MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 1.Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới 2 1.1.Hoàn cảnh lịch sử 2 1.2.Quá trình hình thành, phát triển đường lối 4 2.Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới 6 2.1.Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo 6 2.2.Một số chủ trương, chính sách về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới 7 3.Đánh giá kết quả của việc thực hiện đường lối đối ngoại 9 3.1.Thành tựu 9 3.2.Hạn chế 12 3.3.Nguyên nhân 13 PHẦN KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt 1 APEC Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương 2 WTO Tổ chức thương mại thế giới 3 WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới 4 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 5 EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Châu Âu 6 UKFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Anh Quốc 7 CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 8 RCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực 9 ASEM Hội nghị thượng đỉnh Á Âu 10 UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc PHẦN MỞ ĐẦU Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng diễn biến phức tạp và khó lường về ngoại giao giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Xu hướng toàn cầu hóa vẫn phát triển mạnh mẽ và tác động tới mọi quốc gia. Các nước đang phát triển ngày càng tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế vì nhận thấy các tác động tích cực mà nó mang lại. Trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế hàng đầu của mỗi quốc gia. Sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, môi trường hòa bình, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn so với trước. Nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được trước đó, với mục tiêu xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Việt Nam đã và đang hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế một cách chặt chẽ để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh Covid19, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, buôn bán ma túy,… Những nỗ lực của nước ta suốt thời gian qua đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm đối với bạn bè quốc tế. Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích chung của dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa,… Vì vậy, em chọn đề tài nghiên cứu là “Đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới”. PHẦN NỘI DUNG 1.Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới 1.1.Hoàn cảnh lịch sử Tình hình thế giữa giữa thập niên 80 của thế kỷ XX: Từ năm 1980, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Các nước xã hội chủ nghĩa bị lâm vào khủng hoảng sâu sắc. Đến năm 1991, chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến sự biến đổi to lớn trong quan hệ quốc tế. Tuy trên thế giới những cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ vẫn xảy ra, nhưng xu thế chung vẫn là hòa bình và hợp tác phát triển. Các nước có xu hướng chạy đua phát triển kinh tế, nên đã đổi mới tư duy đối ngoại, nhất là các nước đang phát triển, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để thu hút nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại, mở rộng thị trường, học tập những kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các nước cũng thay đổi nhận thức về quan niệm sức mạnh và vị thế quốc gia. Thay vì chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự bằng các tiêu chí khác, trong đó sức mạnh kinh tế là quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, nổi lên xu hướng toàn cầu hóa và tác động của nó làm thay đổi nhận thức của các quốc gia đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nhìn dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hóa là quá trình quan hệ kinh tế quốc tế và lực lượng sản xuất phát triển vượt khỏi rào cản biên giới quốc gia, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu. Trong đó hàng hóa, vốn, lao động,…được trao đổi tự do giữa các quốc gia, quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau, tạo nên mạng lưới quan hệ đa chiều. Toàn cầu hóa mang lại những tác động tích cực đó là: mở rộng thị trường, thúc đẩy trao đổi hàng hóa và hoạt động sản xuất của các quốc gia; nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia vào quá trình này. Không những thế, toàn cầu hóa cũng làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhua giữa các quốc gia, tạo thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác giữa các nước. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng có những tác động tiêu cực như: các nước công nghiệp chi phối quá trình toàn cầu hóa có thể tạo nên sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế, hay làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nước. Đại hội XI của Đảng nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp”1. Tóm lại, các nước muốn phát triển, không bị lạc hậu thì cần phải chủ động và tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, đồng thời cũng cần cân nhắc các yếu tố bất lợi để vượt qua. Trên thế giới, tình hình những năm tới sẽ còn diễn biến phức tạp, nhưng xu thế lớn vẫn là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Quá trình toàn cầu hóa cũng không ngừng được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn ngày càng gia tăng. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của nhiều lĩnh vực, mang lại cả cơ hội và thách thức với nhiều quốc gia. Tình hình chính trị, an ninh thế giới có nhiều vấn đề diễn ra gay gắt ở nhiều nơi như chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo,… Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, có nhiều biến động khó lường, nhiều khó khăn, thách thức. Các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các hiệp định kinh tế song phương, đa phương thế hệ mới. Tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Từ những năm 1990, khu vực này có nhiều chuyển biến mới như: tranh chấp chủ quyền biển đảo, tài nguyên; tồn tại bất ổn về vấn đề hạt nhân; các nước tăng cường chạy đua vũ trang nhưng đây vẫn được đánh giá là khu vực ổn định. Ngoài ra, khu vực này giàu tiềm năng và năng động về phát triển kinh tế. Xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực phát triển rất mạnh. Yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Việt Nam: Từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta dẫn đến tình trạng mất ổn định trong khu vực, cản trở tới sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng ở nước ta. Vì vậy, vấn đề cấp thiết đối với nước ta là phá thế bị bao vây, làm bình thường hóa và mở rộng quan hệ với các nước, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Mặt khác, do hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại và những lỗi chủ quan, kinh tế Việt Nam bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đứng trước nguy cơ tụt hậu 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sdd, tr.70 xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới là một trong những thách thức rất lớn đối với cách mạng Việt Nam. Để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa ta với các nước, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trong nước thì cũng cần tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng. Những yếu tố nêu trên chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới. 1.2.Quá trình hình thành, phát triển đường lối Giai đoạn 1986 – 1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986), nhận thức được cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ cùng với sự quốc tế hóa lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”2. Từ đó, Đảng ra chủ trương phải kết hợp sức mạnh thời đại với việc mở rộng quan hệ, hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, các nước công nghiệp phát triển trên tư cách bình đẳng, cùng có lợi. Triển khai chủ trương đó, tháng 121987 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Đây là lần đầu tiên nước ta tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tháng 051988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đề ra những chủ trương trong việc chủ động chuyển từ đối đầu sang đấu tranh, hợp tác trong hòa bình; tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa để mở rộng quan hệ quốc tế. Nghị quyết số 13 đã thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng trong nhiều lĩnh vực đối ngoại: mục tiêu đối ngoại, đoàn kết quốc tế, quan hệ chính trị quốc tế, tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế của Việt Nam. Nó cũng đánh dấu sự chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta, chính điều này đã đặt nền móng cho sự hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Các quan điểm về đối ngoại tiếp tục được cụ thể hóa trong các Hội nghị Trung ương (khóa VII). Hội nghị đại biểu toàn quốc khóa VII (11994) chủ trương triển khai đồng bộ, mạnh mẽ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Như vậy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc VI của Đảng quan điểm và chủ trương mở rộng đối ngoại đã được đề ra, sau đó đến khóa VII thì hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Giai đoạn 1996 – nay: Bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới so với đại hội VII: (1) quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, các tổ chức chính phủ; (2) chủ trương mở rộng quan hệ với Đảng cầm quyền và các đảng khác 3; (3) đây là lần đầu tiên Đảng đưa ra chủ trương tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (121997) đã cụ thể hóa quan điểm của đại hội VIII, ra chủ hành chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. Tới Hội nghị Ban chấp hành trung ương khóa IX (012004) nhấn mạnh các yêu cầu chuẩn bị các điều kiện trong nước thật tốt để sớm gia nhập WTO, kiên quyết đấu tranh với mọi vấn đề làm kìm hãm quá trình hội nhập quốc tế. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần X (042006), Đảng đã nêu ra quan điểm: thực hiện đồng nhất đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, mở rộng đối ngoại, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đưa ra chủ trương: “triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” 4. Nó đã thể hiện sự đổi mới về tư duy đối ngoại so với Đại hội X – chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” lên “hội nhập quốc tế” tức là hội nhập nhiều mặt, đồng bộ từ kinh tế đến văn hóa, chính trị, giáo dục, an ninh, quốc phòng,… Đại hội XII vẫn tiếp tục khẳng định chủ trương đó. Cho tới tháng 022021, Đại hội XIII chỉ ra rằng “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối 3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.121. 4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Sdd, tr.319322. quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả”. Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế được xác lập trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới, và cho tới đại hội XIII mới đây đã luôn được phát triển, bổ sung theo hướng tích cực. 2.Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới 2.1.Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo Về cơ hội thách thức: Cơ hội: Xu hướng toàn cầu hóa và xu thế hòa bình, hợp tác phát triển tạo thuận lợi cho nước ta mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế quốc tế. Không những thế, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đã nâng cao thế và lực của đất nước cũng như tạo tiền đề cho quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế. Thách thức: Các vấn đề dịch bệnh, phân hóa giàu nghèo,… gây tác động bất lợi đối với nước ta. Kinh tế Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia; tác động của thị trường thế giới tác động mạnh đến thị trường trong nước, tiềm ẩn nhiều rủi ro gây rối loạn, thậm chí khủng hoảng kinh tế tài chính. Ngoài ra, các thế lực thù địch có thể lợi dụng toàn cầu hóa để chống phá chế độ chính trị và sự ổn định của nước ta. Những cơ hội và thách thức trên đều có mối quan hệ, tác động qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau. Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định nhiệm vụ của đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”5. Từ đó, cho thấy mở rộng quan hệ và hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước, kết hợp nội lực và ngoại lực tạo nên sức mạnh tổng hợp để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công 5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Sđd, tr.236. bằng, văn minh; góp phần tích cực vào đấu tranh chung của thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tư tưởng chỉ đạo Bảo đảm lợi ích dân tộc một cách chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cùng với thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam. Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, cố gắng thúc đẩy hợp tác nhưng cũng phải đấu tranh ở mức độ thích hợp; đấu tranh để hợp tác, tránh rơi vào thế cô lập. Mở rộng quan hệ với tất cả quốc gia trên thế giới mà không phân biệt chế độ chính trị xã hội. Coi trọng hợp tác khu vực và chủ động tham gia tổ chức đa phương, khu vực và toàn cầu. Giữ vững độc lập tự chủ đất nước và đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Giữ vững ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập nhưng không hòa tan. Phát huy tối đa nội lực đồng thời thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực, xây dựng một nền kinh tế có lợi thế so sánh và độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế. Luôn biết phối hợp chặt chẽ, hài hòa các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữ ngoại giao chính trị với văn hóa và kinh tế, giữa đối ngoại với an ninh, quốc phòng. 2.2.Một số chủ trương, chính sách về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới Đại hội XII xác định: Thứ nhất là, bảo đảm lợi ích của dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi, thực hiện một cách nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân; kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân ta và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHQGHN
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHQGHN KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM Đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thời
kỳ đổi mới
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
1 Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới 2
1.1 Hoàn cảnh lịch sử 2
1.2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối 4
2 Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới 6
2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo 6
2.2 Một số chủ trương, chính sách về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới 7
3 Đánh giá kết quả của việc thực hiện đường lối đối ngoại 9
3.1 Thành tựu 9
3.2 Hạn chế 12
3.3 Nguyên nhân 13
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 APEC Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
5 EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Châu Âu
6 UKFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Anh Quốc
7 CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
8 RCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực
10 UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng diễn biến phức tạp và khó lường
về ngoại giao giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Xu hướng toàn cầu hóa vẫn phát triển mạnh mẽ và tác động tới mọi quốc gia Các nước đang phát triển ngày càng tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế vì nhận thấy các tác động tích cực mà nó mang lại Trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế hàng đầu của mỗi quốc gia
Sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, môi trường hòa bình, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn so với trước Nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được trước đó, với mục tiêu xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Việt Nam đã
và đang hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế một cách chặt chẽ để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh Covid-19, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, buôn bán ma túy,… Những nỗ lực của nước ta suốt thời gian qua đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm đối với bạn bè quốc tế Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích chung của dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa,… Vì vậy, em chọn đề tài nghiên cứu là “Đường lối đối ngoại, hội nhập kinh
tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới”.
