Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực Một hiện tượng, một quan hệ, một tính chất, hay một quá trình trong nhận thức, được ghi lại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NGỮ NGHĨA – NGỮ DỤNG TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC
Họ và tên sinh viên:
Lớp:
Mã sinh viên:
Hà Nội tháng 8/ 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ
dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Sự giúp đỡ vô cùng quý giá đối với chúng em trên con đường tiến tới thành công
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Thủ Đô đã dạy dỗ, chỉ bảo chúng em
Kiến thức của em còn hạn chế và nhiều bỡ ngỡ Do vậy, những thiếu sót là điều chắc chắn không thể tránh khỏi, em mong nhận được nhứng ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để kiến thức bài tập nói chung và kiến thức về kĩ năng giao tiếp nói chung của em được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc các thầy cô thật dồi dào sức khỏe, thành công trong sự nghiệp cao quý để tiếp tục thực hiện sứ mệnh của mình là truyền đạt kiến thức của mình cho thế hệ mai sau
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trang 3Câu 1: Phân tích các dạng hiện thực hoá nghĩa của từ trong ngữ cảnh.
Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (Một hiện tượng, một quan hệ, một tính chất, hay một quá trình) trong nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm thanh xác định Để tăng vốn từ cho học sinh, ngoài việc hệ thống hóa vốn từ, công việc quan trọng là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ Đây là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việc dạy nghĩa của từ được tiến hành trong tất
cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, thì ở đó có dạy nghĩa từ
Ví dụ: Trong các phân môn Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả, thậm chí cả Tập viết, hoạt động giải nghĩa từ cũng thường xuyên được thực hiện Để giải nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh
Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh nó, đủ để làm cho
nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa (Định nghĩa này cho thấy rằng ngữ cảnh
có thể tối thiểu là một từ, tối đã là một chuỗi lớn hơn, có khả năng ứng với một câu, một phát ngôn,…)
Các dạng hiện thực hóa nghĩa của từ trong ngữ cảnh:
Sự hiện thực hóa nghĩa biểu vật của từ: Nghĩa của từ có thành phần biểu vật, tức là chỉ ra các
sự vật, hiện tượng… trong thực tế khách quan Nhưng ý nghĩa biểu vật của từ mang tính khái quát Nó được trừu tượng hoá khỏi những biểu hiện cụ thể của sự vât, hiện tượng
+ Khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ tương ứng với những sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất… cụ thể, xác định Sự tương ứng giữa nghĩa của từ với sự vật, hiện tượng… trong thực tế khách quan được gọi là sự chiếu vật, hay sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong sử dụng
Ví dụ: 1 Anh ta hát giọng mũi
2 Cho nó thêm một mũi để nó ngủ đi
3 Nhiều mũi một lúc sợ không ổn
4 Hôm nay, phân nó có nhiều mũi (d)
Sự khác nhau về nghĩa giữa các từ "mũi" trong mấy ví dụ trên có liên quan tới các nghĩa biểu vật khác nhau của từ "mũi" Trong đó "mũi" ở ví dụ 1 và 2 có liên quan tới nghĩa biểu vật (1), còn "mũi" ở ví dụ 3 và 4 liên quan tới nghĩa biểu vật (3) "Hát giọng mũi" là cách hát
