SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG KĨ THUẬT SƠ ĐỒ KWL NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO HỌC SINH QUA VĂN BẢN “TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHIN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG KĨ THUẬT SƠ ĐỒ KWL NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO HỌC SINH QUA VĂN BẢN
“TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ”
(TRÍCH “CHINH PHỤ NGÂM”, NGUYÊN TÁC
ĐẶNG TRẦN CÔN, BẢN DIỄN NÔM ĐOÀN THỊ ĐIỂM)
Người thực hiện: Trịnh Hồng Vân
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 2Từ viết tắt Diễn giải
CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông
NXBGD Nhà xuất bản giáo dục
Trang 41 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Môn văn là một môn học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trườngphổ thông Môn học này ngoài chức năng bồi dưỡng tri thức, còn có chức năngđặc thù là bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách cho học sinh Văn học trang bịnhững cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện – Mĩ Nhờ cóvăn học mà đời sống con người giàu có, phong phú, tinh tế hơn Tâm hồn bớtchai sạn, thờ ơ, vô cảm trước con người và cuộc sống Nhất là trong thời đạingày nay con người ngày càng hối hả, quay cuồng trong nhịp sống hiện đại.Thời nào cũng vậy, tác phẩm văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh
lọc tâm hồn con người, giúp người “gần người hơn” (ý của Nam Cao) Tuy
nhiên hiện nay xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữvăn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương Để nâng cao chất lượng giảngdạy và học tập môn Ngữ văn cần nhiều yếu tố, trong đó đổi mới phương phápdạy học đóng vai trò then chốt
Nghị quyết số 29/NQ-TW của Hội nghị Trung ương VIII khóa XI về “Đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực …”
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã quy định áp dụng rộng rãi các kĩthuật dạy học tích cực Mỗi môn học có những đặc trưng, đặc thù cụ thể Vì vậy,nghiên cứu, vận dụng một cách phù hợp và hiệu quả các kĩ thuật dạy học vàoviệc dạy học môn Ngữ văn là một yêu cầu tất yếu Bên cạnh các kĩ thuật dạy họctích cực như “các mảnh ghép”, “hợp tác”, “khăn phủ bàn”, “động não” … thì
“KWL” là một trong những kĩ thuật dạy học có nhiều ưu thế trong việc khuyếnkhích học sinh chủ động bày tỏ cảm xúc, ý kiến, nhu cầu nhận thức, nhu cầukhám phá của mình về các bài học môn Ngữ văn; đồng thời cho phép giáo viênthu nhận được những thông tin phản hồi kịp thời để điều chỉnh và thiết kế nộidung bài học một cách hiệu quả Hơn nữa kĩ thuật KWL hiện đã có nhiều phiênbản cho phép giáo viên kiểm soát đa dạng hơn các kĩ năng đọc hiểu của họcsinh
Trong chương trình ngữ văn lớp 10 – cơ bản, văn bản Tình cảnh lẻ loi của
người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn
nôm Đoàn Thị Điểm) chiếm vị trí và thời lượng khá quan trọng Để hướng họcsinh giải mã thế giới nghệ thuật của văn bản, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
Trang 5phát hiện và cảm nhận mạch cảm xúc trữ tình Tuy nhiên trong thực tế dạy họctác phẩm trữ tình ở nhà trường phổ thông hiện nay giáo viên thường cảm nhậnthay cho học sinh và truyền thụ một chiều, học sinh thụ động lấy cảm xúc củangười thầy làm cảm xúc của chính mình Làm thế nào để thông qua các tácphẩm trữ tình, khơi gợi ở học sinh những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn các em
về niềm cảm thông sâu sắc với số phận con người, biết yêu thương, trân trọngcuộc sống? Làmthế nào để nâng cao hứng thú, năng lực thưởng thức và đánh giácác tác phẩm trữ tình cho học sinh?