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
1 Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới
1.1 Hoàn cảnh lịch sử
- Tình hình thế giữa giữa thập niên 80 của thế kỷ XX:
Từ năm 1980, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang trên đà phát triển mạnh mẽ Các nước xã hội chủ nghĩa bị lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến năm
1991, chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến sự biến đổi to lớn trong quan hệ quốc tế
Tuy trên thế giới những cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ vẫn xảy ra, nhưng
xu thế chung vẫn là hòa bình và hợp tác phát triển Các nước có xu hướng chạy đua phát triển kinh tế, nên đã đổi mới tư duy đối ngoại, nhất là các nước đang phát triển, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; mở rộng
và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để thu hút nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại, mở rộng thị trường, học tập những kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh Ngoài ra, các nước cũng thay đổi nhận thức về quan niệm sức mạnh và vị thế quốc gia Thay vì chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự bằng các tiêu chí khác, trong đó sức mạnh kinh tế là quan trọng hàng đầu
Bên cạnh đó, nổi lên xu hướng toàn cầu hóa và tác động của nó làm thay đổi nhận thức của các quốc gia đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nhìn dưới góc
độ kinh tế, toàn cầu hóa là quá trình quan hệ kinh tế quốc tế và lực lượng sản xuất phát triển vượt khỏi rào cản biên giới quốc gia, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu Trong
đó hàng hóa, vốn, lao động,…được trao đổi tự do giữa các quốc gia, quan hệ kinh
tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau, tạo nên mạng lưới quan hệ đa chiều Toàn cầu hóa mang lại những tác động tích cực đó là: mở rộng thị trường, thúc đẩy trao đổi hàng hóa và hoạt động sản xuất của các quốc gia; nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia vào quá trình này Không những thế, toàn cầu hóa cũng làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhua giữa các quốc gia, tạo thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác giữa các nước
Mặt khác, toàn cầu hóa cũng có những tác động tiêu cực như: các nước công nghiệp chi phối quá trình toàn cầu hóa có thể tạo nên sự bất bình đẳng trong quan
hệ quốc tế, hay làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nước Đại hội XI của
Trang 7Đảng nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp”1
Tóm lại, các nước muốn phát triển, không bị lạc hậu thì cần phải chủ động và tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, đồng thời cũng cần cân nhắc các yếu
tố bất lợi để vượt qua
Trên thế giới, tình hình những năm tới sẽ còn diễn biến phức tạp, nhưng xu thế lớn vẫn là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển Quá trình toàn cầu hóa cũng không ngừng được đẩy mạnh Hợp tác, cạnh tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn ngày càng gia tăng Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của nhiều lĩnh vực, mang lại cả cơ hội và thách thức với nhiều quốc gia Tình hình chính trị, an ninh thế giới có nhiều vấn đề diễn ra gay gắt ở nhiều nơi như chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo,… Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn Kinh tế thế giới phục hồi chậm, có nhiều biến động khó lường, nhiều khó khăn, thách thức Các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các hiệp định kinh tế song phương, đa phương thế hệ mới
- Tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương:
Từ những năm 1990, khu vực này có nhiều chuyển biến mới như: tranh chấp chủ quyền biển đảo, tài nguyên; tồn tại bất ổn về vấn đề hạt nhân; các nước tăng cường chạy đua vũ trang nhưng đây vẫn được đánh giá là khu vực ổn định Ngoài
ra, khu vực này giàu tiềm năng và năng động về phát triển kinh tế Xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực phát triển rất mạnh
- Yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Việt Nam:
Từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta dẫn đến tình trạng mất ổn định trong khu vực, cản trở tới sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng ở nước ta Vì vậy, vấn đề cấp thiết đối với nước ta là phá thế bị bao vây, làm bình thường hóa và mở rộng quan hệ với các nước, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế
Mặt khác, do hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại và những lỗi chủ quan, kinh tế Việt Nam bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đứng trước nguy cơ tụt hậu
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sdd, tr.70
Trang 82 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.364
4
xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới là một trong những thách thức rất lớn đối với cách mạng Việt Nam Để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa ta với các nước, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trong nước thì cũng cần tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế quốc tế
có ý nghĩa rất quan trọng
Những yếu tố nêu trên chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới
1.2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối
Giai đoạn 1986 – 1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), nhận thức được cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ cùng với sự quốc tế hóa
lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa
các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” 2 Từ
đó, Đảng ra chủ trương phải kết hợp sức mạnh thời đại với việc mở rộng quan hệ, hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, các nước công nghiệp phát triển trên tư cách bình đẳng, cùng có lợi Triển khai chủ trương đó, tháng 12/1987 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành Đây là lần đầu tiên nước ta tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Tháng 05/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đề ra những chủ trương trong việc chủ động chuyển
từ đối đầu sang đấu tranh, hợp tác trong hòa bình; tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa để mở rộng quan hệ quốc tế Nghị quyết
số 13 đã thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng trong nhiều lĩnh vực đối ngoại: mục tiêu đối ngoại, đoàn kết quốc tế, quan hệ chính trị quốc tế, tập hợp lực lượng trong
quan hệ quốc tế của Việt Nam Nó cũng đánh dấu sự chuyển hướng toàn bộ chiến
lược đối ngoại của Đảng ta, chính điều này đã đặt nền móng cho sự hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.