để cho hơi dồn qua mũi là chính, nhiều hơn là qua miệng"
Sự hiện thực hoá thành phần nghĩa biểu niệm của từ : là tư duy, nhận thức của người
nói về sự vật, hiện tượng… mà từ gọi tên Nghĩa này khái quát ở mức cao hơn so với nghĩa biểu vật Nó là cái nghĩa được hình thành trong quá trình nhận thức về nghĩa
Trang 4chủng loại của sự vật Một từ có nhiều nghĩa biểu niệm sẽ là sự chuyển đổi của một quá trình nhận thức, trong đó các kết quả nhận thức đi sau không phủ nhận các kết quả nhận thức đã có từ trước về nghĩa biểu niệm của nó
- Cấu tạo của nghĩa biểu nhiệm gồm có : Nghĩa vị, nét vị
+ Nghĩa vị là thành tố nghĩa gọi tên cho một đối tượng hoặc một tập hợp đối tượng Mõi từ có thể được dùng để gọi tên cho một hoặc nhiều sự vật, hiện tượng hoặc trạng thái , tính chất,… khác nhau Do đó mỗi từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa vị
Ví dụ: Từ bắt nạt có nghĩa: cậy thế , cậy quyền dọa dẫm để làm có phải sợ ( có 1
nghĩa vị)
+ Từ nóng có các nghĩa : 1 Có nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ có thể hoặc cao hơn
mức trung bình 2 Dễ nổi cơn tức giận , khó kìm giữu những phán ứng thiếu suy nghĩ do quá tức giận 3 Có sự mong muốn thôi thúc cao độ về điều gì 4 Vay mượn gấp và chỉ tạm trong thời gian ngắn( vay nóng).5 Màu thiên về vàng Đỏ gợi cảm giác nóng
+ Nét nghĩa là những thành tố có 1 nghĩa vị Một nghĩa vị có thể bao gồm một hoặc nhiều nét nghĩa
Ví dụ: Nghĩa vị 1 của từ mũi có 2 nét nghĩa : 1 Bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và
động vật có xương sống 2 Là cơ quan dùng để thở, để ngửi
Nghĩa biểu niệm là cấu trúc dó các nét nghĩa, tức là các yếu tố ngữ nghĩa nhở nhất hợp thành Các nét nghĩa này một phần phản ánh các thuộc tính của sự vật ngoài ngôn ngữ, một phần hình thành từ cấu trúc ngôn ngữ
Sự hiện thực hoá thành phần nghĩa biểu thái của từ: Nghĩa biểu thái là thành phần
nghĩa chỉ ra thái độ, cách đánh giá về sự vật, hiện tượng kháchquan Đa số các từ được sử dụng để miêu tả tính chất, hành động, hình dáng… của cây tre trong bài thơ đều mang tính biểu thái
Ví dụ: Hai từ ngoan cố và ngoan cường đều có nét nghĩa : Không khuất phục đối
phương, dù đối phương dùng đủ mọi cách để tra khảo, khai thác Nhưng từ ngoan cố mang nét nghĩa xấu, còn từ ngoan cường mang nét nghĩa tốt.
Sự hiện thực hoá thành phần nghĩa ngữ pháp của từ : Tiếng Việt là ngôn ngữ không
biến hình nên ý nghĩa ngữ pháp của từ không thể hiện trong nội bộ hình thức của từ
mà chỉ có thể xác định được thông qua quan hệ của từ với những từ khác trong khi sử dụng Thành phần ý nghĩa ngữ pháp của từ trước hết là ý nghĩa từ loại của từ, có quan
hệ chặt chẽ với thành phần ý nghĩa biểu niệm của từ Trong bài thơ, tất cả các từ tre đều là danh từ – chỉ sự vật như định nghĩa đã nêu ở trên
Ví dụ: khi so sánh các nhóm từ:
Trang 5a) Các từ ra,vào,lên,xuống, có khuôn chung : hoạt động/vận động /dời chỗ/không có cách thức/theo hướng,… so với điểm xuất phát hay điểm tới.
b) Các từ bò,lăn,trườn,chạy,bay đi… có khuôn chung: hoạt động/vận động,/dời chỗ theo những các thức nhất điịnh /không có hướng.
