Định nghĩa hàng hóa côngHàng hóa công là những hàng hóa có hai thuộc tính: ❖ Không tranh giành non-rival ✓ Một cá nhân có thể tiêu dùng hàng hóa màkhông làm giảm đi sự hiện diện hay lợi
Trang 1CHƯƠNG 3: HÀNG HÓA CÔNG
Chương nghiên cứu về những loại hàng hóa công nào được chính
phủ cung cấp trong nền kinh tế Những hàng hóa dịch vụ công nào
hiện nay đang được chính phủ cung cấp có cần được tư nhân hoá hay
không? Đặc biệt là nghiên cứu sự thất bại của thị trường trong việc
cung cấp hàng hóa công tại mức hiệu quả Pareto
Trang 2Hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xãhội có thể sử dụng chung với nhau Việc sử dụng của người này không ảnhhưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Ví dụ: Lợi ích của quốc phòng,chương trình giáo dục công cộng.
3.1 Định nghĩa hàng hóa công
Trang 33.1 Định nghĩa hàng hóa công
Hàng hóa công là những hàng hóa có hai thuộc tính:
❖ Không tranh giành (non-rival) ✓ Một cá nhân có thể tiêu dùng hàng hóa màkhông làm giảm đi sự hiện diện hay lợi ích của hàng hóa đó đối với những người tiêudùng khác ✓Cách giải thích khác: chi phí biên phục vụ cho người tiêu dùng cuốicùng là bằng không
❖ Không loại trừ (non-exclusive) • Không thể cản trở người khác tiêu dùnghay tiếp nhận lợi ích của hàng hóa
Trang 43.1 Định nghĩa hàng hóa công
Có hai loại hàng hóa công:
❖ Hàng hóa công thuần túy: Hội đủ cả hai thuộc tính không tranh giành
và không loại trừ
❖ Hàng hóa công không thuần túy: Chỉ có một trong hai thuộc tính trên
Trang 53.1 Định nghĩa hàng hóa công
Quốc phòng, hay đường giao thông là một ví dụ của hàng hoá công thuần tuý Tuy nhiên đối với hàng hóa công, cùng một lượng hàng hóa thì sự
tiêu dùng không nhất thiết được đánh giá ngang bằng nhau cho tất cả mọingười Ví dụ việc xây công viên phục vụ cho công chúng Người yêu thíchthể dục ngoài trời thì cảm thấy rất ủng hộ vì có không gian để thực hiện Tuynhiên, người chỉ thích thể dục trong nhà thì thấy không hào hứng với việc xâycông viên
Trang 63.1 Định nghĩa hàng hóa công
Sự phân loại hàng hoá công là không mang tính tuyệt đối, nó phụ thuộc vào các
điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ Còn một loại nữa là hàng hóa công không thuần túy, là có sự mở rộng của tính cạnh tranh và tính loại trừ trong sử
dụng của các đối tượng Ví dụ như chính phủ phát sống wifi 5G miễn phí trên toànquốc Trong trường hợp này người sử dụng phải có thiết bị kết nối 5G mới sử dụngđược, vậy tiêu chuẩn không loại trừ tiêu dùng của hàng hóa công là không đáp ứngđược
Trang 73.1 Định nghĩa hàng hóa công
Trong thực tế có không nhiều ví dụ của hàng hoá công thuần tuý Có nhiềuthứ không được quy ước như hàng hoá nhưng lại có tính chất của hàng hoá công.Một ví dụ cụ thể như chính phủ bắt buộc các nhà hàng phải công khai kết quả xếphạng về điều kiện vệ sinh do cơ quan y tế cấp Thông tin này cũng có thể được xemnhư hàng hóa công do không có cạnh cạnh tranh trong việc biết thông tin này vàthông tin này phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng nên cũng không loại trừ