Năm học 2021-2022, việc dạy và học đã phải chịu ảnh hưởng nặng nề từđại dịch Covid-19 Kế hoạch năm học bị thay đổi, có những thời điểm phảichuyển sang dạy và học trực tuyến khiến nhiều học sinh càng sao nhãng việchọc hành Vì vậy, việc tìm ra một phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp, thíchứng với mọi điều kiện học tập lại càng trở nên vô cùng cần thiết
Bằng kinh nghiệm dạy học của bản thân và sự tìm tòi, nghiên cứu, tôi mạnh
dạn trình bày sáng kiến của mình trong việc “Vận dụng kĩ thuật sơ đồ KWL
nhằm nâng cao năng lực cho học sinh qua văn bản “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm”, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm Đoàn Thị Điểm)”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Vận dụng kĩ thuật sơ đồ KWL nhằm nâng cao năng
lực cho học sinh qua văn bản “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích
“Chinh phụ ngâm”, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm Đoàn Thị Điểm)” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn và phát huy
tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực cho học sinhđáp ứng yêu cầu của CTGDPT mới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Kĩ thuật sơ đồ KWL trong quá trình dạy học văn bản Tình cảnh lẻ loi của
người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn
nôm Đoàn Thị Điểm, SGK Ngữ văn 10, tập 2 – chương trình cơ bản, NXB GD
2006 từ trang 86 đến trang 88)
- Học sinh lớp 10A4, 10A5, 10A13, 10A14 trường THPT Yên Định 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, tôi chủ yếuphối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Thống kê, xử lí số liệu
Trang 62 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
2.1.1 Cơ sở lí thuyết
2.1.1.1 Khái niệm kĩ thuật
Kĩ thuật là tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụngtrong một hoạt động nào đó của con người Theo cách sử dụng ngôn ngữ thôngthường, kĩ thuật là áp dụng máy móc công nghệ hiện đại vào quá trình thực hiện
2.1.1.2 Khái niệm kĩ thuật dạy học và phương pháp dạy học
Khái niệm phương pháp dạy học có khi được sử dụng để chỉ cách thức, conđường hoạt động, có khi được dùng như một kĩ thuật cụ thể, các mô hình hànhđộng cụ thể Phương pháp dạy học cũng bao gồm những phương pháp chungcho nhiều môn và các phương pháp đặc thù cho từng bộ môn Bên cạnh cácphương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trực quan cóthể kể đến các phương pháp khác như: phương pháp dạy học nhóm, phươngpháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi, phươngpháp dự án …
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên vàhọc sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quátrình dạy học Bên cạnh các kĩ thuật dạy học truyền thống, phải kể đến một số kĩthuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như: kĩ thuật độngnão, kĩ thuật thông tin phản hồi, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật tia chớp, kĩ thuật sơ đồKWL, sơ đồ tư duy …
2.1.1.3 Khái niệm kĩ thuật KWL
KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chứcdạy học hoạt động đọc hiểu Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những
gì các em biết về chủ đề bài học Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K củabiểu đồ Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các emmuốn biết thêm về chủ đề này Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột Wcủa biểu đồ Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong các em sẽ tự trả lời cáccâu hỏi ở cột W Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L (Trích từOgle, D.M 1986, KWL: A teaching model that develops active reading ofexpository text Reading Teacher, 39, 564-570)
K (Know: Điều đã biết)
W (Want to know: Điều muốn biết)
L (Learned: Điều đã học được)
Trang 7Biểu đồ của Donna Ogle gồm có 3 cột như sau:
K (Điều đã biết)
W (Điều muốn biết)
L (Điều đã họcđược)
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Dạy học theo hướng tích cực là một trong những yêu cầu cần thiết của các
nền giáo dục phát triển trên thế giới Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích
cực của học sinh như thế nào” (Tập 1, NXB GD, Hà Nội 1978) đã nêu rõ: “Việc nghiên cứu khoa học giáo dục làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan tới việc cải tiến hoạt động nhận thức và nâng cao tính tích cực, trí tuệ của học sinh là trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu giáo dục và giáo viên” Bên cạnh đó
còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực của họcsinh cũng đã nêu cao vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh
Thông tư số 32/2018 TT-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổthông mớiđã định hướng vềphương pháp dạy học cần phát huy tính tích cực củahọc sinh, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ một chiều.Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triểnnăng lực thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phươngpháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và pháttriển những phẩm chất và năng lực Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạyhọc không nhằm mục đích tự thân Nói cách khác, giáo dục không chỉ truyền thụkiến thức, mà giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đềtrong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đãhọc
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn và văn bản “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm”, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm Đoàn Thị Điểm)
Author Unknown từng nói: “Những thầy cô giỏi nhất dạy bằng trái tim,
chứ không từ sách vở”.Quả vậy, người giáo viên dạy văn không chỉ là người
nghiên cứu khoa học mà còn phải là người nghệ sĩ, đạo diễn phải truyền cho họcsinh ngọn lửa nhiệt huyết để hướng các em đến sự đồng cảm với thế giới vănhọc Từ đó mở mang tri thức, hình thành nhân cách, bồi dưỡng cho các em mộttâm hồn cao đẹp
Trang 8Hiện nay người giáo viên không còn là người truyền đạt kiến thức mộtchiều mà là người tổ chức, hướng dẫn, cố vấn cho học sinh tự giác, chủ động tìmtòi, phát hiện, chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên thực tế là hiện nay chất lượng họcsinh vẫn còn thấp, vẫn còn nhiều học sinh chưa đạt yêu cầu của việc dạy họcmới, vẫn còn tình trạng học sinh thụ động, lười biếng, lúng túng, non yếu trong
kĩ năng Từ đó dẫn đến tình trạng tiết học trôi qua nặng nề, giáo viên bực bội,học sinh mệt mỏi Vậy làm thế nào để giáo dục các em có thái độ học tập đúngđắn, yêu thích môn văn và đạt hiệu quả học tập cao là điều chúng ta đang trăntrở tìm ra giải pháp để khắc phục
Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời vào khoảng thế kỉ
XVIII, nằm trong phần văn học trung đại Việt Nam Tác phẩm ra đời cách xathế hệ các em học sinh bây giờ hàng 3 thế kỉ, vì vậy để hiểu và cảm thụ cũng
không phải là việc dễ dàng Hơn nữa đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người
chinh phụ (bản dịch Đoàn Thị Điểm) tập trungthể hiện tình cảnh và tâm trạng
người chinh phụ khi phải sống trong cô đơn, buồn bã, thương nhớ người chồngnơi chiến trường xa xôi; quả thực đây là một vấn đề khá khó để nắm bắt thấuđáo đối với các em học sinh khối 10 khi tuổi đời còn trẻ, lại ít trải nghiệm cuộcsống
2.2.2 Thực trạng việc đổi mới phương pháp dạy học và việc vận dụng kĩ thuật sơ đồ KWL trong dạy học môn Ngữ văn
Những năm qua giáo viên dạy môn Ngữ vănhầu hết đã được trang bị nhiềuphương pháp, kĩ thuật dạy học mới qua các chương trình tập huấn.Nhìn chungchất lượng dạy học môn Ngữ văn đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên vẫn cònnhiều hạn chế trong việc vận dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học mới.Việc đổi mới phương pháp, kĩ thuật trong dạy học và kiểm tra, đánh giá môn
Ngữ văn nói chung và văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụnói riêng
vẫn chưa thực sự chuyển biến hoặc chưa đồng đều, chưa có chiều sâu Hơn nữaKWL là kĩ thuật dạy học tích cực, mới được áp dụng trong thời gian gần đây Vìvậy việc áp dụng kĩ thuật này còn nhiều bàn cãi, chưa đi đến thống nhất đồngbộ
Khi đọc hiểu một tác phẩm trữ tình, đặc biệt là trích đoạn Tình cảnh lẻ loi
của người chinh phụ, học sinh sẽ vấp phải khó khăn khi phải hiểu được kiến
thức, phải cảm được hàm ngôn, chiều sâu cảm xúc và tư tưởng cũng như đặc sắcnghệ thuật Trong khi đó, vốn sống, kinh nghiệm của học sinh còn ít Thêm nữamột bộ phận học sinh có ý thức học tập chưa cao, thiếu tinh thần tự giác, sợ khó,
sợ khổ KWL là kĩ thuật dạy học mới, còn khá xa lạ với các em, phải làm thếnào để hiện thực hóa kĩ thuật này một cách linh hoạt, hấp dẫn thì mới thu hútđược học sinh và đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học
Trang 9Nhà trường luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên có thể vậndụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới Ngoài phương tiện truyềnthống, giáo viên có thể sử dụng màn hình ti vi kết nối với điện thoại, máy tính
để dạy học Các giáo viên trong trường, trong tổ, nhóm luôn nhiệt tình giúp đỡđồng nghiệp và học sinh
Từ cơ sở lí luận và thực trạng của đề tài, tôi xin đưa ra một số giải pháp
“Vận dụng kĩ thuật sơ đồ KWL nhằm nâng cao năng lực cho học sinh qua văn bản “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm”, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm Đoàn Thị Điểm)” để góp phần đổi
mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
2.3 Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
2.3.1 Quá trình thiết kế sơ đồ KWL trong dạy học môn Ngữ văn
* Những chuẩn bị cần thiết khi vận dụng sơ đồ KWL
- Chuẩn bị của học sinh:
+ Chuẩn bị những kiến thức liên quan đến bài học Để việc trình bày vào cộtđược nhanh và chính xác, học sinh nên đọc trước bài học và ghi lại những hiểubiết của mình
+ Chuẩn bị đồ dùng học tập: giấy khổ rộng, bút viết, bút màu trang trí, thước
kẻ, nam châm…
+ Chuẩn bị làm việc nhóm: cử đại diện nhóm, phân công nhiệm vụ cho cácthành viên trong nhóm
- Chuẩn bị của giáo viên:
+ Soạn bài, chuẩn bị những kiến thức liên quan bài học, chuẩn bị các tìnhhuống có thể học sinh sẽ nêu ra
+ Đặt ra câu hỏi, vấn đề cho học sinh tìm hiểu, suy nghĩ
+ Chuẩn bị các phương tiện dạy học: SGK, máy tính kết nối tivi, bảng phụ + Chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm sao cho số lượng và phần việc hợp
Trang 10Bước 5: Cho học sinh đọc sản phẩm, giải thích, phân tích giá trị nội dung,nghệ thuật của văn bản và hệ thống kiến thức vào cột L.
2.3.2 Các biện pháp xây dựng và tổ chức dạy học “Vận dụng kĩ thuật sơ
đồ KWL nhằm nâng cao năng lực cho học sinh qua văn bản “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm”, Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm Đoàn Thị Điểm)”
2.3.2.1 Hướng dẫn học sinh trình bày những điều đã biết (K) về văn bản
a Mục tiêu
Thơ ca là sáng tạo đặc biệt của con người Thơ ca là những sợi tơ rút ra từcuộc sống và quay trở lại trang điểm cho cuộc sống bằng vẻ đẹp muôn màu của
nó Trong cuốn Đa-ghe-xtan của tôi, Raxun Gamzatốp từng viết: “Thơ ca, nếu
không có người tôi đã mồ côi” Quả thực, cuộc sống sẽ trở nên vô vị biết bao
nếu không có thơ ca Thơ ca là mạch nguồn cảm xúc, là tiếng lòng của trái tim
tha thiết yêu cuộc đời Thơ ca là những khoảnh khắc trào dâng cảm xúc “bật lên
trong tim ta khi cảm xúc đã tràn đầy”, là “điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu).
Vì vậy để hiểu thơ không phải là chuyện giản đơn, việc này đòi hỏi phải cóvốn sống, có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm Ở lứa tuổi 16, học sinh lớp 10 khôngcòn nhỏ nhưng cũng chưa đủ độ chín trong suy nghĩ và cảm xúc Giáo viên cần
có cách quan tâm, đánh thức vốn kiến thức, hiểu biết và khơi gợi tình cảm, cảmxúc trong các em Khi tiếp xúc với một văn bản thơ, yêu cầu đầu tiên là học sinhcần huy động vốn kiến thức về tác giả, tác phẩm, bài thơ, đoạn thơ Những hiểubiết này các em sẽ ghi vào cột K Việc làm này sẽ giúp các em thể hiện vốn kiếnthức, hiểu biết làm tri thức nền cho việc tìm hiểu sâu về văn bản văn học
b Nội dung, phạm vi kiến thức
Đối với từng bài học, từng văn bản mà việc huy động kiến thức khác nhau
khi điền vào cột K Khi dạy học văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh
phụgiáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị những kiến thức về:
- Những hiểu biết về tác giả Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm
- Những hiểu biết về tác phẩm Chinh phụ ngâm: Hoàn cảnh ra đời, đặc
điểm thể loại, nội dung tư tưởng
- Những hiểu biết về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:
Vị trí đoạn trích, bố cục đoạn trích, khái quát nội dung đoạn trích, đọc thuộclòng đoạn trích
c Cách thức thực hiện
Học sinh làm việc độc lập hoặc theo nhóm, sau đó chia sẻ trong nhóm Giáoviên chuẩn bị trước hệ thống câu hỏi để giúp học sinh động não, đồng thời địnhhướng, dẫn dắt học sinh tìm hiểu theo yêu cầu của bài học
Trang 11Khi dạy văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, trước hết giáo viên
chiếu một vài hình ảnh về tác giả, dịch giả, tác phẩm để gợi tâm thế và sự hứngthú cho học sinh vào bài học (phụ lục 3) Sau đó giáo viên giúp học sinh huyđộng kiến thức để tự đặt ra câu hỏi và trả lời các câu hỏi như:
- Tôi đã biết những gì về cuộc đời và sáng tác của tác giả Đặng Trần Côn,dịch giả Đoàn Thị Điểm?
- Tôi đã được học, được đọc tác phẩm nào của tác giả Đặng Trần Côn, dịchgiả Đoàn Thị Điểm?
- Tác phẩm Chinh phụ ngâm ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Tác phẩm Chinh phụ ngâm viết bằng thể loại gì?
- Nội dung tư tưởng của tác phẩm Chinh phụ ngâm?
- Tôi đã biết những gì về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:
vị trí đoạn trích,bố cục đoạn trích, nội dung đoạn trích?
- Tôi có thuộc đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ?
- Cảm xúc của tôi khi lần đầu tiên đọc đoạn trích này?
Học sinh ghi lại những hiểu biết của mình vào cột K Thế nhưng để tránh lốitìm hiểu tác phẩm theo lối mòn, giáo viên có thể khuyến khích khả năng tìm tòi,
tư duy sáng tạo và hứng thú của học sinh đối với bài học bằng việc học sinh cóthể ghi lại hiểu biết khác xung quanh tác giả, tác phẩm ngoài sách giáo khoa hayghi lại cảm nhận khi lần đầu tiên tiếp xúc với văn bản
Giáo viên kiểm tra kết quả điền vào cột K của học sinh, khuyến khích mỗinhóm một bạn trình bày sản phẩm trước lớp rồi cho các nhóm nhận xét chéo.Cuối cùng giáo viên tổng hợp,nhận xét và điều chỉnh hợp lí
Câu hỏi HS tự đặt và
những câu hỏi gợi ý
của GV
HS điền vào cột K (Phụ lục 4)
GV chuẩn bị cột K để định hướng kiến thức cho HS
- Tôi đã biết những gì về
cuộc đời và sáng tác của
tác giả Đặng Trần Côn?
1 Tác giả Đặng Trần Côn (chưa
rõ năm sinh, năm mất) sống khoảng nửa đầu TK XVIII Quê quán: làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân,
Hà Nội) Con người: hiếu học, tài hoa, phóng túng Sáng tác: để lại nhiều tác phẩm chữ Hán có giá trị
Trang 12thuộc tỉnh Hưng Yên) Con người:tài sắc, thông minh Sáng tác:
ngoài dịch Chinh phụ ngâm, còn
- Thể loại:
+ Nguyên tác: Trường đoản cú (câu thơ dài xen câu thơ ngắn).+ Bản dịch: Song thất lục bát
- Nội dung tư tưởng: Tiếng nóioán ghét chiến tranh phi nghĩa;niềm khát khao tình yêu, hạnhphúc lứa đôi
8 câu đầu: Nỗi cô đơn, lẻ loi
8 câu tiếp: Nỗi sầu muộn triềnmiên
8 câu cuối: Nỗi nhớ thương đau đáu
- Nội dung: Đoạn trích viết về tìnhcảnh và tâm trạng người chinhphụ khi phải sống trong cô đơn,buồn bã, ngóng trông, thương nhớngười chồng nơi chiến trường xaxôi
2.3.2.2 Hướng dẫn học sinh xác định những điều muốn biết (W) về văn bản
Trang 13a Mục tiêu
Văn chương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống Nhà nghiên cứu
phê bình văn học Hoài Thanh từng nói: “Văn chương giúpkhơi gợi những tình
cảm ta chưa có, và luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có” Quả đúng như vậy,
các tác phẩm văn học nói chung, thơ ca nói riêng có tác động mạnh mẽ đến tâmhồn con ngườì, luôn mang đến những rung động mãnh liệt, sâu xa và làm chotâm hồn con người phong phú, đẹp đẽ hơn Vì vậy đọc một câu thơ hay, ngoàiviệc tìm hiểu tầng ngôn từ, ta còn nghiền ngẫm, suy tư để hiểu tầng nghĩa hìnhtượng, tầng hàm nghĩa Thơ mở rộng một chân trời bát ngát của trí tưởng tượng,thơ cũng lặn sâu vào tâm tư của mỗi người để tiếng lòng ngân nga Nói như Lê
Đạt trong bài Nghĩ về thơ: “Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng
trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện với những vùng trời tốt đẹp hơn, nhân tính hơn”
Khi giáo viên dạy một văn bản thơ, ngoài việc hướng dẫn đọc, còn phảihướng dẫn hiểu, đặc biệt khơi gợi ở học sinh những suy ngẫm, những tình cảmsâu xa Chính vì thế điều muốn biết (W) khi học một văn bản thơ đó có thể lànhững băn khoăn, thắc mắc, hoài nghi về những hàm ngôn, đa nghĩa, khó xácđịnh, khó nắm bắt không được nhà thơ nói ra trực tiếp mà ẩn đằng sau ngôn từ
Để nắm bắt được những vấn đề đó, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ bài thơ,đoạn thơ, tham khảo tài liệu, tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ, đoạnthơ, đặc biệt những rung cảm tinh tế của nhà thơ; từ đó biết xác định mục tiêu,nhiệm vụ đọc hiểu chi tiết bài thơ, đoạn thơ
b Nội dung, phạm vi kiến thức
Khi học văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, để nêu lên những
điều muốn biết về tác phẩm, học sinh phải huy động những vốn kiến thức về tácgiả, dịch giả, đọc kĩ văn bản, tìm hiểu những băn khoăn, khó hiểu, tự đặt ra mộtloạt các câu hỏi hoặc do giáo viên gợi ý:
- Ở 2 câu mở đầu người chinh phụ đã có những hành động gì? Hành động
ấy phản ánh nét tâm trạng gì?
- Các yếu tố về ngoại cảnh có ý nghĩa như thế nào trong việc diễn tả nội tâmnhân vật trữ tình?
- Những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ?
- Phân tích nguyên nhân nỗi đau khổ của người chinh phụ?
- Qua văn bản, tác giả muốn nhắn gửi điều gì đến người đọc?
c Cách thức thực hiện
Sau khi học sinh đã điền điều đã biết vào cột K, giáo viên tiếp tục hướng dẫncho học sinh điền những điều muốn biết vào cột W Thao tác này sẽ bỏ đượccách học thụ động trước đây, đưa học sinh vào vai trò chủ động chiếm lĩnh trithức, tích cực bày tỏ những điều mà các em muốn tìm hiểu về văn bản văn học
Trang 14Giờ học sẽ sôi nổi hơn rất nhiều khi học sinh được bộc lộ những suy nghĩ cánhân, được nói lên mong muốn riêng của mình.
Đọc hiểu văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụlà vấn đề khó nên giáo
viên cần chia nhóm để học sinh thảo luận, chia sẻ, thống nhất trong nhóm Saukhi học sinh đã nêu ra tất cả những suy nghĩ, ý tưởng của mình, giáo viên cầnnhận xét, gợi ý, điều chỉnh, bổ sung sao cho đúng hướng Đối với học sinh, việc
tự đặt câu hỏi là một vấn đề không đơn giản nên giáo viên cần khuyến khích các
em, mặt khác giáo viên cũng cần chuẩn bị các câu hỏi then chốt làm định hướngcho học sinh để đảm bảo nắm được vấn đề trọng tâm bài học, tránh lan manhoặc sơ sài
Những điều HS muốn
biết và những câu hỏi
gợi ý của GV
HS điền cột W (Phụ lục 4)
GV chuẩn bị cột W để định hướng kiến thức cho HS
- Các yếu tố về ngoại
cảnh có ý nghĩa như thế
nào trong việc diễn tả
nội tâm nhân vật trữ
tình?
