Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển nănglực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau: Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh t
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài:
Theo ông Nguyễn Vinh Hiển- nguyên thứ trưởng Bộ GD- ĐT: "Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí và tầm quan trọng số một ở nhà trường THPT và không bị bất cứ quốc gia nào coi nhẹ Tuy vậy làm thế nào để môn học Ngữ văn xứng đáng với vị trí và tầm quan trọng của nó thực sự là thách thức lớn mà vai trò quyết định thuộc về các nhà giáo "
Để ngày càng làm tốt hơn sứ mệnh thiêng liêng đó của mình, các nhà giáoluôn không ngừng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Một trong những nộidung đổi mới phương pháp dạy học là dạy học theo định hướng phát triển năng lựchọc sinh Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển nănglực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học
sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những trithức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hànhcác hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đãbiết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các
tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi vàphát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích,tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hìnhthành và phát triển tiềm năng sáng tạo
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết vàkinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt
tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chútrọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiềuhình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêuchí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
Văn học trung đại Việt Nam là một mảng lớn trong cấu trúc chương trìnhNgữ văn THPT và được phân phối giảng dạy chủ yếu ở chương trình lớp 10 vàhọc kỳ I của chương trình lớp 11 Nhưng, thực tế là dạy văn học trung đại ViệtNam cho học sinh lớp 10 gặp rất nhiều khó khăn so với các phần văn học khác
Ví dụ như: Học sinh khó tiếp cận do rào cản về ngôn ngữ, văn tự, khoảng cách
về văn hóa giữa quá khứ và hiện tại, những khó khăn trong việc kiếm tìm tư liệutham khảo, đặc biệt là dạng sách tuyển chọn những tác phẩm nguyên gốc
Trong chương trình SGK Ngữ văn 10, tập 2, học sinh được học một trích
đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm của Đặng
Trần Côn) Vì đây là một trích đoạn thuộc tác phẩm văn học trung đại nên nếugiáo viên không thực sự chú ý đến phương pháp dạy học thì học sinh khó màtiếp cận được bài học này một cách thấu đáo
Qua thực tế giảng dạy, trên tinh thần bám sát các nội dung đổi mới, tôi đãnhận thấy sự khác biệt giữa trước và sau khi vận dụng đổi mới phương pháp dạy
Trang 2học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Chính vì vậy, tôi xin mạnhdạn trình bày một số kinh nghiệm của mình chia sẻ cùng đồng nghiệp qua đề tài:
"Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua văn bản "Tình
cảnh lẻ loi của người chinh phụ" (Trích Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn),
Tiết PPCT 73;74;75, Ngữ văn 10 Cơ bản, tập 2
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Bản thân tôi muốn áp dụng phương pháp dạy học mới vào bài học nàynhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy- học đọc văn trong trường học, phát huy nănglực học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động và nâng cao niềm say mê, yêuthích môn học Ngữ văn ở học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết về:
Phương pháp tổ chức triển khai có hiệu quả bài dạy đọc văn:"Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"(Trích Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn), Tiết 73;74;75, Ngữ
văn 10 Cơ bản, tập 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:
+ Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học
+ Nghiên cứu các tài liệu tham khảo
- PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- PP thống kê, xử lý số liệu: Phương pháp thống kê thực nghiệm tính hệ sốtương quan thứ bậc và so sánh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.1 Khái niệm “dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh”:
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là hình thức tổ chứcphối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào quá trình hơn làkết quả Quá trình dạy học đúng cách sẽ dẫn đến kết quả đúng như mong đợi vàngược lại, trong quá trình học giáo viên cần trú trọng đến hình thức học đi đôivới hành của học sinh
Mục tiêu của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinhlà: Tạo môi trường học tập năng động, vui vẻ, tạo cảm hứng thích thú và hamhọc hơn của học sinh; Học sinh được trải nghiệm phương thức học đi đôi vớihành; Học sinh được phép đưa ra ý kiến, quyết định về việc học tập của bảnthân, cách sáng tạo và áp dụng kiến thức cũng như trình bày sản phẩm học tậpcủa mình; Tạo ra những buổi học tập trải nghiệm có ý nghĩa, tích cực, phù hợp
và hữu ích; Học sinh sẽ nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ giáo viên dựa trên nhucầu học tập cá nhân; Học sinh được tham gia các buổi thực hành đa dạng giúpphát triển năng lực của bản thân một cách toàn diện; Tạo sự công bằng cho tất cảhọc sinh trong quá trình học tập theo định hướng phát triển năng lực, đảm bảođược tất cả học sinh đều có thể phát huy được hết khả năng của bản thân trongquá trình học
Thuận lợi của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinhlà: Áp dụng được cho tất cả các đối tượng học sinh, bất kể là nền tảng kiến thứchay trình độ hiểu biết; Thiết lập được sự công bằng trong quá trình học tập và
Trang 3giúp học sinh nắm chắc “chất lượng kiến thức”; Tạo dựng được mối quan hệ gắnkết giữa học sinh và giáo viên; Học sinh được chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng cầnthiết để hỗ trợ việc học và tương lai sau này; Học sinh được hỗ trợ để phát triểnmọi mặt, phát hiện và phát triển thế mạnh của bản thân; Học sinh được thỏa sức
