy vào vị trí của động từ trong câu và tùy vào sự kết hợp

Trang 22

của động từ với các từ loại khác Dưới dạng văn tự, bộ phận thân từ được viết bằng chữ Hán, hoặc có một phần là chữ Hán và một phần là chữ Hiragana, còn bộ phận cuối từ luôn luôn được viết bằng chữ Hiragana

話す [hanasu] có 話 [hana] là căn tố và す[su] là vĩ tố kết thúc từ Động từ 話

す có nghĩa là trò chuyện

Hình thái là tiêu chí hàng đầu, rất quan trọng để xác định và phân biệt động từ với các

từ loại khác Có thể xác định một từ nào đó không phải là động từ hay không, thông qua

bộ phận cuối từ Bộ phận này đều là các âm tiết thuộc hàng phát âm [u]: う[u],く [ku], す[su], つ[tsu], ぬ[nu], ぶ[bu], む[mu], る[ru] Trong câu, động từ tiếng Nhật không biến đổi dạng thức theo ngôi và số của chủ thể hành động như tiếng Anh, nhưng bộ phận cuối từ sẽ biến đổi theo các ý nghĩa ngữ pháp mà chúng thể hiện trong câu Chẳng hạn

như với động từ 書く[kaku] ta có :

- Sắc thái lịch sự được diễn đạt bằng cách thêm hình vị ます [masu] vào căn tố của động

từ Lúc này vĩ tố く[ku] biến đổi thành き[ki], và hình vị ます[masu] là phần được thêm

vào tạo thành động từ dạng lịch sự:

書く[kaku] – viết (dạng nguyên thể)

書きます [kakimasu] – viết (dạng lịch sự)

Trang 23

- Ý nghĩa phủ định được tạo ra do việc chắp dính hình vị ない vào căn tố Lúc này vĩ tố

く biến đổi thành か và hình vị ない được thêm vào tạo thành dạng phủ định

書く[kaku] – viết (dạng nguyên thể)

書かない [kakanai] – không viết (dạng phủ định)

Ngoài ra, phạm trù dạng của động từ tiếng Nhật cũng được biểu hiện bởi sự kết

hợp của các hình vị ―あれる [areru]/―られる[rareru] (dạng bị động) hay ーあせる

[aseru]/させる [saseru] (dạng sai khiến) Lúc này vĩ tố く[ku] biến đổi thành かれる

và かせる lần lượt tạo thành dạng bị động và dạng sai khiến

書く[kaku] – viết (dạng nguyên thể)

書かれる [kakareru] – viết (dạng bị động)

書かせる[kakaseru] – viết (dạng sai khiến)

Khác với tiếng Việt là ngôn ngữ mà các ý nghĩa ngữ pháp của động từ thể hiện nhờ các hư từ, động từ tiếng Nhật có các ý nghĩa ngữ pháp thể hiện thông qua các hình

vị khác nhau kết hợp với các căn tố của động từ, từ đó cùng một lúc có thể biểu đạt nhiều

ý nghĩa ngữ pháp khác nhau:

書いて [kaite] – viết (dạng liên dụng (conjunctive form) )

書きたい [kakitai] – muốn viết

書ければ [kakereba] – nếu viết

書けなければ [kakenakereba] – nếu không viết

Do hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp đều được biểu thị trong nội bộ động từ nên có

sự quy định rõ ràng về việc phân bố vị trí của các nhóm hình vị: Bộ phận mang ý nghĩa

Trang 24

từ vựng luôn đứng trước, tiếp theo đó là bộ phận mang ý nghĩa ngữ pháp, cuối cùng là

bộ phận biểu thị mối quan hệ của động từ với các động từ hay với các mệnh đề khác trong câu như: quan hệ ngang bằng, quan hệ trái ngược, quan hệ nhân quả Mỗi hình thức xuất hiện của động từ là để biểu thị một thực tế khách quan nào đó đã được đặt trong một thể đối lập đa dạng, nhiều chiều với các hình thức ngữ pháp tiềm ẩn trong nhận thức của người nói và người nghe Điều quan trọng để có thể lĩnh hội một phát ngôn là phải nắm được động từ Thái độ, mục đích, yêu cầu của người nói đều được thể hiện qua động từ

