Môn học kinh tế chính trị nêu phạm trù không thể thiếu trong môn học chính trị mỗi sinh viên khi bước chân vào giảng đường, cũng như các anh chị đang học trung cấp chính trị, cao cấp chính trị. Một nội dung đề cập cơ bản trong đề cương này nêu đầy đủ chi tiết về môn học, hãy xem và tải về nhé
Trang 1Câu 1: Hai thuộc tính của hàng hóa, liên hệ hàng hóa sản xuất ở Việt Nam?
1 Hai thuộc tính của hàng hóa:
* Khái niệm hàng hóa: Hàng hoá là sản phẩm của lao động, dùng để thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán (VD: gạo là thực phẩm thỏa mãn nhu cầu
ăn của con người, để có được gạo người nông dân phải thực hiện các công đoạn ngâm giống, gieo mạ, cấy lúa, bón phân, gặt, tuốt, phơi thóc, xay thóc… Từ gạo con người có thể nấu cơm, xay bột làm bánh các loại, … hoặc có thể thông qua trao đổi, mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu khác của con người)
* Phân loại hàng hóa:
Hàng hóa có 2 loại: HH hữu hình là HH tồn tại dưới dạng vật thể như bàn, ghế và HH vô hình là HH tồn tại dưới dạng phi vật thể như các dịch vụ y tế, giáo dục, vận tải,….
* Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
1 1/ Giá trị sử dụng của hàng hóa:
- Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng hay tính ích dụng của hàng hóa
có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Mỗi hàng hóa luôn có một hoặc một số công dụng nhất định.
Ví dụ: thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân: gạo có giá trị sử dụng nuôi sống con người, sách
báo có giá trị sử dụng giải trí, vải có giá trị sử dụng thẩm mỹ,…
- Đặc điểm của thuộc tính giá trị sử dụng:
+ Do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quy định, nghĩa là thuộc tính lý hóa của hàng hóa
đó qui định làm cho nó có công dụng này hay công dụng khác.
Ví dụ: nước về tính chất lý hóa là chất lỏng không mùi, không màu, không vị, từ những thuộc
tính đó mà nước dùng để uống, để tắm, để đun nấu, để rửa sạch các đồ vật khác (thức ăn…) ; gạo là tinh bột, có nhiều vitamin và khoáng chất thỏa mãn nhu cầu ăn của con người Từ tính chất lý hóa của nước và gạo là khác nhau nên công dụng của nước và gạo là khác nhau + Khoa học kỹ thuật càng phát triển, loài người càng phát hiện ra nhiều công dụng mới của vật phẩm.
Ví dụ: Nước trước đây chỉ dùng để uống, tắm, đun nấu… nhưng khi khoa học kỹ thuật phát
triển người ta phát hiện ra thêm nhiều công dụng khác như:
- Lợi dụng dòng chảy của nước, tạo áp suất làm tuốt bin quay - phát minh ra động cơ hơi nước, tạo ra điện dùng trong sinh hoạt, công nghiệp…
- Hơi nước có thể tạo độ ẩm trong không khí.
- Dùng tia nước có khả năng tạo áp suất cao, sức đẩy lớn để cắt kim loại trong ngành công nghiệp cơ khí.
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi mua bán Giá trị sử dụng đồng thời cùng là vật mang giá trị trao đổi Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng nó Khi chưa tiêu dùng, giá trị sử dụng chỉ ở trạng thái khả năng Để giá trị sử dụng có khả năng biến thành giá trị sử dụng hiện thực, nó phải được tiêu dùng Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối với sản xuất VD: Nước trong tự nhiên (trong ao hồ sông suối) không phải là hàng hóa, khi con người biết lấy về để sử dụng, tiêu dùng như uống, nấu nướng, tắm… thì khi đó nước mới thể hiện ra giá trị sử dụng của nó
+ Giá trị sử dụng là 1 phạm trù vĩnh viễn, về thuộc tính tự nhiên không thay đổi chỉ do khoa học kỹ thuật thay đổi Vì sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán, nên giá trị
sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người trực tiếp sản xuất mà cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Chính vì vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng của
Trang 2xã hội Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội Giá trị sử dụng mang trên mình giá trị trao đổi.
VD: Thuộc tính lý hóa của nước không bao giờ thay đổi, cho dù có đông lạnh để nước trở thành nước đá hoặc đun sôi để nước bốc hơi thì đến một lúc nào đó, nước sẽ trở về trạng thái ban đầu với đầy đủ các thuộc tính tự nhiên của nó Khi phát minh ra thêm nhiều giá trị sử dụng mới của nước, người tạo ra nó không chỉ nhằm mục tiêu tiêu dùng sử dụng cá nhân mà phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội, phục vụ nhu cầu của xã hội.
1.2/ Giá trị của hàng hóa:
Để hiểu được giá trị hàng hoá phải bắt đầu từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ
lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác VD: 1m vải = 5kg thóc,
tỷ lệ này có được căn cứ vào sức lao động bỏ ra mà theo Mác gọi là hao phí lao động được tính bằng thời gian lao động; Trong tỉ lệ đó, số lượng của những hàng hóa trao đổi với nhau, giá trị trao đổi của hàng hóa được biểu hiện ra
- Khái niệm giá trị của hàng hóa: là lao động xã hội trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa đó.
Ví dụ: để sản xuất ra vải thì có nhiều nhà sản xuất khác nhau, hao phí lao động của mỗi nhà
sản xuất là khác nhau, cụ thể trong 3 nhà sx vải, để sx 1m vải thì nhà thứ 1 cần thời gian là 4 giờ, nhà thứ 2 là 5 giờ, nhà thứ 3 là 7 giờ Các thời gian sx khác nhau đó được gọi là hao phí lao động cá biệt, người nào nắm đại bộ phận hàng hóa trong XH, lao động cá biệt của người
đó sẽ trở thành lao động trườu tượng của XH Do đó, giá trị 1m vải khi đem ra thị trường bán
ở mức trung bình của XH, nếu nhà SX nào có mức bán cao hơn sẽ lỗ, mức bán thấp hơn sẽ lời.
Thực chất của việc trao đổi là trao đổi hao phí lao động của những người sản xuất hàng hóa với nhau Vậy giá trị của hàng hóa là lao động XH của người SX hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó.
- Đặc điểm:giá trị của hàng hóa
+ Giá trị của hàng hóa là nội dung bên trong, giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị.
+ Giá trị của hàng hóa biểu hiện mối quan hệ XH giữa những người SX hàng hóa Do đó giá trị là một phạm trù lịch sử ( nó chỉ có trong sản xuất hàng hóa)
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa:
Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa có mối quan hệ biện chứng ,vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau:
- Thống nhất: Giữa giá trị và giá trị sử dụng hàng hóa cùng tồn tại và không tách rời nhau trong 1 hàng hóa, có cái này phải có cái kia và ngược lại Thiếu một trong hai thuộc tính
đó, vật phẩm không phải là hàng hóa.
VD: nước phải vừa tồn tại giá trị sử dụng (uống, nấu,…) vì tự bản thân nước đã tồn tại những thuộc tính tự nhiên của nó; đồng thời, con người không thể sống mà chỉ dùng mỗi nước, phải có ăn uống và các sinh hoạt khác (VD: cần gạo để nấu cơm) Do đó, người sản xuất với những hao phí lao động cần thiết tạo ra nước, phải dùng nước để trao đổi với người
sở hữu gạo nhằm dùng gạo để nấu ăn, khi đó thuộc tính giá trị của nước được xác lập Có thể nói, thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại thống nhất trong cùng một hàng hóa là nước
- Mâu thuẫn:
Trang 3+ Thứ nhất, xét về giá trị sử dụng thì mỗi hàng hóa có một công dụng khác nhau, nên không đồng nhất về chất; tuy nhiên xét về giá trị lại đồng nhất về chất do đều là kết tinh lao động xã hội trừu tượng của người sản xuất trong hàng hóa đó.
VD: Nước có nhiều giá trị sử dụng: để uống, để tắm, để nấu ăn…(không đồng nhất về chất), tuy nhiên để sản xuất ra một chai (thực hiện về mặt giá trị) thì đều phải tốn hao phí lao động nhất định để thực hiện nó (đồng nhất về chất).
+ Thứ hai, giá trị và giá trị sử dụng đều được tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng thực hiện nó không đồng thời về mặt không gian và thời gian Trong quá trình thực hiện, giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, giá trị sử dụng được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêu dùng Nếu giá trị không được thực hiện thì giá trị sử dụng cũng không được thực hiện.
Ví dụ: Có một chai nước, một trong những giá trị sử dụng của nó là dùng để uống và
giải khát Hao phí lao động kết tinh trong chai nước và được biểu hiện bằng tiền của giá trị là 5.000 đồng Giá trị được thực hiện trước trong lưu thông là mua chai nước, Giá trị sử dụng được thực hiện sau trong tiêu dùng là chai nước dùng để uống giải khát (mua xong rồi mới uống)
+ Thứ ba, người bán và người mua có sự quan tâm không giống nhau Người bán thường trong quá trình sản xuất phải tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hóa đó, nhưng trong lưu thông lại quan tâm về mặt giá trị (bán để lấy tiền) Ngược lại, người mua thường quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa, phải bỏ tiền ra để thực hiện giá trị của hàng hóa đó.
2 Liên hệ về hàng hóa hiện nay được sản xuất ra ở VN:
* Đối với nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay, trong sản xuất phải quan tâm đến
cả giá trị và giá trị sử dụng, cả về chất lượng và giá thành
- Xét về mặt giá trị:
+Ưu điểm: Tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào, giá nhân công rẻ, giá cả hàng hóa VN đáp ứng được nhu cầu và khả năng thanh toán của đa số người tiêu dùng vì Việt Nam vẫn là nước có thu nhập thấp Ngoài việc đáp ứng yêu cầu trong nước, hiện nay nhiều mặt hàng được xuất khẩu sang thị trường thế giới và có lợi thế cạnh tranh lớn về giá cả (gạo, cà phê ).
+ Nhược điểm: Do trình độ của người sản xuất ở nước ta còn thấp, trang thiết bị, công nghệ, máy móc còn lạc hậu… làm cho hàng hóa sản xuất ở nước ta với hao phí lao động trên
01 đơn vị sản phẩm còn cao nếu so với hàng hóa cùng chủng loại, cùng ngành hàng với các nước khác, dẫn đến sức cạnh tranh của hàng Việt Nam còn chưa cao ở thị trường trong nước
Trình độ KHKT còn lạc hậu, trình độ tay nghề người lao động chưa cao, phát triển chưa đồng đều, …dẫn đến vẫn còn thiếu vế chất lượng (các sản phẩm nông nghiệp sạch), không đủ
về số lượng đối với các mặt hàng xa xỉ phẩm (sản xuất ô tô).
Trang 4Trình độ kỹ thuật còn chưa cao, dẫn đến thiếu độ an toàn cho người tiêu dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm (động cơ xe máy tự phát cháy khi đang lưu thông trên đường, điện thoại phát nổ khi đang sạc )
Mẫu mã còn kém.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa VN cần có các giải pháp sau:
- Phát triển kinh tế thị trường làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động Vì dưới tác động của quy luật giá trị , cung cầu – cạnh tranh buộc người sản xuất không ngừng cải tiến mẫu mã, tạo ra hàng hóa phong phú đa dạng cả về số lượng, chất lượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
- Để tạo động lực cho sự phát triển sản xuất kinh doanh, buộc các nhà sản xuất phải chủ động, sáng tạo nhạy bén trong tổ chức quản lý, đào tạo nâng cao trình độ của người lao động , đổi mới công nghệ, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản suất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, đẹp hơn, giá cả ổn định, có thể hạ giá thành
để giành ưu thế trên thị trường
- Mở rộng quy mô sản xuất và tăng hiệu suất của tư liệu sản xuất.
- Thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng và sâu sắc Từ đó, nó phá
vỡ tính tự túc, tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội đáp ứng đầy đủ hơn.
- Phải vận dụng hai thuộc tính hàng hóa bằng các qui định về kinh tế, qui định nhà sản xuất sao cho phù hợp trên cơ sở khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh
tế xã hội đã đề ra ở Đại hội XI của Đảng: Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Câu 2: Quy luật giá trị và Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam?
* Khái niệm quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động
* Nội dung của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sx và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là trên cơ sở giá trị.
- Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết
có như vậy họ mới có thể tồn tại được.
VD: Giá 1kg đường trên thị trường là 30.000đ Các nhà sản xuất phải sản xuất 1kg đường nhỏ hơn giá trị thị trường thì mới có lời (bằng thì huề vốn, cao hơn sẽ bị lỗ).
- Trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị.
VD: Giá một 1kg đường là 15.000đ, giá 2m vải là 30.000đ Khi đem ra trao đổi hay đưa vào lưu thông, theo nguyên tắc ngang giá 1kg đường sẽ đổi lấy được 2m vải.
* Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị thể hiện:
Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có quy luật giá trị, biểu hiện của quy luật giá trị buộc những người sản xuất và trao đổi phải tuân thủ mệnh lệnh của giá cả thị trường Thông qua
sự vận động lên xuống của giá cả thị trường sẽ thấy được sự họat động của quy luật giá trị,
Trang 5Chính sự lên xuống của giá cả thị trường xoay quanh giá trị hàng hóa đã trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Cơ chế này phát sinh tác động trên thị trường thông qua cạnh tranh cung cầu và sức mua của đồng tiền.
Cơ chế vận hành của quy luật giá trị: Nếu sức mua của đồng tiền không thay đổi Khi cung = cầu, giá cả sẽ tương đồng với giá trị; Khi cung > cầu, giá cả sẽ < giá trị; Khi cung < cầu, giá cả sẽ > giá trị Nếu xét trên phạm vi toàn xã hội tổng giá cả = tổng giá trị.
Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện thông qua sự biến động lên xuống của giá cả hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó.
* Tác động của quy luật giá trị: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có
ba tác động sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất là qui mô sản xuất của ngành này được mở rộng, qui mô sản xuất của ngành kia bị thu hẹp vốn Tư liệu sản xuất, sức lao động di chuyển từ ngành này sang ngành kia do cung cầu trên thị trường thay đổi
VD: Khi giá thị trường tiêu tăng cao, nhiều nông dân phá bỏ các vườn điều hiện đang trồng chuyển sang trồng tiêu đã làm cho quy mô trồng điều bị thu hẹp, quy mô trồng tiêu ngày càng được mở rộng Để trồng tiêu, nhà vườn phải tập trung vốn, đầu tư công nghệ trang thiết bị thuê mướn lao động làm cho năng suất trồng tiêu tăng cao, khối lượng tiêu được cung ứng vào thị trường ngày càng nhiều Khi cung vượt quá nhu cầu hiện tại của thị trường, giá tiêu trên thị trường sẽ giảm xuống, người nông dân lại chặt bỏ cây tiêu, chuyển đổi sang các loại cây trồng khác có giá thành cao trên thị trường để sinh lợi (như điều, cà phê ).
+ Lưu thông hàng hóa: Hàng hóa di chuyển từ nơi có giá cả thấp đến nơi giá cả cao Như vậy, qui luật giá trị cũng tham gia vào phân phối các nguồn hàng hóa cho hợp lý hơn giữa các vùng
VD: Khi quy mô cây tiêu được mở rộng tại vùng cao, giá tiêu tại nơi trồng đó sẽ thấp hơn giá tiêu tại các khu vực không trồng được cây tiêu (như các vùng đồng bằng, thành phố lớn ), dẫn đến người ta sẽ phân phối sản phẩm tiêu đến các vùng đồng bằng, thành phố để bán nhằm thu được lợi nhuận cao hơn, thay vì bán ngay tại nơi sản xuất ra nó.
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất,nâng cao suất lao động, hạ giá thành sản phẩm:
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy người SX hàng hóa nào có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí LĐ của XH, thì sẽ thu được lãi nhiều hơn và càng thấp hơn càng lãi Điều đó kích thích những người SX hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa
SX, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm … nhằm tăng năng xuất lao động , hạ chi phí sản xuất.
VD: Giá một kí tiêu trên thị trường là 150.000 đồng, để có lời thì người nôn dân phải sản xuất ra 1 kg tiêu thấp hơn giá thị trường trên Do đó, người nông dân phải nghiên cứu máy móc ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng cây tiêu đang trồng, đồng thời hạ giá thành sản phẩm sao cho hợp lý nhất (ví dụ phải đầu tư hệ thống thoát nước chống ngập úng vào mùa mưa, tưới nước vào mùa khô hạn, hệ thống kho chứa lưu trữ và
xử lý tiêu sau thu hoạch ).
- Phân hóa những người sản xuất tạo điều kiện hình thành nên quan hệ kinh tế TBCN
Trang 6Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê.
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Như vậy: Quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp
để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
*Ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam:
Quy luật giá trị, cùng với sự tác động của cung, cầu quyết định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật Như vậy nó đã góp phần giúp nền kinh tế phát triển mạnh.
Quy luật giá trị tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt Nếu không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường nên nó dần hoàn thiện cơ chế thị trường đang được xây dựng ở nước ta.
Tuy nhiên quy luật giá trị có tác dụng phân hoá những người sản xuất nhỏ, phân hoá giàu nghèo, dẫn dến bất công bằng trong xã hội Từ đó hình thành nên mâu thuẫn giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
* Liên hệ tình hình ở nước ta hiện nay:
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó sx
HH nhỏ, phân tán còn phổ biến nên quy luật giá trị phát huy tính tích cực và tiêu cực:
Tích cực: dễ thực hiện vì qui mô sx nhỏ, nhu cầu vốn ít, dễ thay đổi mục đích sxkd, nhanh chóng nắm bắt nhu cầu thị trường, không đòi hỏi KHKT cao nên nhanh chóng cải tiến giúp nâng cao NSLĐ.
Tiêu cực: vì những điểm tích cực trên dẫn đến các doanh nghiệp sx vừa và nhỏ ồ ạt chuyển đổi mục đích sxkd làm mất cân bằng cung cầu, dễ gặp rủi ro, sức cạnh tranh kém, khó đổi mới KHCN, dễ dàng gặp thất bại.
Quy luật giá trị phát huy tính tích cực và tiêu cực cụ thể ở cả 3 mặt:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Cách đây hai ba năm trái cây như cam, nhãn vùng đồng bằng song Cửu long rớt giá thảm hại làm cho giá bán cam và nhãn thấp hơn giá sản xuất người trồng cam và nhãn bị lỗ Trong khi đó giá lúa xuất khẩu đang được giá nên người nông dân chặt cam và nhãn để trồng lúa Như vây quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sản xuất.
Nông sản sản xuất ở nông thôn hiện nay được chuyển từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp tập trung đông người để bán hay hàng hóa được sản xuất ở thành phố, các khu công nghiệp về nông thôn bán có lãi cao hơn Như vậy quy luật giá trị có tác dụng điều lưu thông
- Cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất:
Ngành dệt may ở Việt Nam do tận dụng được mặt bằng, giá nhân công rẻ, nên giá gia công của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực vì vậy các doanh nghiệp dệt may
Trang 7ở nước ta đang có xu hướng đầu tư máy móc, mở rộng nhà xưởng để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu Trong Phần lớn các doanh nghiệp dệt may để hạn chế chi phí, giảm giá thành sản phẩm phải tiết kiệm điện trong sản xuất các doanh nghiệp dệt may đề ra phương án:
+ Thay đổi nhưng máy móc sản xuất có mức hao phí điện năng cao.
+ Cải tạo hệ thống xây từ đốt dầu sang đất bằng than
+ Tránh sản xuất vào giờ cao điểm hi phí năng lượng khác.
- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo:
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế các doanh nghiệp do nguồn vốn phải đi vay với lãi xuất cao Theo thống kê 9 tháng đầu năm 2011
có 48.000 doanh nghiệp phá sản Như vậy mặt trái của kinh tế thị trường tạo ra hố sâu của sự phân hóa giàu nghèo
Kết luận: để phát huy mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của QLGT trong
nền kt, do đó cần phải có biện pháp quản lý của nhà nước Cụ thể:
+ Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, để phát huy vai trò tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặc tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xã hội
+ Vấn đề quan trọng là phải nhận thức và vận dụng qui luật giá trị bằng các chính sách kinh tế phù hợp, trên cơ sở khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế, xã hội thông qua các chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, gia đình có công cách mạng, xây nhà tình thương, trợ cấp những cán bộ công chức có bậc lương thấp (dưới 3.0), …
+ Thời gian qua, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức đúng vấn đề, tầm quan trọng trong việc đổi mới kinh tế, xã hội cũng như hiểu rõ vai trò và tác dụng của qui luật giá trị mà từ đó thực hiện nhiều cuộc cải cách kinh tế tuân theo những nội dung của qui luật giá trị, nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa
XHCN đa dạng và đã đạt được những thành tựu đáng kể./.
Câu 3 : Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và lý luận hàng hoá sức lao động?
1 Công thức chung của tư bản: (SGK T126)
T – H – T’
Công thức trên được gọi là công thức chung của tư bản vì mọi tư bản, dù là tư bản công nghiệp, thương nghiệp, cho vay,… đều vận động theo công thức chung đó Tiền chỉ trở thành tư bản khi tiền vận động theo công thức trên Trong đó, T’ = T + T
T: là số tiền tăng thêm so với giá trị (T) ứng ra ban đầu, Mac gọi đó là giá trị thặng
dư, ký hiệu là m.
2 Mâu thuẩn công thức chung của tư bản:
Lý luận giá trị đã chứng minh rằng: Giá trị của hàng hóa do lao động của những người sản xuất hàng hóa tạo ra trong sản xuất Nhưng nhìn vào công thức T-H-T’, trong đó T’ = T +
t, người ta dễ lầm tưởng rằng tiền tệ cũng tạo ra giá trị khi vận động trong lưu thông
Thực chất thì bản thân tiền, dù ở ngoài hay ở trong lưu thông, cũng không tự lớn lên được Tiền không thể sinh ra tiền là điều hiển nhiên.
Thực chất thì bản thân tiền, dù ở ngoài hay ở trong lưu thông, cũng không tự lớn lên được Tiền không thể sinh ra tiền là điều hiển nhiên.
Còn lưu thông thuần túy, dù diễn ra ở bất cứ hình thức nào, kể cả việc mua rẻ bán đắt, cũng không làm tăng thêm giá trị, không tạo ra giá trị thặng dư; ở đây chỉ có sự phân phối lại
Trang 8lượng giá trị có sẵn trong xã hội mà thôi bởi nếu mua rẻ thứ này thì sẽ lại phải mua đắt thứ kia; bán đắt thứ này thì lại phải bán rẻ thứ khác, vì tổng khối lượng hàng và tiền trong toàn xã hội ở một thời gian nhất định là một số lượng không đổi Tuy vậy, không có lưu thông cũng không tạo ra được giá trị thặng dư
Do đó, mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là giá trị thặng dư vừa được tạo ra trong lưu thông, vừa không được tạo ra trong lưu thông Điểm đặc biệt này là chìa khóa để giải đáp CT chung của g/c TB vì nhờ lưu thông mà TB mua được trên thị trường 1 loại hàng hóa đặc biệt là HH SLĐ và khi sử dụng HH SLĐ vào trong lĩnh vực sx nó sẽ tạo ra giá trị thặng dư cho nhà TB, giống như C.Mác đã khẳng định: "Vậy là tư bản không thề xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông".
Đó chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản Để giải quyết những mâu thuẫn này C.Mác chỉ rõ: "phải lấy những quy luật nội tại của lưu thông hàng hóa làm cơ sở.
*Lý luận hàng hóa sức lao động:
- Khái niệm sức lao động: Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất
- Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
+ Một là; người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của mình Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó
do con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền
sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế
độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến.
+ Hai là; người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình,
vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển của văn minh nhân loại Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản.
- Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt Sức lao động khi trở thành hàng hóa,
nó vừa có hai thuộc tính như hàng hóa thông thường vừa có đặc điểm riêng, cụ thể:
Về đặc điểm thông thường:
+ Giá trị hàng hoá sức lao động là những tư liệu tiêu dùng để tạo ra và tái tạo sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi
số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất
Trang 9mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần, nhu cầu này là vô vùng phong phú, và đa dạng
ở các vùng miền khác nhau tại các khoảng thời gian khác nhau.
Ví dụ: Một người đi làm thuê cho một doanh nghiệp nọ với vị trí là tài xế lái xe buýt Giá trị sức lao động của anh ta được quy định bởi số giờ làm công trong ngày, số ngày công trong tháng… và anh ta cần phải nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động của mình thì mới
có khả năng để tiếp tục thực hiện công việc cho ngày tiếp theo Để tạo ra và tái tạo sức lao động phục vụ cho công việc, anh ta cần phải được ăn uống, đồng thời cần thêm những giá trị khác về tinh thần như giải trí, học hành, giáo dục, đào tạo… cùng với người thân và gia đình của anh ta.
Về yếu tố tinh thần và lịch sử: Cũng là người tài xế xe buýt đó, nếu làm việc tại các quốc gia khác nhau sẽ sẽ được trả lương rất khác nhau Ví dụ:
Tài xế xe buýt tại các nước Bắc Âu được trả lương rất cao Nguyên nhân: Đây là lao động phức tạp với trình độ văn minh cao, theo đó đòi hỏi người tài xế phải được đào tạo huấn luyện về kỹ năng nghiệp vụ như trình độ học vấn, giao tiếp, lái xe, hướng dẫn thoát hiểm cho khách… mặc dù hệ thống đường sá tại các nước này thuận lợi hơn so với tại Ấn
Độ (đường thẳng tắp, sạch đẹp, người dân chạy xe đúng luật… ) Mặt khác, do sinh hoạt phí tại đây rất đắt đỏ, nếu trả lương thấp họ sẽ không đủ để trang trải cho cuộc sống của mình và gia đình.
Tài xế xe buýt tại Ấn Độ: bị trả lương thấp Nguyên nhân: Do đây là lực lượng lao động giản đơn trong XH, người lao động làm công việc này nhiều, họ không cần phải được đào tạo, huấn luyện trong công việc, không đòi hỏi người tài xế phải có thêm các kỹ năng khác ngoài kỹ năng lái xe Sinh hoạt phí thấp nên không đòi hỏi phải trả lương cao giống như tài xế tại các nước Bắc Âu.
+ Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động: Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất.
Về đặc điểm riêng: Những tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể
hiện đó là:
+ Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị
sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
+ Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động; vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động.
Sự tồn tại và phát triển của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động là một tất yếu khách quan, việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá không cản trở việc xây dựng CNXH mà còn giúp kích thích cả người sở hữu sức lao động lẫn người sử dụng lao động đóng góp tích cực hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Kết luận: Hàng hóa sức lao động là điều kiện để chuyển hóa tiền tệ thành tư bản Đây cũng
chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Như vậy, tiền tệ chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng làm phương tiện để mang lại giá trị thặng dư cho
Trang 10người có tiền và người có tiền phải tìm được một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động.
Câu 4 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, so sánh và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu?
1 Khái niệm ngày lao động: ngày lao động là thời gian lao động trong ngày Ngày lao động
chia thành 2 phần: thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, trong đó giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong tg lđ thặng dư.
2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp giá trị thặng dư tương đối
(Tài liệu của thầy giáo) (SGK T.133)
ra các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giới chủ
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Mỹ phát triển từ nhỏ đến lớn và bùng lên mạnh
mẽ từ năm 1827 trước sự đấu tranh mạnh mẽ đòi tăng lương, giảm giờ làm của giai cấp công nhân, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định thời gian ngày làm 8 giờ đối với các cơ quan, xí nghiệp thuộc chính phủ Mỹ.
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối (SGK T.134)
3 So sánh hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
(Hình vẽ: trong tập)
- Giống nhau:
+ Tạo ra giá trị thặng dư ngày càng lớn cho nhà tư bản Điều đó chứng tỏ sự bóc lột của nhà
TB đối với g/c công nhân làm thuê ngày càng thậm tệ hơn.
+ 2 pp đều có chung về giả định nghiên cứu: thời gian lao động trong ngày, ngày lao động gồm có lao động tất yếu và lao động thặng dư.
+ Đều đòi hỏi người lao động phải tạo ra tư bản khả biến (v), giá trị thặng dư (m) cho nhà TB, đồng thời phải tạo ra một lượng tỷ suất giá trị thặng dự (m’) Do đó, đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn, tay nghề, năng suất, cường độ lao động nhất định.
VD: Một nhà TB kinh doanh xưởng dệt ngoài việc phải thuê mướn công nhân có kỹ năng về ngành dệt (v), phải tạo ra một lượng m với năng suất, cường độ lao động ngày càng lớn hơn nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời cần phải tạo thêm một lượng m’ nữa.
Trang 11thời gian LĐ tất yếu giữ ngyên, tăng thời gian LĐ thặng dư
(tăng sức lao động và cường độ lao động)
thời gian LĐ tất yếu rút ngắn lại, tăng lên thời gian LĐ thặng dư.
(tăng năng suất lao động)
3 Hạn chế - Làm tăng mâu thuẫn đối kháng
giữa hai giai cấp - vấp phải sự đấu tranh gay gắt của g/c công nhân, người lđ.
- Giới hạn của giờ tự nhiên làm
hạn chế khả năng tái tạo sức lao động
- Làm giảm mâu thuẫn đối kháng
giữa hai giai cấp
- Tạo điều kiện tái tạo sức lao động
- Trình độ phát triển của KH công nghệ
- Chi phí đầu tư ,
- Trình độ của người lao động.
4 Thời hạn
áp dụng
Phổ biến trong giai đoạn đầu của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa (khoa học
công nghệ kém phát triển)
Phổ biến trong giai đoạn sau của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa (khoa học
dụng sự phát triển của KHKT dưới trình độ bóc lột tinh vi hơn.
3 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu:
Trước đây, do nhận thức không đầy đủ về các phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư,
đã hình thành quan niệm phổ biến rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong CNXH không còn SX giá trị thặng dư, không nên áp dụng phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư tuyệt đối vì nó bất công, trái với bản chất của XH mới Nếu áp dụng thì chỉ nên chú trọng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Quan niệm không đầy đủ này xuất phát từ nhận thức sản xuất giá trị thặng dư với tư cách là tính đặc thù riêng của PTSX TBCN, nên đã không thấy được rằng, sự hình thành và phát triển của SXXH nói chung, trong các pp này cũng có những thành tựu mà nhân loại đã đạt đượng trong CNTB, mà trong xây dựng XH mới cũng cần phải kế thừa và vận dụng, đó là:
- Nếu gạt bỏ mục và tính chất TBCN thì vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch trong các doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật – công nghệ mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất.
- Gợi mở cách thức làm tăng của cải, thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế kết hợp các chính sách đảm bảo an sinh xã hội (nhà ở, y tế, giáo dục…) Đối với nước ta cần vận dụng sử dụng triệt để các nguồn lực, nhất là nguồn lao động vào sản xuất kinh doanh
+ Kéo dài thời gian lao động tất yếu để tạo ra giá trị thặng dư: khuyến khích, động viên người lao động làm thêm giờ kết hợp các chính sách trả thêm lương, thưởng cho người lao động.
Trang 12+ Tăng cường độ lao động, năng suất cho người lao động: đảm bảo trả lương công bằng, khen thưởng thỏa đáng cho người lao động.
+ Áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào trong quá trình sản xuất, thực hiện các chính sách đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đảm bảo các chính sách phúc lợi,
hỗ trợ lao động, tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lđ yên tâm công tác.
Thực tiễn phát triển kt ngày nay ở nước ta cho thấy, cả ba yếu tố tg lđ, cường độ lđ và năng suất lđ đều quan trọng, cần được sử dụng phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp NN trong nền kt thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, các yếu tố tg lđ và cường độ
lđ có thể áp dụng ngay lập tức với những đk hiện có và sẽ cho kết quả tích cực trong tg tương đối ngắn thông qua các biện pháp về tổ chức quản lý SXKD một cách khoa học Còn yếu tố năng suất lđ thì phụ thuộc nhiều yếu tố khác như trình độ của người lđ, kỹ thuật, công nghệ của SX… mà những yếu tố này nhìn chung khó có thể thay đổi nhanh, đo đó, tăng năng suất
lđ là hướng cần chú trọng, đặc biệt trong dài hạn.
Câu 5 : Thực chất của tích lũy tư bản, các quy luật chung của tích lũy tư bản liên
hệ thực tiễn tại Việt Nam.
Như vậy, chúng ta hiểu sau khi bán hàng hóa đúng giá trị, nhà TB thu được giá trị thặng
dư Thay vì đem tiêu dùng cho cá nhân hết, nhà TB đã dành một phần giá trị thặng dư để chuyển thành vốn (TB) làm cho số vốn đó tăng lên Việc làm đó gọi là tích lũy tư bản.
b Động cơ của tích lũy tư bản:
Tích lũy tư bản là tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật giá trị và cạnh tranh của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quy định; cụ thể:
- Do nhu cầu tái sản xuất mở rộng nền kinh tế TBCN Đặc trưng của nền SX TBCN là tái sản xuất mở rộng, với mục đích theo đuổi giá trị thặng dư: quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản đòi hỏi sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản; muốn vậy, phải phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa cả chiều rộng và chiều sâu, phải tích lũy tư bản.
- Do nhu cầu phải giành ưu thế trong cạnh tranh Muốn chiến thắng trong cạnh tranh và
có nhiều lợi nhuận, các nhà tư bản phải tích lũy tư bản Nếu không tích lũy thì sẽ không có tư bản để đổi mới kỹ thuật tạo điều kiện sản xuất phát triển.
- Do sự phát triển KHKT, việc ứng dụng những thành tựu của CM KHKT và khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm thu được ngày càng nhiều giá trị thặng dư Nhưng muốn ứng dụng thành tựu KHKT phải có một lượng lớn TB để đầu tư thỏa đáng.
- Do để đảm bảo sự thống trị của giai cấp tư sản đối với g/c công nhân Về lý luận: giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì đồng thời có khả năng chiếm được địa vị làm chủ quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước và trở thành giai cấp thống trị xã hội Về mặt thực tiễn: trong xã hội TBCN, giai cấp tư sản nắm được một lượng tư bản lớn, có thể mua được nhà xưởng, máy móc công nghệ hiện đại, đẩy bộ phận còn lại của xã hội vào