tư duy sáng tạo, từ đó có thể khai thác hết những năng lực của học sinh
2.1.2 Thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn:
Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo (GD & ĐT) mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (NQ29-NQ/TW) đề ra, Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra phương hướng: Giáo dục làquốc sách hàng đầu Phát triển GD & ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bịkiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học;
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo, của Sở giáo dục
và đào tạo Thanh Hóa và nhà trường về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trong những năm gần đây số lượng học sinh quan tâm, yêu thích môn Văn
có chiều hướng giảm đi Những học sinh học văn không phải toàn là những họcsinh giỏi Ngay cả với học sinh trường chuyên, chỉ số ít các em vẫn còn giữđược lòng say mê văn chương thực sự Hơn nữa văn học là một bộ môn khóchiếm lĩnh Các em dù thích môn Văn nhưng không phải em nào cũng có khảnăng tiếp thu dễ dàng
Việc đổi mới phương pháp dạy học ở giáo viên vẫn chưa thực sự đồng bộ,
có chất lượng Số giáo viên thường xuyên, chủ động, sáng tạo trong việc phốihợp các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực và sángtạo của học sinh còn chưa nhiều Dạy học vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức
lí thuyết Việc rèn luyện kĩ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thựctiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sựđược đạt hiệu quả Việc ứng dụng công nghệ, thông tin và truyền thông, sử dụngcác phương tiện dạy học chưa được rộng rãi
Văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ thuộc bộ phận văn học trung
đại Phần lớn tác phẩm văn học trung đại được viết bằng chữ Hán- thứ chữ vaymượn- nên khó hiểu, khô khan Lối viết theo hệ thống thi pháp cũ: dùng nhiềuđiển tích, điển cố; sử dụng lối tả ước lệ, tượng trưng, có nhiều từ ngữ cổ điểnnay ít sử dụng, khó thuộc, khó nhớ, gây nhiều trở ngại cho việc tạo hứng thú họctập ở học sinh Đời sống được phản ánh trong tác phẩm văn học trung đại là bốicảnh xã hội từ nhiều thế kỷ trước nên xa lạ với học sinh Dẫn đến làm cho các
em khó cảm nhận về giá trị nội dung tư tưởng; Tình cảm, tư tưởng , suy nghĩ củangười xưa rất khác ngày nay khiến học sinh khó đồng cảm Bên cạnh đó, dodung lượng tác phẩm khá lớn (gồm 476 câu thơ) nên khi đưa vào chương trìnhSGK, học sinh chỉ được học một trích đoạn gồm 24 câu thơ Với áp lực thời giancủa một vài tiết học, giáo viên không thể truyền đạt cho học sinh niềm say mêvăn học mà phải vội vàng giảng những điều chung chung, khái quát về tácphẩm Học sinh có thể chỉ được tiếp cận tác phẩm ở bề mặt Trong khi đó,những tác phẩm được đưa vào chương trình SGK đều là những tác phẩm đã quachọn lọc của thời gian và bao thế hệ người đọc cho nên đều có giá trị nhân văn
Trang 4sâu sắc, là mảnh đất màu mỡ của tâm hồn Nhưng nếu chỉ sử dụng phương phápgiảng bình truyền thống học sinh không thể tự mình cày sâu tới những lớp nghĩatận cùng trong tác phẩm Kết quả là những cái cây mọc trên cánh đồng màu mỡnhững lại không thể chạm tới lớp đất sâu đầy dinh dưỡng để lớn lên thành cây toxanh tốt.
Như vậy, khi chưa áp dụng một số kinh nghiệm dưới đây, tôi thây đa số họcsinh không hứng thú học tập, “ngại” tiếp cận văn học trung đại Từ đó, học sinhtiếp thu bài không tập trung, nắm kiến thức không chắc và kết quả kiểm tra thấp
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Tác phẩm Chinh phụ ngâm - như đã nói ở trên - ra đời trong hoàn cảnh
khá đặc biệt của cả xã hội lẫn văn học Đây là điều kiện thích hợp để giáo viêntích hợp với kiến thức môn Lịch sử
Trong phần tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, tôi sẽ dẫn dắt họcsinh tìm hiểu về kiến thức lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII Kiến thức này các em đã được học ở trong chương trình lịch sử lớp 10 cơ
bản Đó là Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ XVI- XVIII Bài học này nhằm cung cấp cho các em những đơn vị kiến thức
sau:
- Sự sụp đổ của nhà Lê dẫn đến sự phát triển của các thế lực phong kiến
- Nhà Mạc ra đời và tồn tại hơn nửa thế kỷ đã góp phần ổn định xã hộiphong kiến trong một thời gian
- Chiến tranh phong kiến diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷXVI- XVIII dẫn tới sự chia cắt đất nước
Như vậy, học bài này, một lần nữa giáo viên tạo điều kiện cho học sinh ôntập, củng cố lại kiến thức lịch sử, một mặt càng hiểu rõ hơn hoàn cảnh ra đời củatác phẩm Từ đó học sinh càng có cơ hội nắm chắc thực chất nội dung văn bản
2.3.1.2 Tích hợp giữa Đọc văn- Tiếng Việt- Làm văn:
Để đáp ứng với yêu cầu dạy học Ngữ văn theo định hướng hình thành vàphát triển năng lực học sinh cần chú ý đến việc dạy học Ngữ văn theo hướngtích hợp ba phân môn Đọc văn- Tiếng Việt- Làm văn Bởi tác phẩm văn họcđược coi là nghệ thuật của ngôn từ Việc tiếp nhận văn bản trước hết là tiếp xúcvới phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Mặt khác, việc thực hành tạo lập văn bảntrong nhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Vì thế trong tiếthọc, 3 phân môn Văn - Tiếng Việt- Làm văn sẽ được phối hợp triển khai đểcùng hướng tới một mục đích chung là nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việtcho học sinh Cụ thể là hình thành 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ đó hìnhthành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ thuật
Trang 5một cách chủ động, tích cực, từng bước hình thành và phát huy năng lực tư duy
và giao tiếp bằng Tiếng Việt
Trong văn bản này có nhiều chi tiết đáng chú ý có thể thực hiện tích hợpđược kiến thức Ví dụ như khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu đoạnthơ sau:
"Gà eo óc gáy sương năm trống Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan".
Tôi đã yêu cầu học học sinh sử dụng các kiến thức Tiếng Việt để cảm thụ vănbản Học sinh sẽ phát hiện ra đoạn thơ được tác giả sử dụng các biện pháp tu từnhư:
- Từ láy:
+ Eo óc, phất phơ Đây là những từ láy có tính tượng hình (phất phơ) vàtượng thanh (eo óc) Hai từ láy giúp diễn tả không gian và thời gian giúp ngườiđọc hiểu được hoàn cảnh và tâm trạng của người chinh phụ: Người chinh phụ xachồng đã thao thức suốt năm canh trong không gian đêm hoang vắng, cô tịch
+ Dằng dặc, đằng đẵng: Cụ thể hóa mối sầu của người chinh phụ Đằngđẵng là cảm giác trải nghiệm sự chất chồng đầy sức nặng của thời gian mongnhớ Dằng dặc là sự thấu tỏ cái lê thê vô cùng Sức gợi của hai câu thơ dịchchính là ở nghệ thuật sử dụng từ láy tiếng việt
- So sánh: Khắc giờ- niên ; Mối sầu- biển
-> Thời gian tâm trạng, thời gian của sự xa cách và nhớ nhung
- Điệp từ: "gượng":
Được nhắc lại ba lần Học sinh nắm được tác dụng của biện pháp điệpchính là sự nhấn mạnh Ở đây học sinh sẽ cảm nhận được người chinh phụ đangmiễn cưỡng làm những việc mà chính cô cũng không thiết tha chăm chú gì Đốthương để tìm sự thanh thản mà tâm hồn lại mê man, bấn loạn Trang điểm làthói quen hàng ngày của người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ trẻ Nhưng soigương mà không cầm được nước mắt, thấy tuổi xuân cứ dần dần phai trêngương mặt, hình ảnh cứ nhòe mờ đi Gảy đàn là thú vui tao nhã thường làm đểquên đi nỗi buồn nhưng cây đàn sắt cầm thường ví với cảnh vợ chồng hòa hợp,dây uyên, phím loan diễn tả những đôi chim uyên ương, loan phượng không baogiờ sống tách rời nhau chỉ càng làm cho nàng chạnh lòng, càng gợi nỗi cô lẻ củanàng trong đêm thanh vắng Hơn nữa nàng có một dự cảm về một điều khôngmay sẽ xảy ra với chồng nàng nơi biên ải xa xôi, dự cảm về sự chia lìa đôi lứa
Như vậy, khả năng tích hợp giữa 3 phân môn được thực hiện khá hiệuquả: thông qua việc hướng dẫn học sinh tìm ra những biện pháp tu từ trong tiếngViệt, học sinh sẽ tự mình dần dần khám phá được ý nghĩa của văn bản Nghĩa là
khả năng cảm thụ, bình giá chi tiết, văn bản trong học sinh được phát huy (Đọc văn) Hơn nữa, thêm một lần nữa kiến thức tiếng Việt của học sinh được củng
cố vững chắc hơn (Tiếng Việt) Cuối cùng, tôi giao luôn nhiệm vụ cho học sinh
làm bài tập ở nhà bằng việc sử dụng ngay câu hỏi phần luyện tập trong sách giáo
Trang 6khoa: Hãy vận dụng các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích trên
để viết một đoạn văn(hoặc đoạn thơ) ngắn miêu tả một nỗi buồn hay niềm vui
của bản thân anh chị.(Làm văn)
2.3.1.3 Tích hợp giữa Ngữ văn và môn giáo dục công dân:
Môn giáo dục công dân trường THPT có nhiệm vụ cung cấp cho học sinhmột số kiến thức về giá trị đạo đức và pháp luật cơ bản, cần thiết và một số kiếnthức về kinh tế, chính trị, triết học, mĩ học ở mức phù hợp với lứa tuổi
Khi dạy tiết học này tôi thường giúp học sinh liên hệ tới những tiết học khác củamôn giáo dục công dân Ví dụ như:
Sau khi phân tích về tính chất của cuộc chiến tranh, học sinh sẽ liên hệ tớinhững cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Từ đó giáo viên có thể tích hợp được
với kiến thức của Bài 14 chương trình GDCD 10: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bài học này sẽ giúp học sinh: hiểu được thế nào là
lòng yêu nước, truyền thống yêu nước của dân tộc việt Nam và các biểu hiện cụthể của lòng yêu nước Việt Nam; Hiểu được trách nhiệm của công dân, đặc biệt
là học sinh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa; ?Yêu quý quê hương, đất nước; tự hào về truyền thống tốt đẹp của dântộc; có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệquê hương, đất nước
Như vậy, từ việc thấy được tính chất của cuộc chiến tranh, học sinh sẽthấy được hậu quả của nó Đây là cuộc chiến tranh phong kiến nên nó càng gây
nê nỗi đau lớn cho con người Thông qua đó học sinh sẽ cảm nhận được tráchnhiệm của mình trong việc
2.3.2 Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực:
2.3.2.1 Phương pháp thảo luận nhóm:
PPDH nhóm không phải là phương pháp hoàn toàn mới, ngay từ khi BộGiáo Dục chủ trương: dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, PP này đã được
sử dụng rộng rãi bởi đây là một PP ưu việt trong việc thúc đẩy HS tự chiếm lĩnhkiến thức Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được
sự tham gia tích cực của học sinh trong học tập Dạy học theo nhóm là một hoạtđộng học tập có sự phân chia học sinh theo từng nhóm nhỏ với đủ thành phầnkhác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng, một nguồn kiến thức dựa trên cơ
sở hoạt động tích cực của từng cá nhân Từng thành viên của nhóm không chỉ cótrách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việchọc tập của các thành viên trong nhóm Hoạt động nhóm hợp lí, tích cực sẽ giúp
HS rèn luyện các kĩ năng: đảm nhận trách nhiệm, hợp tác, chia sẻ, thươnglượng, giải quyết mâu thuẫn, giải quyết vấn đề,
Ở tiết học này, sau khi sử dụng kĩ thuật tích hợp với kiến thức lịch sử đểdẫn dắt vào bài học- như đã nói ở trên- tôi đã chia nhỏ lớp học thành 4 nhóm với
ba nhiệm vụ cụ thể để đi vào phần I Tìm hiểu chung:
Nhóm 1: Tìm hiểu những thông tin cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp của tácgiả Đặng Trần Côn
Nhóm 2: Tìm hiểu những thông tin cơ bản về vấn đề dịch giả?