ai tiếp cận thông tin này
Trang 83.1 Định nghĩa hàng hóa công
Hàng hoá tư nhân không nhất thiết chỉ dành riêng cho khu vực tư nhân cungcấp Có nhiều loại hàng hoá tư nhân được cung cấp công cộng, các hàng hoá cótính tiêu thụ cạnh tranh và có tính loại trừ được chính phủ cung cấp, như các bệnhviên công, trường đại học công… Ngược lại hàng hóa công không nhất thiếtđược tạo ra từ khu vực công, như việc bắn pháo hoa từ nguồn xã hội hóa, …
Trang 9Giả sử rằng cộng đồng xã hội chỉ bao gồm hai người, A và E Có hai loại hàng hoá tư nhân, đó là thức ăn
và áo quần Trong hình, số lượng áo quần (a) được tính trên trục hoành, và giá của mỗi đơn vị áo quần (Pa) là theo trục tung Đường cầu của A đối với áo quần là 𝐷𝑎𝐴 cho thấy số lượng áo quần mà A sẵn sàng tiêu dùng tương ứng với các mức giá, giả sử các điều kiện khác là không đổi Tương tự, 𝐷𝑎𝐸 trong hình là đường cầu của
E đối với áo quần
3.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Trang 103.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Trong hình trên tại mức giá 5 đô la, lượng cầu của A là một đơn vị áo quần,lượng cầu của E là hai đơn vị áo quần Tổng lượng cầu tại mức giá 5 đô la sẽ là bađơn vị áo quần Đường cầu thị trường đối với áo quần là 𝐷𝑎𝐴+𝐸 trên hình
Trang 113.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Tại mức giá 5 đô la, ta có số lượng 3 đơn vị áo quần trên đường cầu thị trường.Tương tự, xác định lượng cầu thị trường tại bất kỳ mức giá cho trước nào là cộng
lại các khoảng cách theo trục hoành Quá trình này còn được gọi là phép tính tổng
theo chiều ngang.
Trang 123.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Hình trên thể hiện đường cung thị trường Sa giao nhau với đường cầu thị trường
𝐷𝑎𝐴+𝐸 Cân bằng trên thị trường xác định tại điểm cung và cầu bằng nhau tại mức giá
$4 Tại mức giá này, A dùng 1,5 đơn vị áo quần và E dùng ba đơn vị áo quần Bởi vì
có sở thích khác nhau, thu nhập và các tính chất khác, A và E đòi hỏi số lượng áoquần khác nhau Điều này là có thể bởi vì áo quần là hàng hoá tư
Trang 133.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Bây giờ ta chuyển sang tiêu dùng hàng hóa công Giả sử cả A và E cùng thíchxem biểu diễn pháo hoa Sự thưởng thức pháo hoa của E không làm giảm sựthưởng thức của A và ngược lại Và cũng không thể loại trừ bất cứ người nào rakhỏi việc xem trình diễn pháo hoa Do vậy, buổi trình diễn pháo hoa là hàng hoácông
Trang 143.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Quy mô kích thước của pháo hoa cũng có thể khác nhau, và cả hai A và E đềuthích các buổi trình diễn lớn hơn là các buổi trình diễn nhỏ, với các điều kiện kháckhông thay đổi Giả sử rằng buổi trình diễn bao gồm 19 quả pháo và có thể kéo dài ravới chi phí 5 đô la mỗi quả pháo A sẵn sàng trả 6 đô la để kéo dài thêm buổi biểudiễn bằng quả pháo khác còn E chỉ sẵn sàng trả 4 đô la Vậy có hiệu quả không nếukéo dài buổi trình diễn ra với thêm một quả pháo?
Trang 153.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Như thường lệ, chúng ta so sánh lợi ích biên tế với chi phí biên tế Để tính lợi ích biên tế,chú ý rằng bởi vì sự tiêu dùng của buổi biểu diễn là không cạnh tranh, quả pháo hoa thứ 20 cóthể được sử dụng bởi cả hai A và E Do đó, lợi ích biên tế của quả pháo thứ hai mươi là tổngcủa những gì họ sẵn sàng chi trả là 10 đô la (4+6) Bởi vì chi phí biên tế chỉ là 5 đô la để muađược quả pháo hoa thứ hai mươi, cho nên nếu tổng thiện ý chi trả của mọi người cho mỗi đơn
vị hàng hoá công tăng thêm vượt quá chi phí biên tế, thì tính hiệu quả đòi hỏi rằng nên muathêm đơn vị hàng hoá này; trường hợp ngược lại thì không nên mua Do vậy, tính hiệu quả đòihỏi rằng sự cung cấp hàng hoá công được mở rộng cho đến khi đạt đến mức mà tại đó tổng giátrị biên tế trên đơn vị hàng hoá cuối cùng của mỗi người là bằng chi phí biên tế
Trang 163.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Để tìm tổng thiện chí sẵn sàng chi trả của nhóm cho
pháo hoa, ta cộng những mức giá mà mỗi người sẵn sàng
chi trả cho số lượng hàng cho trước Đường cầu trong
hình A cho ta thấy A sẵn sàng chi trả 6 đô la với 20 quả
pháo E sẵn sàng chi trả 4 đô la cho tiêu dùng 20 quả
pháo Tổng thiện chí sẵn sàng chi trả của nhóm cho 20
quả pháo là 10 đô la Do vậy, nếu ta xác định trong hình A
là tổng thiện chí sẵn sàng chi trả của nhóm, khoảng cách
thẳng đứng theo trục tung giữa 𝐷𝑝𝐴+𝐸 và điểm p=20 phải
bằng 10 đô la.
Trang 173.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Đối với hàng hoá công, tổng thiện chí sẵn sàng chi trả được
xác định bằng cộng tổng theo chiều dọc của các đường cầu của
các cá nhân.
Ta có thể lưu ý tới sự đối xứng giữa hàng hóa công và hàng
hóa tư Đối với hàng hóa tư, để đạt hiệu quả Pareto, tất cả mọi
người có cùng tỷ lệ thay thế biên (MRS) như nhau, nhưng nhu
cầu hàng hóa với số lượng khác nhau, do đó lượng cầu được
cộng theo chiều ngang Đối với hàng hóa công, mọi người tiêu
dùng cùng một lượng hàng hóa nhưng người ta có MRS khác
nhau Để tìm tổng thiện chí chi trả của cả nhóm, ta tổng cộng
theo chiều dọc Hiệu quả Pareto ở đây được xác định tại điểm
mức giá mà A và E sẵn sàng chi trả thêm mỗi quả pháo là bằng
chi phí biên tế để sản xuất mỗi quả pháo.
Trang 183.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Một lần nữa, chúng ta có thể minh chứng kết quả trên
bằng công thức toán học Đối với ông A, pháo hoa biên
có giá trị 𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐴 và đối với E có giá trị là 𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐸 Vì vậy,
giá trị tổng cộng của xã hội là 𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐴 + 𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐸 Lợi ích
xã hội biên của đơn vị pháo hoa tiếp theo là tổng cộng tỷ
lệ thay thế biên của ông A và ông E Chi phí xã hội biên
(SMC) tức là chi phí biên sản xuất 1 đơn vị pháo hoa Vì
thế, điều kiện tối đa hóa hiệu quả xã hội đối với hàng hóa
công là:
𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐴 + 𝑀𝑅𝑆𝑝#𝐸 = SMC=MRTp#
Trang 193.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Khái quát hơn: σ 𝑀𝑅𝑆 = SMC Tối đa hóa hiệu quả xã hội khi
chi phí biên được thiết lập bằng tổng cộng MRS của mỗi người.
Đối với hàng hóa tư, tối ưu của người sản xuất khi chi phí biên
bằng với lợi ích biên của người tiêu dùng; và đó cũng là hiệu quả
của thị trường tự do cạnh tranh Tuy nhiên, đối với hàng hóa công,
tối ưu xã hội của người sản xuất khi chi phí biên bằng với lợi ích
biên của tất cả người tiêu dùng cộng lại Điều này bởi vì hàng hóa
tư có tính cạnh tranh: Một khi có người nào đó tiêu dùng thì nó sẽ
không còn nữa Trong khi, hàng hóa công không có cạnh tranh, nó
có thể được tiêu dùng bởi tất cả người tiêu dùng Xã hội hay người
sản xuất phải quan tâm đến tổng cộng tất cả sở thích của người tiêu
dùng.
Trang 203.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Để xác định đúng mức cung cấp hàng hóa công cộng hiệu quả, các cá nhân
phải thực hiện nguyên tắc nhất trí và tự nguyện đóng góp đồng thời phải bộc lộ
một cách trung thực nhu cầu của mình về hàng hóa công cộng Nếu một cá
nhân biết được số tiền mà cá nhân khác sẵn sàng đóng góp để có hàng hóa công
cộng thì người đó có thể bộc lộ nhu cầu của mình về hàng hóa công cộng cũng
như số tiền sẵn sàng đóng góp ít hơn thực tế
Trang 213.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Trong trường hợp cực đoan, nếu một người biết rằng việc mình có trả tiền hay khôngcũng không ảnh hưởng gì đến việc cung cấp hàng hóa công cộng thì anh ta sẽ không trả
tiền - hiện tượng, này gọi là Kẻ đi xe không trả tiền (có gốc từ khái niệm free rider trong
tiếng Anh) hay là kẻ hưởng thụ miễn phí, trong kinh tế học, chỉ những người thụ hưởngcác lợi ích từ hàng hóa công cộng mà không chịu tham gia gánh những chi phí cần thiết
để các hàng hóa đó được cung cấp, hoặc chịu gánh những chi phí nhưng ít hơn so với lợiích mà họ được hưởng Đây là những kẻ ngồi không hưởng lợi, thích thụ hưởng màkhông có trách nhiệm với cộng đồng và cũng là vấn đề thảm họa của mọi nền kinh tế và
là một thất bại của thị trường
Trang 223.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Đặc biệt, nếu hàng hóa công cộng do tư nhân cung cấp thì họ không cócông cụ, chế tài để buộc những người sử dụng trả tiền Đây chính là nguyên
nhân quan trọng khiến khu vực tư nhân không muốn cung cấp hàng hóa
công cộng Vì thế, chính phủ phải đóng vai trò cung cấp hàng hóa công cộng
và thu các khoản đóng góp thông qua thuế
Trang 233.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Nguyên nhân: Có ba nhân tố kết hợp với nhau làm nảy sinh tình trạng có kẻ đi xe không trảtiền Thứ nhất, hàng hóa công cộng có tính chất không thể loại trừ, nghĩa là không thể ngăn ai
đó không sử dụng hàng hóa chung này một khi nó được cung cấp Thứ hai, với giả định rằngmột người tiêu dùng là con người kinh tế điển hình, người ta sẽ luôn có ý thức tối thiểu hóa chitiêu cho một mức độ thỏa dụng xác định trước Điều đó có nghĩa là nếu có thể không trả tiền,thì không nên trả Và thứ ba, người ta có thể có ý nghĩ rằng khi mọi người khác gánh vác chiphí, mình không gánh thì vẫn có hàng hóa công cộng mà tiêu dùng Hàng hóa công cộng nào
có tính chất không thể bài trừ càng rõ, nhất là những hàng hóa công cộng thuần túy, thì tìnhtrạng này càng nghiêm trọng
Trang 243.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Hậu quả, Tình trạng kẻ đi xe không trả tiền có thể dẫn tới hai hậu quả sau.
Cung cấp không đủ: Lượng cung hàng hóa công cộng sẽ trở nên thấp hơn mức cần thiết, thậm
chí bằng không (không cung cấp) Kết quả là mọi người đều bị thiệt Cái này trong kinh tế học gọi là thiếu hiệu suất Pareto.
Ví dụ, một làng có kế hoạch xây dựng một con đường và kêu gọi dân cư góp tiền để thực hiện kế hoạch Đường nếu được làm rồi khó mà ngăn ai đó không được sử dụng Và nếu không có biện pháp nào để buộc mọi người đóng góp đủ mức, tất sẽ có người đóng góp ít, thậm chí có người không chịu đóng góp Những người này chính là những "kẻ đi xe không trả tiền" Nếu không huy động đủ tiền theo dự toán ngân sách thực hiện kế hoạch, con đường làng có thể sẽ không được làm
ra hoặc làm với chất lượng thấp, độ dài và bề rộng không đủ mức cần thiết.
Trang 253.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Hậu quả, Tình trạng kẻ đi xe không trả tiền có thể dẫn tới hai hậu quả sau.
Bi kịch của mảnh đất công Hiện tượng "bi kịch của mảnh đất công", nghĩa là cá nhân đua nhau
khai thác quá mức tài sản chung Kết quả là tài sản chung bị mất mát đáng kể, rốt cục gây thiệt hại cho tất cả mọi người.
Ví dụ, một cơ quan phải mua điện để hoạt động Nếu cơ quan này không quản lý sử dụng điện năng tốt, nhân viên sẽ có xu hướng tiêu dùng điện quá mức Tồi tệ hơn nữa, người ta có xu hướng theo nhau không tiết kiệm điện, vì người tiết kiệm hơn là người được nhận lợi ích ròng ít hơn Hậu quả là
cơ quan sẽ có chi phí hoạt động rất lớn bởi tiền điện Về lâu dài, cơ quan sẽ phải giảm chi phí, có thể bằng cách cắt giảm tiền thưởng hoặc bằng cách hạn chế tiêu dùng điện năng của nhân viên một cách khắt khe.
Trang 263.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Tranh luận về sản xuất hàng hóa tiêu dùng chung của khu vực tư
Hàng hóa công không phải nhất thiết là do khu vực công cung cấp mà có thể là
do khu vực tư cung cấp Ở phần trên chúng ta đã phân tích điều kiện cung cấp hànghóa công tối ưu Từ điều kiện này, chúng ta gắn kết với sự tham gia của khu vực tưvào cung cấp hàng hóa công và liệu là khu vực tư có đáp ứng được điều kiện đó haykhông?
Trang 273.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Cung cấp tư về hàng hóa công dưới mức khả năng.
Nói chung, trong thực tế khu vực tư cung cấp hàng hóa công dưới mức khả năng, bởi
vì vấn đề người hưởng thụ hưởng tự do không trả tiền Khi một đầu tư có tốn kém chi phí
cá nhân, nhưng mang lại lợi ích chung thì cá nhân đó sẽ đầu tư ít hơn Một khi sự hưởngthụ của bạn về hàng hóa công không phụ thuộc duy nhất vào sự đóng góp của bạn, thì bạn
sẽ có xu hướng đóng góp ít hơn so với mức cung cấp tối ưu xã hội Tình trạng này tựnhiên dẫn đến cung cấp hàng hóa công dưới mức tiềm năng Vì vậy, vấn đề người hưởngthụ tự do không phải trả tiền dẫn đến vai trò tiềm năng can thiệp của chính phủ vào thịtrường
Tranh luận về sản xuất hàng hóa tiêu dùng chung của khu vực tư
Trang 283.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Tranh luận về sản xuất hàng hóa tiêu dùng chung của khu vực tư
Giả sử cần phải bỏ ra 40 nghìn đồng để có
được con phố sạch đẹp bên ngoài ngôi nhà của
mình Khi đó, hoặc là mình, hoặc là người
hàng xóm của mình sẽ trả số tiền phí đó Tất
cả mọi người đều hưởng lợi từ con phố sạch
đẹp với lợi ích lượng hóa được là 30 nghìn
đồng Nên như thế nào?
Hàng xóm trả
Hàng xóm không trả Mình trả (+1;+1) (-1;+3)
Mình không trả
(+3;-1) (0;0)
Trang 293.2 Cung cấp hiệu quả hàng hóa công.
Tranh luận về sản xuất hàng hóa tiêu dùng chung của khu vực tư
Khắc phục tình trạng người hưởng thụ tự do không trả tiền, tức động cơ cho khu vực
tư nhân cung cấp hàng hóa công.
Vấn đề người hưởng thụ tự do không trả tiền hoàn toàn không ngăn cản sự tham gia của
khu vực tư vào cung cấp hàng hóa công Có nhiều dịch vụ công được tài trợ bởi khu vực tư: y
tế, giáo dục, công viên … Vậy, câu hỏi đặt ra là: Trong tình huống nào thì thị truờng tư có thể
giải quyết tình trạng người hưởng thụ tự do không phải trả tiền; còn tình huống nào thì không ?
Trong phần này, chúng ta xem xét các yếu tố quyết định thành công trong việc khu vực tư cung
cấp về hàng hóa công, đó là: Sự khác biệt các cá nhân về nhu cầu hàng hóa công, sự quan tâm
đến phúc lợi xã hội của các nhà tài trợ tiềm năng đối với hàng hóa công và mức thoả dụng từ
đóng góp của họ đối với hàng hóa công Cụ thể: