SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM LỚP 5 – NĂM 2015 – 2016 1 Nhận xét, xếp loại Nhận xét Xếp loại Ngày tháng năm 2 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ MỤC LỤC Nội dung Trang I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Sự cần thiết của đềtài 3 2 Mục tiêu nghiên[.]
Trang 1Nhận xét, xếp loại
- Nhận xét:
……… ………
……… ………
……… ………
……… ………
……….……… ………
……… ………
……… ………
……… ………
……… ……….……….
……… ………
……… ………
……… ………
……… ………
……….……….………
……… ………
……… ………
……… ………
……… ……….……….
……… ………
……… ………
……… ………
……… ………
……….……….………
……… ………
……… ………
……… ………
……… ……….……….
……… ……… …………
……….……… ………
……….………
……… ………
……… ………
……… - Xếp loại: …………
Ngày …… tháng …… năm ……
Trang 2THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang 3“MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ HỌC THỂ LOẠI VĂN MIÊU TẢ TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5 /5.
TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH HIỆP,THÀNH PHỐ NHA TRANG”
1 Sự cần thiết của đề tài :
Tiếng việt là một trong những môn học có tầm quan trọng trong việc giáo dụchọc sinh Phân môn tập làm văn đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trongnhất của việc dạy và học Tiếng việt, chúng ta dạy HS sử dụng Tiếng việt trongđời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học
Văn miêu tả được chia thành các kiểu bài khác nhau căn cứ vào đối tượngmiêu tả Các kiểu bài văn miêu tả ở lớp 5 bao gồm : Tả cảnh, tả người và ôn tậpcác kiểu bài văn miêu tả ở lớp 4 Tất cả đều là các chủ đề khá gần gũi nhưng khó
so với các em vì trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viết đối với nhiều
em là rất khó khăn, lúng túng; các em rất e ngại, sợ phải trình bày, diễn giải một
số vấn đề nào đó mà thầy cô, bạn bè yêu cầu Nhiều em rất sợ, rất ngán ngẩm khinhắc đến Tập làm văn Bản thân các em cũng gặp nhiều khó khăn trong việc cảmnhận cái hay, cái đẹp trong các bài văn, bài thơ được học
Để làm được một bài văn hay HS phải huy động vốn kiến thức từ nhiều mặtnhư : các hiểu biết về cuộc sống, tri thức về văn học, khoa học, xã hội HS phảibiết kết hợp hài hòa nhiều kĩ năng như dùng từ đặt câu, tạo dựng văn bản, kĩnăng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý Do đó TLV mang tính tích cực, toàn diện,tổng hợp
Thực tế ở trường tôi vẫn còn không ít học sinh chưa nhận thức được hết tầmquan trọng của việc quan sát, tìm ý, viết đoạn văn nên chất lượng giờ Tập làmvăn còn hạn chế Nhiều giáo viên vẫn chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn các em hoànthành những nội dung yêu cầu của bài tập dựa vào gợi ý trong sách giáo khoa vàsách giáo viên Còn học sinh, đa phần các em dừng lại ở mức độ trả lời, liệt kê sự
Trang 4vật theo gợi ý của thầy cô một cách máy móc, khuôn mẫu, vốn từ ngữ của các
em còn rất nghèo nàn, việc diễn đạt còn nhiều hạn chế Nhất là khi làm các bàiTập làm văn miêu tả, các em chỉ dừng lại ở việc miêu tả sự vật một cách đơngiản, dẫn đến câu văn hết sức khô khan Thậm chí, có những em khi miêu tả một
sự vật, không biết phải bắt đầu từ đâu, không biết phải tả những gì, tả thế nào.Với mong muốn giúp các em biết diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu văn,
ý câu giàu hình ảnh, có cảm xúc, học sinh hứng thú hơn khi học môn này Tôi đã
mạnh dạn chọn Đề Tài : “ Một số biện pháp dạy và học thể loại văn miêu tả trong phân môn tập làm văn nhằm nâng cao chất lượng môn tiếng việt cho học sinh lớp 5/5 trường tiểu học Vĩnh Hiệp thành phố Nha Trang ”
2 Mục tiêu nghiên cứu :
- Tìm ra biện pháp để khắc phục tình trạng trên nhằm tạo hứng thú học tập
cho các em và nâng cao hiệu quả việc viết văn miêu tả trong phân mônTLV
- Học sinh tích cực, tự giác học tập say mê với môn học đồng thời các kiến
thức được khắc sâu hơn Từ suy nghĩ này, tôi đã áp dụng trong thực tếgiảng dạy và bước đầu đã có những kết quả khả quan
Trang 5II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
1.1 Thuận lợi :
- Các em HS tích cực học hỏi để diễn đạt trong bài văn
- Các em lựa chọn hình ảnh và câu từ để viết văn, câu văn có sự đầu tư trauchuốt
