PHẦN MỞ ĐẦU Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD TS Trần Như Cương MỤC LỤC MỤC LỤC 1 Phần 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ 3 3 Phương pháp nghiên cứu 3 4 Ph[.]
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Những chiến công vĩ đại và trang sử lẫy lừng của dân tộc, cùng với những anh hùng đã hy sinh trên mảnh đất này, luôn khơi dậy trong mỗi người khao khát trở về cội nguồn và tự hào về lịch sử vẻ vang của tổ quốc.
Không có gì quý hơn độc lập tự do! Lời Bác gọi là lời non sông gọi Cả dân tộc lên đường xẻ dọc Trường Sơn cứu nước.
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, trong bối cảnh khó khăn và tuyệt vọng, Đảng Cộng sản đã nhận ra rằng để cứu nước và cứu dân, không thể ngồi yên trong tình trạng của người dân mất nước Học thuyết Mác - Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân đã trở thành cẩm nang kỳ diệu, chỉ ra rằng con đường giải phóng dân tộc chỉ có thể đạt được khi những người cộng sản, những người tiên phong của giai cấp công nhân và toàn dân nắm giữ ngọn đuốc sáng Đảng đại diện cho "muôn vạn công nông" và "muôn vạn tấm lòng niềm tin", như lời thơ Tố Hữu đã nói.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng Chiến thắng Ðiện Biên Phủ trên mặt đất và "Ðiện Biên Phủ trên không" với sự xuất hiện của siêu pháo đài B52 của Mỹ đã khẳng định tinh thần kiên cường của nhân dân Từ tháng Chạp 1972 đến Ðại thắng Mùa Xuân 1975, đường lối cách mạng của Đảng đã dẫn dắt nhân dân vượt qua các cuộc chiến tranh cục bộ và đặc biệt, cũng như cuộc tập kích chiến lược của Mỹ Bộ tham mưu dân tộc đã không ngừng thức cùng đất nước, biến những chủ trương, đường lối thành mệnh lệnh, khích lệ đồng bào, đồng chí chiến đấu đến ngày đất nước sạch bóng quân thù, để xây dựng lại tình đoàn kết và hạnh phúc cho mọi gia đình.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 2
Tiểu luận về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS Trần Như Cương thể hiện tâm tư sâu sắc của một người con xa quê, với lời hứa hẹn: "Má ơi, hai năm nữa con sẽ về với má", nhưng thực tế là phải trải qua hàng chục năm dài đằng đẵng nhớ thương.
Học thuyết Mác – Lênin đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo vào bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, giúp định hình các chủ trương và đường lối cách mạng Đề tài “Đường lối kháng chiến của Đảng – ánh sáng chỉ đường cho dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng” được nghiên cứu nhằm tìm hiểu lịch sử đấu tranh của dân tộc, phân tích và làm rõ vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng, từ đó giành được những thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến đấu giành độc lập và tự do.
Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ
- Nghiên cứu đường lối kháng chiến của Đảng để làm rõ nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tìm hiểu ý nghĩa của thắng lợi trong đường lối của Đảng giúp nhận diện sự trưởng thành và phát triển của Đảng trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho các giai đoạn tiếp theo.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đã được nêu có hiệu quả, tôi kết hợp sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm việc tìm hiểu và sưu tầm tranh ảnh về lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt Nam, cùng với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc kháng chiến Điều này có thể thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng và tham quan các địa điểm như Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh và Bảo tàng Hồ Chí Minh.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 3
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu đường lối kháng chiến của Đảng trong giai đoạn từ năm 1939 đến 1945, với sự tập trung vào các cuộc kháng chiến trong thời kỳ này, do hạn chế về thời gian và khả năng.
Tài liệu tham khảo
[1] Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, 2009.
[2] Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009.
[3] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 2006.
[4] 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam – những chặng đường thắng lợi, Bùi Thị Thu Hà, NXB Từ điển Bách khoa, 2009
Nội dung chi tiết của đề tài
I Chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ 1939 – 1945.
2 Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng.
II Sự chỉ đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng chuẩn bị kháng chiến toàn quốc thời kỳ 1945 – 1946
1 Xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa và tổ chức kháng chiến ở miền Nam
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 4
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
2 Thực hiện sách lược hòa hoãn, tranh thủ thời gian chuẩn bị kháng chiến toàn quốc.
III Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ( 1946 – 1954)
1 Chủ trương phát động cuộc kháng chiến trong toàn quốc của Đảng (12 – 1946)
2 Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng
5 Những bài học kinh nghiệm
IV Đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới (sau khi hoà bình được lập lại năm 1954)
V Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng ( 1954 - 1975)
1 Đường lối kháng chiến chống Mỹ của Đảng
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 5
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
NỘI DUNG
Chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ
[1] Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, 2009.
[2] Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009.
[3] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 2006.
[4] 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam – những chặng đường thắng lợi, Bùi Thị Thu Hà, NXB Từ điển Bách khoa, 2009
6 Nội dung chi tiết của đề tài
I Chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ 1939 – 1945.
2 Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng.
Sự chỉ đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc thời kỳ 1945 – 1946
1 Xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa và tổ chức kháng chiến ở miền Nam
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 4
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
2 Thực hiện sách lược hòa hoãn, tranh thủ thời gian chuẩn bị kháng chiến toàn quốc.
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ( 1946 – 1954)
1 Chủ trương phát động cuộc kháng chiến trong toàn quốc của Đảng (12 – 1946)
2 Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng
5 Những bài học kinh nghiệm
Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng ( 1954 - 1975)
1 Đường lối kháng chiến chống Mỹ của Đảng
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 5
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
I Chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ
Tháng 9 -1939 chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, nước Pháp tham chiến. Ở Đông Dương, chúng thi hành chính sách thống trị thời chiến, tấn công vào Đảng cộng sản, tăng cường bắt lính, vơ vét sức người, sức của cung ứng cho chiến tranh, làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc và bọn tay sai phản động trở nên gay gắt.
Trước biến động to lớn đó, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, đề ra chủ trương chính sách mới cho phù hợp với tình hình mới.
Hội nghị ban chấp hành Trung ương VI
(11 – 1939), đặc biệt là Hội nghị ban chấp hành Trung ương VIII (5 -1941) do
Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định những nội dung và tư tưởng điều chỉnh chiến lược trong thời kỳ mới, đồng thời bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối của Đảng về cách mạng giải phóng dân tộc.
2 Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng
Đảng đang tập trung vào nhiệm vụ quan trọng nhất là đánh bại đế quốc và tay sai để giành lại độc lập cho dân tộc Trung ương đảng đã nhấn mạnh rằng "Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng…gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng" (Thông cáo gửi cho các đồng chí ở các cấp 29 - 9 - 1939).
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 6
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
Trung ương xác định rằng kẻ thù nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương không chỉ là đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến, mà chính là chủ nghĩa đế quốc cùng với những tay sai phản bội dân tộc.
Con đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương chỉ có thể là đánh đổ đế quốc Pháp và chống lại mọi hình thức xâm lược, bất kể là từ phương Tây hay phương Đông, nhằm giành lại quyền tự do cho dân tộc.
“Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”
Nếu không giải quyết vấn đề dân tộc giải phóng và đòi được độc lập cho toàn thể dân tộc, quốc gia sẽ tiếp tục chịu kiếp nô lệ, và vấn đề ruộng đất cũng sẽ không được giải quyết.
“Cuộc cách mạng ở Đông Dương là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.
Sau khi giành độc lập, các dân tộc trên bán đảo Đông Dương mong muốn thành lập một chính phủ liên bang hoặc trở thành quốc gia độc lập Đối với Việt Nam, sau khi đánh bại Pháp và Nhật, một chính phủ nhân dân sẽ được thành lập, mang tên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với cờ đỏ sao vàng năm cánh là biểu tượng quốc gia, do Quốc hội bầu ra.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 7
Cờ đỏ sao vàng 5 cánhThủ đô của Liên bang Đông Dương
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
Thứ ba, cần liên hiệp tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị hay đảng phái, vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc Mặt trận này cần rộng rãi, lấy liên minh công nông làm cơ sở, và để thực hiện điều đó, cần đánh thức tinh thần dân tộc trong nhân dân.
Trung ương đã quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh” (Việt Minh) để hỗ trợ các dân tộc Lào và Campuchia thông qua việc thành lập “Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh” Đồng thời, các tổ chức quần chúng như Hội cứu quốc được thành lập, bao gồm Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 8
Tượng liên minh công – nông
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
Vào thứ tư, hình thức đấu tranh đã chuyển hướng từ các hoạt động công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm đòi quyền lợi dân chủ và dân sinh sang việc thực hiện các hoạt động chính trị bí mật và bất hợp pháp, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang để giành lại chính quyền.
Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, yêu cầu tập trung vào việc xây dựng lực lượng trên toàn quốc Cần xác định đúng thời điểm và điều kiện thuận lợi để tiến hành khởi nghĩa từng phần, từ đó giành chính quyền ở các địa phương và tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc.
Từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương VI vào tháng 11 năm 1939 đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương VIII vào tháng 5 năm 1941, Đảng đã hoàn thiện việc điều chỉnh chiến lược phù hợp với tình hình mới.
Trong bối cảnh dân tộc Việt Nam phải đối phó với cả thực dân Pháp và quân Nhật, mâu thuẫn chủ yếu trở nên gay gắt, đặt ra vấn đề sống còn cho các dân tộc Đông Dương Quyền lợi dân tộc giải phóng được đặt lên hàng đầu, với mục tiêu chính là độc lập dân tộc Đảng đã đề ra nhiều chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, nhằm mở rộng khối đoàn kết dân tộc và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Đường lối này phù hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân và các dân tộc Đông Dương, có khả năng động viên toàn dân đoàn kết đánh Pháp và đuổi Nhật.
Sự điều chỉnh chiến lược đúng đắn đó đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi Cách mạng tháng tám 1945.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 9
Kỷ niệm 60 năm thành lập Mặt trận Việt Minh
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm sai 19 - 8 - 10
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 11
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 12
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 13
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 14
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 15
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 16
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 17
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 18
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
II Sự chỉ đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc thời kỳ 1945 – 1946
1 Xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa và tổ chức kháng chiến ở miền Nam
- Ngày 6 – 1 – 1946 bầu cử Quốc hội, sau đó bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, chính phủ chính thức do Hồ Chí Minh làm chủ tịch được thành lập.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 19
Hồ Chí Minh – Đại biểu đầu tiên của
Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khoá I
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
- Tháng 11 – 1946 thông qua Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
- Lực lượng vũ trang nhanh chóng phát triển (cuối 1948 quân đội thường trực có 8 vạn người), gọi là Quân đội quốc gia Việt nam.
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 20 Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân
Quân đội Quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương
Trong lĩnh vực kinh tế tài chính, cần tăng cường sản xuất và phát động phong trào thi đua với khẩu hiệu “tấc đất, tấc vàng” Đồng thời, nên bỏ thuế thân và các loại thuế không hợp lý, khuyến khích toàn dân tham gia đóng góp cho quỹ độc lập và tổ chức “tuần lễ vàng”.
- Văn hoá giáo dục: Xây dựng nền văn hoá mới, đời sống mới, xoá tệ nạn văn hoá nô dịch, diệt giặc dốt (2,5 triệu người biết đọc, biết viết).
Những thắng lợi ban đầu này mang ý nghĩa chính trị to lớn, bởi vì nếu dân tộc có độc lập nhưng người dân không được hưởng hạnh phúc và tự do, thì độc lập đó trở nên vô nghĩa.
2 Thực hiện sách lược hòa hoãn, tranh thủ thời gian chuẩn bị kháng chiến toàn quốc
Thực hiện hoà hoãn, nhân nhượng với
Tưởng và bọn tay sai ở miền Bắc, đẩy mạnh kháng chiến ở miền Nam.
- Mở rộng 70 ghế Quốc hội cho tay sai Tưởng (trong tổng số 403 ghế)
(Ngày 11 – 11 – 1945 Đảng tuyên bố tự giải tán).
- Pháp là kẻ thù chính nên Đảng lãnh đạo toàn
SVTH: Lưu Huỳnh Đức – Lớp Toán 2B Trang 21
Các chiến sĩ Thủ đô lên đường Nam tiến
Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam GVHD: TS Trần Như Cương quốc đứng lên kháng chiến ở miền Nam (hàng vạn thanh niên lên đường Nam tiến).