1.3 Phân loại động từ trong tiếng Nhật

Dựa vào ý nghĩa từ vựng, khả năng biến hình, khả năng kết hợp với các yếu tố khác động từ tiếng Nhật có thể chia thành nhiều tiểu loại khác nhau Dưới đây là một

số cách phân loại thuộc các hướng nghiên cứu khác nhau

1.2.1 Phân loại động từ theo nghĩa

Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong các sách giáo khoa dạy tiếng Nhật Theo cách phân loại này, động từ được chia thành 2 tiểu loại là “tự động từ” (自動詞-nội động từ) và “tha động từ” (他動詞 – ngoại động từ) Suzuki Shigeyuki trong cuốn

“Lý thuyết về hình thái và ngữ pháp học tiếng Nhật” (形態論・序説, 1996) đã viết: “Về

ý nghĩa từ vựng có thể cho rằng ngoại động từ biểu thị các hành động hướng tới một đối tượng khác, về mặt ngữ pháp ngoại động từ kết hợp với các danh từ biểu thị đối tượng

mà cách hành động này hướng tới ở dạng đối cách Những động từ không mang đặc tính

ngữ pháp này là nội động từ ” Luận án Động từ tiếng Nhật – Những đặc trưng ngữ nghĩa,

ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki của Trương Thị Mai

(2016) đã chỉ ra:

Trang 25

Tự động từ (Nội động từ): Tự động từ là những động từ diễn tả hành động trọn

vẹn, không đòi hỏi những bổ ngữ chỉ đối tượng tác động Tự động từ được chia thành hai nhóm nhỏ :

- Tự động từ biểu thị hành động ở trạng thái tĩnh: có các động từ như ある(aru-

tồn tại); 見える[mieru] – nhìn thấy; 聞こえる[kikoeru] – nghe thấy

- Tự động từ biểu thị hành động ở trạng thái động: 行く[iku] - đi; 泳ぐ[oyogu] - bơi; 笑う[wararu] - cười

Tha động từ (Ngoại động từ): Tha động từ là những động từ biểu thị những hành

động có chi phối tới các đối tượng khác, đòi hỏi phải có bổ ngữ trực tiếp thể hiện đối

tượng của các hành động Ta có các động từ 買う [kau] – mua; 食べる [taberu] – ăn;

読む [yomu] – đọc có bổ ngữ trực tiếp được biểu thị bằng hậu giới từ を[o]

(助詞-joshi)

VD3:

3.1 ご飯を食べる。[gohan wo taberu] – Tạm dịch: Ăn cơm

3.2 野菜を買う 。[yasai wo kau] – Tạm dịch: Mua rau

Tuy nhiên đây không phải là tiêu chí duy nhất để phân biệt nội động từ và ngoại động từ, vì trên thực tế cũng có một số nội động từ đi kèm với các bổ ngữ xác định bởi hậu giới từ を [wo]

VD4:

4.1 人を笑う [hito wo warau] – Tạm dịch: cười người khác

4.2 トンネールを通る [toneeru wo tooru] – Tạm dịch: băng qua đường hầm

Trang 26

Ngoài ra, luận án Động từ tiếng Nhật – Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng

thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki của Trương Thị Mai (2016)

còn chỉ ra “Việc phân biệt tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật còn có thể dựa trên một số tiêu chí như: hình thức và hoạt động của từ trong câu Trong tiếng Nhật, có những

tự động từ và tha động từ đối ứng với nhau về cả nghĩa và hình thức tạo thành một cặp

tự động từ – tha động từ có cùng căn tố Trường hợp này có thể dựa vào hình thái mà dễ

dàng nhận ra đâu là nội động từ đâu là ngoại động từ” Chẳng hạn như:

VD5:

5.1 授業が始まる [jugyoo ga hajimaru] – Tạm dịch: tiết học bắt đầu

5.2 授業を始める[jugyoo o hajimeru] – Tạm dịch: bắt đầu tiết học

Ở ví dụ 5.1 ta có nội động từ 始まる[hajimaru] và ngoại động từ 始める

[hajimeru]ở ví dụ 5.2 cùng có căn tố là 始[haji] tuy nhiên vĩ tố cuối từ ở nội động từ là

