1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận đường lối cách mạng

24 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thu An, Đoàn Ngọc Ánh, Trương Thị Thanh Hoa, Dương Tuấn Đạt
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Lý Luận Chính Trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 311,05 KB
File đính kèm TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG.rar (276 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Phân tích quan điểm “công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

kinh tế tri thức”

Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Thị Lan

Sinh viên thực hiện: Nhóm 8 Lớp: 116975

1 Nguyễn Thu An - 20180606

2 Đoàn Ngọc Ánh - 20180632

3 Trương Thị Thanh Hoa - 20183077

4 Dương Tuấn Đạt - 20130803

Trang 2

MỤC LỤC

1 PHẦN MỞ ĐẦU 4

1.1 Sự cần thiết của đề tài 4

1.2 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Nội dung nghiên cứu 4

2 PHẦN NỘI DUNG 5

2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa – hiện đại hóa 5

2.1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá 5

2.1.2 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá 5

2.1.3 Quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá 5

2.1.4 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 8

2.2 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức 12

2.2.1 Kinh tế tri thức 12

2.2.2 Phân tích quan điểm “Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức” 14

2.3 Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức 19 3 LIÊN HỆ VỚI VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN 20

4 PHẦN KẾT LUẬN 22

5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

Danh mục chữ viết tắt

Trang 4

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết của đề tài

Nếu như thế kỷ XX trong lịch sử Việt Nam là thế kỷ của những biến đổi to lớn và sâu sắc, thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập tự do thống nhất Tổ quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại, thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng của toàn dân tộc chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đã mạnh hơn nhiều, tuy từng bước phát triển nhưng một số thành phần của kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, in-tơ-nét, điện thoại

di động trong giai đoạn 2001 - 2005 đã phát triển khá nhanh Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan, Ấn Độ biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc tế tạo ra, kết hợp nội lực với các thuận lợi bước đầu về phát triển kinh tế tri thức, Đảng ta đã đề ra đường lối: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức"

Từ đó, đề tài cần nghiên cứu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay

1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về các đối tượng sau:

- Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

- Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

1.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu ở Việt Nam và trong thời gian hiện nay

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài tiểu luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lenin Kết hợp với các tài liệu sưu tầm trên mạng, sách báo và tự suy luận khách quan

1.5 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về các nội dung:

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa – hiện đại hóa

- Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

- Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

Trang 5

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa – hiện đại hóa

2.1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển cao của công nghiệp và sự tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn

Nó bao gồm 2 nội dung:

- Trang bị kĩ thuật – công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp và các ngành khác của nền kinh

tế quốc dân

- Tạo lập cơ cấu kinh tế mới mà nòng cốt là cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ hiện đại

2.1.2 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng- an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Đại hội X của Đảng xác định mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh

tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

2.1.3 Quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

❖ Một là, công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với

phát triển kinh tế tri thức

Từ thế kỷ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành công nghiệp hóa Khi đó công nghiệp hóa được biểu hiện là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưng trong thời đại ngày nay Ở đại hội Đảng X đã nhận định: “khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt kinh té tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất” Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó xu thế hội nhập và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải

Trang 6

và có thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường phát triển kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa

Nước ta thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức đã phát triển Chúng ta không cần thiết phải trải qua tất cả các bước phát triển rồi mới phát triển kinh tế tri thức Đó là lợi thế của các nước đi sau Vì vậy, đại hội X chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Kinh tế tri thức (theo OECD): kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập

và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới

sự phát triển là những ngành dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới của khoa học, công nghệ Ví dụ như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học công nghệ cao

❖ Hai là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng

XHCN và hội nhập quốc tế

Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiền hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là công việc của nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Ở thời kỳ trước đổi mới phương thức phân bổ nguồn lực để CNH được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn ở thời kỳ đổi mới được thực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường không những khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế mà còn sử dụng chúng có hiệu quả để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước Bởi vì khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy mô thế nào, công nghệ gì đều đòi hỏi phải tính toán cân nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, sai mục đích, kém hiệu quả và lãng phí thất thoát

CNH, HĐH nền kinh tế nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm của nước ta… Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng khó phát triển

❖ Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh,

bền vững

Trang 7

Đầu tiên, các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ có tác dụng khi có sự tác động của con người Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí biết lợi dụng, các nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người

và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người nên con người biết cách tác động và chi phối Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất

Thứ hai: Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai thác Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô tận Tính vô tận, trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh mà còn tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới không ngừng phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận

Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Mục đích của quá trình CNH là nâng cao năng suất lao động, ứng dụng khoa học công nghệ

Để thực hiện được phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nhân lực

❖ Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện

đại hoá

Khoa học công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, năng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung Nước ta tiến lên chủ nghĩa từ một nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình độ thấp Muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học công nghệ là tất yếu và bức xúc phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế, kết hợp và phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới

❖ Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với thực

hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học

Xây dựng CNXH ở Việt Nam thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh

Xã hội công bằng dân chủ văn minh Để thực hiện mục tiêu đó, trước hất kinh tế phải phát triển nhanh hiệu quả và bền vững Chỉ có vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời

Trang 8

sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng…

Sự phát triển nhanh hiệu quả và bền vững có mối quan hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường

tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học Môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học là môi trường sống và hoạt động kinh tế của con người Bảo vệ môi trường tự nhiên chính là bảo vệ điều kiện sống của con người và cũng là nội dung của sự phát triển bền vững

2.1.4 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

a Thành tựu đạt được

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu phát triển công nghiệp đất nước Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, những năm gần đây có đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước, trở thành ngành xuất khẩu chủ đạo với tốc độ tăng trưởng ở mức cao Cơ cấu các ngành công nghiệp có sự chuyển biến tích cực, một số ngành công nghiệp như: Điện, điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông, chế tạo thiết bị năng lượng, dệt may, da giày, xây dựng… đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất và nâng cao đời sống của nhân dân Cụ thể:

- Tăng trưởng kinh tế

Sau một số năm đầu chuyển đổi gặp nhiều khó khăn, về cơ bản từ năm 1991 đến nay, nước

ta đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm

2019 đạt kết quả ấn tượng, tăng trưởng kinh tế năm 2019 đạt 7,02%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6-6,8% Đây là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể

từ năm 2011 Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011 - 2017.Tăng trưởng GDP được đảm bảo đã tạo điều kiện mở rộng quy mô nền kinh tế Tiềm lực kinh tế được tăng cường, góp phần nâng cao vị thế đất nước trên bản đồ kinh tế thế giới và khu vực

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ

cấu vùng kinh tế theo các mục tiêu CNH, HĐH

Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng CNH, HĐH Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm dần Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP tăng

Việc chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành cũng đã gắn nhiều hơn với các yêu cầu về CNH, HĐH Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp khai khoáng giảm dần, tỷ trọng của giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng dần, nhất là giai đoạn

20 năm gần đây Giai đoạn 1996 - 2012, tỷ trọng của ngành công nghiệp khai khoáng trong giá

Trang 9

trị sản xuất ngành công nghiệp đã giảm từ 13,52% xuống còn 7,57%; ngược lại, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 80,26% lên 87,82% Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống của người dân Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với CNH, HĐH như dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông phát triển nhanh trên nhiều mặt

Bên cạnh đó, việc thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã góp phần phát huy tiềm năng, lợi thế của từng thành phần kinh tế trong quá trình CNH, HĐH Kinh tế nhà nước đã từng bước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Kinh tế ngoài nhà nước phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội

- Mức độ hội nhập, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Đến nay, nước ta đã tham gia hội nhập trên tất cả các cấp độ, từng bước tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi giá trị cung ứng Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện Xuất khẩu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Quy mô xuất khẩu không ngừng mở rộng qua các năm

Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theo định hướng CNH, HĐH Trong đó, xuất khẩu có sự thay đổi theo hướng tăng sản phẩm chế biến, nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho sản xuất, giảm tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng hàng thô và tài nguyên Trong khi đó, cơ cấu hàng nhập khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng ưu tiên phục vụ sản xuất để xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, trong đó các mặt hàng phục vụ nhu cầu CNH, HĐH và nông nghiệp, nông thôn nói riêng như ô tô, sắt thép, vải, xăng dầu, chất dẻo, phân bón, thuốc trừ sâu…

có tốc độ tăng cao nhất và chiếm tỷ trọng cao

- Chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng nguồn lực nhân lực

Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH Tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp đã giảm mạnh Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng liên tục

Cùng với quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động, chất lượng nguồn nhân lực cũng đã có sự cải thiện đáng kể Công tác dạy nghề từng bước phát triển, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ mức dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 và đến năm 2013 là 49%

- Cải thiện mức sống dân cư, nâng cao khả năng tiếp cận của người dân với các dịch

vụ công cơ bản

Một thành công quan trọng của nước ta qua gần 30 năm đổi mới là đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Trang 10

Hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được phát triển đồng bộ, đặc biệt là trong vấn đề giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáo dục Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Đồng thời, quá trình thực hiện CNH, HĐH cũng đã góp phần giải quyết quả vấn đề việc làm Nhờ đó, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế giảm đáng kể, từ mức bình quân 8,39% giai đoạn 1990 - 2000 xuống còn 5,2% giai đoạn 2001 - 2010 và 4,48% giai đoạn 2011 - 2013

- Về phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ yêu cầu CNH, HĐH

Với chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, trong những năm qua nước ta đã dành lượng vốn hàng năm khoảng 9 - 10% GDP đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng Đây là tỷ lệ khá cao nếu so với các nước trong khu vực Nhờ đó, hệ thống kết cấu hạ tầng được củng cố và nâng cấp theo hướng chuẩn hóa, phát triển đồng bộ, nâng cao chất lượng, mở rộng diện phục vụ đến hầu hết mọi miền đất nước, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Hạ tầng năng lượng cũng đã được đầu tư đảm bảo cung cấp đủ cho phát triển kinh tế - xã hội

và an ninh năng lượng quốc gia Hệ thống năng lượng hình thành được nguồn cung ứng năng lượng với cơ cấu đa dạng gồm năng lượng than, dầu khí, thủy năng, các dạng năng lượng khác

Hạ tầng công nghệ thông tin có bước phát triển khá, ứng dụng công nghệ thông tin đã trở thành hoạt động thường xuyên, rộng khắp, trong mọi lĩnh vực và phổ biến trong xã hội, gắn kết chặt chẽ với cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp với các ngành, các lĩnh vực kinh tế Đến năm 2010, số Internet/100 dân đạt 30 và số điện thoại/100 dân đạt 180 vào loại cao trên thế giới

Hạ tầng thuỷ lợi cũng được đầu tư, qua đó thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Tỷ lệ đất canh tác trong cả nước được tưới tiêu tăng đáng kể, góp phần quan trọng gia tăng giá trị và năng suất sản xuất nông nghiệp

Về hệ thống hạ tầng xã hội, hệ thống mạng lưới các trường đại học, cơ sở y tế phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của người dân

b Thuận lợi

Trong quá trình CNH-HĐH, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này Trước đây, nước Anh thực hiện CNH đầu tiên, phải mất 120 năm; nước Mỹ đi sau, chỉ mất 90 năm; sau nữa là Nhật Bản xuống còn 70 năm; và các nước công nghiệp mới (NICs)

có hơn 30 năm Việt Nam thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang phát triển kinh tế tri thức (KTTT), với sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ

Trang 11

thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới đúng như tiên đoán của C Mác và Ph Ăng-ghen từ giữa thế kỷ XIX: ''Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp'' Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn

Chính vì thế, tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận điểm quan

trọng về phát triển KTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then

chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế- xã hội, từng bước phát triển KTTT ở nước ta'' Tới Đại hội X, việc phát triển KTTT được thể hiện rõ

với tư cách là một yếu tố cấu thành đường lối CNH-HĐH đất nước: ''Tranh thủ cơ hội thuận lợi

do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH-HĐH Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại” Và Đại hội XI, với định hướng chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế,

chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng, sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững, Đảng ta

tiếp tục khẳng định: ''phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển KTTT, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”

Từ một nền kinh tế nông nghiệp đi lên Chủ nghĩa xã hội, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng

ta phải tiến thành đồng thời hai quá trình: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp (CNH-HĐH); chuyển từ kinh tế nông-công nghiệp lên KTTT Trong khi ở các nước đi trước, đó là hai quá trình kế tiếp nhau, thì ở nước ta, tận dụng cơ hội là nước đi sau, hai quá trình này được lồng ghép với nhau, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức

là gắn CNH-HĐH với phát triển KTTT

c Khó khăn

Tuy có nhiều thuận lợi và đã có nhiều thành tựu, nền công nghiệp nước ta thời gian qua phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ yếu phát triển theo mục tiêu ngắn hạn, thiếu tính bền vững; nội lực của nền công nghiệp còn yếu, phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trình độ công nghệ còn lạc hậu, chậm được đổi mới; chất lượng sản phẩm, năng suất lao động ngành công nghiệp còn thấp; phát triển công

Trang 12

nghiệp chưa gắn kết chặt chẽ với các ngành kinh tế khác; còn quá chú trọng vào lao động giá rẻ,

chưa tận dụng tốt được lợi thế trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng Hiệu quả hoạt động của đa số

doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thấp, nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn thua lỗ; hầu hết

các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ; việc cơ cấu lại

các ngành công nghiệp thực hiện còn chậm; năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia vào chuỗi

giá trị khu vực, toàn cầu còn rất hạn chế, sản xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá

trị gia tăng thấp; chưa có ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò dẫn dắt; nhiều ngành công

nghiệp ưu tiên phát triển không đạt mục tiêu đề ra; công nghiệp hỗ trợ kém phát triển, tỉ lệ nội

địa hoá của các ngành công nghiệp ở mức thấp; tình trạng ô nhiễm môi trường từ phát triển công

nghiệp ngày càng trầm trọng

2.2 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa gắn với

phát triển kinh tế tri thức

2.2.1 Kinh tế tri thức

a Khái niệm

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm năm 1995: “Nền kinh tế tri

thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất

đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống”

b Vai trò của nền kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự phát triển chưa từng thấy

của nhân loại

Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội ngày nay Phát triển kinh

tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạc hậu Từ những tri thức, công nghệ kỹ thuật mới,

các tư liệu lao động mới, hệ thống máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra Quá trình

đó sẽ giúp phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu mới, năng

lượng mới,…có thể trước đây chưa từng xuất hiện, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng

thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các nguồn tài nguyên Kinh tế tri thức là động lực thúc đẩy tiến trình xã hội hóa quan hệ sản xuất và lực lượng sản

xuất, làm cho phân công lao động xã hội phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Kinh tế tri thức được hình thành, phát triển trên cơ sở các ngành sản xuất sử dụng công nghệ

cao Từ đó mà tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của toàn bộ nền kinh tế

- Nó thúc đẩy công nghiệp phát triển nhanh thông qua các cuộc cách mạng, cách mạng

xanh, cách mạng sinh học

Ngày đăng: 27/10/2023, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w