=> Khung chung của nhóm này là: hoạt động/vận động dời chỗ=> ý nghĩa ngữ pháp của
các từ trong 2 nhóm trên
Vậy ý nghĩa ngữ pháp có thể bao gồm một hoặc một tập hợp các nét nghĩa trong biểu niệm của từ
+ Tính thống nhất này thể hiện trong sự phù hợp giữa các từ trong một trường biểu vật
+ Tính thống nhất còn thể hiện trong sự phù hợp, hài hoà giữa các nét nghĩa biểu niệm
+ Sự thống nhất về ngữ nghĩa giữa các từ có thể gọi là sự cộng hưởng ngữ nghĩa Cũng như
sự cộng hưởng của âm thanh, ý nghĩa các từ hài hoà với nhau, tôn nhau lên tạo ra những dao động ngữ nghĩa Dao động này sẽ dội vào tâm tình người đọc, để lại trong đó những ấn tượng đậm, sâu
Sự hiện thực hoá thành phần nghĩa liễn tưởng của từ: Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ trong hệ thống có tính cố định, bền vững nhưng cũng có những ý nghĩa chưa cố định, biến động, mang tính chất xã hội – lịch sử – cá nhân cụ thể Một trong những loại nghĩa chưa ổn định nhưng có vai trò quan trọng đối với hiệu quả dùng từ là
ý nghĩa liên hội
+ Ý nghĩa liên hội là ý nghĩa xuất hiện khi gặp một từ nào đó, ta sẽ liên tưởng đến những đặc tính của sự vật hiện tượng mà từ gọi tên hoặc xuất hiện do thói quen sử dụng của cộng đồng, được lặp đi lặp lại
Ví dụ: Cũng là cụm từ cánh đồng quê nhưng khi ta nghe câu : Ôi!Những cánh đồng quên ngập nước thì cánh đồng quê gợi cho ta hình dung về “một vùng đất thường dùng để trồng lúa,hoa màu,cây lương thực đã bị ngập lụt do thiên tai” Nhưng trong câu: Ôi! Những cánh đồng quê chảy máu thì cánh đồng quê lại gợi cho ta hình dung về “hình ảnh của cuộc sống
bình yên đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá,cày xới tan nát”
Câu 2: Nêu sự hiểu biết về lập luận và việc dạy lập luận ở Tiểu học.
Lập luận là năng lực cơ bản của tư duy, thể hiện ở quá trình chuyển đổi các hình thức
và các bước phát triển của tư duy nhằm thu được kết quả mong muốn
- Có hai kiểu chính của :
+ Theo kiểu rút ra kết luận từ các tiền đề đã cho trước, gọi chung là luận kết Luận kết có thể theo lối suy diễn, quy nạp hoặc loại tỉ, vv
+Theo kiểu truy tìm các luận cứ để luận chứng các luận đề nhất định, gọi chung là luận chứng
- Lập luận Tiếng Việt ở Tiểu học chủ yếu là trong các loại văn bản như: miêu tả, viết thư,kể chuyện
Việc dạy học lập luận Tiếng việt ở Tiểu học :
Trang 6- Xác định được đặc điểm các loại văn bản cần lập luận :
+ Thể loại miêu tả: Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc bức tranh cụ thể về một cảnh, một người, một vật đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc Người
tả phải nắm vững cảnh, vật mình định tả có những nét gì nổi bật, đặc sắc và diễn tả lại bằng
từ ngữ giàu sức gợi cảm, cho thấy rõ hình khối, kích thước, màu sắc, âm thanh, hương vị,…
và những cảm giác vui, buồm, ngạc nhiên, thích thú,…khi nhìn cảnh, vật
+ Thể loại kể chuyện: Kể chuyện là kể lại một chuỗi sự việc có đầu có cuối, liên quan một hay một số nhân vật
-Mỗi câu chuyện cần nói lên được một điều có ý nghĩa
-Khi viết bài văn kể chuyện, ta phải xác định được cốt chuyện, xem chúng gồm những sự việc gì, diễn biến và kết thúc ra sao Các nhân vật trong chuyện có hành động, lời nói, ý nghĩ, tình cảm như thế nào,…
-Một bài văn kể chuyện hay phải bộc lộ được một cách rõ ràng chủ ý của người kể, có cốt chuyện rõ ràng, có nhân vật xác định với những đặc điểm tính cách rõ nét, lời kể sinh động,
có cảm xúc.
+ Thể loại viết thư: Thư là một hình thức trao đổi thông tin gián tiếp bằng văn bản viết giữa những người ở xa nhau hay ở gần nhưng không có điều kiện gặp nhau hoặc vì một lý do nào
đó không muốn gặp nhau Xã hội càng hiện đại thì vai trò của việc giao tiếp gián tiếp thông qua thư tín càng quan trọng
ĐỐI VỚI THỂ LOẠI KỂ CHUYỆN , MIÊU TẢ
- S ắp xếp vị trí các luận cứ, kết luận phù hợp với mục đích của các loại văn bản cần lập luận.
Ví dụ: Hà đã suy nghĩ và liệt kê xong các ý cho đoạn văn miêu tả cô gà mái mơ nhưng bạn
ấy chưa biết cách sắp xếp ý như thế nào để khi đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ tuy vất vả vì đàn con nhưng vẫn đẹp và hiền dịu Em hãy giúp Hà sắp xếp các ý và
viết thành đoạn văn nhé!
(1) Mẹ của các bé gà con mới nở là mô ̣t cô gà mái mơ dịu hiền (2) Cái mỏ vàng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước (3) Cô vẫn đẹp lắm (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của mô ̣t bà mẹ hạnh phúc bên đàn con; (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với că ̣p mắt vàng như nắng trưa (6) Lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch (7) Bô ̣ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay đã mượt mà trở lại Đáp án: (1)Mẹ của các bé gà con mới nở là mô ̣t cô gà mái mơ dịu hiền (6) Lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch (2) Cái mỏ vàng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước (3) Nhưng cô vẫn đẹp lắm (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với că ̣p mắt vàng như nắng trưa (7) Bô ̣ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay
đã mượt mà trở lại (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của mô ̣t bà mẹ hạnh phúc bên đàn con
Theo lí thuyết lập luận thì (1) và (4) chính là kết luận Để hướng tới kết luận này ở đoạn văn (lập luận) trên đã sử dụng năm luận cứ: (6) và (2) là các luận cứ âm (-) tức là hướng đến kết luận ngược với (1) và (4) Còn (3), (5), (7) là các luận cứ hướng đến kết luận dương (+), tức là hướng tới (1) và (4) Vì vậy, với yêu cầu của bài tập là sắp xếp các ý phù hợp để khi
Trang 7đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ tuy vất vả vì đàn con nhưng vẫn đẹp và hiền dịu, HS phải để (6) và (2) lên trước, (3), (5), (7) ra sau – gần với kết luận hơn
Có thể thay đổi lệnh của bài tập là em hãy sắp xếp các ý trong đoạn để khi đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ vất vả vì đàn con Nếu vậy thì đáp án của bài tập
có thể như sau: (1) Mẹ của các bé gà con mới nở là mô ̣t cô gà mái mơ dịu hiền (3) Cô vẫn đẹp lắm (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của mô ̣t bà mẹ hạnh phúc bên đàn con (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với că ̣p mắt vàng như nắng trưa (7) Bô ̣ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay đã mượt mà trở lại (6) Nhưng lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch (2) Cái mỏ vàng cũng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước
Đoạn văn thứ hai hướng người đọc đi đến kết luận ngược với đoạn văn thứ nhất Hai luận cứ hướng đến kết luận âm (-) (6) và (2) được xếp sau cùng, kết hợp với việc sử dụng kết
tử "nhưng'' chỉ sự đối lập và tác tử "cũng" chỉ sự đồng thời đã tạo ra hiệu lực lập luận này
=>Với những bài tập như trên, HS được rèn luyện và phát triển năng lực xác định vị trí của các luận cứ (sắp xếp các ý) khi nói, viết để đạt được mục đích thuyết phục của mình khi miêu
tả Ý thức và thói quen sắp xếp các luận cứ, các ý đã tìm được phù hợp với mục đích miêu tả của HS từ đó cũng được hình thành
- Lựa chọn các chi tiết nổi bật để tăng tính hấp dẫn cho bài viết:
+Bước 1: Phân tích đoạn văn mẫu;
+Bước 2: Nhận xét về việc lựa chọn các chi tiết nổi bật trong đoạn văn
+Bước 3: Thực hành chọn các chi tiết, viết đoạn văn mới theo yêu cầu của đề bài
Ví dụ: Em hãy đọc đoạn văn sau:
“A Cháng mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc,
gụ Vóc cao, vai rộng người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng Hai tay A Cháng nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, nhìn đường cày, thân hình nhoài thành một đường cong mềm mại, khi qua trái, lúc tạt phải theo đường cày uốn vòng trên hình ruộng bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm Lại có lúc được sá cày thẳng, người anh như rạp hẳn xuống, đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn, gấp gấp.”
(Theo Ma Văn Kháng, Tiếng Việt 5, tập 1, tr.119)
a) Em hãy ghi lại những chi tiết miêu tả Hạng A Cháng Những chi tiết nào trong đoạn văn cho em thấy Hạng A Cháng là một thanh niên khỏe mạnh
b) Theo cách làm như đoạn văn trên em hãy tìm các chi tiết miêu tả một bạn gái để người đọc thấy đó là một bạn gái nhỏ nhắn, dễ thương Trong đoạn văn trên, có các chi tiết về ngoại hình: mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc, gụ, vóc cao, vai rộng người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng
Bên cạnh đó, còn có các chi tiết về hoạt động: hai tay nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, đường cày; thân hình nhoài thành một đường cong mềm mại, uốn vòng trên hình ruộng bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm; đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn, gấp gấp Tất cả các chi tiết đều nhằm đến một kết luận Hạng A Cháng là một thanh niên khoẻ
Trang 8Sau khi phân tích ngữ liệu, HS sẽ hiểu rằng, muốn người đọc đi đến kết luận về đối tượng miêu tả, người viết có thể định hướng bằng việc lựa chọn hàng loạt các chi tiết miêu tả cùng một chủ đề
Sau đó, HS sẽ thực hiện bài tập b) Đáp án bài tập b) có thể là thân hình mảnh dẻ, khuôn mặt trái xoan, nước da trắng trẻo, đôi mắt nâu nâu, tính tình hiền lành, thường nhường đồ dùng học tập cho các bạn, hay cười, giọng cười trong trẻo
=> GV có thể lồng ghép khai thác để hỗ trợ học sinh rèn kĩ năng lâ ̣p luâ ̣n khi viết văn miêu
tả Ở các tiết bồi dưỡng HS có năng khiếu về tiếng Viê ̣t, các buổi Câu lạc bô ̣ tiếng Viê ̣t, GV
có thể thiết kế các bài tâ ̣p cho học sinh nhâ ̣n dạng các chi tiết miêu tả cùng chủ đề và tâ ̣p thực hành lựa chọn chi tiết miêu tả cùng chủ đề vào đề bài (tình huống miêu tả) cụ thể
- Lựa chọn các từ ngữ cùng trường nghĩa để bài viết thêm sinh động hơn: giúp HS khắc phục
các khó khăn trong viết văn miêu tả, để tạo nên tính tạo hình cho bài văn và biểu hiện được cảm xúc thẩm mĩ cá nhân Theo lí thuyết lập luận,việc lựa chọn, sử dụng nhiều từ ngữ cùng trường nghĩa sẽ giúp người viết khắc họa hình ảnh đối tượng một cách dễ dàng và thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên
viết đoạn văn, bài văn HS phải căn cứ vào định hướng lâ ̣p luâ ̣n và đối tượng miêu tả cụ thể
để lựa chọn, sử dụng từ ngữ miêu tả phù hợp và chính xác, tinh tế thì bài viết mới có lập luận chặt chẽ, đối tượng miêu tả hiện lên sinh động, có nét riêng, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo cá nhân
Ví dụ:
- Tả ngoại hình con người cũng có biết bao từ ngữ khác nhau để tả: cao, thấp, gầy, béo, dong dỏng, mảnh dẻ, mảnh mai, thon thả, trắng trẻo, hồng hào, gầy gò, vạm vỡ… hướng đến những kết luận khác nhau về ngoại hình của đối tượng miêu tả
- Tả bà cụ: da đồi mồi, lưng còng, tóc bạc, miệng móm mém nhai trầu, tay chống gậy, từng bước khó nhọc, lom khom… (hướng đến kết luận đã già, yếu) hoặc lưng vẫn thẳng, da dẻ vẫn hồng hào, tóc chưa bạc, tay thon thả… (hướng đến kết luận vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn)
- Tả em bé: bụ bẫm, má căng tròn, chân tay mập mạp, tóc đen… hướng đến kết luận em bé khỏe mạnh hoặc gầy gò, da đen hoặc xanh, tóc dựng đứng, vàng hoe… hướng người đọc đến kết luận là em bé ốm yếu
- Tả con sông: đỏ đục, oặn mình qua những cánh đồng hoang (gợi lên cuộc sống khó khăn, vất vả, đau thương, …); dòng sông như dải lụa mềm, nũng nịu uốn mình giữa đồng lúa chín (thể hiện cuộc sống thanh bình, ấm no…)
=> HS biết sử dụng từ ngữ cùng trường nghĩa là các em đã biết sử dụng một loại dấu hiệu giá trị học để định hướng lập luận khi miêu tả
- Luyện tập định hướng lập luận qua việc sử dụng từ ngữ biểu cảm khi làm bài.
+Từ ngữ biểu cảm là một bộ phận từ ngữ của tiếng Việt có sức gợi tả, gợi cảm cao, là phương tiện miêu tả hiệu quả Nó bao gồm nhiều loại, nhưng đặc trưng nhất, theo chúng tôi,
là từ láy Việc sử dụng các từ láy một cách tinh tế khi miêu tả có giá trị định hướng cảm xúc của người đọc Đây là giải pháp giúp bài văn miêu tả giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc thái đô ̣,
Trang 9tình cảm của người viết về đối tượng miêu tả, định hướng được kết luận của người đọc về đối tượng miêu tả
Ví dụ : Em hãy cho biết câu văn nào hay hơn, vì sao?
a) Đám mây lốm đốm, xám như đuôi con sóc nối nhau bay quấn sát ngọn cây, lê thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh thoảng đứt quãng, đã lồ lộ đàng xa một bức vách trắng toát
b) Đám mây trắng như đuôi con sóc nối nhau bay quấn sát ngọn cây, đi mãi, bây giờ cứ nhạt dần đứt quãng, đã lộ đàng xa một bức vách trắng toát
Nhờ sử dụng các từ láy có tính tạo hình cao lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, thi thoảng, lồ
lộ hình ảnh, sự di chuyển của đám mây hiện lên rõ ràng: lốm đốm trên nền trời, dài lê thê, lúc nhạt lúc đậm, lúc nối liền lúc đứt quảng, cuối cùng lại trở thành một tảng mây lớn màu trắng hiện lên như một bức vách Hình ảnh những đám mây rong ruổi trên cao rồi lại sà xuống thấp màu trắng kì lạ như trên dẫn đến kết luận về một bầu trời thanh bình, cuộc sống nhẹ nhõm, bình yên Câu văn thứ hai kém tính sống động, tạo hình, tính nhạc điệu, đám mây hiện lên như một dãi trắng, cuốn sát ngọn cây, rồi lại đứt quảng, cuối cùng thì như một bức vách trắng toát Không tạo cho một người đọc đi đến kết luận về một bầu trời đẹp, một ngày bình yên
mà chỉ dẫn đến kết luận về hình ảnh một đám mây lạ
=> Viê ̣c sử chính xác các từ láy có giá trị biểu cảm cao cũng góp phần làm rõ mục đích lâ ̣p luâ ̣n trong câu văn miêu tả trên, người đọc cảm nhận được sâu sắc hơn về nhâ ̣n định, cảm xúc, tình cảm tác giả muốn gửi gắm
Đối với thể loại viết thư:
- Thư có nhiều loại và được phân loại dựa vào mục đích giao tiếp
- Thư là loại văn bản dùng để giao tiếp gián tiếp (khi người viết và người đọc không có điều kiện giao tiếp trực tiếp) nên việc sử dụng các từ ngữ, các cấu trúc ngữ pháp, các tác tử, kết tử lập luận khi diễn đạt rất quan trọng
- Thư bị chi phối nhiều bởi đặc điểm của đối tượng giao tiếp, của người đọc hơn các loại văn bản khác Đối tượng giao tiếp của văn viết thư bao giờ cũng được xác định
cụ thể, người viết thư phải nắm vững hoàn cảnh, tâm lí, tình cảm, đặc điểm của người đọc để từ đó, xác định rõ nội dung cần viết, cũng như cách viết để bức thư phù hợp với người nhận Đặc điểm của người đọc chi phối chặt chẽ nội dung và hình thức bức thư Trong khi đó, văn miêu tả, kể chuyện… đối tượng giao tiếp thường mang tính chất chung, hướng đến nhiều đối tượng, không chi phối mật thiết đến việc lựa chọn nội dung và hình thức diễn đạt của bài văn bằng văn viết thư
- Ngôn ngữ được sử dụng trong thư mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (hay còn gọi
là khẩu ngữ) với tính cá thể, tính cụ thể và tính cảm xúc
+Tính cá thể: thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi trao đổi, tâm sự, chia sẻ thông tin với người khác qua nội dung thư Trong thực tế, không ai viết giống
ai, mỗi người có đặc điểm riêng trong lời nói, có nét riêng trong phong cách sử dụng ngôn ngữ của mình
+ Tính cụ thể: văn viết thư nói riêng hay ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày nói chung có lối nói cụ thể, sinh động làm cho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh, âm thanh, màu sắc rõ rệt Tính cụ thể làm cho sự
Trang 10trao đổi thông tin giữa người viết và người nhận trở nên dễ dàng, nhanh chóng, kể cả trong những trường hợp phải đề cập đến vấn đề trừu tượng
+Tính cảm xúc: Muốn đạt được mục đích giao tiếp, bức thư phải thuyết phục được tình cảm của người đọc Cho nên tình cảm trong thư phải chân thành.Tính cảm xúc thống nhất với tính cụ thể Ngôn ngữ trong văn viết thư là ngôn ngữ đời sống thực, cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú, đa dạng của con người
=>Có thể vận dụng lí thuyết lập luận của ngữ dụng học vào việc đề xuất các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua thể loại văn viết thư
+ Giúp học sinh nắm được các yêu cầu cơ bản khi viết một bức thư Phải xuất phát từ những yêu cầu đơn giản, sau đó, đến những yêu cầu phức tạp Chẳng hạn, ở lớp 2 -3, chỉ dừng lại ở việc rèn cho học sinh viết phong bì thư, nắm được kết cấu và nội dung cơ bản của một bức thư Lên lớp 4, phải giúp học sinh phân biệt được sự khác nhau về mục tiêu của các bức thư và lựa chọn, sắp xếp các chi tiết nội dung, cũng như cách diễn đạt phù hợp với mục tiêu là thăm hỏi hay làm quen hay trao đổi công việc…
+ Tổ chức cho học sinh tìm ý (tìm các luận cứ kết luận), sắp xếp ý (sắp xếp các luận cứ, kết luận) phù hợp với các loại văn viết thư vốn được phân loại theo mục đích giao tiếp Mỗi loại thư có một mục đích giao tiếp, mục đích lập luận khác nhau Viê ̣c bám vào mục đích viết thư giúp cho bài văn được đầy đủ ý, diễn đạt mạch lạc, các ý triển khai lôgic, khoa học và đúng đặc trưng của từng loại thư Trình tự sắp xếp
ý, liên kết các ý trong thư, đặc biệt là ở phần chính của bức thư, là yếu tố thể hiê ̣n rõ nhất ý đồ lâ ̣p luâ ̣n của người viết Tùy loại thư, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sắp xếp nội dung thăm hỏi trước, sau đó là kể, động viên, chia buồn, an ủi hay trao đổi công việc…hoặc ngược lại, tránh trường hợp vừa thăm hỏi vừa xen lẫn kể
chuyện, chia buồn…làm cho nội dung bức thư thiếu logich, thiếu chặt chẽ không thuyết phục được người đọc.Các ý trong mỗi phần của bức thư hầu hết được học sinh triển khai theo mô hình: kết luận – luận cứ - kết luận Các câu được in đậm trong bài
là các kết luận
+ Luyện tập cho học sinh sử dụng các từ ngữ (các dấu hiệu giá trị học), các tác tử, các kết tử lập luận phù hợp với đối tượng giao tiếp để thuyết phục được tình cảm của người đọc
- Trong văn viết thư, luận cứ, kết luận đều có xen lẫn cảm xúc và sự cảm nhận chủ quan của chủ ngôn Để thể hiện thành công điều này, học sinh cần biết sử dụng các yếu tố giá trị học phù hợp với đặc điểm người đọc để thuyết phục tình cảm của họ Khi kĩ năng này được trau dồi, học sinh biết lựa chọn và sử dụng các từ ngữ giao tiếp đúng mực cũng như giữ cách xưng hô phù hợp trong quá trình giao tiếp Đồng thời, vừa làm nổi bật mục đích, nội dung bức thư vừa có sự định hướng lập luận cao, tránh được tình trạng viết khuôn mẫu, sáo rỗng