Nhóm 3: Tìm hiểu những thông tin cơ bản về tác phẩm Chinh phụ ngâm/
Trang 7Nhóm 4: Tìm hiểu những thông tin cơ bản về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ?
(Xem phụ lục)
Yêu cầu: Các nhóm phải thảo luận và tìm ra những điểm chính về cuộcđời và sự nghiệp thơ văn của tác giả, ghi vào phiếu học tập, sau đó trình bàybằng máy chiếu đa vật thể Khuyến khích học sinh sưu tầm các dẫn chứng vàhình ảnh minh họa Ngoài ra, tôi còn lưu ý là HS phải chỉ ra được đóng gópriêng của từng tác giả hoặc dịch giả ấy Khi một nhóm lên trình bày, nhiệm vụcủa các nhóm khác là theo dõi, đặt câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề và ghi nhậnnhững nội dung thống nhất Nếu tất cả các nhóm đều làm tốt thì chúng ta chotiến hành bốc thăm trình bày Khi nhóm thứ nhất lên trình bày thì nhiệm vụ củacác nhóm còn lại là phải theo dõi, đặt câu hỏi cho nhóm được trình bày nếu thấyvấn đề được trình bày chưa rõ và có thể dùng bài soạn của nhóm mình để trìnhbày minh họa bổ sung cho những luận điểm mà nhóm đã được trình bày cònthiếu Nếu thời gian cho phép, chúng ta cũng có thể cho các nhóm lần lượt trìnhbày để HS có sự đối chiếu cụ thể Tuy nhiên, nếu muốn giờ dạy có hiệu quả hơnthì chúng ta nên theo dõi quá trình hoàn thiện sản phẩm của HS để có những gợi
ý cho HS điều chỉnh phù hợp Dĩ nhiên là để phát huy năng lực sáng tạo của HS,
GV chỉ gợi ý, khuyến khích, động viên chứ không nên gò ép HS theo ý củamình Điều quan trọng là sau khi HS trình bày, thảo luận bao giờ GV cũng phải
có phần nhận xét, chốt ý và có những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để giúp HS hiểu
rõ hơn những nội dung chưa được thể hiện, hoặc thể hiện chưa sâu
2.3.2.2 Phương pháp vấn đáp- gợi mở:
Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường phải sửdụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiếnthức, kỹ năng mới Sử dụng câu hỏi hiệu quả nhằm kích thích, dẫn dắt học sinhsuy nghĩ, khám phá, tạo mọi điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình họctập Ngoài ra giáo viên còn kiểm tra, đánh giá được kiến thức, kĩ năng của họcsinh và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung bài học
Ở bài này, có thể sử dụng các loại câu hỏi sau:
- Câu hỏi tái hiện:
Dạng câu hỏi này thường phù hợp để hỏi về những kiến thức có tính chấtthông tin, cố định Cụ thể trong môn Văn là những thông tin về tác giả, tácphẩm Ở bài học này, tôi vận dụng kiểu câu hỏi tái hiện để yêu cầu học sinh tìmhiểu kiến thức cơ bản về tác giả và dịch giả Câu hỏi cụ thể là:
+ Trình bày những hiểu biết của em về tác giả Đặng Trần Côn?
+ Em hãy nêu những hiểu biết cơ bản nhất của mình về dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích?
+ Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
+ Hãy chỉ ra yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ?
- Dạng câu hỏi gợi mở:
Đây là dạng câu hỏi giúp học sinh tìm hiểu văn bản, lí giải, phân tích, cảmnhận được các chi tiết cụ thể Câu hỏi có thể sử dụng là:
+ Theo em, những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ?
+ Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ?
Trang 82.3.2.3 Phương pháp trình bày một phút:
Đây là phương pháp tạo cơ hội cho học sinh có thể trình bày ngắn gọn và
cô đọng với các bạn cung lớp về một vấn đề nào đó Sử dụng phương pháp nàyhọc sinh có quyền và cơ hội được bày tỏ quan điểm, năng lực và suy nghĩ củachính bản thân mình Thông qua đó GV cũng có thể hiểu được học sinh và khảnăng nắm bắt kiến thức của học sinh Trong thời đại khẳng định quyền dân chủhiện nay việc biết trình bày một vấn đề lại càng có vai trò quan trọng Hơn nữa
sử dụng phương pháp này còn hình thành được cho học sinh một kỹ năng giaotiếp rất quan trọng trong cuộc sống
Cụ thể ở tiết học này, sau khi cho học sinh tìm hiểu nỗi cô đơn, lẻ loi, nỗisầu thảm của người chinh phụ, tôi đã đặt vấn đề với học sinh như sau:
Ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ cuộc chiến tranh nào dù chính nghĩa, hay phinghĩa thì những nạn nhân của chiến tranh luôn là những con người đáng thươngnhất Hậu quả của chiến tranh là khôn lường đối với bất kỳ quốc gia, dân tộcnào Vậy:
GV nêu vấn đề:
+ Theo em điều quan trọng nhất mà em rút ra được sau bài học này là gì? + Theo em còn điều gì quan trọng ở bài học này chưa được làm rõ? + Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề chiến tranh và hòa bình? + Trong tình hình hiện nay, vấn đề biển Đông đang được quan tâm đặc biệt Chủ quyền biển đảo Việt Nam đang có nguy cơ bị xâm phạm Vậy em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của của tuổi trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và lãnh thổ Việt Nam?