- Bên cạnh đó Phụ huynh rất quan tâm đến việc học của con em mình
- Giáo viên nhiệt tình hướng các em đến những hình ảnh miêu tả sinh động,hướng dẫn các em cách dùng từ và dùng các hình ảnh so sánh nhân hoá … đểviết câu văn
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát tỉ mĩ từng sự vật bằng các giác quangiúp học sinh cảm nhận được các sự vật được miêu tả từ đó các em hìnhthành năng lực cảm thụ văn học, giúp các em khám phá được những cái đẹpqua việc xây dựng văn bản
1.2 Khó Khăn :
- Học sinh không được quan sát trực tiếp miêu tả Khả năng làm văn miêu tảkhông đồng đều nhau
- HS chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả Nhiều em thường liệt
kê dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng, chưa biết chọn những nét tiêu biểu củađối tương để tả
- HS không biết sắp xếp ý như thế nào để bài viết mạch lạc, chưa diễn đạtđược bằng vốn từ ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thểnào đó
Trang 6- Một số học sinh còn phụ thuộc vào văn mẫu , áp dụng một cách máy móc,chưa biết vận dụng bài mẫu để làm bài văn của mình Phần lớn học sinh dựa vàolời giảng của giáo viên hướng dẫn để viết bài của mình.
- Thực trạng HS như vậy đã vô tình trở thành gánh nặng, một thách thức đốivới GV Tiểu học Vốn dĩ mọi người cho rằng môn TLV là một môn khó dạy,khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức chung của nhiều thầy cô
- Trong môn Tiếng Việt, phân môn khó nhất là tập làm văn, mà đặc biệt làvăn miêu tả, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng , phong phú cần
có vốn sống thực tế, người giáo viên phải biết kết hợp linh hoạt các phương pháp
và các hình thức dạy học giúp học sinh phát huy khả năng sáng tạo của mình
- Việc đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách thức đánh giá học sinhphần nào cũng ảnh hưởng chất lượng giảng dạy của giáo viên
- Nhìn chung đây là một phân môn có đa số lực lượng GV nói chung, trườngtôi nói riêng rất khó khăn khi giảng dạy và rất ngại khi bị đề nghị dự giờ hoặcdạy chuyên đề môn học này Theo tôi còn một số vướng mắc trong thực tế nhưsau:
* Gv còn lúng túng khi vận dụng phương pháp dạy TLV, lập dàn ý rập khuôndẫn đến bài làm của HS giống nhau về ý tưởng và nội dung
* Chưa rèn cho HS có thói quen đọc và chọn lọc các bài văn mẫu, văn hay để
từ đó rút ra ý hay, ý đẹp
* Thời gian không cho phép để giúp HS làm một số bài tập rèn kĩ năngnày.Vì thế GV rất khó khăn khi hướng dẫn HS sử dụng cái hay, cái đẹp của từngữ khi viết văn
* Trong quá trình dạy chúng ta chưa so sánh được kiểu bài này với kiểu bàikia trong cùng một thể loại miêu tả
* GV chưa linh động sáng tạo, mạnh dạn thay đổi PP Dạy học còn mangtính đơn điệu, gây nhàm chán và không gây hứng thú cho HS khi học môn này
Chúng ta biết bài văn của mỗi HS là "đứa con tinh thần" mang dấu ấn cá
nhân rõ nét, không thể bắt buộc tất cả mọi bài văn phải hoàn toàn giống nhau khicùng miêu tả một sự vật nào đó Tai hại thay có một số Gv bắt HS thuộc vănmẫu, điều đó vô tình làm mất đi sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú củaHS
1.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên :
- Học sinh chưa mạnh dạn và tự tin trong học tập
- HS lười đọc sách, báo, tìm tòi những tài liệu phục vụ cho kiến thức có liênqua đến môn học, vốn từ ngôn ngữ còn hạn chế
Trang 7- Các biện pháp nhân hóa, so sánh ở các lớp học dưới chưa hình thành kĩ năngnên HS không biết vận dụng khi làm văn, đa số HS không biết sắp xếp ý như thếnào để bài viết mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ của mình về một
sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó
- HS thiếu sự quan sát tinh tế, nghèo vốn từ và vốn sống
- Thiếu sự quan tâm hỗ trợ từ phụ huynh học sinh
- HS chưa xác định được trọng tâm đề
- Nguyên nhân cuối là trách nhiệm của người GV, GV chưa biết cách pháthuy tối đa năng lực học tập và cảm thụ văn học của HS, chưa bồi dưỡng cho HSlòng yêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để HS phát huy hết ưu điểmtiếng mẹ đẻ
Chúng tôi tiến hành khảo sát chất lượng bài văn về miêu tả.
