1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1939 1945

14 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Chủ Trương Chiến Lược Mới Của Đảng Trong Giai Đoạn 1939 - 1945
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 174,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 PHẦN 1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 2 1.1.Tình hình thế giới 2 1.2.Tình hình trong nước 2 PHẦN 2. CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1939 1945 4 2.1.Phương hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng qua các kì đại hội (từ năm 1939 đến năm 1941) 4 2.1.1.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI (tháng 111939) 4 2.1.2.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 111940) 5 2.1.3.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 51941) 5 2.2.Tổng kết nội dung chủ trương chiến lược mới chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng 6 PHẦN 3. Ý NGHĨA CỦA CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƢỢC CỦA ĐẢNG 8 3.1.Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 8 3.2.Bước đầu thực hiện hiệu quả sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 8 KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 MỞ ĐẦU Vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập, đây là cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng nước Việt Nam ta. Đường lối cách mạng của Đảng là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam. Với những đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, toàn diện, Đảng đã dẫn dắt và đưa nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác như là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong điều kiện được tiếp xúc, học tập môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, em đã được tiếp cận với các đường lối khác nhau do Đảng đề ra trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ khi mới thành lập vào năm 1930 đến nay như đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đường lối cách mạng miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, đường lối công nghiệp hóa,.... Từ đó, môn học cung cấp cho em một cơ sở lý luận để hiểu, lý giải và đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn, đặc biệt là vận dụng quan điểm đúng đắn, sáng tạo của Đảng vào cuộc sống hằng ngày, từ đó có thể đề xuất những kiến nghị cho Đảng về đường lối, chính sách trong bối cảnh hiện nay. Cũng qua môn học, điều để lại cho em ấn tượng sâu sắc đó là Chủ trương chiến lược mới của Đảng trong giai đoạn 1939 1945. Chủ trương mới này đã thể hiện tư duy mới mẻ, sáng tạo của Đảng trong việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ năm 1939 đến năm 1945 trước tình hình biến đổi của thế giới và Đông Dương. Việc nghiên cứu đề tài Phân tích Chủ trương chiến lược mới của Đảng trong giai đoạn 1939 1945 sẽ làm sáng tỏ nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng cũng như ý nghĩa của nó đối với con đường giải phóng dân tộc của nước ta. PHẦN 1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 1.1.Tình hình thế giới Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ sau khi phát xít Đức tấn công Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức ngay sau hai ngày tiếp đó. Từ đây, phát xít Đức nhanh chóng xâm chiếm các quốc gia châu Âu. Trước tình hình đó, Pháp cũng không chịu ngồi yên mà lao vào cuộc chiến. Cùng với đó, dưới sức ép của lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa, Pháp đã ra sức thi hành các biện pháp đàn áp, dẫn đến sự tan vỡ của mặt trận nhân dân Pháp và sự mất vị thế của Đảng Cộng sản Pháp khi bị đặt ra ngoài vóng pháp luật. Tiếp đến, Chính phủ Pháp buộc phải hàng cờ trắng với Đức sau khi bị tấn công vào tháng 6 năm 1940. Dưới thắng lợi đó, quân phát xít Đức như có thêm tự tin, khí thế, tiến hành xâm lược Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941. Từ đây, cuộc chiến tranh đã bị thay đổi tính chất từ cuộc chiến tranh đế quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lượng lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu và các lược lượng phát xít với Đức đứng đầu. 1.2.Tình hình trong nƣớc Dưới sự bùng nổ của cuộc chiến tranh thế giới thứ II, các nước Đông Dương nói chung và Việt Nam ta nói riêng đều chịu tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành hay tàng trữ tài liệu cộng sản và phải đặt Đảng cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, đồng thời các hội ái hữu, nghiệp đoàn phải giái tán và bị tịch thu tài sản, các tờ báo và nhà xuất bản buộc phải đóng cửa, các cuộc hội họp hay tụ tập đông người cũng bị nghiêm cấm. Vào thời điểm này, các nước Đông Dương và Việt Nam đã bị đàn áp hết sức tàn bạo dưới các biện pháp, chính sách thời chiến của thực dân Pháp. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, đặc biệt tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Bên cạnh đó, chúng còn bất ngờ tiến hành vô số cuộc khám xét; thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ mà chúng ta đã giành được trong những năm 1936 1939; ra sức vơ vét sức người cùng tài sản của nhân dân thông qua lệnh tổng động viên và chính sách kinh tế chỉ huy. Thực tế, Pháp đã bắt hơn hơn 7 nghìn thanh niên về chính quốc. Như vậy, tất cả chính sách mà Pháp thi hành đều vì mục đích phục vụ cuộc chiến tranh dế quốc phi nghĩa. Ngay sau khi Chính phủ Pháp hàng cờ trắng với Đức, phát xít Nhật đã nhanh chóng đổ bộ vào Lạng Sơn, Hải Phòng vào ngày 22 tháng 9 năm 1940. Chỉ một ngày sau, Pháp cũng chính thức đầu hàng Nhật sau khi bản hiệp định đầu hàng được ký kết tại Hà Nội. Như vậy, kể từ đây, nhân dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng khi vừa chịu sự áp bức của Pháp, vừa chịu sự bóc lột của phát xít Nhật. Vì vậy mà mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc, phát xít Pháp Nhật ngày càng trở nên gay gắt, tưởng như đã lên đến đỉnh điểm. PHẦN 2. CHỦ TRƢƠNG CHIẾN LƢỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1939 1945 2.1.Phƣơng hƣớng chỉ đạo chiến lƣợc của Đảng qua các kì đại hội (từ năm 1939 đến năm 1941) Trước tình hình căng thẳng và phức tạp trên thế giới, cũng như ở nước ta, Đảng đã đề ra chủ trương chiến lược mới trong giai đoạn 1939 1945, được thể hiện qua ba hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu (111939), lần thứ bảy (111940) và lần thứ tám (51941) như sau: 2.1.1.