1 Ngoại cảnh
- Chim thước: không có tin tức của người chồng, những ngóng trông đã thành vô vọng
- Ngọn đèn: là người bạn tâmtình duy nhất trong những đêmdài cô đơn của người chinh phụ,nhưng ngọn đèn chỉ là vật vô trichẳng thể chia sẻ, giãi bày
- Âm thanh tiếng gà gáy eo óc càng tô đậm cảm giác vắng lặng, gợi nỗi đau
- Hình ảnh bóng cây hòe: phất phơ, rủ bóng gợi cảm giác hoangvắng, cô quạnh
Tóm lại, cảnh vật xung quanhcàng tô đậm nỗi cô đơn, trống vắng, sự buồn bã, não nề của người chinh phụ
- Những dấu hiệu nào
cho thấy nỗi cô đơn của
người chinh phụ?
2 Những dấu hiệu cho thấy nỗi
cô đơn của người chinh phụ
- Những hành động lặp đi, lặplại: âm thầm đi ngoài hiên vắng,
rủ rèm rối lại cuốn rèm
- Một mình ngồi với ngọn đèn trong căn phòng vắng lặng Bóng
Trang 15người bất động, vô thức, câm lặng, dường như mất hết sức sống tựa tàn đèn cháy đỏ.
- Những hành động gắng gượng,miễn cưỡng:
+ Đốt hương mong tìm sự thanh thản trong tâm hồn nhưng hồn càng mê man, bấn loạn
+ Soi gương để sửa sang, trang điểm thì nước mắt rơi chứa chan,đầm đìa
+ Gãy đàn mong khuây khỏa nhưng ám ảnh dây đứt, phím chùng, sợ tình vợ chồng chia lìa mãi mãi
- Phân tích nguyên nhân
nỗi đau khổ của người
chinh phụ?
3 Nguyên nhân nỗi đau khổ của người chinh phụ
- Người chồng đi chinh chiến nơi
chiến địa sa trường đã mấy mùaxuân vẫn bặt vô âm tín Người
vợ ở nhà ngóng trông, chờ đợiđến héo mòn tuổi xuân
- Nguyên nhân sâu xa là do cuộcchiến tranh phi nghĩa làm bao vợchồng phải chia li, bao tổ ấm trởnên lạnh lẽo, bao gia đình tannát
- Nhận xét về tình cảm,
thái độ của tác giả?
4 Tình cảm, thái độ của tác giả
- Xót thương cho số phận người
phụ nữ
- Đồng cảm với khao khát tình
yêu, hạnh phúc lứa đôi
- Gián tiếp lên án chiến tranh
phong kiến gây nên bao bi kịch đau thương cho con người
- Suy nghĩ của em về sự
giống nhau và khác nhau
giữa câu thơ của
Nguyễn Du trong
5 Đối chiếu, so sánh
- Giống nhau: Cả hai câu thơ
đều thể hiện sâu sắc và tinh tếmối quan hệ giữa ngoại cảnh và
Trang 16Truyện Kiều:
“Cảnh nào cảnh chẳng
đeo sầu - Người buồn
cảnh có vui đâu bao
giờ?”
Với câu thơ của Đặng
Trần Côn trong Chinh
phụ ngâm: “Cảnh buồn
người thiết tha lòng -
Cành cây sương đượm
tiếng trùng mưa phun”?
tâm cảnh, giữa cảnh vật thiênnhiên và tâm trạng con người.Đây là bút pháp tả cảnh ngụ tình– đặc trưng của thi pháp thơtrung đại
- Khác nhau:
+ Câu thơ của Nguyễn Du thể hiện mối quan hệ giữa người và cảnh Người buồn bã, u sầu thì cảnh cũng ảm đạm, não nề
+ Câu thơ của Đặng Trần Côn thể hiện mối quan hệ giữa cảnh
và người Cảnh lạnh lẽo, hiu hắt làm cho lòng người tái tê
2.3.2.3 Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa những điều đã học được (L) từ văn bản
a Mục tiêu
Cột L là những điều học sinh đã học được Đây là cơ sở để giáo viên đánhgiá kết quả đạt được của học sinh qua quá trình đọc hiểu văn bản thơ Em nàochưa biết trình bày, hoặc trình bày sơ sài, thiếu trọng tâm, chưa chính xác nghĩa
là chưa đạt mục tiêu bài học Giáo viên sẽ nắm bắt được thông tin phản hồi từhọc sinh để có biện pháp tác động, điều chỉnh, uốn nắn kịp thời Điều học được
từ văn bản thơ không chỉ là kiến thức về giá trị nội dung và nghệ thuật, mà còn
là những cảm nhận của riêng mỗi học sinh, những xúc cảm sâu lắng sau khi học
xong bài học bởi lẽ nói như Lưu Quý Kì: “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong
thơ, người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình” Khi sáng tác, nhà thơ
gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình trong thơ; khi tiếp nhận tác phẩm thơ, ngườiđọc thấy được chính mình, nhận ra được những cảm xúc của bản thân, cảm thấyđược chia sẻ, cảm thông Phải đạt được như vậy thì mới đích thực là cảm nhậnmột tác phẩm thơ
Cột L cũng là cơ sở để mỗi học sinh tự đánh giá năng lực học tập của bảnthân mình, tự phát hiện những lỗ hổng kiến thức để tự rèn rũa, trau dồi, cố gắnghơn nữa Đây cũng là thao tác rèn cho các em khả năng hệ thống hóa, khái quáthóa kiến thức Đồng thời thao tác này cũng giúp các em sống trong thế giới nghệthuật được gợi ra từ tác phẩm thơ; sẽ soi chiếu bản thân vào những điều tác giảgửi gắm, nhập thân vào các hình tượng thơ ca để trải nghiệm, để thấu hiểu, đểtìm thấy chính mình
b Nội dung, phạm vi kiến thức
Trang 17Nội dung, phạm vi kiến thức mà các em cần điền ở cột L chính là nhữngnhận định, nhận xét, kết luận, tổng kết về giá trị nội dung, nghệ thuật của vănbản thơ Ngoài ra điều đã học được còn có thể vượt ra ngoài tác phẩm Đó lànhững suy nghĩ, phát hiện, cảm nhận, rung động riêng của mỗi học sinh vềnhững điều học được từ văn bản thơ Học sinh cảm nhận, đối chiếu với nhữngđiều đã biết (K), những điều muốn biết (W), sau đó tổng hợp lại thành nội dungbài học
Việc tìm hiểu, đánh giá chi tiết về cái hay, cái đẹp của mỗi văn bản thơkhông phải là việc học sinh nào cũng có thể làm tốt Trong quá trình giảng dạy,một mặt phát huy sự tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; mặt khác giáoviên cần định hướng học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Đồng thời kĩ thuậtdạy học KWL cũng kích thích tư duy suy nghĩ độc lập của các em Học sinh tựbiết mình học được gì qua tiết học đã là một thành công và niềm hạnh phúc củangười giáo viên đứng trên bục giảng
Khi dạy học bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ,giáo viên cần hướng
học sinh hệ thống hóa được những kiến thức sau:
- Hệ thống hóa về những nội dung cơ bản của đoạn trích
- Hệ thống hóa những giá trị nổi bật về nghệ thuật
- Rút ra ý nghĩa của văn bản
c Cách thức thực hiện
Thống nhất và hệ thống hóa nội dung những điều đã học được là một trongnhững trọng tâm của giờ đọc hiểu thơ theo kĩ thuật KWL Để điền nội dung ởcột L, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện nhiều thao tác:
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh đọc, giải thích, phân tích, cắt nghĩa,
so sánh, đánh giá, khái quát, hệ thống hóa những nội dung cơ bản, những giá trịnổi bật về nghệ thuật của từng đoạn thơ
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh có những suy nghĩ, nhận định, cảm nhậncủa riêng mình về những vấn đề đã được học Đây là điểm mới mà chúng tađang chú trọng trong quá trình dạy học văn Giáo viên nên khuyến khích các emnói lên những phát hiện, những suy nghĩ của mình về các vấn đề trong quá trìnhhọc như: ngôn từ nghệ thuật, nhân vật trữ tình, hình ảnh thơ, biểu tượng, biệnpháp tu từ … Từ đó, học sinh hình thành thói quen tư duy độc lập và sáng tạo,tạo hứng thú học tập môn văn
- Giáo viên cho học sinh thảo luận, đi đến thống nhất những vấn đề sẽ điền ởcột L Đây là nội dung khái quát, đánh giá, tổng kết những vấn đề đã học đượcnên cần có tính chính xác cao Do đó, cần hoạt động nhóm để các em phát huykhả năng làm việc chung, bổ sung những điểm thiếu sót cho nhau Giáo viên chohọc sinh nhận xét chéo sản phẩm nhóm, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá, bổsung (phiếu đánh giá sản phẩm phụ lục 2)