Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN THỊ NHẬT LỆ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT C
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ NHẬT LỆ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VÀ XÁC ĐỊNH TỔ HỢP PHÂN BÓN PHÙ HỢP
CHO GIỐNG CÓ TRIỂN VỌNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Thái Nguyên - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ NHẬT LỆ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG
ĐẬU TƯƠNG VÀ XÁC ĐỊNH TỔ HỢP PHÂN BÓN PHÙ HỢP
CHO GIỐNG CÓ TRIỂN VỌNG TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Thị Xuyến
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bầy trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo
vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm
ơn các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã
được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Nhật Lệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn hết sức quan trọng trong toàn bộ
quá trình học tập, rèn luyện của mỗi sinh viên Với phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Thực tập tốt nghiệp sẽ
giúp cho học viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến đã học và áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt những kiến thức đã học vào thực tế trên đồng ruộng, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất Từ
đó giúp cho học viên học hỏi, rút ra những kinh nghiệm trong thực tế lao động sản xuất, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn để sau khi ra trường
có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Nhân dịp này em xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
1 TS Lưu Thị Xuyến: Khoa nông học trường đại học Nông Lâm
Thái Nguyên cô đã trực tiếp hướng dẫn, dành cho tôi sự giúp đỡ tận tình và
sâu sắc trong quá trình hoàn thành luận văn này
2 Ban giám hiệu nhà trường và phòng quản lý sau đại học trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên bản luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp ý của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nhật Lệ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các cụm, từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 4
1.1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 5
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng 5
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và trong nước 9
1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 17
1.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên 25
1.3 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới và Việt Nam 26
1.3.1 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới 26
1.3.2 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương ở Việt Nam 28
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
2.4.2 Quy trình kỹ thuật 32
2.4.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 38
3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 39
3.1.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 42
3.1.3 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 46
3.1.4 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương 48
3.1.5 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống chịu của các giống đậu tương 52
3.1.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu trong năm 2013 54
3.1.7 Năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 57
3.2 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương DT 2008 60
Trang 73.2.1 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển của giống đậu tương DT2008 60
3.2.2 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến một số chỉ tiêu hình thái của giống đậu tương DT 2008 61
3.2.3 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương DT 2008 62
3.2.4 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sâu bệnh hại của giống đậu tương DT 2008 63
3.2.5 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương DT 2008 64
3.2.6 Hạch toán hiệu quả kinh tế 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
BPKT : Biện pháp kỹ thuật CSDTL : Chỉ số diện tích lá
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm
gần đây 10 Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số nước
đứng đầu thế giới 12 Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam những năm gần đây 18 Bảng 1.4: Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên trong những
năm gần đây 25 Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống đậu
tương tham gia thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 39 Bảng 3.2: Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương
thí nghiệm trong năm 2013 43 Bảng 3.3: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm trong
vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 47 Bảng 3.4: Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương
tham gia thì nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 50 Bảng 3.5: Tình hình sâu hại và chống đổ của các giống đậu tươn tham
gia thí nghiệm năm 2013 53 Bảng 3.6: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương thí
nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu trong năm 2013 55 Bảng 3.7: Năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Xuân và vụ
Hè Thu năm 2013 57 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển của giống đậu tương DT 2008 60 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến một số chỉ tiêu hình
thái của giống đậu tương DT 2008 61
Trang 10Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến một số chỉ tiêu sinh
lý của giống đậu tương DT 2008 62 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sâu hại của giống
đậu tương DT 2008 63 Bảng 3.12: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống đậu tương DT2008 64 Bảng 3.13: Hạch toán các tổ hợp phân bón vụ Xuân 2014 cho giống
DT2008 66
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 3.1: Biểu đồ sự biến động về năng suất thực thu của các giống đậu
tương thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 59 Hình 3.2: Biểu đồ so sánh giữa NSLT và NSTT ở các tổ hợp phân bón
khác nhau 65
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nhu cầu con người ngày càng được nâng cao, con người quan tâm đến sức khỏe qua chất lượng khẩu phần ăn hàng ngày trong đó hàm lượng Prôtêin – cơ sở của sự sống là rất cần thiết Prôtêin được cung cấp cho con người từ hai nguồn chính là từ động vật và thực vật Prôtêin thực vật có tác dụng rất tốt với cơ thể con người, cung cấp đầy đủ các axit amin cần thiết cho cơ thể, đặc biệt là có nhiều axit amin không thay thế Một trong những nguồn cung cấp Prôtêin thực vật chủ yếu là cây đậu tương
Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là
cây trồng cạn có tác dụng nhiều mặt và là cây trồng có giá trị kinh tế cao Nó
là nguồn cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn gia súc, làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp, cây làm tốt đất và là mặt hàng xuất khẩu