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm 2020- 2021 của lớp 5/5 trước khi áp dụng sáng kiến:
Đề : Tả ngôi trường của em
Trang 8), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp người đọcnhư được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả Vì vậy, khi dạy tập làm vănmiêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo cáctrình tự hợp lí :
2.1.1 Tả theo trình tự không gian
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từngoài vào trong, từ trái sang phải…( hoặc ngược lại ) Ở lớp 4, 5 trình tự nàyđược vận dụng khi miêu loài vật , đồ vật, cảnh vật…
Ví dụ : Tả từ vào trong : “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi NghĩaLĩnh Trước đền, những khóm hải đường đâm rực đỏ, những cánh bướm nhiềumàu sắc bay dập dờn như đang múa quạt hoa Trong đền dòng chữ vàng NamQuốc Sơn Hà uy nghiêm để ở bức hoành phi treo chính giữa ”
2.1.2 Theo trình tự thời gian
Cái gì xảy ra trước ( có trước ) thì miêu tả trước Cái gì xảy ra sau ( có sau )thì miêu tả sau Trình tự này thường được vận dụng khi làm tập làm văn miêu tảcảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của người
Ví dụ : “ Thảo quả trên rừng Đản Khan đã chín nục Chẳng có thứ nào hương
thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quảgieo trên đất rừng một năm, đã lớn cao đến bụng người Một năm sau nữa, từmột thân cây lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽvậy ”
Ví dụ : “ Sầu riêng là loại trái cây quý của miền Nam Hương vị của nó hết
sức đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa… Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm….Hoađậu từng chùm màu trắng ngà Đứng ngắm cây sầu riêng , tôi cứ nghĩ mãi vềdáng cây kì lạ này Thân nó khẳng khiu , cao vút, cành ngay thẳng đuột…”
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng…
Trang 92.1.4 Ngoài trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng các giác quan ( thính giác, thị giác, xúc
giác, vị giác…) để quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ : Phân tích bài “ mưa rào” (Tiếng việt 5 – Tập 1 – Trang 33) ta thấy tácgiả đã quan sát các giác quan sau :
* Thị giác : Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi
* Xúc giác : Gió bỗng cảm thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước
* Khứu giác : Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trậnmưa đầu mùa
* Thính giác : Nghe thấy tiếng gió, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót củachào mào
2.1.5 Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài.
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầuhàng đầu là các em phải viết đúng đề bài Một đề bài đưa ra cho học sinh viếtthường ẩn chứa 3 yêu cầu : yêu cầu về thể loại ( kiểu bài ), yêu cầu về nội dung,yêu cầu về trọng tâm
Với đề bài trên , ẩn chứa 3 yêu cầu sau :
- Yêu cầu về thể loại của đề là miêu tả ( thể loại tả )
- Yêu cầu về nội dung là một buổi sáng ( hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“ cảnh một buổi sáng ( hoặc trưa, chiều )
- Yêu cầu về trọng tâm là : Ở trong một vườn cây ( hay trong công viên….)
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu Như đềbài “ Tả một cơn mưa ” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung Với đề bàinày, giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm củabài viết Chẳng hạn “ Tả một con mưa khi em đang trên đường đi học ”
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹpnên các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chungchung…
2.1.6 Biết lập dàn ý cho bài văn cụ thể :
Để giúp các em dễ dàng hơn trong việc tự lập dàn ý cho bài văn, khi dạy họccác bài cấu tạo của bài văn miêu tả (tả cảnh, tả người) tôi chủ động giúp các em
Trang 10dựa vào nội dung phần ghi nhớ trong sách giáo khoa, cùng xây dựng một dàn bàichung cho loại bài văn miêu tả đang học Dàn bài chung này tôi sẽ ghi cố định ởmột bảng phụ để làm cơ sở cho học sinh xây dựng dàn ý riêng cho mỗi bài vănmiêu tả sau này Dàn bài này cũng được sử dụng chung cho cả lớp trong các tiếttập làm văn có yêu cầu viết một đoạn văn hay hoàn chỉnh một bài văn.
Ví dụ : Khi dạy bài Cấu tạo của bài văn tả cảnh (sách giáo khoa lớp 5, tập 1,trang 11) sau khi giúp học sinh rút được nội dung ghi nhớ như trong sách giáokhoa, tôi sẽ chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dung câu hỏi gợi ý, dẫndắt cho các em nêu, để xây dựng dàn bài chung cho bài văn tả cảnh
Mở bài : Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả
Thân bài : tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian.Kết luận : Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết
2.1.7 Dạy học sinh cách dùng từ đặt câu
Điều đầu tiên là tôi giúp học sinh hiểu được câu văn đúng không chỉ là câuvăn có đủ chủ ngữ, vị ngữ mà còn biết dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả,biết sử dụng những hình ảnh, biện pháp nghệ thuật : so sánh, nhân hóa….Nhưvậy việc dạy các em dùng từ đặt câu không chỉ dừng lại ở tiết tập làm văn mà tôithường xuyên làm ở tiết tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện Đối với phân môntập đọc , gặp những câu văn, đoạn văn hay tôi thường dừng lại giúp học sinhhiểu câu văn, đoạn văn hay ở điểm nào, từ đó mà dần khắc sâu cho các em cáchdùng từ đặt câu trong khi viết đoạn văn
Đối với những học sinh chỉ ở mức độ hoàn thành , tôi chỉ yêu cầu các
em đặt câu ngắn gọn, đủ ý
Ví dụ : Tóc bà bạc trắng Dòng sông quê em rất đẹp Cây bàng sừng sững , hiênngang trước sân trường
Và từ những câu của học sinh ấy ,tôi gợi ý để học sinh năng khiếu có thể
phát triển những câu văn trên thành câu văn có hình ảnh so sánh, nhân hóa
Ví dụ :
- Tả bà : Tóc bà bạc trắng như cước
- Tả dòng sông : Dòng sông quê em đẹp như một dải lụa đào
- Tả cây bàng : Cây bàng sừng sững, hiên ngang như một người khổng lồđứng canh giữa trường…
Tôi còn dạy học sinh cách thể hiện cảm xúc trong khi tả.
Ví dụ :
- Tả dòng sông : Dòng sông quê em đẹp và thơ mộng lắm
- Tả em bé : Trông bé thật là thật đáng yêu
Trang 11- Tả mẹ : Con thương mẹ lắm, mẹ ơi ! Làn da mẹ rám nắng vì dãi dầu nắng
mưa, chăm lo cho chúng con…Đôi mắt mẹ luôn ánh lên những tia nhìn ấmáp
Để đoạn văn sinh động, hấp dẫn, việc sắp xếp các ý sao cho phù hợp , lô gíc trong là rất cần thiết Vì vậy bước tiếp theo là tôi dạy cho các em biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh miêu tả trong một đoạn văn.
* Chọn lựa, sử dụng từ ngữ giàu tính gợi tả, gợi cảm, nói viết câu văn có dung phép so sánh, nhân hóa phù hợp với đối tượng miêu tả :
việc dùng từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhânhóa khi viết văn sẽ giúp cho câu văn, bài văn trở nên sinh động hơn, mượt màhơn, ý tứ hơn và thu hút người đọc, người nghe hơn
Như vậy, việc giúp các em biết tìm từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp
để miêu tả sự vật cụ thể là vừa giúp phát huy tốt năng lực của mỗi học sinh, vừagóp phần cung cấp ý văn, từ ngữ phù hợp cho những học sinh khác
+ Cùng với việc giới thiệu một số hình ảnh cụ thể cho học sinh quan sát, giáoviên có thể gợi ý cho mỗi học sinh tự chọn chi tiết cụ thể của đối tượng cần miêu
tả, rồi tìm những từ ngữ, ý văn, câu văn, hình ảnh so sánh, nhân hóa mà mìnhcảm thấy phù hợp, hay có thể sử dụng để miêu tả chi tiết đó của đối tượng
+ Lớp nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phùhợp
+ Vận dụng chính những từ ngữ, câu văn, ý văn được lớp đám giá cao theo ýthích của riêng mình đưa vào bài của mình, tạo ra nét riêng trong chính bài làmcủa mình
* Biết học tập từ ngữ, ý văn, hình ảnh hay khi làm văn :
Nói cách khác là biết học tập, “trộm” những câu văn, ý văn mà mình đọcđược của bạn bè, thầy cô hay ở đâu đó rồi biến nó thành ý riêng trong câu văn,bài văn của mình Tôi khuyến khích các em tích cực đọc sách, báo hoặc bài vănhay (văn mẫu) và ghi chép lại những chi tiết, hình ảnh mình thích vào một cuốn
sổ tay Sau đó sẽ chọn lựa một số câu và ghi ra giấy dán vào mục “ Lời hay ýđẹp” ở lớp để giới thiệu cho các bạn khác cùng tham khảo Chính bản thân tôi làngười thường xuyên đọc những “ Lời hay ý đẹp” mà các em sưu tầm được để khigặp trường hợp có thể vận dụng, “trộm” những từ ngữ, ý văn đó mà các emkhông nhớ, không biết vận dụng, tôi sẽ chủ động gợi ý giúp các em nhớ lại, tậpvận dụng vào bài của mình Hoặc khi phát hiện các em biết học tập, bắt chướccách diễn đạt, cách dùng từ ngữ, ý văn của người khác (không sao chép), tôi sẽđộng viên khích lệ các em tiếp tục phát huy Ngoài ra, tôi còn thường xuyên tổ
Trang 12chức cho các em nhận xét, đánh giá bài của bạn (cách dùng từ, đặt câu… ) rồirút kinh nghiệm, vận dụng vào bài của mình theo các bước:
+ Chọn đọc bài, câu văn của bạn và trao đổi, bàn bạc, suy nghĩ tìm ý hay,cách chỉnh sửa những ý chưa hay, chưa phù hợp
+ Rút kinh nghiệm, học tập ở bài làm của bạn để bổ sung, chỉnh sửa bài làmcủa mình
*Làm giàu vốn từ cho học sinh
Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh qua từng bài đọc,từng bài tập ở các phân môn tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu cùng chủ điểm.Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, mộtcảnh vật haymột con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánhgiá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình kịp thời điều chỉnh những lỗidùng từ, viết câu, làm văn…
*Bài tập làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn tiếng việt :
Môn tập đọc giúp các em hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, hiểu được nội dungcủa các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả ( cảnh vật, con người ….) Mỗi tiếtdạy tập đọc nên thêm vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả của tácgiả để học sinh thấm dần về tập làm văn miêu tả
Môn luyện từ và câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiềunhất khi dạy các tiết mở rộng vốn từ Trong các tiết này có các bài tập mở rộngvốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặtcâu, sắp xếp các từ thành từng nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoạihình, nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động…
- Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ:
Ví dụ 1:
- Tìm từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông (bì bọp, ì ọp, ì ầm, xôn xao, ào
ào…)
Ví dụ 2:
- Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với dòng sông: dòng sông như dải
lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như mẹ hiền ôm ấp đồnglúa chín vàng …
*Sử dụng từ ngữ trong miêu tả :
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh cáccách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối
Trang 13(đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt …), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh,nhân hóa, lặp từ…)
*Biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh miêu tả :
Để thực hiện những yêu cầu trên, tôi thường hướng cho học sinh thực hiệnthật tốt từng bước :