Sau khi suy nghĩ, thảo luận, học sinh sẽ trình bày kết quả trong khoảngthời gian 1 phút
2.3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thôngtin đã được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong bốicảnh đó, việc áp dụng các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại cùng với ứngdụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học là một yêu cầu khách quan vàcấp thiết
Ở bài học này, tôi soạn giảng giáo án điện tử bằng phần mềm PowerPoint, sửdụng máy tính, máy chiếu, máy chiếu đa vật thể, loa làm phương tiện hỗ trợ cho giờhọc Máy chiếu sẽ giúp trình chiếu những kiến thức cơ bản nhất của bài học cần cungcấp cho học sinh Máy chiếu đa vật thể phát huy được hai chức năng cơ bản, vừa quansát các nhóm học sinh trao đổi thảo luận trong giờ học, vừa giúp các nhóm trình chiếukết quả thảo luận theo nhóm của mình lên màn hình để các nhóm khác theo dõi, bổsung ý kiến Bên cạnh đó, sử dụng máy chiếu sẽ giúp giáo viên cung cấp thêm nhữnghình ảnh tư liệu về tác giả , tác phẩm tiêu biểu của nhà văn, về dịch giả, về tác phẩmChinh phụ ngâm Có thể nói, với việc sử dụng đa dạng các phương tiện thiết bị nhưtrên, giờ học thực sự hấp hẫn, sinh động, lôi cuốn học sinh
Mở đầu bài học bằng việc nghe nhạc là một việc làm tạo được hứng thúrất lớn cho học sinh Tôi sẽ cho học sinh nghe một đoạn bài hát "Người mẹ củatôi " (Sáng tác: Xuân Hồng) nói về nỗi đau của người mẹ có con ra trận khôngtrở về Bản thân tôi cũng có một chút năng khiếu về ca hát, ngâm thơ Trong tiết
Trang 9học này tôi cũng đã cho học sinh nghe bằng chính giọng ngâm của mình một
đoạn lời bài thơ "Mong chờ" của nhà thơ Tô Hoàn:
Khi lấy anh, chị mười tám tuổi Hai mươi năm cài then cửa chờ chồng Hai mươi năm nước mắt đầm áo gối Đêm mùa nào với chị cũng mùa đông
Mỗi ngày nhớ mỏi mòn đôi mắt chị Hai mươi năm mong một lá thư về Hai mươi năm chờ tay anh gõ cửa Ngọn đèn lùa lừa chị những canh khuya
Âm nhạc có khả năng truyền tải cảm xúc rất lớn Sau khi nghe xong đoạnthơ, cùng với phần bài hát ở đầu, học sinh sẽ rút ra đươc nhiều nhận xét bổ ích
Đó là hình ảnh những người phụ nữ có điểm tương đồng Họ đều đang rất côđơn, lẻ loi, mong chờ người con, người chồng của mình nơi phương xa Nỗimong chờ ấy không hề có ai chia sẻ Nếu người chinh phụ mong con chimthước báo tin về người chồng nơi chiến trận thì người phụ nữ trong thơ hiện đại
cũng hai mươi năm mong một lá thư về Có đêm họ nhìn thấy hoa đèn (Hoa đèn kia với bóng người khá thương) Người xưa tin có hoa đèn là nhà sắp có tin vui Vậy mà cái hoa đèn cũng lừa chị nốt! (ngọn đèn lùa lừa chị ) Qua đó học sinh
thấy được hình ảnh những người mẹ, người vợ khổ đau trong chiến tranh Từ đóhọc sinh sẽ có một sự đồng cảm sâu sắc đối với những người phụ nữ có chồng đichiến trận Trên cơ sở đó các em sẽ biết lên án chiến tranh, thông cảm cho khátkhao được sống, khát khao hạnh phúc lứa đôi của những người phụ nữ xưa vànay
2.3.2.5 Phương pháp trò chơi:
Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ Văn ở THPT vừa là mộthoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục bằng trò chơi -một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng.Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với những phươngpháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay
Thường thì sau 3 tiết học miệt mài cho một môn học, dù có là học sinhyêu văn chương đến mấy cũng sẽ có lúc cảm thấy nhàm chán Giải pháp lồngghép trò chơi sẽ làm thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêmhứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị,mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo,… Hứngthú và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức,hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học sinh qua bộ môn Văn
Thực hiện ở tiết học này, tôi đã vận dụng trò chơi Ai nhanh hơn để khởi
động ở đầu buổi học (xem giáo án thể nghiệm) và củng cố bài học cho học sinhvào cuối buổi học Phần trò chơi củng cố bài học cụ thể như sau:
Chia lớp thành 4 đội chơi Mỗi tổ là một đội Chuẩn bị cho mỗi tổ mộtchiếc chuông
Phổ biến luật chơi: sẽ có 10 câu hỏi liên quan đến nội dung bài học Mỗicâu có 4 phương án trả lời theo hình thức trắc nghiệm A, B, C, D Sau khi người
Trang 10quản trò (là giáo viên hoặc chọn ra 1 học sinh trong lớp có khả năng dẫn chươngtrình) đọc xong câu hỏi và các phương án trả lời, đội nào bấm chuông nhanhnhất sẽ giành quyền trả lời Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm Trả lời sai không
có điểm Nếu trả lời sai các đội còn lại có quyền bấm chuông xin trả lời
Hết 10 câu hỏi, đội nào được nhiều điểm nhất là đội chiến thắng Độichiến thắng sẽ nhận được quà của giáo viên (Có thể chuẩn bị những món quànhỏ nhưng thú vị hoặc cho điểm cả nhóm.)