có giá trị ( Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [3]
Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtêin và lipit Theo các phân tích sinh hoá trong hạt đậu tương thì hàm lượng prôtêin chiếm khoảng 36-40%, lipit 15 - 20% Trong hạt đậu tương không chỉ có hàm lượng cao về prôtêin mà nó còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với cơ thể con người và gia súc Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như: PP, A, C, E,
K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]
Với giá trị nhiều mặt nên sản xuất đậu tương trên thế giới tăng rất nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 1960 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 21 triệu ha thì đến năm 2012 đã tăng lên đạt 104,90 triệu
ha, năng suất đạt 23 tạ/ha, sản lượng đạt 241,8 triệu tấn (FAO, 2014) [21] Ở Việt nam đậu tương được phát triển rất mạnh mẽ cả về diện tích, năng suất và
Trang 13sản lượng Trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích đậu tương còn rất ít mới đạt 32,00 nghìn ha (1944), năng suất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất (1976) diện tích trồng đậu tương bắt đầu được mở rộng 39,40 nghìn ha và năng suất đạt 5,3 tạ/ha Sau đó diện tích tăng lên rất nhanh, đến năm 1996 là 110,30 nghìn ha, năng suất đạt 11,1 tạ/ha (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [3], đến năm
2012 nước ta trồng được 120,751 nghìn ha đậu tương với năng suất bình quân 14,517 tạ/ha, sản lượng đạt 175,295 nghìn tấn (FAO, 2014) [21]
Thái nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam có diện tích đất và điều kiện sinh thái phù hợp cho phát triển cây đậu tương ở tất cả các vụ gieo trồng: xuân, hè thu và đông Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên chưa thực sự phát triển, hàng năm Thái Nguyên cũng phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương các nước trên thế giới như Trung Quốc,
Mỹ, Úc để phục vụ cho chế biến thực phẩm cho con người và gia súc Sở dĩ
có nghịch lý như trên là do con người trồng đậu tương ở Thái Nguyên chưa
có được những bộ giống đậu tương đa dạng có năng suất, chất lượng cao thích hợp cho từng tiểu vùng sinh thái và đáp ứng được nhu cầu chế biến thực phẩm
Trong chọn tạo giống đậu tương có thể sử dụng phương pháp lai tạo, đột biến hoặc chọn lọc từ các nguồn vật liệu nhập nội, các giống mới nhập nội Trước hết cần phải có những nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và chất lượng để chọn lọc được các giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng và mục đích sử dụng Từ thực tiễn đó em đã tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và xác định tổ hợp phân bón phù hợp cho giống có triển vọng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” nhằm góp phần tìm ra
giống đậu tương tốt và tổ thích hợp phân bón thích hợp cho giống triển vọng tại Thái Nguyên
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao ổn định và tổ hợp phân bón thích hợp cho giống tại tỉnh
Thái Nguyên
3 Mục đích nghiên cứu
- So sánh giống trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2013:
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm
+ Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương thí nghiệm + Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh của các giống đậu tương thí nghiệm
+ Đánh giá các yếu cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương
- Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp cho giống có triển vọng tại Thái Nguyên
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất
- Giúp sinh viên nắm được các bước để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học, phương pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học
- Là cơ sở khoa học xác định phân bón cho cây đậu tương để đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản suất
4.2 Ý nghĩa trong sản xuất
Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ xác định được giống và tổ hợp phân bón thích hợp nhất cho giống đậu tương có triển vọng tại tỉnh Thái Nguyên
Từ đó khuyến cáo cho người nông dân nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn
1.1.1 Cơ sở khoa học
Giống tốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh về giá trị kinh tế Giống quy định giới hạn năng suất của cây trồng Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kĩ thuật trong phạm vi do giống quy định Khi năng suất tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnh cũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng không thể làm tăng năng suất Bởi vậy, giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Mỗi một giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khắ hậu, đất đai, kinh tế xã hội Để có những giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống được hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới được rút ngắn rất nhiều Các thành tựu khoa học được ứng dụng trong chọn giống như gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giốngẦ Các giống đậu tương tại Việt nam hiện tại sử dụng chủ yếu theo lai tạo và nhập nội Khi chọn lọc hay nhập được giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khắ hậu khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng
Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thắ nghiệm nhằm xác định sự thắch ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khắ hậu và các biện pháp kỹ thuật khác Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng
và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì
sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh
Trang 16tăng năng suất cõy trồng Vỡ vậy cần phải làm cỏc nghiờn cứu để đỏnh giỏ cỏc giống và đưa ra được cỏc BPKT phự hợp cho giống Để giống đú cú thể sinh trưởng, phỏt triển tốt và cho năng suất cao nhất
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển h-ớng về kinh tế thị tr-ờng, sản xuất nông nghiệp n-ớc ta đã đạt đ-ợc những thành tựu to lớn: Tr-ớc năm 1990 n-ớc ta là một n-ớc thiếu l-ơng thực, thực phẩm nh-ng đến năm 1990 n-ớc ta đã là một n-ớc xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Vì vậy sản xuất nông nghiệp có điều kiện phát triển những cây trồng có giá trị kinh tế cao trong đó cây đậu t-ơng là một trong những mũi nhọn trong chiến l-ợc phát triển kinh tế bởi nó là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao Sản phẩm của đậu t-ơng đ-ợc sử dụng rất đa dạng: làm thực phẩm cho ng-ời, thức ăn gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp để tăng nguồn xuất khẩu nông sản, là vị thuốc để chữa bệnh và góp phần cải tạo đất trong hệ thống luân canh cây trồng
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng
Đậu tương yờu cầu lượng dinh dưỡng khỏ lớn đặc biệt là đậu tương sản xuất theo hướng thõm canh So với ngụ như cầu về đạm và kali cao gấp 2 lần Tuy nhiờn do khả năng cố định đạm của đậu tương mà nhu cầu về đạm bún ớt hơn so với cỏc loại cõy trồng khỏc Nguồn đạm cộng sinh cú thể cung cấp khoảng 60 % tổng số nhu cầu
Năng suất cõy trồng khụng ngừng tăng lờn, ngoài vai trũ của giống mới cũn cú tỏc dụng quyết định của phõn bún, giống mới cũng chỉ phỏt huy được tiềm năng của mỡnh cho năng suất cao khi được bún đủ phõn và bún phõn hợp lý
Đậu tương sử dụng 16 nguyờn tố cần thiết cho sinh trưởng, trong đú cú
3 nguyờn tố C, H và O là thành phần chủ yếu trong chất khụ và được hấp thụ
Trang 17dưới dạng CO2, H2O, O2 tự do trong không khí Những nguyên tố cần thiết khác là N, P, K, Ca, Mg, S, Fe
Nghiên cứu sự hấp thụ NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn Hanway và Weber (1971) cho thấy kiểu hấp thụ N, P, K ở trong cây giống nhau và sự tích lũy tối đa của nó xảy ra ở giai đoạn chín sinh
lý Handerson và Kampraha (1970) với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt Tỷ lệ hấp thụ tối đa tương ứng của chúng là 7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77kg/ha
Năm 1989 tổ chức FAO tổng kết cứ mỗi tấn chất dinh dưỡng sẽ sản xuất được 10 tấn ngũ cốc Bón phân cân đối và vừa phải có thể làm tăng chất lượng sản phẩm, ngược lại thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản Giữa các bộ phận trong cây thì phân bón làm thay đổi thành phần hóa học của lá, làm thay đổi thành phần hóa học của hạt
1.1.3.1 Vai trò của Đạm đối với cây đậu tương
Đạm là nguyên tố cấu thành nên tất cả các bộ phận khác của cây Khi thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, bộ lá dễ rụng, lá sau nhỏ hơn lá trước thời
kì ra hoa tạo quả sẽ làm rụng nhiều hay hạt lép Đậu tương có thể sử dụng phân đạm từ 3 nguồn: Trong đất, qua phân bón và qua nguồn đạm do vi khuẩn sống cộng sinh cố định được
Đậu tương phản ứng ít với phân đạm tuy nhiên bón ít vẫn làm tăng năng suất cây trồng (tăng Phạt, tỉ lệ đạm trong hạt, prôtêin) (Ma Thị Phương, 2006) [12] Mặt khác nếu được bón phân hợp lý, nó có khả năng cố định lượng đạm lớn từ khí quyển, ngoài ra nó còn có khả năng sử dụng đạm từ đất
và phân bón (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [3]
Trong điều kiện thuận lợi, các vi khuẩn nốt sần có thế tích lũy 1 lượng đạm từ 40 – 70 kg/ha (Trần Thị Trường và cs, 2007) [2]
Trang 18Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của Clorophin, Protit, các axit amin, các enzym và nhiều loại Vitamin trong cây Bón đạm thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều, lá cây có kích thước to, màu xanh, lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây
Năm 1997 Beard và Hoover cho thấy số nốt sần trên cây đậu có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm bón 56kg/ha, số nốt sần không bị ảnh hưởng
Vào giai đoạn khi mới mọc, cây chủ yếu sử dụng nguồn đạm sẵn có trong đất và lượng đạm bón vào khi gieo, khoảng 3 tuần sau khi mọc, khi
mà các nốt sần ở bộ rễ đã được hình thành và các vi sinh vật cố định đạm bắt đầu hoạt động hút đạm từ khí trời thì cây có thêm nguồn đạm này (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]
1.1.3.2 Vai trò của Lân đối với cây đậu tương
Lân là thành phần cấu tạo của tế bào, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây đậu tương Nó rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây, tham gia vào thành phần enzym, các prôtêin tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, tạo điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã, kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa, kết quả Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu
tố không thuận lợi, chống một số sâu bệnh hại Thiếu lân làm thân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên có màu xanh tối, mặt lá có những chấm nâu, nếu thiếu nghiêm trọng làm thân cây có màu đỏ, rễ nâu, hoa quả thưa thớt, nhưng nếu quá thừa lâ sẽ gây hiện tượng thiếu kẽm
Các thí nghiệm trong chậu cho thấy nốt sần hình thành tối đa ở mức P bón 400 – 500 mg/kg, với hoạt tính tối đa của nó, nó yêu cầu P cao hơn Tuy nhiên bón nhiều P cũng gây ra nhiều vấn đề Sự hấp thụ P và phản ứng với
Trang 19phân P cũng bị ảnh hưởng bởi độ ẩm đất Ở điều kiện thiếu nước sự hút P của cây giảm Sau khi tưới cho cây bị khô dài hạn, nó sẽ hút P ở tỷ lệ cao hơn so với cây đã được tưới ở mức thích hợp
So với đạm thì yêu cầu lân của cây đậu tương là cao hơn, giai đoạn từ sau khi mọc đến khi ra hoa nếu thiếu lân sẽ sinh trưởng kém, nhất là ở giai đoạn đầu, việc vận chuyển các chất ở trong cây cũng sẽ xảy ra chậm hơn Do đó, mà lân thường được bón lót trước khi gieo hạt (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]
Như vậy cây đậu tương cần một lượng phân bón tương đối lớn từ khi mọc đến khi ra hoa Vì vậy bón lân cho cây đậu tương, nên bón lót bằng cách rắc đều trên mặt ruộng khi cày bừa để phân trộn đều vào đất sẽ có hiệu quả hơn là bón tập trung và bón nông
1.1.3.3 Vai trò của Kali đối với cây đậu tương
Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi đạm, trong chuyển hóa gluxit, trong điều hòa cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng tính kháng sâu bệnh, chịu rét Nó còn có tác dụng thúc đẩy quá trình tích lũy vật chất khô vào quả, tăng chất lượng hạt và tăng khả năng chống chịu của cây trồng trên đồng ruộng Khi thiếu kali cây đậu tương hay bị hiện tượng cháy mép lá Nhu cầu kali của cây đậu tương tăng dần theo thời gian sinh trưởng và đạt đỉnh cao vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, sau đó lại giảm dần cho đến khi hình thành hạt và ngừng ở thời kỳ khoảng 21 ngày trước khi chín (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]
Nếu so với đạm và lân thì nhu cầu kali của cây đậu tương là cao hơn cả Một tỷ lệ lớn kali được cây đậu tương hấp thu nằm trong hạt đậu, vì vậy hàng năm lượng kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng là rất lớn
Để cây đậu tương có thể sinh trưởng, phát triển bình thường cần cung cấp đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết Nếu thiếu hoàn toàn hoặc thiếu bất cứ một yếu tố nào đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
Để phát huy được đầy đủ tác dụng của phân bón cho đậu tương, cần phải hiểu
rõ đặc tính lý hóa và thành phần dinh dưỡng của đất, đặc điểm và tính chất các loại phân bón, đặc điểm dinh dưỡng của đậu tương
Trang 20Theo kết quả nghiên cứu của Tô Văn Thống (1994), Bón kali cho đậu tương trên đất bạc màu có hiệu lực cao rõ rệt Bón đơn thuần kali làm tăng năng suất 45% so với không bón và 31% so với bón NP Hiệu suất kali từ 5,8 đến 15 kg đậu/kg K2O
Ngoài ba yếu tố chính là đạm, lân, kali kể trên, cây đậu tương còn cần một số ít các nguyên tố dinh dưỡng khác, quan trọng nhất phải kể đến Môlipden Là chất rất cần thiết cho sự cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm Khi thiếu Môlipden quá trình trao đổi đạm bị gián đoạn, lá rễ bị trắng, nhiều loại đất ở nước ta giàu Al3+ nên thiếu Môlipden (Phạm Văn Thiều, 2002) [9] Việc sử dụng phân bón để làm gia tăng một số lượng lớn chất dinh dưỡng vào vòng tuần hoàn vật chất trong canh tác Việc sử dụng phân chuồng