まる [maru] và ở ngoại động từ là める [meru] Ta thấy まる[maru] và める [meru]

là cặp đối ứng khi hình vị ま[ma] và め[me] là hai hình vị cùng dòng phát âm

VD6:

6.1 窓が開く [mado ga aku] – Tạm dịch: cửa sổ mở

6.2 窓を開ける [mado wo akeru] – Tạm dịch: mở cửa sổ

Tương tự VD5, ta có , nội động từ 開く[aku] và ngoại động từ 開ける [akeru] có căn tố là 開 [a] và có vĩ tố kế thúc lần lượt là く[ku] và ける[keru] cũng là một cặp đối ứng có hình vị thuộc cùng dòng phát âm Tuy nhiên còn có rất nhiều cặp nội động từ – ngoại động từ tương ứng theo cặp nhưng không tạo thành nhóm như:

VD7: 乗せる [noseru] – Tạm dịch: cho lên (xe) và 乗る [noru] – Tạm dịch: lên (xe)

Trang 27

VD8: 流す [nagasu] - Tạm dịch: xả (nước)

và 流れる [nagareru] – Tạm dịch: (nước) chảy

Như vậy, nếu chỉ dựa vào hình thức thì không thể phân định được chính xác đâu

là nội động từ, đâu là ngoại động từ, vì có những động từ chỉ tồn tại ở dạng ngoại động

từ như 食べる [taberu] – ăn; 書く[kaku] – viết, hay có những động từ chỉ tồn tại ở dạng nội động từ như 走る [hashiru] – chạy; 死ぬ [shinu] – chết Đặc biệt còn có những động

từ tồn tại ở cả hai dạng là tự động từ và tha động từ như :

VD9: 喜ぶ [yorokobu] – Tạm dịch: hạnh phúc

楽しむ [tanoshimu] – Tạm dịch: tận hưởng

悲しむ [kanashimu] – Tạm dịch: đau khổ

1.2.2 Phân loại động từ theo đặc điểm biến đổi

Phân loại động từ theo đặc điểm biến đổi là phương pháp phân loại dựa vào đặc điểm cấu tạo và phương thức kết hợp với các từ khác của động từ Theo cách phân loại này động từ được chia thành 3 nhóm:

 Động từ nhóm 1

Đây là động từ biến hình mạnh và còn được gọi là động từ ngũ đoạn Đặc điểm của nhóm động từ này là khi tồn tại dưới dạng lịch sự ます[masu] thì âm tiết cuối cùng của bộ phận thân từ sẽ thuộc hàng phát âm [i]: い[i]; き[ki]; ぎ[gi]; し[shi]; ち[chi]; に[ni]; び[bi]; み[mi];り[ri]

VD10:

Động từ ở dạng nguyên thể (辞書形 – dạng từ điển):

Trang 28

会う[au] (gặp gỡ) có động từ ở dạng lịch sự tương ứng là 会います

貸す[kasu] (cho mượn) có động từ ở dạng lịch sự tương ứng là 貸します

泳ぐ[oyogu] (bơi lội) có động từ ở dạng lịch sự tương ứng là 泳ぎます

Khi thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau, nguyên âm trong âm tiết cuối cùng của bộ phận thân từ cũng biến đổi

Dạng

nguyên

thể

Dạng phủ định Dạng lịch sự

Dạng mệnh lệnh

Dạng ý

chí

Dạng liên dụng

Bảng 1.1: Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 1

Xét bảng trên ta thấy phần thân từ của các động từ không thay đổi, phần phụ tố cuối từ lần lượt biến đổi く[ku] thành か [ka],き [ki],け [ke],こ [ko] hay う thành わ [wa], い [i], え [e], お [o]; す [su] thành さ[sa], し [shi], せ [se], そ [so]; ぐ [gu] thành