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VI (tháng 111939) Vào tháng 11 năm 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI được tổ chức tại Bà Điểm, Hoóc Môn, Gia Định, do đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng bí thư Đảng chủ trì. Nội dung của Hội nghị: + Trên cơ sở tình hình thế giới và Đông Dương lúc bấy giờ, Hội nghị nhận định phát xít Nhật sẽ tiến vào Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật, toàn bộ đời sống của nhân dân Đông Dương sẽ bị đảo lộn. + Xác định mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất ở Đông Dương thời điểm này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương. + Nhấn mạnh nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc. + Đặt ra khẩu hiệu đấu tranh: tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc để chia cho dân cày. + Về mặt trận, Ban Chấp hành chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương để tập hợp đông đảo tất cả mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc nhằm đấu tranh đạt mục tiêu chung là làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Phương pháp cách mạng: + Hội nghị quyết định chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang, đấu tranh trực tiếp đánh đổ, giành lại chính quyền từ tay đế quốc và tay sai. + Hội nghị quyết định chuyển sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp, chuyển sinh hoạt của Đảng về nông thôn, củng cố xây dựng tổ chức Đảng. Ý nghĩa: Hội nghị đã mở đầu cho sự chuyển hướng trong việc chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đánh dấu sự trưởng thành trong việc cụ thể hóa đề ra trong cương lĩnh thánh 2 năm 1930. 2.1.2.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VII (tháng 111940) Vào ngày 6 tháng 11 năm 1940, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII được tổ chức tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, do đồng chí Trường Chinh lúc này là Tổng bí thư Đảng chủ trì. Nội dung của Hội nghị: + Khẳng định các chủ trương được đưa ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời, phân tích sâu thêm các chủ trương đó. + Xác định nội dung trọng tâm là vấn đề khởi nghĩa vũ trang trong việc giành chính quyền. + Xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật Pháp. Phương pháp cách mạng: + Nhấn mạnh, duy trì, củng cố khởi nghĩa vũ trang, đặc biệt là lực lượng du kích Bắc Sơn, đồng thời không cho phép phát động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do điều kiện khởi nghĩa chưa đủ chín muồi. + Ngày 1311941, cuộc chiến binh biến Đô Lương nổ ra. Ý nghĩa: Hội nghị đã sáng suốt nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc bấy giờ, từ đó đề ra các chỉ thị phù hợp cho khởi nghĩa tại Bắc Sơn và Nam Kỳ. 2.1.3.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VIII (tháng 51941) Vào ngày 10 tháng 5 năm 1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII được tổ chức tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì với tư cách là đại biểu Quốc tế Cộng sản. Nội dung của Hội nghị: + Trên cơ sở tình hình thế giới và Đông Dương lúc bấy giờ, Hội nghị nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và phần thắng sẽ thuộc về phe Đồng minh chống phát xít dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới. + Xác định mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất ở thời điểm này là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc phát xít Pháp Nhật. + Khẳng định nội dung chuyển hướng chiến lược được đưa ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI và thứ VII là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời, phân tích đề ra các chủ trương khác. + Nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giải phóng dân tộc “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. + Nhấn mạnh vấn đề đại đoàn kết toàn dân, quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh. + Đặt ra khẩu hiệu đấu tranh: tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. + Khẳng định cuộc cách mạng Đông Dương kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Phương pháp cách mạng: + Lãnh đạo khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền + Chủ trương xây dựng Đảng gấp rút đào tạo cán bộ chuyên môn và tăng thành phần vô sản trong Đảng. Ý nghĩa: Qua hội nghị, ta thấy được sự nhạy bén của Đảng trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi, từ đó đề ra nhiệm vụ đúng đắn hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, hoàn thiện quá trình chuyển hướng chiến lược, là tiền đề cho thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945. 2.2.Tổng kết nội dung chủ trƣơng chiến lƣợc mới chủ trƣơng chuyển hƣớng chỉ đạo chiến lƣợc của Đảng Qua ba Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VI, VII, VIII, Đảng ta đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập trung ở những điểm chính như sau: Thứ nhất, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Đảng xác định mâu thuẫn chủ yếu ở Đông Dương nói chung và nước ta nói riêng là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức và đế quốc, phát xít Pháp Nhật. Vì thế “trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1. Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.7, tr. 113. chia ruộng đất cho dân cày bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. Thứ hai, Đảng quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc riêng để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc. Để tập hợp lực lượng cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương quyết định ở Việt Nam thành lập Mặt trận Việt minh. Đổi tên các tổ chức Hội phản đế thành Hội cứu quốc (Công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, thiếu nhi cứu quốc,...) để thu hút tất cả mọi người dân yêu nước tham gia công cuộc giải phóng dân tộc. Thứ ba, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đầu tiên phải xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ban Chấp hành Trung ương chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của Đảng và dân tộc ta trong giai đoạn hiện tại là chuẩn bị khởi nghĩa. Trung ương quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập các đội du kích hoạt động phân tán vừa chiến đấu chống địch, vừa bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ Bắc Sơn Vũ Nhai làm trung tâm. Đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng. Tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên cao hơn hết, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng là tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC MÔN HỌC

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG

TRONG GIAI ĐOẠN 1939 - 1945

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC MÔN HỌC

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG

GIAI ĐOẠN 1939 - 1945

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

PHẦN 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 2

1.1 Tình hình thế giới 2

1.2 Tình hình trong nước 2

PHẦN 2 CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1939 - 1945 4

2.1 Phương hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng qua các kì đại hội (từ năm 1939 đến năm 1941) 4

2.1.1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI (tháng 11/1939) 4

2.1.2 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 11/1940) 5

2.1.3 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941) 5

2.2 Tổng kết nội dung chủ trương chiến lược mới - chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng 6

PHẦN 3 Ý NGHĨA CỦA CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƢỢC CỦA ĐẢNG 8

3.1 Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 8

3.2 Bước đầu thực hiện hiệu quả sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 8

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 4

MỞ ĐẦU

Vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập, đây là cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng nước Việt Nam ta Đường lối cách mạng của Đảng là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam Với những đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, toàn diện, Đảng đã dẫn dắt và đưa nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác như là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trong điều kiện được tiếp xúc, học tập môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, em đã được tiếp cận với các đường lối khác nhau do Đảng đề ra trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ khi mới thành lập vào năm 1930 đến nay như đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đường lối cách mạng miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, đường lối công nghiệp hóa, Từ đó, môn học cung cấp cho em một cơ sở lý luận để hiểu, lý giải và đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn, đặc biệt là vận dụng quan điểm đúng đắn, sáng tạo của Đảng vào cuộc sống hằng ngày, từ đó có thể đề xuất những kiến nghị cho Đảng về đường lối, chính sách trong bối cảnh hiện nay

Cũng qua môn học, điều để lại cho em ấn tượng sâu sắc đó là Chủ trương chiến lược mới của Đảng trong giai đoạn 1939 - 1945 Chủ trương mới này đã thể hiện tư duy mới mẻ, sáng tạo của Đảng trong việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ năm 1939 đến năm 1945 trước tình hình biến đổi của thế giới và Đông Dương Việc nghiên cứu đề

tài "Phân tích Chủ trương chiến lược mới của Đảng trong giai đoạn 1939 - 1945" sẽ làm

sáng tỏ nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng cũng như ý nghĩa của nó đối với con đường giải phóng dân tộc của nước ta

Trang 5

PHẦN 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

1.1 Tình hình thế giới

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ sau khi phát xít Đức tấn công Ba Lan vào ngày

1 tháng 9 năm 1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức ngay sau hai ngày tiếp đó Từ đây, phát xít Đức nhanh chóng xâm chiếm các quốc gia châu Âu Trước tình hình đó, Pháp cũng không chịu ngồi yên mà lao vào cuộc chiến Cùng với đó, dưới sức ép của lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa, Pháp đã ra sức thi hành các biện pháp đàn áp, dẫn đến sự tan vỡ của mặt trận nhân dân Pháp và sự mất vị thế của Đảng Cộng sản Pháp khi bị đặt ra ngoài vóng pháp luật

Tiếp đến, Chính phủ Pháp buộc phải hàng cờ trắng với Đức sau khi bị tấn công vào tháng 6 năm 1940 Dưới thắng lợi đó, quân phát xít Đức như có thêm tự tin, khí thế, tiến hành xâm lược Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941 Từ đây, cuộc chiến tranh

đã bị thay đổi tính chất từ cuộc chiến tranh đế quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lượng lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu và các lược lượng phát xít với Đức đứng đầu

1.2 Tình hình trong nước

Dưới sự bùng nổ của cuộc chiến tranh thế giới thứ II, các nước Đông Dương nói chung và Việt Nam ta nói riêng đều chịu tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ Ngày

28 tháng 9 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành hay tàng trữ tài liệu cộng sản và phải đặt Đảng cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, đồng thời các hội ái hữu, nghiệp đoàn phải giái tán và

bị tịch thu tài sản, các tờ báo và nhà xuất bản buộc phải đóng cửa, các cuộc hội họp hay

tụ tập đông người cũng bị nghiêm cấm

Vào thời điểm này, các nước Đông Dương và Việt Nam đã bị đàn áp hết sức tàn bạo dưới các biện pháp, chính sách thời chiến của thực dân Pháp Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, đặc biệt tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương Bên cạnh đó, chúng còn bất ngờ tiến hành vô số cuộc khám xét; thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ mà chúng ta đã giành được trong những năm 1936 - 1939; ra sức vơ vét sức người cùng tài sản của nhân dân thông qua lệnh tổng động viên và chính sách kinh tế chỉ huy Thực tế, Pháp đã bắt hơn hơn 7 nghìn thanh niên về chính quốc Như vậy, tất cả chính sách mà Pháp thi hành đều vì mục đích phục vụ cuộc chiến tranh dế quốc phi nghĩa

Ngay sau khi Chính phủ Pháp hàng cờ trắng với Đức, phát xít Nhật đã nhanh chóng đổ bộ vào Lạng Sơn, Hải Phòng vào ngày 22 tháng 9 năm 1940 Chỉ một ngày sau, Pháp cũng chính thức đầu hàng Nhật sau khi bản hiệp định đầu hàng được ký kết

Trang 6

tại Hà Nội Như vậy, kể từ đây, nhân dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng khi vừa chịu sự áp bức của Pháp, vừa chịu sự bóc lột của phát xít Nhật Vì vậy mà mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật ngày càng trở nên gay gắt, tưởng như

đã lên đến đỉnh điểm

Trang 7

PHẦN 2 CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI

ĐOẠN 1939 - 1945

2.1 Phương hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng qua các kì đại hội (từ năm 1939 đến năm 1941)

Trước tình hình căng thẳng và phức tạp trên thế giới, cũng như ở nước ta, Đảng đã

đề ra chủ trương chiến lược mới trong giai đoạn 1939 - 1945, được thể hiện qua ba hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu (11/1939), lần thứ bảy (11/1940) và lần thứ tám (5/1941) như sau:

2.1.1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI (tháng 11/1939)

Vào tháng 11 năm 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI được tổ chức tại Bà Điểm, Hoóc Môn, Gia Định, do đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng

bí thư Đảng chủ trì

- Nội dung của Hội nghị:

+ Trên cơ sở tình hình thế giới và Đông Dương lúc bấy giờ, Hội nghị nhận định phát xít Nhật sẽ tiến vào Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật, toàn bộ đời sống của nhân dân Đông Dương sẽ bị đảo lộn

+ Xác định mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất ở Đông Dương thời điểm này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương

+ Nhấn mạnh nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc

+ Đặt ra khẩu hiệu đấu tranh: tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc để chia cho dân cày

+ Về mặt trận, Ban Chấp hành chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương để tập hợp đông đảo tất cả mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc nhằm đấu tranh đạt mục tiêu chung là làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập

- Phương pháp cách mạng:

+ Hội nghị quyết định chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang, đấu tranh trực tiếp đánh đổ, giành lại chính quyền từ tay đế quốc và tay sai

+ Hội nghị quyết định chuyển sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp, chuyển sinh hoạt của Đảng về nông thôn, củng cố xây dựng tổ chức Đảng

- Ý nghĩa:

Trang 8

Hội nghị đã mở đầu cho sự chuyển hướng trong việc chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đánh dấu sự trưởng thành trong việc cụ thể hóa đề ra trong cương lĩnh thánh 2 năm 1930

2.1.2 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VII (tháng 11/1940)

Vào ngày 6 tháng 11 năm 1940, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII được tổ chức tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, do đồng chí Trường Chinh lúc này là Tổng bí thư Đảng chủ trì

- Nội dung của Hội nghị:

+ Khẳng định các chủ trương được đưa ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời, phân tích sâu thêm các chủ trương đó

+ Xác định nội dung trọng tâm là vấn đề khởi nghĩa vũ trang trong việc giành chính quyền

+ Xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật - Pháp

- Phương pháp cách mạng:

+ Nhấn mạnh, duy trì, củng cố khởi nghĩa vũ trang, đặc biệt là lực lượng du kích Bắc Sơn, đồng thời không cho phép phát động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do điều kiện khởi nghĩa chưa đủ chín muồi

+ Ngày 13/1/1941, cuộc chiến binh biến Đô Lương nổ ra

- Ý nghĩa:

Hội nghị đã sáng suốt nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc bấy giờ, từ đó đề ra các chỉ thị phù hợp cho khởi nghĩa tại Bắc Sơn và Nam Kỳ

2.1.3 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941)

Vào ngày 10 tháng 5 năm 1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII được tổ chức tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì với tư cách là đại biểu Quốc tế Cộng sản

- Nội dung của Hội nghị:

+ Trên cơ sở tình hình thế giới và Đông Dương lúc bấy giờ, Hội nghị nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và phần thắng sẽ thuộc về phe Đồng minh chống phát xít dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới

+ Xác định mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất ở thời điểm này là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc phát xít Pháp - Nhật

+ Khẳng định nội dung chuyển hướng chiến lược được đưa ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI và thứ VII là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời, phân tích đề ra các chủ trương khác

Trang 9

+ Nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giải phóng dân tộc “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”

+ Nhấn mạnh vấn đề đại đoàn kết toàn dân, quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh

+ Đặt ra khẩu hiệu đấu tranh: tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công

+ Khẳng định cuộc cách mạng Đông Dương kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang

- Phương pháp cách mạng:

+ Lãnh đạo khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền + Chủ trương xây dựng Đảng gấp rút đào tạo cán bộ chuyên môn và tăng thành phần vô sản trong Đảng

- Ý nghĩa:

Qua hội nghị, ta thấy được sự nhạy bén của Đảng trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi, từ đó đề ra nhiệm vụ đúng đắn hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, hoàn thiện quá trình chuyển hướng chiến lược, là tiền đề cho thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945

2.2 Tổng kết nội dung chủ trương chiến lược mới - chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng

Qua ba Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VI, VII, VIII, Đảng ta đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập trung ở những điểm chính như sau:

Thứ nhất, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

Đảng xác định mâu thuẫn chủ yếu ở Đông Dương nói chung và nước ta nói riêng

là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức và đế quốc, phát xít Pháp - Nhật Vì thế “trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự

do thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1 Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.7, tr 113.

Trang 10

chia ruộng đất cho dân cày bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công

Thứ hai, Đảng quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc riêng để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc.

Để tập hợp lực lượng cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương quyết định ở Việt Nam thành lập Mặt trận Việt minh Đổi tên các tổ chức Hội phản đế thành Hội cứu quốc (Công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, thiếu nhi cứu quốc, ) để thu hút tất cả mọi người dân yêu nước tham gia công cuộc giải phóng dân tộc

Thứ ba, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại.

Để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đầu tiên phải xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng

Ban Chấp hành Trung ương chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của Đảng và dân tộc ta trong giai đoạn hiện tại là chuẩn bị khởi nghĩa Trung ương quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập các đội du kích hoạt động phân tán vừa chiến đấu chống địch, vừa bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai làm trung tâm

Đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán

bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng

Tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược là giương cao

ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên cao hơn hết, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng

là tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Trang 11

PHẦN 3 Ý NGHĨA CỦA CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN

LƯỢC CỦA ĐẢNG

3.1 Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giải quyết tốt mục tiêu số một của cách mạng

- độc lập dân tộc thông qua việc hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và đề

ra nhiều chủ trương chính xác, hiệu quả trên tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo

Xác định con đường giành lấy thắng lợi trong công cuộc đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho toàn thể dân tộc được hưởng độc lập, tự do thông qua đường lối giương cao và luôn đặt lên hàng đầu ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp và đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng

ở cà nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, Qua đó, nhân dân Việt Nam ta có đường hướng đúng đắn để tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh đuổi Pháp, Nhật, giành độc lập và tự do cho dân tộc

Sau hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941), Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên đoàn kết đánh đuổi bọn

đế quốc Pháp, Nhật và Việt gian, giành lấy độc lập dân tộc Từ đây, hưởng ứng lời kêu gọi, công tác chuẩn bị giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở mọi tỉnh thành trên cả nước, phong trào cách mạng của quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền cũng từ đó mà được thúc đẩy mạnh mẽ

3.2 Bước đầu thực hiện hiệu quả sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Với Nghị quyết của Đảng Cộng sản Đông Dương và lời kêu gọi toàn dân của Nguyễn Ái Quốc, các cấp bộ đảng và Mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của quần chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của quần chúng Ngày 25 tháng 10 năm 1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh chính thức ra đời và công bố 10 chính sách lớn Mọi địa phương đều có hệ thống cơ sở của Việt Minh, quần chúng nhân dân yêu nước đều hưởng ứng những chính sách ích nước lợi dân của Việt Minh Bên cạnh đó, thời điểm này cũng đã chứng kiến

sự ra đời của một số các tổ chức chính trị yêu nước và là thành viên của Mặt trận Việt Minh như Đảng Dân chủ Việt Nam

Ngoài ra, hưởng ứng khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh, lực lượng chính trị của quần chúng ngày càng đông đảo và được rèn luyện qua quá trình đấu tranh đánh đuổi Pháp, Nhật Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân thông qua việc nhanh chóng tiến hành chỉ đạo vũ trang cho quần chúng cách mạng, lấy đây làm tiền đề cho sự ra đời của Việt Nam Giải phóng quân Thật vậy, không lâu sau đó, Việt Nam Giải phóng quân đã được thành lập từ các

Ngày đăng: 21/05/2023, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w