và các phế thải của trồng trọt, chăn nuôi là sử dụng lặp lại phần chất dinh dưỡng đã tham gia vào thành phần của năng suất cây trồng Sử dụng phân bón
đã bổ sung một phần chất dinh dưỡng bị cây hút và bù đắp sự mất đi khỏi đất
do nhiều quá trình khác nhau, vậy có thể nói phân bón là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng và độ phì nhiêu của đất
Vôi cũng có vai trò quan trọng đối với cây đậu tương Nó có tác dụng khử chua, khử độc cho đất, cung cấp canxi cho cây, tạo môi trường trung tính
để vi khuẩn nốt sần hoạt động Khi cây hiếu canxi làm các mép lá đơn có màu đen, về sau các lá kép 1,2,3 có những vết màu xanh tối hoặc màu vàng Khi ra hoa tạo quả nếu thiếu Ca lá có màu xanh vàng hay tím nhạt, dễ rụng Lượng vôi cần bón từ 300 – 500 kg/ha tùy theo độ chua của đất, có thể ủ vôi với phân chuồng để tăng độ phân hủy
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là một trong những cây trồng có vi trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân
Trang 21loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5.000 năm Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên và nhiều nước trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 78 nước trồng đậu tương, cây đậu tương đã được đem trồng ở khắp các Châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới, đứng hàng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô Mặc
dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Viễn Đông nhưng khả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 400
Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam Châu Á tuy là nơi nguyên sản của cây đậu tương tuy nhiên nó lại được trồng tập trung ở Châu
Mỹ (70,03%), tiếp đó là Châu Á (23,5%), còn lại ở các châu lục khác
Từ những năm 1970 đến nay việc sản xuất đậu tương của thế giới không ngừng tăng lên so với các cây lấy dầu khác và trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nước Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
trong những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
- : Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương có
xu hướng tăng lên 2009 - 2013
99,3 – 111,3 T
Trang 22u tương năm 2013 111,3 Nhìn vào bảng 1.1 cho
năm gần đây tương đối ổn định dao đ 22,4 - 24 /ha, ca
2012 – 2013 năng suất đang có xu hướng tăng từ 23,0 tạ/ha lên 24,8 tạ/ha
- Về Sản lượng: Sản lượng đậu tương trong những năm gần đây có những biến động nhỏ ổn định Từ năm 2009 đến năm 2013 sản lượng đậu tương tăng từ 223,4 triệu tấn lên 276,4 triệu tấn Năm 2013, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 276,4 triệu tấn Sở dĩ trong những năm từ năm 2009 đến năm
2013 sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương
đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất Nhưng đến năm 2011 và 2012 sản lương đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương vẫn tăng là do thời tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán Năm 2013 sản lượng đậu tương lại tăng do diện tích và năng suất đều tăng trở lại
Kết quả nghiên cứu của trên 200 chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu cầu về sản lượng đậu tương tăng 4%/năm Trong tương lai với sự trợ giúp của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt Công nghệ sinh học là một trong nhưng yếu tố quan trọng
để cải tiến chất lượng hạt đậu tương và khả năng chống chịu của cây
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Agentina và Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [12] Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm 90 -95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới
Trang 23Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
của một số nước đứng đầu thế giới
Tên nước
Diện tích (triệu ha)
Diện tích (triệu ha)
Diện tích (triệu ha)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Mỹ 30,80 26,64 82,05 30,70 29,15 89,48 Brazil 24,98 26,37 65,85 27,87 29,32 81,70 Argentina 17,58 22,81 40,10 19,42 25,39 49,31 Trung Quốc 6,75 19,33 13,05 6,60 18,94 12,50
(Nguồn: FAO - 2014) [21]
Qua bảng 1.2 cho thấy:
Mỹ là nước đứng đầu trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương Diện tích năm 2012 là 30,80 triệu ha, năng suất bình quân đạt 26,64 tạ/ha, sản lượng 82,05 triệu tấn Năm 2013 diện tích giảm 0,1 triệu ha nhưng năng suất tăng 2,51 tạ/ha so với năm 2012 nên sản lượng tăng lên đạt 89,48 triệu tấn
Brazil là nước mới đứng vào hàng ngũ sản xuất đậu tương nhưng là nước có triển vọng Năm 2012 diện tích là 24,98 triệu ha, năng suất là 26,37 tạ/ha, sản lượng 65,85 triệu tấn Năm 2013 diện tích, năng suất, sản lượng tăng mạnh so với năm 2012 Năng suất tăng cao đạt 27,87 tạ/ha
Nước đứng thứ 3 thế giới về sản xuất đậu tương là Argentina và đứng thứ 4 là Trung Quốc Đặc biệt năm 2013 năng suất đậu tương của Argentina đạt 25,39 tạ/ha cao hơn so với của Trung Quốc (18,94 tạ/ha) là 6,45 tạ/ha Năng suất, diện tích, sản lượng của Trung Quốc đang có xu hướng giảm
Trang 241.2.1.2 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới
Đậu tương giữ một vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp cũng như kinh tế của nhiều quốc gia Để nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thi trường thì việc nghiên cứu chọn tạo các giống là rất quan trọng Nhằm mục tiêu chọn tạo ra các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi rộng để đưa vào sản xuất Hiện nay nguồn gen đậu tương chủ yếu tại các nước Châu Á do nó là nơi nguyên sản của cây đậu tương nên gen của loài này rất phong phú Có 14 quốc gia lưu giữ chủ yếu nguồn gen cây đậu tương trên thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Indonesia, Thái Lan, Hoa Kỳ, Liên Xô (cũ), Australia, Pháp, Thụy Điển, Nam Phi, Nigeria với tổng số mẫu gen là trên 45.000 mẫu (Trần Đình Long, 1991) [9]
Những năm gần đây đã có nhiều trung tâm và viện nghiên cứu được thành lập nhằm chọn tạo và lưu giữ nguồn gen cây đậu tương và một số cây trồng khác như: Viện nghiên cứu nông nghệp nhiệt đới (The International Institute of Tropical Agricalture :TITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (The Asian Vegetable Rearch and Development Center : AVRDC) [19], Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp cho vùng Đông Nam Châu Á (The Southeast Asian Regional Center for Graduatesdy and Ressearch in Agriculture: SEARCA), Viện nghiên cứu lúa (IRRI), chương trình hợp tác nghiên cứu cây thực phẩm các nước Trung Mỹ (PPCCMA), Trung tâm Cải tiến ngô và lúa mỳ quốc tế ( CIMMYT) Qua đó ta thấy viện nghiên cứu giống cây trồng nói chung và cây đậu tương được đặc biệt quan tâm Việc thành lập các viện và trung tâm nghiên cứu không chỉ lưu giữ nguồn gen cây trồng mà còn nhằm mục đích sau:
- Nhập nội giống, tiến hành chọn lọc, thử nghiệm với điều kiện của các vùng sinh thái khác nhau
Trang 25- Khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái khác nhau nhằm tìm ra các giống có khả năng thích ứng với vùng sinh thái nhất định