2.3.5 Thiết kế giáo án thể nghiệm
Do khuôn khổ của một sáng kiến kinh nghiệm không thể đưa lên bàigiảng điện tử Xin chia sẻ cùng đồng nghiệp bài soạn dưới đây:
Tiết 73;74;75: Đọc văn:
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
(Trích “ Chinh phụ ngâm”)
Nguyên tác: Đặng Trần Côn Dịch giả : Đoàn Thị Điểm (?)
I Mục tiêu bài học:
a Kiến thức:
Giúp học sinh:
- Thấy được nỗi nhớ thương chinh phu da diết, nỗi cô đơn sầu tủi vô hạn,
khát khao hạnh phúc lứa đôi âm thầm mà mãnh liệt của người cô phụ Đó cũng
là ý nghĩa nhân văn của đoạn trích
- Nắm được ý nghĩa đề cao hạnh phúc lứa đôi của tác phẩm Nắm đượcnghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, nghệ thuật tả cảnhngụ tình của đoạn trích
b Kĩ năng:
- Rèn luyện kỹ năng phân tích nội tâm nhân vật trong tác phẩm trữ tình
- Kỹ năng đọc diễn cảm, kỹ năng phân tích thơ trữ tình, thơ tả cảnh ngụ tình
- Góp phần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng:
- Độc lập, tự giác, tự chịu trách nhiệm trước nhóm
- Ngợi ca sự đợi chờ thủy chung, son sắt của chinh phụ khi người chồng
đi chinh chiến ngoài biên ải xa xôi
- Có thái độ phê phán chiến tranh phi nghĩa
d Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
-Năng lực giải quyết vấn đề
-Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Trang 11- Năng lực cảm thụ văn học
II Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
1 Chuẩn bị của giáo viên:
- SGK, SGV, thiết kế bài giảng, các tài liệu liên quan
- Máy chiếu Projector, máy chiếu đa vật thể, máy tính kết hợp với bàigiảng điện tử soạn trên powerpoint Loa kết nối máy tính
- Sử dụng các hình ảnh minh họa về bìa tác phẩm Chinh phụ ngâm”, cácbức tranh họa lại nội dung của tác phẩm,
- Sử dụng một số video clip ( trích đoạn ngâm của nghệ sĩ ngâm thơ ĐàoThúy; Video ca khúc “Người mẹ của tôi”- sáng tác Xuân Hồng)
2 Chuẩn bị của học sinh:
- SGK, SBT, trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài
- Vẽ tranh theo yêu cầu mà giáo viên nêu trong bài học
- Sử dụng các sơ đồ tư duy do học sinh chuẩn bị ở nhà
- Giáo viên chia lớp thành 2
đội chơi thực hiện trò chơi với
yêu cầu sau:
Hãy lần lượt thay nhau kể các
tính từ thể hiện tâm trạng của
một người phụ nữ phải xa
người yêu, người chồng của
mình
- GV là người quản trò, điều
khiển trò chơi và tính điểm
cho mỗi đội
- Suy nghĩ và kể các từ thể hiệntâm trạng của một người phụ nữphải xa người yêu, người chồng
của mình.
- Các cá nhân trong đội có thểthay thế cho nhau nếu người đạidiện chưa kịp trả lòi từ cần tìm(Đội nào đến lượt mà không kểđược từ cần tìm thì bị thua cuộc)
- Có thể kể
đến các từ
như:Nhớ nhung, cô đơn, lẻ loi,
vò võ, bồn chồn, bâng khuâng, cồn cào, quay quắt, hiu quạnh
Bước 2: Cho học sinh nghe ca khúc “Người mẹ của tôi”- sáng tác Xuân Hồng:
* Tổng kết hoạt động 1- Dẫn dắt vào bài:
Trang 12Các em ạ! Bài hát các em vừa nghe cho ta thấy nỗi đau khổ của người mẹ
có con ra trận không trở về Trò chơi các em vừa chơi cho thấy những cung bậckhác nhau trong tâm trạng người phụ nữ phải xa chồng hoặc người yêu củamình
Trong văn học trung đại Việt Nam cũng đã có một tác phẩm viết về nỗikhổ đau, tâm trạng cô đơn lẻ loi, nhớ nhung của người chinh phụ đối với người
chồng tham gia cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa Đó là tác phẩm Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn.Và hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một trích đoạn trong tác phẩm của ông Đó là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
Hoạt động II Tổ chức hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Gv dẫn dắt vấn đề, chia lớp học
thành 4 nhóm tương ứng với 4 tổ,
giao nhiệm vụ cho các nhóm:
Nhóm 1 : Hoàn thành sơ đồ tư duy và
trình bày hiểu biết của em về tác giả
Đặng Trần Côn?
Nhóm 2 : Hoàn thành sơ đồ tư duy và
trình bày những hiểu biết của em về 2
dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy
Ích?
Nhóm 3: Hoàn thành sơ đồ tư duy
trình bày về giá trị nội dung và giá trị
* Mỗi nhóm cử đại diện trả lời câu
hỏi, nhận xét bổ sung ý kiến cho
b Dịch giả Đoàn Thị Điểm:( 1705 1748)
-+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ
+ Quê quán: Làng Giai Phạm, huyệnVăn Giang, trấn Kinh Bắc (Nay là tỉnhHưng Yên.)