Các quan điểm về đối ngoại tiếp tục được cụ thể hóa trong các Hội nghị Trung ương (khóa VII) Hội nghị đại biểu toàn quốc khóa VII (1/1994) chủ trương
Trang 9triển khai đồng bộ, mạnh mẽ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng
hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
Như vậy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc VI của Đảng quan điểm và chủ trương
mở rộng đối ngoại đã được đề ra, sau đó đến khóa VII thì hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế
Giai đoạn 1996 – nay: Bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới so với đại hội VII: (1) quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, các tổ chức chính phủ; (2) chủ trương mở rộng quan hệ với Đảng cầm quyền và các đảng khác 3; (3) đây là lần đầu tiên Đảng đưa ra chủ trương tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (12/1997) đã cụ thể hóa quan điểm của đại hội VIII, ra chủ hành chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Mỹ, gia nhập APEC và WTO
Tới Hội nghị Ban chấp hành trung ương khóa IX (01/2004) nhấn mạnh các yêu cầu chuẩn bị các điều kiện trong nước thật tốt để sớm gia nhập WTO, kiên quyết đấu tranh với mọi vấn đề làm kìm hãm quá trình hội nhập quốc tế
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần X (04/2006), Đảng đã nêu ra quan điểm: thực hiện đồng nhất đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát
triển, mở rộng đối ngoại, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, “chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đưa ra chủ trương: “triển khai
đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” 4 Nó đã thể hiện sự đổi mới về tư duy đối ngoại so với Đại hội X – chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” lên “hội nhập quốc tế” tức là hội nhập nhiều mặt, đồng bộ từ kinh tế đến văn hóa, chính trị, giáo dục, an ninh, quốc phòng,… Đại hội XII vẫn tiếp tục khẳng định chủ trương đó Cho tới tháng 02/2021,
Đại hội XIII chỉ ra rằng “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996, tr.121.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Sdd, tr.319-322.
Trang 10quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả”.
Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế được xác lập trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới, và cho tới đại hội XIII mới đây đã luôn được phát triển, bổ sung theo hướng tích cực
2 Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới
2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo
Về cơ hội & thách thức:
- Cơ hội:
Xu hướng toàn cầu hóa và xu thế hòa bình, hợp tác phát triển tạo thuận lợi cho nước ta mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế quốc tế Không những thế, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đã nâng cao thế và lực của đất nước cũng như tạo tiền đề cho quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế
- Thách thức:
Các vấn đề dịch bệnh, phân hóa giàu nghèo,… gây tác động bất lợi đối với nước ta Kinh tế Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia; tác động của thị trường thế giới tác động mạnh đến thị trường trong nước, tiềm ẩn nhiều rủi ro gây rối loạn, thậm chí khủng hoảng kinh
tế - tài chính Ngoài ra, các thế lực thù địch có thể lợi dụng toàn cầu hóa để chống phá chế độ chính trị và sự ổn định của nước ta
Những cơ hội và thách thức trên đều có mối quan hệ, tác động qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau
Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định nhiệm vụ của đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”5 Từ đó, cho thấy mở rộng quan hệ và hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước, kết hợp nội lực và ngoại lực tạo nên sức mạnh tổng hợp để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Sđd, tr.236.