が [ga],ぎ [gi],げ [ge], ご [go], chính vì vậy, động từ nhóm 1 còn được gọi là Ngũ đoạn động từ do phần phụ tố đuôi từ lần lượt biến đổi thành các âm tiết cùng dòng phát âm a,

i, u, e, o để tạo nên các nghĩa ngữ pháp khác nhau

Trang 29

 Động từ nhóm 2

Đây là động từ biến hình yếu hay còn gọi là động từ nhất đoạn Đặc điểm của

nhóm động từ này là khi tồn tại dưới dạng ます [masu], âm tiết cuối của bộ phận thân

từ thuộc hàng phát âm [e]: え[e], け[ke], せ[se], ね[ne], べ[be], れ[re],

Dạng lịch

sự

Dạng mệnh lệnh Dạng ý chí

Dạng liên dụng

Bảng 1.2: Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 2

Ngoài ra, còn một số động từ ngoại lệ có âm tiết cuối cùng thuộc hàng [i] nhưng vẫn thuộc động từ nhóm 2 vì các động từ này có cùng đặc điểm biến đổi Bên cạnh đó, một số động từ có phần thân từ chỉ chứa một âm tiết như 着ます [kimasu]; います [imasu]; 寝ます [nemasu] cũng thuộc động từ nhóm 2 vì có cùng đặc điểm biến đổi

Trang 30

VD12:

起きる [okiru]  起きます [okimasu]- Tạm dịch: thức dậy

落ちる [ochiru]  落ちます [ochimasu]- Tạm dịch: rơi, rớt

降りる [oriru]  降ります [orimasu]- Tạm dịch: xuống (xe)

寝る [neru]  寝ます [nemasu]- Tạm dịch: ngủ

 Động từ nhóm 3

Động từ nhóm 3 là động từ biến hình đặc biệt hay còn gọi là động từ đặc biệt Đặc điểm của nhóm động từ này là khi biến đổi theo các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau cả bộ

phận thân từ cũng có thể biến đổi Nhóm này chỉ gồm 2 động từ : 来る [kuru] - đến và

する [suru] – làm Các động từ nhóm 3 có một tính chất khác biệt là không có phần thân

từ (căn tố), từ chỉ bao gồm phụ tố – cũng chính là phần biến đổi để tạo ra các nghĩa ngữ pháp khác nhau

Dạng

nguyên

thể

Dạng phủ định

Dạng lịch

sự

Dạng mệnh lệnh Dạng ý chí

Dạng liên dụng

Bảng 1.3: Một số dạng biến đổi của động từ nhóm 3

Trong hai động từ nhóm 3, có động từ する [suru] là động từ có khả năng kết

hợp với các danh từ khác để tạo ra các động từ phái sinh Mô hình cấu tạo của các động

từ này là:

Trang 31

Danh từ biểu thị ý nghĩa hành động + する [suru]

Có thể xem động từ する [suru] được sử dụng với chức năng động từ hóa danh

từ Hầu hết các danh từ có thể kết hợp với する [suru] đều là các danh từ biểu thị nghĩa

hành động vay mượn tiếng nước ngoài, chủ yếu là các từ gốc Hán, và số ít còn lại là các

từ mượn gốc Ấn Âu:

 Động từ phái sinh cấu tạo từ danh từ gốc Hán:

勉強する [benkyou-suru] – Tạm dịch: học tập

結婚する [kekkon-suru] – Tạm dịch: kết hôn

発表する [happyou-suru] – Tạm dịch: phát biểu

 Động từ phái sinh cấu tạo từ danh từ gốc Âu Mỹ:

` コピーする [kopii-suru] – Tạm dịch: photo coppy

テニスする [tenisu-suru] – Tạm dịch: chơi tennis

ノックする [nokku-suru] – Tạm dịch: gõ cửa

1.2.3 Phân loại động từ theo chức năng

Các nhà nghiên cứu Nhật ngữ đã chỉ ra rằng, dựa trên hoạt động trong câu và khả năng kết hợp với các động từ khác, có thể chia động từ thành hai loại: “động từ thực” (本動詞 (principal verb) - hondoushi ) và “động từ bổ trợ” (補助動詞 (subsidiary verb)