- Tạo ra các giống mới có đặc tính tốt nhờ thành tựu của khoa học công nghệ trong việc tạo giống cây trồng
- Thu thập lưu giữ nguồng gen quý trong tự nhiên nhằm cung cấp đa dạng nguồn gen cây trồng trong chọn tạo giống mới và đa dạng sinh học loài
- Xác định các địa bàn trồng cây đậu tương trên thế giới và các nước sản xuất đậu tương tiềm năng và sản lượng lớn
Để tạo giống đậu tương mới người ta có thể dùng phối hợp nhiều phương pháp như gây đột biến bằng tác nhân hóa học, vật lý, lai hữu tính, nhập nội… Đặc biệt là hiện nay các nước phát triển đang đẩy mạnh việc tạo giống đậu tương chuyển gen nhằm chống lại biến đổi khí hậu, dịch hại và quan trọng nhất là năng suất cao và chất lượng cao
Việc chọn tạo và khảo nghiệm giống đậu tương cũng phát triển song song nhau nhằm đưa các giống đậu tương mới nhanh chóng được đưa vào sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean – Evaluatintrial – Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 146 nước ,vùng lãnh thổ nhiệt đới và
á nhiệt đới
Kết quả đánh giá giống của Aset với các giống đậu tương khảo nghiệm
đã đưa vào mạng lưới sản xuất được 21 giống trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị
Út, 1994) [15]
Hoa kỳ không chỉ là quốc gia lớn trong lĩnh vực sản xuất đậu tương mà còn là quốc gia tiên phong trong công tác chọn tạo giống Chọn tạo giống tại đây được hỗ trợ nhiều thành tựu công nghệ mới trong chọn giống như cây đột biến, lai ưu thế, và chuyển gen cho cây trồng Công tác chọn tạo giống đậu tương tại Hoa Kỳ cũng được tiến hành rất sớm thí nghiệm đầu tiên được tiến
Trang 26hành tại bang Peleci Buanhia Năm 1893 Quốc gia này đã lưu giữ được 10.000 mẫu của đậu tương thu thập trên toàn thế giới Theo thống kê giai đoạn 1928 – 1932 trung bình mỗi năm Hoa kỳ nhập 1190 dòng, giống đậu tương khác nhau Từ đó các nhà khoa học chọn tạo ra được các giống có khả năng thích nghi rộng và có khả năng chống chịu sâu bệnh như: Amsoy71, Lec
36, Clark 63, Herkey 67… Mục tiêu của thập kỷ 80 của thế kỷ XX tại Hoa Kỳ
là chọn tạo được các giống có khả năng chịu thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với ngoại cảnh, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.W and Bernard R.L, 1976) [22]
Hiện nay đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng thì việc áp dụng công nghệ gen được áp dụng rất nhiều tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác Vấn đề giống cây trồng biến đổi gen(GMO) cũng còn những tranh cãi về tác động của nó tới tính bền vững cũng như sức khỏe con người Trong những cây chuyển gen được trồng thì cây đậu tương là cây trồng chuyển gen được trồng với diện tích lớn nhất Thành tựu trong lĩnh vực chuyển gen là tạo ra các cây trồng có khả năng kháng dịch hại, kháng được thuốc diệt cỏ, tăng chất lượng của sản phẩm lên nhờ chuyển gen theo ý muốn Riêng đối với đậu tương thì được chú trọng chuyển gen chống chịu với thuốc diệt cỏ làm giảm thiệt hại của cỏ dại gây ra Một số gen chống chịu với thuốc diệt cỏ hay kháng loài sâu bệnh hại được xác định và phân lập từ rất nhiều loài có khả năng này để chuyển vào cây trồng Ví dụ như gen trội Hb trên giống Clark 63 cho phản ứng chống chịu với Benard and Bentazon, giống Hook có alen Hm mãn tính chống chịu tốt với thuốc Metribuzin (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [3]
Trung Quốc những năm gần đây cũng có nhiều thành tựu trong công tác giống đậu tương mới Thông qua gây đột biến các chủng giống bằng tác nhân là tia gama và quá trình chọn lọc dòng đã chọn tạo được các giống như Teifeng 18 có khả năng chịu phèn cao, chống đổ tốt, năng suất cao, phẩm chất
Trang 27tốt Ngoài ra còn các giống như Heinom No6, Heinoum No 16 cũng xử lý bằng tia gama có ưu điểm là hệ rễ phát triển tốt, lóng ngắn, nhiều cành, chịu hạn và có khả năng thích ứng rộng (Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, 1995) [17]
Đài loan bắt đầu chương trình chọn tạo và nghiên cứu tạo giống đậu tương từ những năm 1961 Thành tựu điển hình cho công tác giống của nước này là đưa vào sản xuất giống Kasing T, Tai nung 3, Tai nung 4 cho năng suất cao hơn các dòng khởi đầu và có những ưu điểm mới Theo tài liệu thì giống Tai nung 4 được dùng làm vật liệu lai tạo để chọn tạo ra các giống có khả năng kháng một số bệnh trong các chương trình lai tạo giống tại các cơ sở giống như trạm thí nghiệm Marjo Thái Lan, trường Đại Học Philippine (Vũ Tuyên Hoàng và cs, 1995) [8]
Tại Ấn Độ công tác chọn tạo và khảo nghiệm các giống cũng được bắt đầu khá sớm từ thập niên 60 của thế kỷ trước Các giống địa phương và nhập nội được đưa vào khảo nghiệm tại Đại học tổng hợp Pathaga Năm 1967 thành lập chương trình đầu tương toàn Ấn Độ với nhiệm vụ lại tạo giống và khảo nghiện giống mới và đã cho ra đời các giống có triển vọng như Biasoil,
DS 74 – 24 – 2, DS 73 – 16 Tổ chức AICRPS (The All India Coordinated Research Project on Soybean) và NRCS (National Research Center for Soybean) đã phối hợp nghiên cứu về genotype và đã phát hiện hơn 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới (Brown D.M, 1960) [20]
Tại một số nước Đông Nam Á như Thái Lan và Philippine thì công tác chọn giống cây trồng cũng khá phát triển Thái Lan là nước rất năng động trong tạo giống cây trồng như sắn, cây chuyển gen, cây ăn quả, cây đậu đỗ Với sự phối hợp của 2 trung tâm MOAC và CGPRT nhằm cải tiến giống cho năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính như : gỉ sắt, sương mai, Vi khuẩn… đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, chịu được hạn hán, sinh trưởng ngắn Tại Philippine thì Viện lúa IRRI thành lập nhằm chủ
Trang 28yếu nghiên cứu về lúa nhưng những năm gần đây cũng chú trọng tới các cây trồng khác như cây đậu tương nhằm phá vỡ thế độc canh cây lúa và cải tạo đất trồng lúa qua luân canh
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á nghiên cứu về sâu bệnh hại trên đậu tương họ thấy cây nhiễm sâu hại đục thân mạnh nhất vào 4 tuần sau mọc, cùng với loài này thì còn nhiều loài sâu bệnh cùng gây hại như
gỉ sắt, sâu cuốn lá, lở cổ rễ…
Nhật Bản cũng là một quốc gia có nguồn gen đậu tương phong phú theo thống kê của viện tài nguyên sinh học nông nghiệp quốc gia Nhật Bản hiện đang lưu giữ hơn 6000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó có hơn
2000 mẫu được nhập nội về nhằm tạo nguồn vật liệu cho công tác giống của nước này
Hiện nay công tác giống đậu tương trên thế giới rất phát triển và được quan tâm tiến hành trên quy mô lớn Nhiều bộ giống do nhiều quốc gia chọn tạo ra và khảo nghiệm tại rất nhiều vùng sinh thái khác nhau
1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Do có nguồn gốc từ Châu Á nên cây đậu tương cũng có mặt ở Việt Nam rất sớm khoảng thế kỷ thứ 8 Được trồng và phát triển đến nay nó đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp Ngoài tác dụng làm thực phẩm, thức ăn gia súc, làm thuốc đậu tương còn là cây cải tạo đất,
nó thích hợp trên nhiều loại đất kể cả đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng Nhận thức được tầm quan trọng của cây đậu tương trong phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất và phát triển cây đậu tương
Sản xuất đậu tương trong nước nhằm 2 mục đích:
- Giải quyết vấn đề protein cho người và gia súc
- Cải tạo đất
Trang 29Theo số liệu thống kê của chính phủ, đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không màu mỡ
và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ Xuân, vụ Hè và vụ Đông
Nhận thức được vai trò quan trọng của cây đậu tương trong việc phát triển kinh tế, nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất đậu tương, văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập II trang 37) có ghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, gia súc, đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng” Gần đây năng suất diện tích sản lượng đậu tương đã không ngừng tăng lên thể hiện qua bảng 1.3
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (nghìn tấn)
Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Diện tích: Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ năm
2005-2012 Diện tích giảm từ 204,100 nghìn ha (năm 2005) giảm còn 120,750 nghìn
ha (năm 2012) Trong vòng 8 năm diện tích đậu tương của nước ta giảm 83,350
Trang 30nghìn ha, tương đương 40,84,%, năm 2005 diện tích đậu tương đạt lớn nhất (204,100 nghìn ha) Trong vòng 8 năm diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định Giai đoạn năm 2005- 2006, diện tích đậu tương giảm từ 204,100 nghìn ha (năm 2005) xuống 187,560 nghìn ha (năm 2006), nhưng sau đó diện tích lại tiếp tục tăng lên 187,400 nghìn ha (năm 2007) và 192,100 nghìn ha (năm 2008) Đến năm 2009 diện tích đậu tương lại tiếp tục giảm xuống còn 147 nghìn ha Nhưng đến năm 2010 diện tích đậu tương lại tăng mạnh so với năm 2009 lên đến 197,800 nghìn ha Trong vòng 3 năm từ năm
2010 - 2012 diện tích đậu tương liên tục giảm mạnh, năm 2013 diện tích đậu tương thấp nhất (120,751 nghìn ha) và giảm so với năm 2010 là 80,609 nghìn ha Sở dĩ trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương giảm nhanh là do sức ép của dân số, quá trình đô thị hóa và nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp ngày càng tăng
- Năng suất: Năng suất đậu tương nước ta vẫn còn ở mức thấp, so với bình quân thế giới, thấp hơn 7,79 tạ/ha Năng suất đậu tương cao nhất năm
2010 là 15,096 tạ/ha, thấp nhất năm 2006 đạt 13,906 tạ/ha Từ năm 2010 -
2013 năng suất đậu tương tiếp tục giảm từ 15,096 tạ/ha còn 14,361 tạ/ha Như vậy, mức tăng năng suất hàng năm không đáng kể, thục tế còn đang giảm nhẹ
- Sản lượng: Cùng với diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định kéo theo sản lượng đậu tương của nước ta cũng luôn
có sự biến động Năm 2010 sản lượng đậu tương ở mức cao nhất đạt 298,600 nghìn tấn Đặc biệt năm 2013 sản lượng đậu tương giảm mạnh còn 168,296 nghìn tấn do diện tích trồng giảm đi
Nhìn chung việc sản xuất đậu tương của nước ta những năm gần đây đã
có những biến động rõ rệt về diện tích, năng suất, sản lượng nhưng vẫn còn thấp so với bình quân của thế giới rất nhiều Nguyên nhân là do:
- Thiếu quan tâm đúng mức của nhà nước, lãnh đạo các địa phương đối với cây đậu tương
Trang 31- Chưa có được bộ giống phù hợp cho từng vùng sinh thái và biện pháp
kĩ thuật cho giống
- Diện tích đất trồng đậu tương tập trung ở miền núi, cơ sở vật chất còn nghèo
- Chưa thay đổi được tập quan canh tác truyền thống của người dân
- Giá bán chưa ổn định
Vì vậy để nâng cao năng suất, sản lượng đậu tương thì cần phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành Trong đó công tác khảo nghiệm để chọn ra giống thích hợp cho từng vùng sinh thái là rất cần thiết
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
Công tác giống là những việc làm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nó tạo ra vật liệu sống quy định những yếu tố quan trọng cho cây trồng như năng suất, khả năng chống chịu với ngoại cảnh và dịch hại Do vậy công tác thu thập và chọn tạo giống cây trồng nói chung được các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp và các nhà khoa học rất quan tâm và đầu tư nghiên cứu Đối với công tác giống đậu tương cũng vậy thì việc nghiên cứu cũng đòi hỏi nhiều thời gian công sức và tiền bạc, từ năm 1962 trường Đại Học Nông Nghiệp I cùng với Viện cây công nghiệp và Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập, nhập nội và chọn tạo giống đậu tương Theo tài liệu tới năm 1999 thì nước ta có khoảng 500 mẫu giống chủ yếu được thu thập từ giống địa phương, nhập nội và gây đột biến từ trong nước và nhập nội
từ nước ngoài
Nguyễn Danh Đông năm 1983 [7] đã khảo sát phân loại theo thời gian sinh trưởng (TGST) của giống thì chia làm 6 nhóm giống:
- Nhóm I chín rất sớm gồm các giống có TGST dưới 80 ngày
- Nhóm II chín sớm, có thời gian sinh trưởng 80 – 90 ngày
- Nhóm III chín trung bình, có thời gian sinh trưởng 90 – 100 ngày
- Nhóm IV chín trung bình muộn, có TGST 100 – 110 ngày
- Nhóm V chín muộn, có thời gian sinh trưởng 110 – 120 ngày
Trang 32- Nhóm VI chín rất muộn, có thời gian sinh trưởng dài trên 120 ngày Trong những năm gần đây việc sản xuất nông nghiệp cũng được Đảng
và Nhà nước quan tâm nên công tác giống đậu tương cũng đạt được những thành tựu đang kể về chọn tạo và khảo nghiệm giống quốc gia để đưa và sản xuất như:
+ VX92: thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày Giống có hoa màu trắng, hạt màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt từ 14 – 16 g, năng suất trung bình 18 –
22 tạ/ ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha
+ TL57 ( ĐT95/VX93 ): thời gian sinh trưởng 100 – 110 ngày, hoa trắng, hạt vàng, khối lượng 100 hạt 15 – 16g, năng suất đạt 15 – 20 tạ/ha
+ ĐN – 42 ( ĐH4/VX93 ): thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày, hoa tím, hạt tròn, vàng sáng, khối lượng 100 hạt 13 - 14 g, năng suất 14 – 16 tạ/ha
+ AK 06 ( chọn từ dòng 55) : thời gian sinh trưởng 93 – 95 ngày, hoa tím, hạt màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt 16 – 18 g, năng suất từ 25 – 30 tạ/ha
+ ĐT 2000 (nhập nội từ Đài Loan) : thời gian sinh trưởng 100 – 110 ngày, là giống thâm canh, hoa tím, cây to cứng, ít đổ, nhiều đốt (18 – 22 đốt), trung bình số quả 3 hạt chiếm tời 30% tổng số quả trên cây, khối lượng 100 hạt 17 – 17,5g, năng suất 30 – 35 tạ/ha, trong điều kiện thâm canh có thể đạt
40 tạ /ha
+ M103 (đột biến từ V70): thời gian sinh trưởng khoảng 85 ngày, hoa tím, hạt vàng sáng, khối lượng 100 hạt 18 – 20g, năng suất từ 17 – 20 tạ /ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha Lưu ý đối với giống này nếu ngắt ngọn ở giai đoạn 5 lá thật sẽ cho năng suất cao hơn
+ DT 84 (đột biến từ dòng lai 8 – 33): thời gian sinh trưởng 80 – 85 ngày, hoa tím, hạt vàng sáng, khối lượng 100 hạt 18 – 20g, năng suất đạt 15 –
30 tạ/ha
+ ĐT 93 (dòng 821/134 Nhật Bản): thời gian sinh trưởng 80 – 82 ngày, hoa tím, hạt khi chín có màu vàng, có từ 9 – 10 đốt, khối lượng 100 hạt 13 – 14g Có thể trồng vụ hè giũa 2 vụ lúa , tiềm năng năng suất 15 – 18 tạ/ha
Trang 33+ ĐT 12 (nhập nội từ Trung Quốc) : là giống cực ngắn ngày hè thu khoảng 71 ngày, rất thích hợp trong vụ hè giữa 2 vụ lúa Có hoa màu trắng, lá hình tim nhọn, hạt vàng, rốn hạt nâu, quả chín có màu nâu xám Vỏ hạt màu vàng sáng, tỷ lệ quả 3 hạt cao từ 20 – 40% tổng số hạt Khối lượng 100 hạt 17 – 19g, năng suất 17 – 20 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 23 tạ/ha, trồng tốt nhất trong vụ hè, có thể trồng trong vụ xuân muộn và vụ thu đông
+ VX 93 : Tuyển chọn từ dòng K7002 (tập đoàn của viện cây trồng liên bang Nga – VIR) có nguồn gốc từ Philippin: có hoa màu trắng, thời gian sinh trưởng 85 – 90 ngày, phân cành khỏe, quả chín có màu nâu Hạt vàng sáng , khối lượng 100 hạt 15 – 16g, năng suất đạt từ 16 – 20 tạ/ ha Trong điều kiện thâm canh đạt 25 tạ/ ha Đây là giống có khả năng chịu rét, thích hợp cho vụ thu đông ở đồng bằng bắc bộ, thích hợp cho vụ hè ở các huyện miền núi như Trùng Khánh – Cao Bằng
+ AK05 (chọn từ dòng 2261): Có hoa màu trắng, thời gian sinh trưởng
90 – 95 ngày, cây cao 40 – 50 cm, với mật độ 40 – 45 cây /m2, khối lượng
100 hạt đạt từ 13 – 15g, năng suất đạt 16 – 23 tạ/ha
+ ĐT 95 (đột biến từ AK04): thời gian sinh trưởng 90 – 97 ngày, cây cao 55 – 65 cm, hạt màu váng sáng, rốn hạt màu nâu đen, khối lượng 100 hạt đat từ 15 – 16g, chống đổ trung bình, có khả năng chịu lạnh, năng suất từ 15 –
Trang 34Giống DT 2008 ghi dấu ấn thành công bước đầu trong năm 2008 của các nhà chọn tạo giống Viện di truyền nông nghiệp về lĩnh vực chọn tạo giống đậu tương chịu hạn cho các tỉnh phái bắc, đặc biệt trồng trong vụ Đông xuân luôn thiếu nước Đây là kết quả chọn tạo bằng phương pháp lai tạo kết
hợp đột biến phóng xạ từ năm 2002 của đề tài “Chọn tạo giống đậu tương chịu hạn” mà Viện di truyền nông nghiệp là cơ quan đại diện cho Việt Nam
tham gia phối hợp trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác hạt nhân Châu Á (FMCA) về chương trình chọn giống đột biến phóng xạ Giống DT 2008 có nhiều đặc tính như chịu hạn, chịu úng, chịu nóng, chịu lạnh cao và có khả năng kháng một số bệnh chính thường gặp trên cây đậu tương như: phấn trắng, gỉ sắt, sương mai, đốm nâu do vi khuẩn DT 2008 trồng chăm sóc bình thường cho năng suất 18 – 30 tạ/ha, trong điều kiện hạn và ngoại cảnh bất thuận vẫn cho năng suất cao hơn các giống khác từ 1,5 – 2 lần
1.2.2.3 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc
Đậu tương được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ lâu đời Về diện tích trồng đậu tương chiếm 30 - 40% diện tích trồng đậu tương cả nước, nhưng năng suất lại rất thấp Một trong những nguyên nhân của năng suất thấp là công tác chọn giống cho vùng này còn nhiều hạn chế Đa số các nghiên cứu về giống chỉ là các kết quả về so sánh, khảo nghiệm giống sử dụng các vật liệu của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền, Viện Ngô, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Kết quả so sánh giống đậu tương của Nguyễn Hữu Tâm (2003) [11] tại
Hà Giang cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vụ xuân và vụ hè thu của Hà Giang là VX93 và DN42 Giống VX93 cho năng suất trong vụ xuân là 16,5 tạ/ha và vụ hè thu là 13,8 tạ/ha cao hơn giống địa phương khoảng 30%
Trần Đình Long và Đoàn Thị Thanh Nhàn (1994) [10] đã công bố kết quả khu vực hoá giống M103 cho biết: Giống M103 không những thích hợp cho cả 3 vụ ở đồng bằng mà còn cho năng suất cao và ổn định tại các tỉnh
Trang 35miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Quảng Ninh và
Vĩnh Phúc, năng suất biến động từ 60 - 80 kg/sào Bắc Bộ
Nghiên cứu của Đào Quang Vinh và các cs (1994) [16] cho biết giống đậu tương VN1 được Viện nghiên cứu Ngô chọn tạo cũng có khả năng thích ứng rộng cả đồng bằng, trung du và miền núi, có thể cho năng suất đạt tới 14 tạ/ha tại tỉnh Tuyên Quang và 18 tạ/ha tại tỉnh Cao Bằng
Lê Song Dự và các cs (1998) [4] khảo nghiệm giống đậu tương ĐT93 cho biết giống này cũng thích ứng rộng và có thể trồng 3 vụ trong năm, năng suất có thể đạt 15 - 18 tạ/ha trên đất Hà Bắc và Bắc Thái (cũ)
Andrew và các cs (2003) [1] thí nghiệm đánh giá 56 dòng giống đậu tương nhập nội từ Úc, Brazil và Thái Lan từ năm 2000 - 2003 trồng tại Thái Nguyên đã xác định được một số dòng, giống có tiềm năng năng suất khá cao
và ổn định trong vụ xuân và vụ hè thu là dòng 95389 (ĐT21) đạt 23,20 - 35,15 tạ/ha; CM60 đạt 14,84 - 24,05 tạ/ha; SJ4 đạt 21,79 - 38,67 tạ/ha; Parana đạt 21,77 - 24,33 tạ/ha Các dòng này đều có thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày nên phù hợp với việc gieo trồng trên nương rẫy ở miền núi không yêu cầu về tăng vụ
Tác giả Trần Thanh Bình và các cs ( 2006) [2] cho biết giống ĐT22 và DT96 là 2 giống đậu tương phù hợp với sản xuất ở vùng miền núi phía Bắc (Điện Biên) Giống ĐT22 cho năng suất trung bình 18,2 tạ/ha trong vụ hè thu
và 14,3 tạ/ha trong vụ xuân Giống DT96 đạt năng suất trung bình 17,3 tạ/ha
vụ hè thu 12,1 tạ/ha vụ xuân Hai giống này vượt năng suất của ĐT84 từ 12 - 24%
Các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn sử dụng giống địa phương phổ biến trong sản xuất Ngô Thế Dân và các cs (1999) [3] cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vùng miền núi phía Bắc là Vàng Mường Khương, Vàng Cao Bằng Vàng Mộc Châu, Cúc Lục Ngạn, Vàng Hà Giang, Xanh Tiên Đài, Đen Bắc Hà, Xanh Tiên Yên, Cúc Chí Linh, ĐT76 (ĐH4), ĐT84, M103, ĐT80, VX93 Các giống mới được tạo ra trong nhưng năm gần đây đã góp
Trang 36phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng đậu tương các tỉnh miền núi phía Bắc (từ 6 - 7 tạ/ha lên 9 - 10 tạ/ha) diện tích gieo trồng các giống đậu tương mới còn rất ít trong sản xuất, điều đó nói lên rằng công tác chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn chưa được chú trọng đúng mức
1.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên
Cùng với sự phát triển sản xuất đậu tương của cả nước, trong những năm gần đây cơ chế thị trường thực sự đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế hộ nông dân Thái Nguyên Người nông dân được tự do lựa chọn cây trồng và làm giàu trên mảnh đất của mình Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, đất đai khí hậu cho việc phát triển cây đậu tương hàng hoá lớn nhưng diện tích sản xuất đậu tương trên địa bàn tỉnh còn manh mún Là tỉnh Trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên là 650.288 ha Trong đó đất nông nghiệp chiếm 13% tổng diện tích đất tự nhiên Trong cơ cấu cây trồng của tỉnh thì diện tích trồng cây đậu tương chiếm rất nhỏ khoảng 2,3% Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.4
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên
trong những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
(Nguồn: Cục thống kê Thái Nguyên, 2014) [14]
Ghi chú: *: Thống kê sơ bộ
Trang 37Qua bảng 1.4 cho thấy diện tích và sản lượng đậu tương Thái Nguyên những năm gần đây giảm xuống một cách rõ rệt nhưng năng suất lại tăng lên
cụ thể:
Về diện tích: Từ năm 2009 - 2013 diện tích đậu tương của tỉnh giảm từ 147,0 nghìn ha xuống còn 117,8 nghìn ha, giảm 29,2 nghìn ha Diện tích trồng đậu tương cũng như các giống khác của tỉnh Thái Nguyên giảm dần là
do quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp
Về năng suất: Năng suất đậu tương của Thái Nguyên có xu thế giảm nhẹ từ năm 2010 đến năm 2013
Về sản lượng: Diện tích đậu tương giảm đi khá mạnh, năng suất cũng giảm nhẹ nên sản lượng đậu tương cũng giảm Từ năm 2010 – 2013 sản lượng đậu tương giảm mạnh từ 298,6 nghìn tấn xuống 168,3 nghìn tấn
Trước thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên như vậy nên việc chọn được giống đậu tương mới có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện đất nông nghiệp giảm dần Đồng thời cần xác định các biện pháp kĩ thuật thích hợp cho từng giống trong
đó có biện pháp kĩ thuật như chế độ dinh dưỡng (bón phân) là rất cần thiết
1.3 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới
Nhận thức được vai trò quan trọng của phân bón đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều kết quả nghiên cứu về bón phân cho đậu tương Với thí nghiệm trong chậu DeMooy và Pesek (1966) kết luận rằng P, K đóng vai trò quan trọng đối với
sự hình thành và phát triển của nốt sần ở đậu tương Nốt sần hình thành tối đa
ở mức P bón 400 – 500 mg/kg và K ở lượng 600 – 800 mg/kg (Ngô Thế Dân
và cộng sự, 1999) [3]
Năm 1969 Thompson và Robertson nhận thấy phản ứng của đậu tương với phân dư thừa là 1 đường cong dạng phương trình bậc 2 Năng suất cao
Trang 38nhất nếu năm trước bón 1100 kg/ha phân ở tỷ lệ 15: 44: 12, không tăng nếu bón 220 kg/ha và giảm nếu bón 1400 kg/ha Fink và cộng sự (1974) tuyên bố năng suất đậu tương tăng nếu năm trước bón 336 kgN/ha và 155 kgP/ha Boswell và Anderson (1976) cho thấy phản ứng của năng suất đối với lượng P
và K dư thừa của năm trước ổn định hơn là phản ứng đối với P và K bón trong năm đó (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [3]
Henderson và Kampratha (1970) với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn cho thấy tỷ lệ hấp thu các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt Tỷ lệ hấp thu tối đa tương ứng của chúng là: 7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77 kg/ha Năm 1971 với nghiên cứu sự hấp phụ NPK
ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn, Hanway và Weber cho thấy kiểu hấp phụ N, P và K ở trong cây giống nhau và sự tích lũy tối đa của nó
ở giai đoạn chín sinh lý (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [3]
Nhiều nghiên cứu cho thấy bón đạm trước khi gieo có ảnh hưởng xấu đến quá trình cố định đạm Năm 1971 Beard và Hoover cho thấy nốt sần trên cây đậu có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm bón 56 kg/ha, số nốt sần trên cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ha ở giai đoạn ra hoa, số nốt sần không bị ảnh hưởng (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [3]
Do vậy cùng với việc lai tạo, chọn lọc và sử dụng biện pháp sinh học để tạo ra những giống mới có tiềm năng cho năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái đồng thời nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho từng giống, từng mùa vụ để cây đậu tương đạt năng suất cao nhất
Tóm lại để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt chúng ta không chỉ cần có những giống tốt, chất lượng cao, có khả năng chống chịu
mà còn phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng đặc biệt là N, P, K Nếu không cung cấp đầy đủ đạm, lân, kali thì năng suất sẽ bị ảnh hưởng, cần chú ý bón thêm các nguyên tố vi lượng để hỗ trợ trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
Trang 391.3.2 Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương ở Việt Nam
Cùng với việc nghiên cứu chọn tạo ra các giống đậu tương mới cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái mỗi vùng Các nhà khoa học nông nghiệp nước ta đã có những nghiên cứu về bón phân cho đậu tương nhằm phát huy tiềm năng của giống
Theo Lê Đỗ Hoàng và cộng sự, (1977) [7] căn cứ vào quy trình sản xuất đậu tương lượng phân bón cho 1 ha như sau: Phân chuồng 5 tấn, supe phốt phát 200-300 kg, amon sunphat 50-100 kg, kali sunphat 100-150 kg, vôi 300-500 kg
Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ phân hữu cơ và các lại phân bón khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]
Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương Nguồn cung cấp đạm cho đậu tương là từ phân bón, đất và khả năng tự cố định đạm khí trời nhờ vi khuẩn Rhyzobium japonicum Thời kỳ đầu sinh trưởng (từ mọc đến 3 lá) cây lấy đạm chủ yếu từ nguồn đạm trong đất thông qua sự hấp thu của bộ rễ Sự cố định đạm bắt đầu
có ý nghĩa từ khi cây có 4-5 lá trở đi
Lân là thành phần cơ bản đối với việc chuyển giao năng lượng trong tế bào sống nhờ liên kết cao năng ATP Liên kết cao năng ATP chỉ huy cơ chế các hoạt động sống của tế bào
Cây đậu tương thường hút lân từ lân từ phân bón và hút đến tận cuối
vụ Tuy nhiên việc tăng lân tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do lân trong phân được thay thế bằng lân trong đất Bón lân còn tăng khả năng hình thành nốt sần của đậu tương Bón nhiều lân nâng cao số lượng và khối lượng nốt sần Hiệu lực này tùy thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và giai đoạn phát triển của đậu tương
Trang 40Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) [3] Cho biết trên đất bạc màu
Hà Bắc bón lân cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Tùy theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần cơ giới có sẵn trong đất để xác định mức bón phân cho hợp lý
Nghiên cứu của Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1998) [12] cho biết hiệu quả của việc sử dụng các loại phân N, P, K cho cây trồng trên đât đồi chua được xác định là P cho hiệu quả
N, P, K cho cây trồng trên đất đồi chua được xác định là lân cho hiệu quả cao nhất, sau đó đến đạm và thấp nhất là kali Tác giả cũng cho rằng lân
là một trong những yếu tố hạn chế lớn nhất đến năng suất của tất cả các cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu tương, lúa cạn
Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp tạo nên đường và chất hữu cơ cho cây Tính di động cao của kali cho phép nó di chuyển nhanh từ tế bào này sang tế bào khác, hoặc từ mô thực vật già hơn tới mô mới còn đang phất triển và các cơ quan dự trữ Không đủ kali cho nhu cầu của cây làm giảm
sự tăng trưởng, năng suất, cây dễ nhiễm sâu bệnh
Bộ rễ của cây đậu tương có khả năng hút kali khá đủ cho nó từ các khoáng chất chứa kali trong đất Khi kali trao đổi giảm đi và nồng độ kali trong đất xuống thấp, thì kali lại được hòa tan từ dự trữ ít hòa tan trong đất Kali tới rễ đậu tương bằng con đường khuyếch tán trao đổi từ các phân tử đất
di vào dung dịch đất