1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi thảo luận Môn lịch sử đảng

13 30 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vì Sao Nhân Dân Việt Nam, Dân Tộc Việt Nam Lựa Chọn Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam? Vấn Đề Này Có Ý Nghĩa Như Thế Nào Đối Với Cách Mạng VN Ngày Nay
Tác giả Phạm Thị Hồng Vân
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng
Thể loại Đề Cương Thảo Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử hào hung nhất, oanh liệt nhất và vẻ vang nhất. Kể từ khi có Đảng, nhân dân ta đã thoát khỏi ách nô lệ đứng lên làm chủ đất nước từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thành công của công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã và đang khẳng định được uy tín ngày càng vững chắc trên trường quốc tế.

Trang 1

Họ và tên: Phạm Thị Hồng Vân

Lớp: H746

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN

Môn: LỊCH SỬ ĐẢNG

Vì sao nhân dân Việt Nam,

dân tộc Việt Nam lựa chọn

sự ra đời của Đảng cộng sản

Việt Nam? Vấn đề này có ý

nghĩa như thế nào đối với

cách mạng VN ngày nay

Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử hào hung nhất, oanh liệt nhất và vẻ vang nhất Kể từ khi có Đảng, nhân dân ta đã thoát khỏi ách nô lệ đứng lên làm chủ đất nước từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thành công của công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã và đang khẳng định được uy tín ngày càng vững chắc trên trường quốc tế

Từ hoàn cảnh lịch sử thế giới.

Từ cuối thế ký XIX, đầu thế ký XX sau khi chủ nghĩa tư bản tự

do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc đã chiếm hầu hết các vùng trên thế giới, biến các nước nhỏ yếu thành những nước thuộc địa và phụ thuộc Các dân tộc phải đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách chủ nghĩa đế quốc, thực dân, trở thành phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, nhất là ở Châu Á Phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa tư bản đế quốc Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản ở các nước tư bản chống giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản

có người bạn đồng minh chiến lược là phong trào giải phóng ở các thuộc địa

Giữa thế kỷ XIX C.Mác và Ph Awngghen nêu khẩu hiệu “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” thì đầu thể kỷ XX V.L.Lenin và Quốc

tế Cộng sản bổ sung và phát triển tư tưởng đó bằng khẩu hiệu chiến lược “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) phản ánh mâu thuẫn giữa các đế quốc trên nhiều vấn đề trong đó có tranh chấp thuộc địa , cuộc chiến tranh đó càng thêm mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản ở chính quốc và mẫu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghãi thực dân

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã làm phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống

kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc CÁch mạng tháng Mườ Nga không chỉ ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến cách mạng vô sản diễn ra ở các nước tư bản mà còn lan rộng đến các nước thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ các dân dộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phòng

Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên

Trang 2

thế giới, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng sản Tình hình đó đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập trung sức mạnh của phong trào ở tất cả các quốc gia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn vai trò tiên phong kể từ sau khi Ăngghen qua đời năm 1895) Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, với khẩu hiệu "Vô sản thế giới và các dân tộc bị

áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế "Lần đầu tiên trong lịch sử, quốc tế Cộng sản đã chỉ rõ sự đoàn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân"

Những năm 20 của thế kỷ XX hàng loạt Đảng Cộng sản ra đời ở các nước tư bản chính quốc và các nước thuộc địa, minh chứng cho sự đúng đắn của Học thuyết Mác - Enghen - Lênin, khẳng định xu thế tất yếu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, củng cố thêm niềm tin vào vai trò của Đảng cách mạng trong nhận thức Hồ Chí Minh:

+ Năm 1920 Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Inđônêxia ra đời

+ Năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời

+ Năm 1922 Đảng Cộng sản Nhật Bản ra đời

+ Năm 1925 Đảng Cộng sản Triều Tiên, Đảng Cộng sản Ấn Độ

ra đời

+ Năm 1928 Đảng Cộng sản Thái Lan ra đời

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam, nhận thức rõ đặc điểm và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam, Hồ Chí Minh mở rộng sự liên kết giữa phong trào cộng sản quốc tế với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, truyền

bá tư tưởng cộng sản vào Việt Nam, chuẩn bị tích cực và chu đáo các điều kiện để thành lập đảng ở Việt Nam, Người chỉ rõ sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam dẫn đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Tình hình trong nước

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam đã từng tồn tại một số tổ chức như: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập năm 1925 là tổ chức yêu nước và cách mạng đầu tiên chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hay Tân Việt Cách mệnh Đảng cũng là một tổ chức yêu nước và cách mạng theo đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Ngoài ra, còn có một bộ phận giai cấp tiểu tư sản chủ trương dương ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh Việt Nam Quốc dân Đảng (12-1927), song do bất lực, nên sau bạo động Yên Bái, Việt Nam Quốc dân Đảng đã

Trang 3

tan rã, theo đó mà ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc đã chuyển hẳn về tay giai cấp vô sản Việt Nam

Vì vậy, yêu cầu khách quan khi đó là giai cấp vô sản Việt Nam phải được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin để trở thành giai cấp đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng

Thực tiễn cho thấy, từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng với hàng trăm phong trào và các cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ của các sĩ phu, các nhà yêu nước đương thời, nhưng đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn

áp dã man tàn bạo, bởi thiếu đường lối cứu nước đúng đắn Trong quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài và gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng Từ năm 1858 đến trước năm 1930 hàng trăm phong trào và các cuộc khởi nghĩa oanh liệt nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như phong trào Cần Vương; phong trào Đông Du, Đông Kinh – Nghĩa Thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… lãnh đạo Các phong trào đấu tranh đó là vô cùng anh dũng, nhưng tất cả đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh đó là do những người yêu nước đương thời chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam Cách mạng nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Việc tìm lối ra, thoát khỏi cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng

về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước Người bôn ba khắp năm châu, bốn biển, vừa lao động, vừa học tập, quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ) và tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp

- Thông qua nghiên cứu lý luận cách mạng tư sản trong hành trình tìm đường cứu nước ở nước ngoài Hồ Chí Minh nhận thức

rõ hạn chế của các Đảng chính trị của giai cấp tư sản từ đó Người tìm ra con đường khắc phục những hạn chế đó chính là xây dựng Đảng của giai cấp vô sản đấu tranh vì quyền lợi của số đông dân chúng

- Trong hành trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh có mối liên hệ thân thiết với nhiều lãnh tụ của các tổ chức Đảng chính trị trên thế giới, trong đó có nhiều lãnh tụ của các Đảng Cộng sản,

Trang 4

đồng thời Người là đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp - Người thầy vĩ đại của Đảng Cộng sản Pháp trong phong trào chống chủ nghĩa thực dân, từng giới thiệu 5 thanh niên Trung Quốc tham gia ĐCS Pháp

- Người trực tiếp nghiên cứu, tìm hiểu đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Bôsêvich Nga, chứng kiến những thành quả lớn lao mà nước Nga đạt được

Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) nổ ra và thắng lợi đã có nhiểu ảnh hưởng đến Nguyễn Ái Quốc Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ và bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Những hoạt động cách mạng phong phú đó

đã giúp Người từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu dân, cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Người đã xác định những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc

Đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới…

Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sỹ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sỹ cộng sản quốc tế Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt mở đường thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam

Trở thành chiến sỹ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc

tế, tích cực hoạt động trong phong trào cách mạng thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)

Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Công sản Việt Nam Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách

Trang 5

mệnh (1927)… nhằm tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước Người tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn

Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và của các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:

- Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ

- An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ

- Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập Điều đó phản ánh xu thế tất yêu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia

có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc, người chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất

có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam

Từ ngày 03/02 đến 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc) dưới sự chỉ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng…

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sỹ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu

Trang 6

nước Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người

Ý nghĩa lịch sử của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (SGK: 124)

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt quan trọng lịch sử cách mạng Việt Nam Sự kiện lịch sử vĩ đại ấy đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo phong trảo yêu nước Việt Nam đầu thế ký XX

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự chuẩn bị đầy

đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam Chặng đường vẻ vang 85 năm qua của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta

đã đạt được những thành tựu kỳ diệu

Đảng cộng sản VN ra đời đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc VN chỉ sau 15 năm đi theo đường lối cách mạng của Đảng, dân tộc VN đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong CM tháng Tám năm

20145 Thắng lợi vĩ đại ấy đã khẳng định thực tế đường lối đúng đắn, ăng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, là một mốc son chói lọi trên con đường cách mạng do Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đa hoạch định từ năm 1930 và là nền tảng vững chắc cho dân tộc VN tiếp nối trên con đường độc lập và chủ nghĩa xã hội

Sự vận đụng sáng tạo chư nghĩa Mac-Leenin vào đặc điểm VN là công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc –HCM trong công cuộc vận đọng thành lập 1 chính đảng vô sản ở VN – một nước thuộc địa nửa phong kiến Công lao to lớn ấy không chỉ là sự lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc VN, mà còn linh hoạt sáng tạo trong phương thức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào phong trào công nhân VN, khi mà công nhân chỉ chiếm 1% dân

số, khi mà công nhân VN không chỉ phải chịu áp bức bóc lột của thực dân và giai cấp tư sản mà con chịu sự kìm kẹp hà khắc của phong kiến phản động

Đảng cộng sản VN thành lập đã khẳng định dứt khoát nội dung,

xu hướng phát triển của xã hội VN là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với nội dung và xu thế của thời đại mới được mở ra từ

Trang 7

CÁch mạng tháng Mười Nga vĩ đại: “Đối với nước ta không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát tư năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta” Với sự ra đời của Đảng cộng sản VN cách mạng trở thành một bộ phần khăng khít của cách mạng vô sản thế giới

Sự kiện thành lập Đảng cộng sản VN là một bước ngoặt quyết định trong sự phát triển của dân tộc ta, tạo những tiền đề và nhân

tố hàng đầu quyết định đưa các mạng VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Câu 2: Nội dung cơ bản

trong đường lối cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân

của Đảng ta thời kỳ

1930-1945 Quan điểm của Đảng

ta về đường lối bảo vệ Tổ

quốc xã hội chủ nghĩa Việt

Nam ngày nay?

I Mở bài:

Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930 – 1945, cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền đã diễn ra với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay nhân dân: Cao trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939-1945) Đó là quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ của Đảng và dân tộc, cho thấy đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như quá trình bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh và nghệ thuật lãng đạo của Đảng

II Giải quyết vấn đề:

1/ Quá trình chuẩn bị của Đảng ta

Ngay khi Đảng CSVN ra đời đã chủ trương phát động quần chúng đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống, chống địch khủng bố trắng…Tuy nhiên thực dân Pháp tăng cường bóc lột và thực hiện chính sách khủng bố trắng tràn lan dẫn đến >< giữa nhân dân càng thêm sâu sắc vì vậy Đảng phát động đấu tranh, đưa phong trào đấu tranh thành cao trào

Cao trào CM 1930 – 1931: Mở đầu cao trào là cuộc đấu

tranh của 5000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), bãi công

4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định (3 -> 4/1930)…, cuộc bãi công của công nhân kết hợp với biểu tình, tuần hành, mít tinh của nông dân và nhân dân lao đông Trong đó đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh T9/1930 dẫn đến sự ra đời của chính quyền Xô Viết – hình thức chính quyền CM đầu tiên ở nước ta, thực hiền quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, điều hành mọi mặt đời sống xh về ct, kt, vh, xh…Đây là một cuộc tập dợt đầu tiên, là bước chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ tranh giành chính quyền năm 1945, chứng minh đường lối CMVN là đúng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy sức mạnh đoàn kết của các

Trang 8

tầng lớp nhân dân chống thực dân Pháp và đế quốc tay sai Cao trào đã để lại cho CM VN nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cả thành công và chưa thành công về đt giành chính quyền, tổ chức lực lượng CM, khởi nghĩa vũ trang và thời cơ CM

Cao trào CM 1930-1931 khẳng định đường lối CMVN do Đảng ta đề ra trong cương lĩnh đầu tiên là hoàn toàn đúng đắn

Có 2 chính sách đáp ứng đòi hỏi của lịch sử đó là CM giải phóng dân tộc dân chủ và tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN Cao trào 1930-1931 đem lại cho quần chúng niềm tin vững chắc vào

sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh quần chúng Công-Nông đồng thời Đảng ta được tôi luyện trưởng thành qua thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, là cuộc tổng diễn tập của nhân ta cho CMT8/1945 sau này

Cao trào dân tộc, dân chủ 1936 – 1939: Trước tình hình

thế giới trải qua khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, Pháp cũng như các nước khác trút hậu quả khủng hoảng thừa vào các nước thuộc địa nhằm giảm bớt ảnh hưởng lên chính họ Các nước có thuộc địa nguy cơ phát xít, chiến tranh đe dọa cũng như đời sống của các tầng lớp nhân dân tại Đông Dương Tháng 7/1936 Hội nghị BCH TW đảng do đ/c Lê Hồng phong chủ trì đã định ra đường lối, phương pháp đấu tranh mới với mục tiêu trực tiếp trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi dân chủ, dân sinh và hòa bình, xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tai sai Đảng chủ trương thành lập mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương (mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương) đồng thời chuyển hình thức tổ chức

bí mật không hợp pháp thành công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp

Cao trào 1936 – 1939 là cuộc tập đợt lần thứ 2, tiếp tục chuẩn bị những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Cao trào này đã chứng minh sức mạnh khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở khối công nông liên minh được củng cố, hình thành mặt trận dân tộc thống nhất, nâng tầm uy tín của Đảng và tích lũy kinh nghiệm về kết hợp các hình thức đấu tranh, kết hợp đấu tranh thực hiện mục tiêu trước mắt với mục tiêu chiến lược lâu dài

Cao trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945: Trong giai đoạn

này, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp như chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và thực dân Pháp điên cuồng tấn công vào đảng cộng sản, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức

do Đảng lãnh đạo

Hoàn cảnh lịch sử thời kỳ 1939-1945

*

Thế giới :

Ngày 1/9/1939 chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, phát xít Đức tấn công Balan; Anh, Pháp nhảy vào và cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ; Các nước Châu Âu và Pháp đã bị phát xít

Trang 9

Đức chiếm Ngày 3/9/1939 Pháp chính thức tham chiến, sự kiện lịch sử đó đã làm thay đổi chính sách mà chính quyền thực dân Pháp đối với giai cấp công nhân, quần chúng lao động Pháp và

hệ thống các nước thuộc địa của Pháp

Cuối năm 1941, Mỹ tuyên chiến với phát xít và chiến tranh Châu Á – Thái Bình Dương bùng nổ Ở Châu Á Nhật đã vào TQ và đang tiến sát đến biên giới Việt – Trung đây là mối nguy hiểm đối với dân tộc Việt Nam

* Trong nước :

Ở đông dương, Pháp ra sức đàn áp CM Việt Nam (phát xít hóa chính sách cai trị), tổng động viên thanh niên VN thanh gia quân đội, chúng thực hiện chính sách kinh tế thời chiến đó là kinh tế chỉ huy thu mua lương thực cưỡng bức nhằm phục vụ cho chiến tranh, làm cho mâu thuẫn của nhân dân ta với thực dân Pháp và tay sai càng lớn

Ngày 22/9/1940 Phát xít Nhật tấn công Pháp tại Lạng Sơn, Pháp chạy về cố thủ tại Bắc Sơn Ngày 27/9/1940 Đảng bộ Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân đứng lên tước vũ khí của Thực dân Pháp,

từ đó Pháp suy yếu rõ rệt Nhật dùng những phần tử cơ hội phản động để lập ra những đảng phái thân Nhật, đó là Đảng Đại Việt, Đảng Phục Quốc và Nhật ra sức tuyên truyền cho thuyết Đại Đông Á Sớm bị lôi cuốn của dòng xoáy cuộc chiến tranh và đây là một thử thách lớn đối với dân tộc ta Pháp tại Đông Dương đang đứng trước 2 nguy cơ lớn: cách mạng Đông Dương đang phát triển mạnh, phát xít Nhật đang lăm le hất cẳng Pháp

2/ Chủ trương chiến lược mới của Đảng nêu cao nhiệm

vụ GPDT:

Nhân dân ta dưới hai tầng áp bức “một cổ hai tròng”, Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong thời kỳ này thể hiện rõ nét ở tinh thần Hội nghị TW 6 (11/1939); TW 7 (11/1940); TW 8 (5/1941):

Chuẩn bị về đường lối CM: Quá trình chuẩn bị của Đảng ta thể

hiện sự chuyển hướng về đường lối CM thể hiện rõ ở Hội nghị TW6 (T11/1939 tại Hóc Môn), HN TW7 và HN TW8

 Hội nghị 6 (11/1939) họp tại Bà Điểm do đ/c Nguyễn Văn Cừ chủ trì đặt nhiệm vụ giải phóng dt lên hàng đầu, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho mặt trận dân chủ Đông Dương để tập hợp các lực lượng, mặt trận Hội nghị đề ra khẩu hiệu: “Tịch thu ruộng đất của đế quốc, địa chủ phản bội, chống tô cao, lãi nặng” và đưa ra khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa Hội nghị đã chứng tỏ sự sắc sảo, sáng tạo, nhạy bén của Đảng trong công tác lãnh đạo CM Hội nghị đã khẳng định về dân tộc là vấn đề cốt lõi nhất: Đảng nhấn

mạnh “Chống giặc ngoại xâm, không phân biệt da trắng hay da vàng; Tạm gác khẩu hiệu lập chính phủ Xô Viết, thay vào khẩu hiệu “Lập chính phủ cộng hòa dân chủ”, Đảng xác định nhiệm

Trang 10

vụ chống ĐQ lên hàng đầu, tạm gác chống PK nhằm tập hợp

phát huy khối đại đòan kết toàn dân Đây là nghệ thuật lãnh đạo của Đảng chứ không phải cánh cửa khép hờ Đảng quyết

định thành lập Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương; Hình thức đấu tranh bí mật, hợp pháp, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Tóm lại: hội nghị TW lần 6 đánh dấu sự trở lại tư tưởng

của Nguyễn Ái Quốc đối với đảng ta đó là chuyển biến lớn trong nhận thức của đảng đối với đặc điểm của CM VN

 Hội nghị TW 7 (11/1940) do đ/c Trường Chinh chủ trì họp tại Bắc Ninh chỉ rõ tính chất của CM Đông Dương vẫn là

CM tư sản dân quyền Căn cứ vào tình hình đảng ta đã khẳng định “kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc Pháp, phát xít Nhật” Từ khẳng định trên hội nghị đưa ra những quyết định: Duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn; Xây dựng căn

cứ địa CM; Cử đ/c Phan Đăng Lưu vào Nam Kỳ hoãn cuộc KN Nam Kỳ (Do không báo kịp, cuộc KN Nam Kỳ vẫn nổ ra và hậu quả để lại khá nặng nề nhưng để lại cho Đảng ta những kinh nghiệm quý báu)

Tóm lại: Hội nghị TW 7 là bước phát triển mới bổ sung hội

nghị TW lần 6 chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang

 Hội nghị TW 8 (5/1941): Đ/c NAQ triệu tập hội nghị tại

Pắc Pó, HN đã đặt nhiệm vụ: “Giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là nhiệm vụ trước tiên”, giải phóng cho được các dân

tộc Đông Dương thoát khỏi ách thống trị của Pháp – Nhật Tạm gác khẩu hiệu CM ruộng đất để tập trung mũi nhọn chống đế quốc và bọn tay sai giành độc lập Hội nghị quyết định đưa ra chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa Ngoài ra hội nghị quyết định vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị , căn cứ địa CM chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến

Tóm lại: Hội nghị TW8 có ý nghĩa quyết định đối với sự pt

của phong trào CM đi tới thắng lợi, thể hiện sự hòa quyện giữa trí tuệ toàn đảng với tư tưởng HCM về đường lối CM dân tộc dân chủ VN HN đã hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc và

có ý nghĩa quyết định thắng lợi CMT8/1945 sau này

Như vậy qua 3 lần triệu tập hội nghị, Đảng ta đã chuẩn bị đường lối, chủ trương, chiến lược CM giải phóng dân tộc

Chuẩn bị về lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang:

- Xây dựng các lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị, lực

lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng phải được tiến hành đồng thời và luôn gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ và bổ sung trong mặt trận chung Đảng ta đã quy tụ đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp yêu nước không phân biệt dân tộc, tôn giáo để xây dựng lực lượng CM to lớn và rộng khắp trong cả nước Thành lập mặt trận

Ngày đăng: 11/10/2023, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w