+ Là người nổi tiếng thông minh từnhỏ, xinh đẹp, nhưng lập gia đìnhmuộn
c Dịch giả Phan Huy 1822)
Ích:(1750-+ Là người thuộc trấn Nghệ An saurời đến Hà Tây
+ Tự Dụ Am, đỗ tiến sĩ năm 26 tuổi
Trang 13Trình bày hiểu biết của em về hoàn
cảnh ra đời, thể loại của tác phẩm ?
TÍCH HỢP MÔN LỊCH SỬ:
GV tích hợp với kiến thức lịch sử lớp
nói rõ hơn về cuộc chiến tranh phong
kiến và hậu quả nặng nề của nó để
giúp HS thấy được đây là một cuộc
chiến tranh phong kiến phi nghĩa Nó
gây ra cảnh chìa lìa đôi lứa, mất mát
đau khổ…
- GV trình chiếu cho học sinh nghe
đoạn ngâm tình cảnh lẻ loi của
người chinh phụ (từ phút 4:26 đến 8:
44) do nghệ sỹ Đào Thúy ngâm.
- HS Lắng nghe đoạn ngâm, chú ý
một số ngữ điệu, từ ngữ có sự khác
nhau giữa bản dịch và nguyên tác
Học sinh ghi nhận thêm thông tin mà
giáo viên cung cấp
* HS ghi chép kiến thức quan trọng
đã tổng kết
văn:
" Chinh phụ ngâm, một quyển, Hương cống Đặng Trần Côn soạn Vì đầu đời Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông) có việc binh đao, cảnh biệt li của những người đi chinh thú khiến ông cảm xúc
mà làm" (Phan Huy Chú)
- Bản thân tác giả:
+ Ảnh hưởng của văn thơ chữ Hán lúcbấy giờ nổi bật lên đề tài chinh phu,chinh phụ
+ Tấm lòng cao cả, không chịu đượckhi chứng kiến cảnh khổ đau, bất hạnhcủa con người
b Thể loại Ngâm
Là thể thơ trữ tình dài hơi dùng đểngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ tâmtrạng buồn phiền, đau xót triền miênday dứt
c Nội dung và nghệ thuật:
- Nội dung: oán ghét chiến tranhphong kiến phi nghĩa, tâm trạng khaokhát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi
- Nghệ thuật: Bút pháp tự sự và trữtình
d Nguyên tác và bản dịch
Thể loại: ngâmkhúc
- Nguyên tác: Thể thơ trườngđoản cú
Thể loại: ngâmkhúc
- Bản dịch: Thể thơ song thấtlục bát
- Đoạn 2: 8 câu còn lại: nối nhớ ngườichồng ở xa, cảnh khiến lòng thêm ảmđạm
Hoạt động II: Tổ chức hướng dẫn học sinh Tìm hiểu văn bản
Trang 14HĐTP 1 : Tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu 16 câu đầu.
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
* Giáo viên hướng dẫn cách thức làm
việc cho học sinh, chia nhóm lớp thành 4
nhóm với các yêu cầu như sau:
Nhóm 1 : Trong 8 câu đầu gạch chân
dưới các động từ chỉ hành động của nhân
vật trữ tình Giải thích tại sao nhân vật
lại có những hành động đó ?
Nhóm 2 : Trong 8 câu đầu gạch chân
dưới các từ chỉ ngoại cảnh tác động vào
nhân vật trữ tình Ý nghĩa diễn tả nội tâm
của những yếu tố đó?
Nhóm 3 : Trong 8 câu sau gạch chân
dưới các từ chỉ thời gian Thời gian này
có gì đặc biệt không ?
Nhóm 4 : Trong 8 câu sau gạch chân
dưới các từ chỉ hành động của nhân vật
trữ tình Từ đó giải thích tại sao nhân vật
có tâm trạng như vậy ?
Chú ý, lựa chọn và phân tích các yếu tố
trong văn bản theo yêu cầu của nhóm
mình
* Tổng hợp các thông tin của các thành
viên trong nhóm
* Mỗi nhóm cử đại diện trả lời câu hỏi,
nhận xét bổ sung ý kiến cho nhóm khác
* GV nhận xét câu trả lời của HS, bổ
sung thêm kiến thức cho HS
* GV trình chiếu slide tổng kết kiến
thức
- GV dẫn dắt học sinh gợi cho học sinh
liên hệ đến: Tiếng gà văng vẳng gáy
trên bom (Hồ Xuân Hương):
Tiếng gà văng vẳng và tiếng gà eo óc cất
lên ở hai không gian đêm khác nhau, ở
hai thời điểm khác nhau, có tâm trạng
của hai con người khác nhau, nhưng đều
giống nhau ở một trái tim người phụ nữ
khát khao tình yêu và hạnh phúc lứa đôi
II Đọc hiểu văn bản:
1 Mười sáu câu thơ đầu
a Tám câu đầu:
- Cử chỉ hành động: dạo, gieo,ngồi, rủ, thác…
+ Đi đi lại lại trong hiên vắng buồnrầu không chủ đích
+ Cuốn rèm lên thả rèm xuốngnhiều lần, hành động lặp đi lặp lại
do buồn chán cô độc, làm để quên
đi thời gian
=>Tâm trạng thẫn thờ trong lòng đầy nỗi ưu tư, muộn phiền, không biết san sẻ cùng ai, cô đơn rối bời, tù túng bế tắc
- Không gian :+ ngoài rèm: chật hẹp bó buộc, tùđọng
+ trong rèm: đèn
- Sự vật : + thước chẳng mách tin -> côđơn,
+ đèn khuya, hoa đèn, bóng người-> lẻ loi
-> Nàng tìm đối tượng để san sẻ những ưu tư trong lòng nhưng ngay lập tức đã thất bại
- Điệp ngữ bắc cầu : “có biết”
“dường bằng chẳng biết” ->sự chấtchồng, nối tiếp của tâm trạng buồn rầu, hiu hắt
- Câu phủ định kết hợp với từ “bi thiết” -> một từ cực tả cảm giác cô đơn, đau đớn cho thấy tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ khi không
có ai để cùng san sẻ
Các yếu tố ngoại cảnh đặc biệt là
sự đối bóng giữa người chinh phụ
và ngọn đèn khuya đã nói hộ cho nỗi lòng vò võ của chinh phụ ngóng chồng đi chinh chiến->thể hiện tâm trạng cô đơn bi thiết của người phụ nữ xa chồng
Trang 15Liên hệ:
Kinh thi có câu: Nhất nhật bất kiến như
tam thu hề (Một ngày không gặp dài tựa
như ba mùa thu)
Nguyễn Du học tập ý đó nên có câu:
Sầu đong càng lắc, càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
Giáo viên nhấn mạnh, củng cố thêm một
lần nữa kiến thức tiếng Việt cho học
sinh
Cuối cùng, giao nhiệm vụ cho học sinh
làm bài tập ở nhà để rèn kĩ năng làm
văn :
Hãy vận dụng các biện pháp nghệ thuật
tả tâm trạng trong đoạn trích trên để
viết một đoạn văn(hoặc đoạn thơ) ngắn
miêu tả một nỗi buồn hay niềm vui của
bản thân anh/ chị?