Trang 32

[heya ni hito ga iru]

Tạm dịch: Trong phòng có người

[kouen de asonde iru]

Tạm dịch: Đang chơi (trò chơi) trong công viên

[tsukue no ue ni hon wo oku]

Tạm dịch: Đặt quyển sách lên bàn

14.2 机の上に本をおいておく

[tsukue no ue ni hon wo oite oku] Tạm dịch: Đặt sẵn quyển sách lên bàn

từ thực mà nó kết hợp cùng Tuy nhiên, nếu xuất hiện một cách riêng lẻ, các động từ bổ trợ này vẫn hoạt động với tư cách là một động từ thực

Xét các ví dụ trên ta thấy, động từ いる [iru] trong VD 13.1 khi đứng riêng lẻ

trong câu với tư cách là một động từ thực có nghĩa là “có” chỉ sự tồn tại của con

người/động vật trong không gian, tuy nhiên ở VD 13.2 ta có いる [iru] xuất hiện trong

sự kết hợp cùng động từ 遊ぶ [asobu] tạo ra kết cấu 遊んでいる [asondiru] biểu thị ý nghĩa thời hiện tại tiếp diễn “đang chơi (trò chơi)” Hay trong VD 14.1 động từ みる

Trang 33

[miru] đứng riêng lẻ trong câu biểu thị ý nghĩa “nhìn/ xem” thì trong VD 14.2 lại kết

hợp cùng động từ thực やる (yaru) tạo thành kết cấu やってみる [yatte-miru] có nghĩa ngữ pháp là “làm thử” Tương tự như vậy, động từ おく [oku] ở VD15.1 khi xuất hiện

với vai trò là động từ thực thì mang nghĩa là “đặt /để”, nhưng khi xuất hiện với vai trò

động từ bổ trợ khi kết hợp với một động từ thực cho ra kết cấu おいておく [oiteoku] ở

VD 15.2 biểu thị ý nghĩa “để sẵn” (nhằm chuẩn bị cho hoạt động tiếp theo) VD 15.2 có

động từ bổ trợ và động từ thực là cùng một động từ おく [oku] tuy nhiên lại mang hai

chức năng và hai ý nghĩa khác nhau khi được kết hợp cùng nhau Trường hợp này cũng

là trường hợp khá phổ biến trong cách kết hợp giữa động từ thực và động từ bổ trợ trong tiếng Nhật

Các động từ bổ trợ luôn đứng sau các động từ thực đã được chuyển về dạng Te

(て) của động từ tạo thành kết cấu ĐT 1 -て ĐT 2 , với ĐT1 là động từ thực chứa nội dung

sự tình và ĐT2 là động từ bổ trợ có chức năng xác định nghĩa ngữ pháp cho các động từ thực

1.2.4 Phân loại động từ theo sự tình (nhìn từ phương diện phạm trù thể của động từ)

Zeno Vendler (1967) phân loại động từ tiếng Anh thành 4 nhóm căn cứ trên nội dung sự tình mà các động từ biểu thị, bằng các trạng từ chỉ thời gian, thì của động từ và quan hệ logic (logical entailments) trong câu, 4 nhóm động từ bao gồm :

1/ Statives (nhóm biểu thị sự tình tĩnh) : desire (ao ước), want (muốn), love (yêu), believe (tin tưởng), own (sở hữu),

2/ Activities ( nhóm biểu thị sự tình hoạt động/ sự tình đoạn tính vô đích) : run (chạy), walk (đi bộ), swim (bơi),

Trang 34

3/ Accomplishments (nhóm biểu thị sự tình đoạn tính hữu đích): paint a picture (vẽ tranh), make a chair (đóng ghế), write a letter (viết thư), recite a poem (ngâm thơ),

4/ Achievements (nhóm biểu thị sự tình điểm tính hữu đích): recognize (thừa nhận) , realize (nhận thức), die (chết), lose (đánh mất), find (tìm thấy)

Các động từ thuộc nhóm biểu thị sự tình tĩnh (Statives) là nhóm biểu thị các sự

tình không có sự biến đổi mặt cấu trúc nội tại như know (hiểu biết) và love (yêu) Nhóm

các động từ biểu thị sự tình hoạt động (Activities) là nhóm biểu thị các quá trình không

có điểm kết hay nói các khác sự tình hoạt động gồm những biến đổi không có điểm kết

thúc thuộc về cấu trúc nội tại tương ứng với sự tình vô đích như walk (đi bộ) hay swim

(bơi) Nhóm các động từ biểu thị sự tình đoạn tính hữu đích (Accomplishments) gồm

một chuỗi các biến đổi hướng đến điểm kết tự nhiên hay thuộc về cấu trúc nội tại của sự

tình, chẳng hạn như sự tình paint a picture (vẽ tranh) có “bức tranh được hoàn thành” đánh dấu điểm dừng của hoạt động paint (vẽ), mà hoạt động này bao gồm nhiều thao tác độc lập nằm bên trong (trong trường hợp này là các nét vẽ) Nhóm các động từ biểu thị

sự tình điểm tính hữu đích (Achievements) là nhóm các sự tình đạt đến điểm kết thúc tự

nhiên ngay khi nó diễn ra như sự tình die (chết) bao hàm điểm kết thúc chính là “thời

điểm dừng hơi thở”, là thời điểm chuyển giao tức thời từ “sống” sang “chết”, điểm kết

thúc này đơn lẻ, độc lập, không có sự giao thoa Đối với nhóm động từ biểu thị sự tình đoạn tính hữu đích (Accomplishments) và động từ biểu thị sự tình điểm tính hữu đích (Achievements), nếu không đạt đến điểm kết thúc sự tình, thì có thể xem như sự tình này không diễn ra

Tuy nhiên, trước cả Vendler, Kindaichi (1954) đã thực hiện một nghiên cứu độc lập với Vendler và cho ra kết quả phân chia động từ tiếng Nhật thành 4 nhóm tương tự Tuy nhiên điểm đặc trưng trong nghiên cứu của Kindaichi đó là phân chia nhóm động từ tiếng Nhật dựa trên cách sử dụng và ý nghĩa của kết cấu Teiru (ている) của động từ Điểm khác biệt đầu tiên, đó là có 2 nhóm động từ chỉ trạng thái, một nhóm là Statives I

Trang 35

(Nhóm động từ biểu thị trạng thái I) và nhóm còn lại là Statives IV (Nhóm động từ biểu thị trạng thái IV) Điểm khác biệt còn lại trong cách phân loại này là không có nhóm động từ Accomplishment (sự tình đoạn tính hữu đích) Như vậy, sự phân loại được mô

tả cụ thể như sau:

1/ Statives I (nhóm biểu thị trạng thái I):いる [iru] (biểu thị sự tồn tại của người

và động vật, có sự sống), ある [aru] (biểu thị sự tồn tại của vật, không có sự sống), 要

る [iru] (biểu thị sự cần thiết)

2/ Activities (nhóm biểu thị sự tình hoạt động/ sự tình đoạn tính vô đích) :走る

[hasiru] (chạy), およぐ [oyogu] (bơi), 愛する[aisuru] (yêu)

3/ Achievements (nhóm biểu thị sự tình điểm tính hữu đích): きえる [kieru] (tắt),

しぬ [shinu] (chết), 知る [shiru] (biết), 分かる [wakaru] (hiểu)

4/ Statives IV (nhóm biểu thị trạng thái IV) : にる[niru] (giống/tương tự), そび

える [sobieru] (vượt hẳn lên/ cao hơn)

Trong nhóm động từ biểu thị sự tình trang thái I (Statives I) các động từ いる

[iru] - biểu thị sự tồn tại của người và động vật – có sự sống, ある [aru] - biểu thị sự

tồn tại của vật – không có sự sống, 要る[iru] – cần (be in need) không thể biến đổi về

dạng kết cấu ている (Teiru) Căn cứ vào ý nghĩa được biểu thị dưới dạng kết cấu てい

る (Teiru), hầu hết các động từ tiếng Nhật tương đương với các động từ biểu thị sự tình

tĩnh trong tiếng Anh đều được phân chia vào các nhóm khác Chẳng hạn như động từ 知

る[shiru] (biết) và 分かる [wakaru] (hiểu) thuộc về nhóm biểu thị sự tình điểm tính hữu

Trang 36

đích (Achivements); 愛する [aisuru] (yêu) thuộc về nhóm biểu thị sự tình hoạt động

(Activities )

Tất cả các động từ thuộc về nhóm biểu thị sự tình hoạt động (Activities - 継続動

詞 [keezoku doushi]), nhóm biểu thị sự tình điểm tính hữu đích (Achievements - 瞬間

動 詞 [shunkan doushi]) hay nhóm biểu thị trạng thái IV (Stative IV - 第 四 種

[daiyonshu]) đều có thể biến đổi về dạng kết cấu Teiru (ている)

1.4 Dạng Te (て-form) của động từ tiếng Nhật

1.4.1 Phương thức biến đổi sang dạng Te (-form) của động từ tiếng Nhật

Động từ trong tiếng Nhật được chia thành 3 nhóm và dạng (form) TE (て) của động từ được biến đổi dựa trên nguyên tắc sau:

a Động từ nhóm 1 (Ngũ đoạn động từ - 五段動詞 [Godan dooshi])

- Các động từ có phần đuôi là います [imasu], ちます [chimasu], ります [rimasu] sẽ được lược bỏ phần i/chi/rimasu và thay bằng hậu tố って [tte] Chẳng hạn:

あいます [aimasu] → あって [atte] (gặp gỡ)

まちます [machimasu] → まって [matte] (chờ đợi)

きります [kirimasu] → きって [kitte] (cắt)

- Các động từ có phần đuôi là きます [kimasu] thì sẽ được lược bỏ và thay thế bằng hậu tố いて [ite] Chẳng hạn:

Trang 37

あるきます [arukimasu] → あるいて [aruite] (đi bộ)

Trường hợp đặc biệt : いきます [ikimasu] → いって [itte] (đi) Trong trường

hợp chia động từ về dạng て [te] chỉ riêng trường hợp động từ いきます (đi) không

tuân theo quy tắc của nhóm 1

- Các động từ có phần đuôi là ぎます [gimasu] thì được lược bỏ và thay thế bằng hậu

tố いで [ide] Chẳng hạn:

およぎます [oyogimasu] → およいで [oyoide] (bơi lội)

- Các động từ có phần đuôi là みます [mimasu], びます [bimasu], にます [nimasu] thì lược bỏ mi/bi/nimasu thay bằng んで [nde] Chẳng hạn:

のみます [nomimasu] → のんで [nonde] (uống)

よびます [yobimasu] → よんで [yonde] (đọc)

しにます [shinimasu] → しんで [shinde] (chết)

- Các động từ có đuôi là します[shimasu] thì lược bỏ ます [masu] thay bằng て [te]

Chẳng hạn:

かします [kashimasu] → かして [kashite] (mượn)

b Động từ nhóm 2 (Nhất đoạn động từ, 段動詞 [IchidanDoushi hay])

- Các động từ có đuôi là えます [emasu] thì sẽ lược bỏ ます [masu] và thay thế bằng

て [te] Chẳng hạn như:

あげます [agemasu] → あげて [agete] (cho, tặng)

Trang 38

たべます [tabemasu] → たべて [tabete] (ăn)

Tuy nhiên có một số ít trường hợp đặc biệt mang âm đuôi là –ri/ki/mi/bi…masu (hình thức giống động từ nhóm 1) nhưng là động từ thuộc nhóm 2 (Nhóm 2 đặc biệt)

Đối với các động từ này sẽ áp dụng quy tắc biến đổi của nhóm 2 Thay ます [masu]

bằng て[te] Chẳng hạn như:

おります [orimasu] → おりて [orite] (xuống tàu, xuống xe)

できます [dekimasu] → できて [dekite] (hoàn thành, xây xong)

c Động từ nhóm 3 (Động từ bất quy tắc) : Gồm 2 động từ します [shimasu]

(làm), きます [kimasu] (đến) có hình thức biến đổi được quy định là:

きます [kimasu] → きて [kite]

します [shimasu] → して [shite]

1.4.2 Chức năng dạng Te () của động từ tiếng Nhật

Dựa vào cơ sở lý thuyết về ngữ pháp học đã nêu như trên, có thể thấy kết cấu Teiru (ている) mang cả 2 đặc điểm của Từ pháp học (Hình thái học) và Cú pháp học Kết cấu Teiru (ている) được phân tách thành 2 yếu tố riêng biệt bao gồm phụ tố Te (て) và động từ Iru (いる) TE là dạng (form) của động từ biểu thị nội dung sự tình, mang chức năng kết nối nhiều động từ với nhau nhằm diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp nhất định

VD 17 :

朝おきて、顔を洗って、歯を磨きます。

Trang 39

[asa okite, kao wo aratte, ha wo migakimasu]

Tạm dịch: Sáng thức dậy, rửa mặt và đánh răng

Ví dụ trên cho thấy dạng Te (て) biến đổi hình thái của từ, diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp liệt

kê các hoạt đông theo trình tự, trước là “thức dậy”, sau đó là “rửa mặt” và cuối cùng là

từ, cần thiết phải có một yếu tố từ vựng đi kèm sau để có thể kết thúc động từ này, chính

vì vậy, có thể xem Te (て) đánh dấu phần kết thúc của sự tình biểu thị bởi động từ và kết nối cùng いる(iru) để cho thấy sự tồn tại của tình trạng, diễn biến sau khi sự tình diễn ra

1.5 Động từ biểu thị ý nghĩa tồn tại Iru (いる) trong mối liên hệ với các từ khác

Theo khảo sát của Sở nghiên cứu chữ quốc ngữ quốc gia (Nhật Bản) (1971) bằng hình thức khảo sát tần suất xuất hiện của các động từ trên các bài báo thì động từ Iru (いる) xếp hạng 4 cùng với Aru (ある) xếp hạng 5 Bên cạnh đó, trong khảo sát Từ vựng tiếng Nhật cần thiết trong giảng dạy (1984) thì cả hai động từ này đều thuộc nhóm được đánh giá cao về mức độ cần thiết và quan trọng trong hoạt động giảng dạy tiếng Nhật

Từ đó cho thấy, hai động từ biểu thị ý nghĩa tồn tại thuộc nhóm động từ biểu thị trạng

Trang 40

thái trong tiếng Nhật cực kì quan trọng đối với người học tiếng Nhật Động từ Iru (いる)

(tồn tại con người/ động vật có sự sống) và ある [aru] (tồn tại vật thể/ sự kiện) là hai

trong ba động từ thuộc nhóm động từ Statives (状態動詞) – động từ biểu thị trạng thái

trong tiếng Nhật, đồng thời bản thân nó cũng vừa là một động từ thực (本動詞) và là một động từ bổ trợ (補助動詞)

Với vai trò là động từ thực, Iru (いる) tham gia vào cú pháp câu nhằm biểu thị nét nghĩa “có” diễn đạt sự tồn tại của người/ động vật có sự sống trong không gian VD18:

1 男の人がいる。[otokono hito ga iru] – Tạm dịch: Có người đàn ông

2 いぬがいる。[inu ga iru] – Tạm dịch: Có chú chó

VD19:

1 ロビーに佐藤さんがいる。

[robii ni Satoo san ga iru ] – Tạm dịch: Ở đại sảnh có anh Satoo

2 家族はニューヨークにいる。

[kazoku ha Nyuuyooku ni iru] – Tạm dịch: Gia đình tôi sống ở Newyork

Ở VD 18.1 và 18.2 động từ いる [iru] nằm ờ vị ngữ, xác định sự tồn tại của “男

の人” (người đàn ông) và “いぬ” (chú chó), khác với VD 19.1 và 19.2 còn có thêm tham

tố chỉ không gian là “ロビー” (đại sảnh) và “ニューヨーク” (Newyork) nhằm xác định

vị trí của nhân vật “佐藤” (Bạn Satou) hay nhóm nhân vật “家族” (gia đình)

Ngày đăng: 13/11/2023, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w