- Xác định cụ thể và chọn một đối tượng cần quan sát (đó là cảnh gì )
- Quan sát sự vật bằng các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác và cảxúc giác Trước tiên là quan sát bao quát đối tượng và cảm nhận, rồi quan sát đốitượng theo một trình tự nhất định (từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ xa đếngần) tìm ra những đặc điểm tiêu biểu, nỗi bật của cảnh để tả
- Kết hợp quan sát là ghi chép (ghi chép những điều quan sát được) và liêntưởng (liên tưởng để so sánh Nhân hóa sự vật)
Để nói và viết câu văn giàu hình ảnh, tôi dạy cho các em biết chọn lựa, sử dụng từ ngữ giàu tính gợi tả, gợi cảm
*Dạy học sinh cách sắp xếp ý, bố cục cho đoạn văn
Khi viết đoạn văn, điều trước tôi giúp các em sắp xếp các ý theo trình tựhợp lí : Từ ngoài vào trong, từ xa đến gần hay từ trên xuống dưới…
* Đối với kiểu bài văn tả cảnh
Ví dụ : Khi tả ngôi nhà không thể tả cổng nhà, phòng khách, rồi lại quay ra tảsân nhà mà cần hiểu trình tự từ ngoài vào trong là : cổng nhà, sân nhà, các phòngtrong nhà Hoặc nếu miêu tả cảnh thì sắp xếp câu theo trình tự thời gian, khônggian…
Ví dụ : Tả dòng sông thì có thể tả theo trình tự thời gian : buổi sáng, buổitrưa, buổi tối…tả cảnh cánh đồng có thể tả theo trình tự không gian, từ trênxuống dưới như : bầu trời, đám mây, ánh nắng, mặt đất, cây lúa, giọt sương…
* Đối với kiểu văn tả người : Kiểu bài này đơn giản hơn tả cảnh vì có bố cục
rõràng.Bao giờ cũng bắt đầu miêu tả hình dáng, tả tính tình, hoạt động chứkhông thể là ngược lại Riêng học sinh năng khiếu có thể lồng cảm xúc trong khi
tả ngoại hình, thể hiện được vài nét tiêu biểu về tính tình của người được tảthông qua ngoại hình của người được tả
Biết diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu văn lôgic, biết kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt :
* Tập diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu văn logic:
Các em sẽ biết tự diễn đạt câu văn trọn khi các em biết sắp xếp các từ ngữthành câu văn đúng ngữ nghĩa, biết sắp xếp các câu văn thành đoạn văn logic,đúng chủ đề Tuy nhiên, đây là việc làm rất khó, cần được tập luyện thường
Trang 14xuyên và khá mất thời gian, mà thời gian ở các tiết học Tập làm văn lại có hạn,
vì vậy bản thân tôi thường thực hiện không chỉ ở các tiết Tập làm văn mà ở cảtiết học khác như Luyện từ và câu hay Chính tả Với những bài tập có yêu cầuliên quan đến việc phải trình bày, sắp xếp các ý, câu văn logic, hoặc ở một số tiếtTập làm văn tôi thường chủ động chuẩn bị các từ ngữ, câu văn theo chủ đề nhấtđịnh đủ dung cho học sinh hoạt động theo dự kiến Cho các từ ngữ, yêu cầu họcsinh dùng những từ ngữ đó sắp xếp lại thành những câu văn hoàn chỉnh (hoặcdung những câu văn sắp xếp thành đoạn văn) theo chủ đề mà giáo viên yêu cầu.Tiếp đó có thể tổ chức nhận xét, đánh giá, sửa chữa Cần đánh giá, nhận xét trên
sự sang tạo của học sinh, tôn trọng ý tưởng của học sinh, không nhất thiết phảiđúng theo mẫu ấn định sẵn Tuy nhiên cũng cần phải điều chỉnh, sửa chữa nếuchưa phù hợp Ngoài ra, ngay cả các em trả lời câu hỏi của thầy cô, của bạn bèhoặc khi yêu cầu các em trình bày một vấn đề nào đó, tôi đặc biệt chú trọng đếncách trình bày, diễn đạt của các em (nhất là với những học sinh yếu) Khi thấyhọc trò trình bày vấn đề lủng củng, không rõ ràng hoặc sử dụng từ ngữ khôngphù hợp, tôi sẽ nhận xét khéo và gợi ý, tập cho các em và cả các bạn khác cùngcân nhắc, diễn đạt lại vấn đề sao cho trôi chảy, rõ rang, đầy ý, và dễ hiểu
2.2 Giáo viên chấm bài và trả bài viết
- Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 3 tiết trả bài tả đồ vật, cây cối, con vật Ta nhận thấy rằng có chấmbài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả
2.2.1 Chấm bài:
- Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để
có cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đãlàm bài đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa Tôi ghi ra sốchấm bài những chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì… của từng HS
- Khi chấm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học
sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa
bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…
2.2.2 Trả bài viết:
- Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn lớp 5, theo
sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:
1 Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp
2 Chữa bài
3 Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rútkinh nghiệm (TV5 - T1- T53)