GV nhắc học sinh nộp lại bài tập vào đầu
buổi học tiếp theo để kiểm tra
- Học sinh ghi nhận thêm thông tin mà
giáo viên cung cấp
- HS ghi chép kiến thức quan trọng đã
tổng kết
b Tám câu thơ tiếp:
- Âm thanh: gà gáy“eo óc”- tượngthanh -> thưa thớt, não nề
- Thời gian: đằng đẵng, dằng
dặc-Từ láy->Thời gian kéo dài, mối sầumiên man
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình-> Sựchờ đợi mỏi mòn, nỗi sầu triềnmiền
- Điệp từ Gượng: đốt hương Soi gương
Gảy đàn-> Nhấn mạnh sự miễn cưỡng.Người chinh phụ không hề thiết thachăm chú gì
=> Tâm trạng: Cố vượt thoát khỏi
sự bủa vây của cô đơn, lẻ loi nhưngcàng cố gắng càng chán chườngkhông thoát được
* Nội dung:
Nỗi buồn, sự đau xót, sự gắnggượng của người chinh phụ trongtình cảnh lẻ loi
HĐTP 2: Tổ chức hướng dẫn học sinh tìm hiểu 8 câu thơ cuối(15 phút)
GV hỏi: Các hình ảnh thiên nhiên ở đây
có gì đáng chú ý?
- HS Suy nghĩ, thảo luận và trình bày
- Nhận xét câu trả lời của bạn và bổ
sung
- GV hỏi: Phân tích hiệu quả nghệ thuật
của các biện pháp tu từ mà tác giả đã sử
dụng trong câu:
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng
trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
2 Tám câu cuối: Nỗi nhớ chồng nơi biên ải
Trang 16- GV hỏi: Hai câu cuối diễn tả tâm trạng
người chinh phụ như thế nào? Gợi cho
em nhớ đến câu thơ nào của nhà thơ
Nguyễn Du?
GV diễn giảng: Ngoại cảnh nhuốm đầy
tâm trạng: Câu thơ gợi nhớ câu Kiều sâu
sắc:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
- HS tiếp nhận thêm thông tin
- GV hỏi: Như vậy nội dung của cả đoạn
- So sánh: bằng trời-> Vô tận
- Từ láy: Thẳm thẳm, đau đáu ->Nỗi nhớ có chiều sâu của tình vợchồng có một khoảng thời gian lâudài, gắn bó Nỗi nhớ từ sâu thẳm tráitim
=> Nỗi nhớ trải ra không gian mênhmông(bằng trời), vô tận rồi lại lặnvào nội tâm(thiết tha lòng) để lạimột cảm giác đau đớn
* Nội dung:
Nỗi nhớ nhung da diết của người chinh phụ và niềm mong ước gửi nỗi nhớ nhung ấy đến với người chồng nơi biên ải xa xôi
HOẠT ĐỘNG 3 Tổng kết và luyện tập củng cố bài học
HĐTP 1: Tổng kết
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
GV dẫn dắt cho học sinh tổng kết ý nghĩa
tư tưởng của đoạn trích:
Chinh phụ ngâm nói chung, đoạn trích
này nói riêng được khẳng định là giàu
giá trị nhân văn, nhân đạo? Em có đồng
ý với ý kiến đó không? Vì sao?
- Học sinh suy nghĩ trả lời
- Giáo viên nhận xét, khái quát lại
TÍCH HỢP MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN:
Từ những tấn bi kịch tinh thần do chiến
tranh đem đến cho con người, chúng ta
thấy được mỗi công dân cần phải biết yêu
chuộng hòa bình, yêu quê hương đất
nước, biết lên án chiến tranh Chúng ta
cần thấy được trách nhiệm của công dân,
đặc biệt là học sinh trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa; có ý thức học tập, rèn luyện để
góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
quê hương, đất nước
? Em hãy phân tích đặc sắc nghệ thuật
III Tổng kết
1 Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích
- Đồng cảm với nỗi khổ đau, bấthạnh của con người, đồng cảm voeiskhao khát hạnh phúc lứa đôi củangười phụ nữ
- Gián tiếp lên án, tố cáo chiến tranhphong kiến phi nghĩa chia rẽ tìnhcảm gia đình, gây nên bao tấn bikịch tinh thần cho con người
- Trân trọng, đề cao ước mơ, khátvọng về tình yêu và hạnh phúc củacon người, nhất là người phụ nữ
-> Giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc.