1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU hỏi ôn THI môn LỊCH sử ĐẢNG

44 13 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn thi môn Lịch sử Đảng
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Bài luận, Ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 70,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI ÔN THI MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CHƯƠNG 1 Câu 1 1 Trình bày những chuyển biến mới của tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tác động đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam? Tìn.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN THI MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG

CHƯƠNG 1 Câu 1.1: Trình bày những chuyển biến mới của tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX tác động đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?

Tình hình trong nước:

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa chủ, nông dân) đồng thời tạo nên những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu

tư sản) với thái độ khác nhau Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện Trong đó, mâu thuẫn giữatoàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt

Tình hình thế giới:

Từ nửa sau thế kỷ XIX, Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, đẩy mạnh xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa của các nước đế quốc Trước bối cảnh đó, phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam

Vào giữa thế kỉ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác-Lê nin, chỉ rõ

sự ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản và có ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương

Câu 1.2: Trình bày khái quát chính sách cai trị của thực dân Pháp và tác động của chính sách đó đến xã hội Việt Nam?

-Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề

Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất,

nó vô cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”

Kinh tế: Pháp đẩy mạnh việc cướp đoạt ruộng đất, lập các đồn điền, tập trung khai thác than và kim loại.

Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam, hàng hoá của Pháp nhập vào Việt Nam chỉ bị đánh thuế rất nhẹ hoặc được miễn thuế, nhưng đánh thuế cao hàng hoá các nước khác, hàng hóa của Việt Nam chủ yếu là xuất sang Pháp

Chính trị: Chia Việt Nam thành ba xứ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kì là xứ nửa bảo hộ, Trung Kì theo

chế độ bảo hộ, Nam Kì theo chế độ thuộc địa

Tổ chức bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương đều do thực dân Pháp chi phối

Văn hóa xã hội: thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du

nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng

“khai hóa văn minh” của nước “Đại Pháp”

-Việt Nam đã biến đổi từ một xã hội phong kiến thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mất hẳn quyền độc lập, phụ thuộc vào nước Pháp về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa chủ, nông dân) đồng thời tạo nên những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ khác nhau Những mâu

Trang 2

thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện Trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt

1 Câu 3: Trình bày vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Qua trảinghiệm thực tế qua nhiều nước

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ởPháp Tháng 6-1919, tại Hội nghị của các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp ở Vécxây(Versailles), Tổng thống Mỹ Uynxơn tuyên bố bảo đảm về quyền dân tộc tự quyết cho các nước nhược tiểu

Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội

nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm tám điểm đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam) ngày

18-6-1919 Những yêu sách đó không được Hội nghị đáp ứng, những sự kiện này đã tạo nên tiếng vang lớn trong dưluận quốc tế và Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất của đế quốc, thực dân

Tháng 7-1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo), số ra ngày 16 và 17-7-1920 Những luận điểm của

V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sựnghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Lý luận của V.I.Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản vềcách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc xác định thái độ ủng hộ việc gia nhậpQuốc tế Cộng sản tại Đại học lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (12-1920) tại thành phố Tua (Tour) Tại Đạihội này, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin thành lập)

Ngay sau đó, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người vừa bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản đã tuyên

bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản - tức là Đảng Cộng sản Pháp Với sự kiện này, Nguyễn Ái

Quốc trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của ViệtNam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc Ngày30-6-1923, Nguyễn Ái Quốc tới Liên Xô và làm việc tại Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, tham gia nhiều hoạtđộng, đặc biệt là dự và đọc tham luận tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17-6 - 8-7-1924), làm việc trực tiếp ởBan Phương Đông của Quốc tế Cộng sản

Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khảo sát, tìm hiểu đểhoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về ViệtNam

Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng.

Về tư tưởng Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa khác, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế, Năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, Nguyễn Ái Quốc được

cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễntrong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái Quốc tích cực

tố cáo, lên án bản chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và

Trang 3

kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xácđịnh chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thể hiện, của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngtrên thế giới Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng về con đường cách mạng vô sản, con đường

cách mạng theo lý luận Mác-Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao

động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc

Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng aicũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”14 Đảng mà không có chủ nghĩa cũng giống như người không

có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Phải truyền bá tư tưởng vô sản, lý luận Mác-Lênin vào phong trào côngnhân và phong trào yêu nước Việt Nam

Về chính trị Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản Đường lối chính trị của Đảng

cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cáchmạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chínhquốc” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địakhông phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc” mà có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chínhquốc”, góp phần tích cực thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”

Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lựclượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, vì vậy phải thu phục và lôi cuốn đượcnông dân, phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực cách mạng: “công nông là gốc của cách mệnh;còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh của công nông”15 Do vậy, Người xác địnhrằng, cách mạng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người”16

Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh,

để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy

Phong trào “Vô sản hóa” do Kỳ bộ Bắc kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động từ ngày

29-9-1928 đã góp phần truyền bá tư tưởng vô sản, rèn luyện cán bộ và xây dựng phát triển tổ chức của công nhân

Về tổ chức Sau khi lựa chọn con đường cứu nước - con đường cách mạng vô sản - cho dân tộc Việt Nam,

Nguyễn Ái Quốc thực hiện “lộ trình” “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấutranh giành tự do độc lập”17 Vì vậy, sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để tìm hiểu, khảo sát thực tế vềcách mạng vô sản, tháng 11-1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có đông người Việt Nam yêunước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản Tháng 2-1925, Người lựa chọn

một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn.

Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung

Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn Hội đã công bố chương trình, điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnhdân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế

Trang 4

quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản) Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ haythành bộ, huyện bộ và chi bộ Tổng bộ là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội Trụ sở đặt tại QuảngChâu.

Hội xuất bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ,

mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc vận động giảiphóng dân tộc Việt Nam Báo in bằng tiếng Việt và ra hằng tuần, mỗi số in khoảng 100 bản Ngày 21-6-1925 ra

số đầu tiên, đến tháng 4-1927, báo do Nguyễn Ái Quốc phụ trách và ra được 88 số Sau khi Nguyễn Ái Quốc rờiQuảng Châu (4-1927) đi Liên Xô, những đồng chí khác trong Tổng bộ đã tiếp tục việc xuất bản và hoạt độngcho đến tháng 2-1930 với 202 số (từ số 89 trở đi, trụ sở báo chuyển về Thượng Hải) Một số lượng lớn báoThanh niên được bí mật đưa về nước và tới các trung tâm phong trào yêu nước của người Việt Nam ở nước

ngoài Báo Thanh niên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam.

Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách, pháingười về nước vận động, lựa chọn và đưa một số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về

lý luận chính trị Từ giữa năm 1925 đến tháng 4-1927, Hội đã tổ chức được trên 10 lớp huấn luyện tại nhà số 13

và 13 B đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là nhà số 248 và 250) Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử

về nước xây dựng và phát triển phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản Trong số học viên được đàotạo ở Quảng Châu, có nhiều đồng chí được cử đi học trường Đại học Cộng sản phương Đông (Liên Xô) vàtrường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc)

Sau sự biến chính trị ở Quảng Châu (4-1927), Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva và sau đó được Quốc tếCộng sản cử đi công tác ở nhiều nước Châu Âu Năm 1928, Người trở về châu Á và hoạt động ở Xiêm (tức TháiLan)

Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho những người Việt Nam yêu

nước tại Quảng Châu, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản thành cuốn Đường Cách mệnh Đây là cuốn sách chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam, trong đó tầm quan trọng của lý luận cách

mạng được đặt ở vị trí hàng đầu đối với cuộc vận động cách mạng và đối với đảng cách mạng tiên phong

Đường Cách mệnh xác định rõ con đường, mục tiêu, lực lượng và phương pháp đấu tranh của cách mạng Tác

phẩm thể hiện tư tưởng nổi bật của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở vấn đề sáng tạo chủ nghĩa Lênin vào đặc điểm của Việt Nam Những điều kiện về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức để thành lập Đảng

Mác-đã được thể hiện rõ trong tác phẩm

Ở trong nước, từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở ở trongnước, đến đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập Hội còn chú trọng xây dựng cơ sở trong Việt kiều ở Xiêm(Thái Lan) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản, nhưng chương trình hànhđộng đã thể hiện quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân, là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chứccộng sản ở Việt Nam Hội là tổ chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn

bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam Những hoạt độngcủa Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nướcViệt Nam những năm 1928-1929 theo xu hướng cách mạng vô sản Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sảnViệt Nam

Trang 5

Câu 1.4: Trình bày sự phát triển phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam 1919-1930 và giải thích tại sao giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam?

Trình bày sự phát triển phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam 1919-1930

* Thời kỳ 1919-1925:

Để bù đắp những thiệt hại, tổn thất nặng nề trong chiến tranh, thực dân Pháp đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) ở Việt Nam cả về quy mô và mức độ, nên số lượng công nhân tăng lên nhanh chóng Do đó, phong trào đấu tranh của công nhân cũng mạnh lên

Đời sống của công nhân Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp vô cùng cực khổ: ngày làm việc thường kéo dài từ 9h đến 10h trong một ngày “Có nơi như khu dệt Nam Định, ngày công của công nhân trong năm 1924 được quy định bình quân là 12 giờ, công nhân không được hưởng bất kỳ một chế độ bảo hiểm thân thể nào Tiền lương rất thấp” Ngoài đồng lương rẻ mạt, chết đói, điều kiện làm việc cực khổ, công nhân còn bị đánh đập, cúp phạt, ngược đãi như nô lệ! Ở nhiều đồn điền, hầm mỏ, bọn chủ tư bản còn lập nhà lao, xà lim riêng để đàn áp các cuộc phản kháng của công nhân Tình trạng bị áp bức, đói khổ, cộng với lòng yêu nước

và truyền thống dân tộc đã thúc đẩy giai cấp công nhân hăng hái đứng lên đấu tranh chống cường quyền

Vào thời kỳ đầu, do số lượng còn ít, trình độ giác ngộ còn thấp nên những cuộc đấu tranh của công nhân chỉ diễn ra lẻ tẻ, rời rạc ở từng xí nghiệp, từng kíp thợ, xưởng mộc,… Mục đích đấu tranh chủ yếu là đòi quyền lợi kinh tế như tăng lương, giảm giờ làm Hình thức đấu tranh chủ yếu là đập phá máy móc, đánh cai ký, chủ thầu, phá giao kèo, bỏ trốn tập thể,… “Trong thời gian những năm 1919-1925, số lượng công nhân bỏ trốn, phá giao kèo với chủ đã lên tới 4877 người Càng ngày, công nhân đã biết sử dụng hình thức đấu tranh đặc thù của mình là bãi công, mặc dù hình thức này bị ghép vào tội “phá rối trị an” và bị kết án tù” Một sự kiện có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam, đó là năm 1921“Liên đoàn công nhân tàu biển

ở Viễn Đông” đã được thành lập và phát triển các cơ sở ở Ma Cao, Thượng Hải (Trung Quốc) Một số công nhân, thủy thủ Việt Nam làm việc trên các hãng tàu của Pháp đã gia nhập liên đoàn này Họ đã có nhiều đóng góp trong việc đưa đón cán bộ, vận chuyển các sách báo cách mạng từ Pháp về trong nước

Từ năm 1922, phong trào công nhân bắt đầu có nét khởi sắc mới Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của

600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn-Chợ Lớn Nguyễn Ái Quốc đánh giá đây là một “dấu hiệu của thời đại mới”,

“lần đầu tiên một phong trào như thế đã nhóm lên ở thuộc địa”

Năm 1924, có nhiều cuộc bãi công của công nhân nhà máy dệt, rượu, xay gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, Năm 1925, phong trào công nhân đã xuất hiện nhiều cuộc bãi công có quy mô lớn và có tổ chức lãnh đạo ở một mức độ nhất định Trong đó, điển hình nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son (Sài Gòn) vào tháng 8/1925 để ngăn không cho tàu chiến Pháp chở lính sang tham gia đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và thủy thủ Trung Quốc Gắn liền với cuộc bãi công này là vai trò tổ chức của đồng chíTôn Đức Thắng Sau khi tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải, năm 1920 đồng chí Tôn Đức Thắng về nước, xin vào làm công nhân ở Sài Gòn Tại đây, ông đã bí mật thành lập tổ chức “Công hội” đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam

Đặc điểm chung của phong trào công nhân Việt Nam thời kỳ này còn ở mức độ thấp, phụ thuộc vào phong trào yêu nước nói chung, mang tính chất tự phát, chưa tỏ rõ được sức mạnh của một lực lượng chính trị độc lập, chưa có ý thức rõ rệt về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình Cuộc bãi công Ba Son kết thúc thắng lợi đánh dấu một bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam: không chỉ nhằm vào mục tiêu đấu tranh kinh

tế mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích chính trị, thể hiện tình đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam Có thể khẳng định rằng, cuộc bãi công Ba Son là một mốc son rất quan trọng trong phong trào công nhân - giai đoạn công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và có mục đích chính trị rõ ràng

* Thời kỳ 1926-1930:

Trên thế giới, cách mạng dân tộc, dân chủ ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ với những bài học kinh nghiệm về sự thất bại của Công xã Quảng Châu 1927 Đại hội V của Quốc tế cộng sản với những nghị quyết quan trọng về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa

Trong nước, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt đã đẩy mạnh hoạt động trong phong trào công nhân (mở lớp huấn luyện cán bộ), ra báo "Thanh niên", Nguyễn Ái Quốc viết cuốn "Đường cách mệnh",

Trang 6

phong trào "Vô sản hoá"

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thông qua những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều người Việt Nam yêu nước khác, các sách báo cách mạng đã được truyền bá vào nước ta Nhờ đó, giai cấp công nhân Việt Nam bước đầu biết tới Cách mạng tháng Mười Nga, biết đến chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở đó dần dần tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa cộng sản để từng bước thấm sâu hơn vào tinh thần giác ngộ lý tưởng và đã bắt đầu biến thành hành động cách mạng!

Nhờ sự ra đời và hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, các tư tưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá rộng rãi trong công nhân và nhân dân lao động Trên cơ sở đó, phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ và chuyển biến nhanh chóng về chất Các cuộc đình công, bãi công liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi Trong hai năm 1926-1927, đã nổ ra 27 cuộc đấu tranh của công nhân, tiêu biểu là cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, của 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm, công nhân cao su Phú Riềng,… Các cuộc đấu tranh này đều nhằm hai mục tiêu chung là đòi tăng lương từ 20% đến 40% và đòi thực hiện ngày làm 8h như công nhân bên Pháp

Điều đó chứng tỏ, công nhân không còn bị chi phối, lệ thuộc nặng nề vào các yêu sách lợi ích cục bộ, địa phương mà đã biết chú ý tới lợi ích chung của giai cấp bằng cách đề ra các yêu sách phù hợp với nguyện vọng chung của đông đảo công nhân Một điều kiện thuận lợi quan trọng lúc bấy giờ là một số cán bộ được Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu được đưa về nước, trực tiếp tham gia lãnh đạo đấu tranh Họ tham gia vào phong trào “vô sản hóa”, cụ thể là đi vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, xí nghiệp, thành thị, nông thôn,…Một mặt, để tự rèn luyện, mặt khác để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho công nhân, nông dân và những ngườiyêu nước khác ở Việt Nam Phong trào “vô sản hóa” phát triển mạnh nhất vào những năm 1928-1929, làm cho phong trào công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Trong hai năm 1928-1929, số lượng các cuộc đấu tranh của công nhân đã lên tới 40 cuộc, tăng gấp 2,5 lần so với hai năm 1926-1927 Lớn nhất là các cuộc bãi công ở nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, diêm cưa Bến Thủy, xe lửa Trường Thi (Vinh), mỏthan Mạo Khê, Hòn Gai (Quảng Ninh),… Các cuộc đấu tranh đó đã mang tính chất chính trị, vượt ra ngoài phạm vi một xưởng, bước đầu liên kết được nhiều ngành, nhiều địa phương Tình hình đó chứng tỏ, trình độ giác ngộ của giai cấp công nhân đã được nâng lên rõ rệt

Đặc biệt, trong cuộc bãi công của 200 công nhân xưởng sửa chữa ôtô Avia (Hà Nội) tháng 5/1929 đã có

sự lãnh đạo của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Chi bộ cộng sản đầu tiên, mà người đóng vai trò chỉ đạo trực tiếp là đồng chí Ngô Gia Tự Để chỉ đạo công nhân đấu tranh, một Ủy ban bãi công đã được thành lập, phát truyền đơn kêu gọi công nhân và nhân dân lao động Hà Nội hưởng ứng và ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Avia Cuộc bãi công đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực của công nhân nhiều nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định

Tháng 7/1929, Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ được thành lập, đã đề ra chương trình, điều lệ và quyết định xuất bản

tờ báo Lao động làm cơ quan ngôn luận Sự kiện đó vừa thể hiện bước trưởng thành của phong trào công nhân, vừa tạo điều kiện thúc đẩy giai cấp công nhân đi dần vào đấu tranh có tổ chức, có lãnh đạo thống nhất

Nhìn chung, trong thời kỳ 1926-1929, phong trào công nhân đã có những bước tiến bộ mới, thay đổi vềchất từ có chủ nghĩa, đấu tranh mục tiêu rõ ràng, có tổ chức thống nhất Những cuộc đấu tranh tự phát đã giảm

đi và thay vào đó là những cuộc đấu tranh có ý thức nổ ra liên tục, rầm rộ, rộng khắp, sôi nổi và quyết liệt hơn với số lượng người tham gia đông, có sự phối kết hợp giữa các địa phương, đơn vị đấu tranh, có sự lãnh đạo chặt chẽ của tổ chức công hội hay thanh niên với quy mô ngày càng lớn Khẩu hiệu đấu tranh không chỉ giới hạn

ở mục đích kinh tế mà đã mang tính chất chính trị Điều đó cho thấy, quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đang chuyển dần từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác

Cùng với phong trào công nhân, phong trào nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân yêu nước khác cũng phát triển, tạo thành một làn sóng cách mạng dân tộc dân chủ rộng khắp cả nước Trong đó, giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đi đầu và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng

Trước sự chuyển biến mạnh mẽ trong các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân ngày càng lên cao, “Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên” không còn đủ sức lãnh đạo Yêu cầu phải thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng toàn dân tộc, đảm nhiệm vai trò lãnh đạo

sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc đang trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ Từ đó, dẫn tới sự tan rã của các tổ chức Thanh niên vàTân Việt, xuất hiện ba tổ chức cộng sản “Đông Dương Cộng sản Đảng”(17/06/1929), “An Nam Cộng sản Đảng” (11/1929), “Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” (01/01/1930)

Trang 7

Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đã khẳng định bước nhảy vọt của cách mạng Việt Nam: nó chứng tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào dân tộc và những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản

đã hoàn toàn chín muồi trong phạm vi cả nước

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chứng tỏ

“rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam thực sự trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất trong cả nước Thông qua chính đảng của mình, giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc vượt qua mọi thác ghềnh hiểm trở để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ thắng lợi

Giải thích tại sao giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam

Thứ nhất, quan niệm về giai cấp công nhân và đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động mà sống, là công nhân Bất kỳ họ lao động trong công nghệ hay là trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì, cũng đều thuộc về giai cấp công nhân” Tuy nhiên, trong số đó, không phải tất cả họ đều là giai cấp công nhân và chỉ ra tiêu chí căn bản để xác định đó là giai cấp công nhân đúng nghĩa mang đầy đủ “đặc tính” của giai cấp công nhân quốc tế theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người viết: “Chủ chốt của giai cấp

ấy, là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa, vân vân Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông, vân vân , cũng thuộc về giai cấp công nhân Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân” Về đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân Việt Nam mang đầy đủ đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, đó là: “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật Lại vì là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và

đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức

là chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác”.Thứ hai,giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân- là người bạn tự nhiên của nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng

Câu 1.5: Phân tích đường lối cách mạng thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2 năm 1930)? Ý nghĩa của Cương lĩnh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam?

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam: phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, đi đến xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản

Xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu

- Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng HCM, phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phải đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại

Câu 1.6: Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, hãy chứng minh: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là

Trang 8

và 17-7-1920 Sau khi đọc và hiểu được bản đề cương ấy, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra kết luận: “Muốn cứu nước

và GPDT, ko còn con đường nào khác ngoài con đường CMVS” Từ đó Người tin theo CNCS, tin theo CN Mác

- Lênin và tin theo Quốc tế III Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc là 1 trong số 200 Đảng viên Đảng XH Pháp đã giơ tay biểu quyết lập ĐCS Pháp và đồng ý gia nhập Quốc tế CS Đây là 1 mốc son quan trọng trong lịch sử VN,ghi dấu lần đầu tiên lịch sử VN có 1 người chấp nhận CNCS, tiếp thu CNCS và trở thành người CS Từ đó, Người tìm mọi cách truyền bá CN Mác - Lênin về VN và các nước thuộc địa thông qua làm báo, viết báo, truyền bá sách báo yêu nước, mang tư tưởng CS về VN và Đông Dương 1921 – 1924 là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc truyền bá gián tiếp CN Mác - Lênin về VN 1925 trở đi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá trực tiếp CN Mác - Lênin về VN thông qua Hội VNCM thanh niên với phong trào “Vô sản hóa” do Kỳ bộ Bắc kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động từ ngày 29-9-1928 CN Mác - Lênin và tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên đường CM mới ở VN Nó góp phần quan trọng giải quyết khủng hoảng về đường lối cứu nước

ở VN

Phong trào CN: CN VN ra đời gắn liền với sự du nhập CNTB kiểu Pháp vào VN Từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là trải qua 2 cuộc khai thác thuộc địa đầu thế kỷ XX, CN VN cho đến đầu 1939 đã có 22 vạn người Từ cuối chiến tranh thế giới I, nó đã thật sự trở thành 1 giai cấp mới, thật sự trở thành 1 lực lượng chính trị mới nổi lên ở VN Cho tới 1925, sau khi tổ chức Công hội đỏ ra đời, sau khi Hội VNCM thanh niên ra đời và phát triển

về VN, phong trào CN ở VN đã có bước phát triển nhảy vọt Đặc biệt sau phong trào VS hóa năm 1928 của tổ chức Hội VNCM thanh niên, CMVN đã thật sự tiếp thu CN Mác và cho tới đầu 1929, phong trào CN VN đã chuyển hẳn từ đấu tranh từ phát sang đấu tranh tự giác Điều này được thể hiện qua việc trong hai năm 1928-

1929, số lượng các cuộc đấu tranh của công nhân đã lên tới 40 cuộc, tăng gấp 2,5 lần so với hai năm 1926-1927,điển hình là các cuộc bãi công ở nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, diêm cưa Bến Thủy, xe lửa Trường Thi (Vinh), mỏ than Mạo Khê, Hòn Gai (Quảng Ninh), cuộc bãi công của 200 công nhân xưởng sửa chữa ôtô Avia (Hà Nội, 5/1929),…

o Điều kiện đủ: Phong trào yêu nước ở VN: Từ 1884 -1885 đi theo ngọn cờ Cần Vương mà đứng đầu là vua Hàm Nghi nhưng cũng chỉ đến 1897 thì ngọn cờ phong kiến VN đã gãy đổ hoàn toàn Sang đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước VN đã hướng theo các tư tưởng DCTS được du nhập từ bên ngoài vào, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sảntrí thức của tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng (12-1927 - 2-1930) đã tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc kỳ, nhưng tất cả đều không thành công Phong trào yêu nước VN đang gặp khủng hoảng về đường lối cứu nước và

tổ chức lãnh đạo, đòi hỏi phải có 1 tổ chức CM tiên tiến với đường lối CM đúng đắn và khoa học để giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của CMVN

- 3 điều kiện cần và đủ đã nêu ở trên từ cuối 1929 đến đầu 1930 được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau trong thực tiễn CMVN và nó dẫn đến sự ra đời 3 tổ chức CS ở VN: Đông Dương CS Đảng (17/6/1929, chủ yếu

ở miền Bắc) – An Nam CS Đảng (8/1929) – Đông Dương CS Liên đoàn (9/1929) Sự xuất hiện của 3 tổ chức

CS này chứng tỏ phong trào CMVN đã đòi hỏi phải có Đảng lãnh đạo nhưng sự tồn tại cùng lúc 3 tổ chức CS cónguy cơ kìm hãm sự phát triển và gây chia rẽ phong trào CMVN Bản thân phong trào CMVN lúc này có 1 đòi hỏi khách quan là phải thống nhất 3 tổ chức CS, phải đi đến một ĐCS thống nhất ở VN

Câu 1.7: Phân tích nội dung cơ bản của Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 và rút ra nhận xét?

Thay cho Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam là Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương với các nội dung chính 39:

Xác định mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở Việt Nam, Lào và Cao Miên là “một bên thì thợthuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa”

Về phương hướng chiến lược của cách mạng, Luận cương nêu rõ tính chất của cách mạng Đông Dương

Trang 9

lúc đầu là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, “có tính chất thổ địa và phản đế” Sau đó sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.

Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải “tranh đấu để đánh đổ các di tích phong

kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” và

“đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau: “ có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa” Luận cương nhấn mạnh: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”, là cơ sở để Đảng giành quyền

lãnh đạo dân cày

Giai cấp vô sản là nông dân là hai động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô

sản là động lực chính và mạnh

Về lãnh đạo cách mạng, Luận cương khẳng định: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở

Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng có kỷ luật tập trung, mật thiếtliên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”

Về phương pháp cách mạng, Luận cương nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường

“võ trang bạo động” Đến lúc có tình thế cách mạng, “Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh đổ chánhphủ của địch nhân và giành lấy chánh quyền cho công nông” Võ trang bạo động để giành chính quyền là mộtnghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”

Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản ĐôngDương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên

hệ với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Nhận xét:

Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã xác định nhiều vấn đề cơ bản về chiến lược cách mạng Tuynhiên, Luận cương đã không vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa, không nhấn mạnhnhiệm vụ giải phóng dân tộc, mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất; không đề ra được mộtchiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai.Nguyên nhân của những hạn chế đó là do nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn cách mạng thuộc địa và chịu ảnhhưởng của tư tưởng tả khuynh, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản vàmột số Đảng Cộng sản anh em trong thời gian đó

Những hạn chế của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, giữahai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất, cũng như trong việc tập hợp lực lượng cách mạng còntiếp tục kéo dài trong nhiều năm sau

Câu 1.8: Nêu những điểm giống và khác nhau về nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền được xác định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng?

nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền

Giống:

Về phương hướng chiến lược của cách mạng, cả 2 văn kiện đều xác định được tích chất của cách mạngViệt Nam là: Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xãhội cộng sản, đây là 2 nhiệm vụ cách mạng nối tiếp nhau không có bức tường ngăn cách Phương hướng chiếnlược đã phản ánh xu thế của thời đại và nguyện vọng đông đảo của nhân dân Việt Nam

Về nhiệm vụ cách mạng, đều là chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lập dân tộc.

Về lực lượng cách mạng, chủ yếu là công nhân và nông dân Đây là hai lực lượng nòng cốt và cơ bảnđông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc nước ta

Về phương pháp cách mạng, sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính trị và vũ

Trang 10

trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền vềtay công nông.

Về vị trí quốc tế, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách mạng thế giới đã thể hiện sự

mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình

Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản “Đảng là đội tiên phong của vôsản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dânchúng” Như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác –Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam” Sự giống nhau trên là do cả hai văn kiệnđều thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản chiụ ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga vĩđại năm 1917

Bên cạnh những điểm giống nhau, hai cương lĩnh trên có một số điểm khác sau: Cương lĩnh chính trịxây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam còn Luận cương rộng hơn (Đông Dương)

Đánh đổ Đế quốc và phong kiến

Cương lĩnh chính trị đầu tiên Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930

của Đảng

Xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của

cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa

Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được

hoàn toàn độc lập” Cương lĩnh đã xác định: Chống

đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để

giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày,

trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc

được đặt ở vị trí hàng đầu

Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân

quyền là phải “tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tiền tư bản và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau: “ có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh

đổ được đế quốc chủ nghĩa” Luận cương nhấn mạnh: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”, là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh

đạo dân cày

→ Kẻ thù, nhiệm vụ của cách mạng là đánh

đổ giặc Pháp sau đó mới đánh đổ phong kiến và tay

sai phản cách mạng( nhiệm vụ dân tộc và dân chủ)

Nhiệm vụ dân tộc được coi là nhiệm vụ trọng đại của

cách mạng, nhiệm vụ dân chủ cũng dựa vào vấn đề

dân tộc để giải quyết Như vậy mục tiêu của cương

lĩnh xác định: làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập,

nhân dân được tự do, dân chủ, bình đẳng, tịch thu

ruộng đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho dân cày

nghèo, thành lập chính phủ công nông binh và tổ

chức cho quân đội công nông, thi hành chính sách tự

do dân chủ bình đẳng phổ thông giáo dục theo hướng

công nông hóa

→ Việc xác định nhiệm vụ như vậy của Luậncương đã đáp ứng những yêu cầu khách quan đồngthời giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hộiViệt Nam lúc đó là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫngiai cấp đang ngày càng sâu sắc

Trang 11

Về lực lượng cách mạng: Trong Cương lĩnh chính

trị xác định lực lượng cách mạng là giai cấp công

nhân và nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải liên

minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi dụng hoặc trung lập

phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt

Nam chưa rõ mặt phản cách mạng

→ ngoài việc xác định lực lượng nòng cốt của

cách mạng là giai cấp công nhân thì cương lĩnh cũng

phát huy được sức mạnh của cả khối đoàn kết dân

tộc, hướng vào nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân

tộc

Giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chínhcủa cách mạng mạng tư sản dân quyền, trong đó giaicấp vô sản là đông lực chính và mạnh, là giai cấplãnh đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảonhất, là một động lực mạnh của cách mạng, cònnhững giai cấp và tầng lớp khác ngoài công nông như

tư sản thương nghiệp thì đứng về phía đế quốc chốngcách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phíaquốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển caothì họ sẽ theo đế quốc

→ Điều đó cho thấy ta chưa phát huy được khối đoànkết dân tộc, chưa đánh giá đúng khả năng cách mạngcủa tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc vàphong kiến ở mức độ nhất định của tư sản dân tộc,khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủtham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc

-Chính sách phát xít hóa bộ máy chính quyền thực dân đế quốc ở Đông Dương không làm Đảng ta bất ngờ, vìĐảng đã sớm dự báo vấn đề này Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, Đảng cho rằng nếu cuộc chiến tranhthế giới lần thứ nhất (1914-1918) làm xuất hiện tình thế cách mạng ở Nga, dẫn tới cuộc Cách mạng Tháng Mườinăm 1917 nổ ra, thì cuộc chiến tranh thế giới lần này sẽ làm xuất hiện tình thế cách mạng Nắm vững và vận

dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng của V.I.Lênin: “giai cấp vô sản nắm lấy ngọn cờ dân tộc, tự mình trở thành dân tộc”, dựa trên cơ sở phân tích diễn biến tình hình ở Đông Dương lúc này, Đảng kịp thời đề ra chủ trương

cách mạng mới

b)Nội dung chủ trương chiến lược mới của Đảng được thông qua tại Hội nghị BCHTW 8 (tháng 5 năm 1941)?

-Hội nghị đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, nhấn mạnh Đảng của giai cấp công nhân, nếu muốn tập hợp lực lượng toàn dân thì phải giương cao ngọn cờ dân tộc, phải đoàn kết hết sức rộng rãi “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự

sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếpngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”

-Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) Các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc trong Mặt trận đều lấy tên

là Hội Cứu quốc như Hội Công nhân Cứu quốc, Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Thanhniên Cứu quốc, Hội Phụ lão Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu vong, Hội Quân nhân Cứu quốc Với các dân tộcLào, Cao Miên, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận ở mỗi nước, tiến tới thành lập một Mặt trận chung ĐôngDương

-Nhằm triệt để phát huy yếu tố dân tộc, phân hoá hàng ngũ giai cấp địa chủ, Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ

trương tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm tức.

Trang 12

-Hội nghị xác định: phương pháp cách mạng là "cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang".Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, khi thời cơ đến

“với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thểgiành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn"

-Hội nghị quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của một nước Việt Nam, Lào, Khơ me , thi hành

đúng quyền “dân tộc tự quyết", với tinh thần liên hệ mật thiết, giúp đỡ nhau giành thắng lợi

-Hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc Nghị quyết Hội nghị đề ra gấp rút đào tạo cán bộ và tăng thêm thành phần vô sản trong Đảng.

Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ BáCang, Phùng Chí Kiên, đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng Ban Thường vụ Trung ương Đảnggồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang

Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương thay đổi chiến lược cáchmạng được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939, có ý nghĩa quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Câu 1.10: Làm rõ nguyên nhân Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945)? Đảng Cộng sản Đông Dương đã có chủ

trương như thế nào? Ý nghĩa của chủ trương?

-Tháng 6/1940, Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng Lợi dụng cơ hội đó, chính quyền phát xít Nhật tăng sức ép lênchính quyền Pháp tại Đông Dương nhằm thế chân Pháp Ngay từ năm 1940, Pháp đã có những động thái khiến

Đế quốc Nhật Bản xúc tiến từng bước để dần kiểm soát toàn Đông Dương Theo Hiệp ước Tokyo 1940 thì Pháp chấp nhận hầu hết các yêu sách của Nhật, trong đó có các điều khoản liên quan đến việc Nhật có quyền chi phối nền kinh tế Đông Dương để thâu tóm miền Hoa Nam Ngày 25 tháng 9 năm 1940, dù chỉ huy lực lượng võ trangkhá hùng hậu Pháp tỏ ra bất lực khi Nhật tấn công biên giới Việt - Hoa Pháp tiếp tục phải nhượng bộ Nhật Hiệp ước Tokyo 1941, ấn định Nhật là nước hưởng những ưu đãi đặc biệt tại Đông Dương

-Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, nước Pháp được giải phóng Chính phủ Đờ-Gôn trở về Pa-ri Ở mặt trận Thái Bình Dương, phát xít Nhật khốn đốn trước các đòn tấn công dồn dập của quân Anh - Mĩ cả ở trên biển và trên bộ Quân Pháp ở Đông Dương ráo riết chuẩn bị, chờ thời cơ để giành lại địa vị thống trị cũ, làm cho mâu thuẫn Nhật - Pháp trở nên gay gắt Tình thế trên buộc Nhật phải đảo chính Pháp, nhằm độc chiếm Đông Dương

-Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng và đề ra chủ trương: Ra chỉ thị ”Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” chỉ rõ bản chất hành động của Nhật ngày 9-3-1945 là một cuộc đảo chính tranh giành lợi ích giữa Nhật và Pháp; xác định kẻ thù cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phát xít Nhật; thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”, nêu khẩu hiệu “thành lập chính quyền cách mạng của nhân dânĐông Dương” để chống lại chính phủ thân Nhật, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa với hình thức đấu tranh:

từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình thị uy, vũ trang du kích và sẵn sàng chuyển qua tổng khởi nghĩa khi có điều kiện

Câu 1.11: Phân tích chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng trong cách mạng tháng Tám năm 1945?

Điểm đặc sắc trước hết là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời nắm bắt và chủ động tận dụngtriệt để thời cơ thuận lợi của cách mạng để lãnh đạo các lực lượng tiến hành tổng khởi nghĩa Đến đầu tháng 8-

1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến hết sức mau lẹ, trực tiếp tạo thuận lợi cho cáchmạng Việt Nam Đó là sau khi phát-xít Nhật đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Việt Nam cũng như ở Lào vàCam-pu-chia rất hoang mang, tinh thần chiến đấu rệu rã; đồng thời, chính quyền tay sai và bọn Việt gian thânNhật cũng hoảng sợ, dao động Trong khi đó, cao trào kháng Nhật, cứu nước của nhân dân ta và lực lượng vũtrang cách mạng đang dâng lên rất mạnh mẽ trên khắp cả nước; một số tầng lớp trung gian do dự, lừng khừng đãngả theo cách mạng

Tận dụng thời cơ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chỉ đạo thực hành tổng khởi nghĩa; chủ

Trang 13

động tổ chức, phát huy sức mạnh của toàn dân ở từng vùng, miền và trên quy mô cả nước Quán triệt và chấphành Lệnh tổng khởi nghĩa của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, từ ngày 14-8-1945, các tầng lớp nhân dân, cácdân tộc, tôn giáo… được huy động tổ chức thành những đội quân chính trị đông đảo và đội quân vũ trang, trong

đó có Việt Nam Giải phóng quân và lực lượng vũ trang các địa phương làm nòng cốt, xung kích ở khắp ba miềnBắc, Trung, Nam, do Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và các đảng bộ địa phương lãnh đạo Toàn bộ lực lượngchính trị và lực lượng quân sự tham gia tổng khởi nghĩa quán triệt và thực hiện theo 3 nguyên tắc do Hội nghịtoàn quốc của Đảng đề ra Một là, tập trung lực lượng vào những mục tiêu chính Hai là, thống nhất các mặtchính trị, quân sự, hành động và chỉ huy Ba là, kịp thời tổ chức hành động đồng loạt, không bỏ lỡ cơ hội

Nhờ phát động kịp thời, nhanh chóng tổ chức được những đạo quân chính trị đông đảo và đội quân vũ trang làmnòng cốt, tiến hành tổng khởi nghĩa đúng thời cơ và vận dụng theo 3 nguyên tắc chỉ đạo, Đảng ta đã phát huyđược sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh áp đảo kẻ thù, nhanh chóng giành thắng lợi

Cuộc cách mạng tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công là do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo,chủ động kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng quân sự, tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiếnlên tổng khởi nghĩa trên quy mô cả nước Tận dụng thời cơ thuận lợi và thực hiện Lệnh tổng khởi nghĩa củaTrung ương, đông đảo nhân dân ở nhiều địa phương có đội quân vũ trang (tổ, đội) hỗ trợ đã đồng loạt nổi dậy,giành chính quyền Ở một số địa phương, tuy chưa nhận được Lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng thực hiện Chỉ thị

“Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, các đảng bộ đã lãnh đạo quần chúng nhân dân, có các đội tự

vệ xung kích nổi dậy, giành chính quyền ở địa phương

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, cuộc tổng khởi nghĩa do các đảng bộ tỉnh, thành phố trực tiếp lãnh đạodiễn ra trên cả nước rất đa dạng, phong phú Hầu hết các tỉnh, thành phố đều tổ chức khởi nghĩa dưới hình thứckết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh chính trị với đòn tiến công quân

sự, trong đó lực lượng chính trị tiến hành đấu tranh chính trị đóng vai trò quyết định, lực lượng vũ trang thựchiện đấu tranh vũ trang đóng vai trò chế áp lực lượng địch, kết hợp với sách lược mềm dẻo, cô lập và vô hiệuhóa quân thù nên giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu Trong tất cả các tỉnh, thành phố, đặc khu trong cảnước tiến hành khởi nghĩa, có 36 tỉnh, thành phố về cơ bản ta tổ chức lực lượng khởi nghĩa bắt đầu từ xã, huyện,phát triển lên tỉnh lỵ, từ ngoại thành vào nội thành, rồi kết thúc ở một số huyện, xã còn lại; 15 tỉnh tổ chức lựclượng tiến hành khởi nghĩa ở tỉnh lỵ trước rồi lan về các huyện và 11 tỉnh, đặc khu tổ chức lực lượng cùng khởinghĩa cả ở tỉnh lỵ và nông thôn trong một ngày

Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa ở các tỉnh, thành phố, đặc biệt là thắng lợi ở Hà Nội (19-8), Huế (23-8) vàSài Gòn (25-8) đã tác động mạnh tới phong trào nổi dậy ở các địa phương trong cả nước Nhờ tổ chức kịp thờicác đòn đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng có tự vệ vũ trang xung kích hỗ trợ, kết hợp chặt chẽ đòn tiếncông quân sự của lực lượng vũ trang, chỉ trong nửa tháng (từ ngày 14-8 đến 28-8-1945), cuộc tổng khởi nghĩagiành chính quyền trên phạm vi cả nước đã giành thắng lợi, để ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và đặt cơ sở để xây dựng, phát triển toàn diện đất nước

CHƯƠNG 2 Câu 2.1: Tại sao nói: Sau cách mạng tháng Tám nước ta lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”? Để giải quyết tình thế trên, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những chủ trương như thế nào?

Trả lời:

*Chính quyền cách mạng non trẻ của ta phải đối phó với muôn vàn khó khăn, đứng trước tình thế “Ngàn cântreo sợi tóc” Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng kéo vào, theo chúng là bọn tay sai thuộc các tổ chứcphản động, âm mưu cướp chính quyền mà nhân dân ta đã giành được Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, hơn 1 vạnquân Anh kéo vào, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Ngoài ra, trên cả nước còn hơn 6 vạnquân Nhật đang chờ giải giáp Bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, làm tay sai cho Pháp, chống phá cáchmạng Chính quyền cách mạng còn non trẻ; lực lượng vũ trang còn yếu Nạn đói vẫn chưa khắc phục Hàng hoákhan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Di sản văn hoá lạc hậu của chế độ cũ rất nặng nề, hơn 90%dân số mù chữ, tệ nạn xã hội còn phổ biến Ngân sách Nhà nước trống rỗng

Trang 14

*Trước tình hình đó, cùng với việc củng cố chính quyền, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân, Trungương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm các biện pháp đấu tranh mềm dẻo nhằm duy trì hòa bình, giữ vữngđộc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, để tranh thủ thời gian củng

cố lực lượng cách mạng, tránh phải đối phó với nhiều kẻ thù Chúng ta đã chủ động đàm phán với Pháp để tránhcuộc chiến tranh, giữ hòa bình cho cả hai dân tộc, giữ độc lập cho Tổ quốc, rồi ký Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-

1946, sau đó ký Tạm ước ngày 14-9-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư tới nguyên thủ các nước Anh, Mỹ,Liên Xô và các thành viên của Liên hợp quốc nêu rõ thiện chí hòa bình, mong muốn Liên hợp quốc chấp nhậnnhững yêu cầu chính đáng của Việt Nam để duy trì hòa bình Đồng thời, Người liên tục gửi thư cho Chính phủ,Quốc hội, Thủ tướng Pháp và cử phái viên đến gặp người cầm đầu Pháp ở Đông Dương để tìm cách cứu vãn hòabình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu Nhưng giới cầm quyền thực dân đã khước từ mọi thiện chí, nỗ lực củachúng ta Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới Bất chấp những thiện chí hòa bình của ViệtNam, trong các ngày 15 và 16-12-1946, quân Pháp nổ súng gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội Ngày 17-12-1946,chúng cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, rồi gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún và phố YênNinh Ngày 18-12-1946, tướng Môlie gửi cho ta 2 tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏmọi công sự và chướng ngại vật trên các đường phố, đòi để cho chúng giữ gìn trị an ở Hà Nội Chúng tuyên bốnếu các yêu cầu đó không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động, chậmnhất là sáng ngày 20-12-1946

Vậy là kẻ thù đã đặt dân tộc Việt Nam trước 2 con đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại làm nô lệ; hai là đấutranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập Tình thế đó, buộc Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vànhân dân ta không có lựa chọn nào hơn là cầm vũ khí, đứng lên chiến đấu Chính vì vậy, Ban Thường vụ Trungương Đảng đã ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến và ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến Đây là lời hịch cứu nước, thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của cả dân tộc, khơi dậy sứcmạnh chủ nghĩa yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất; động viên, thôi thúc, cỗ vũ toàn Đảng, toàn dân,toàn quân ta bước vào cuộc kháng chiến trưởng kỳ giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc

Câu 2.2: Trình bày sách lược hòa hoãn của Đảng trong những năm 1945 – 1946 và ý nghĩa lịch sử?

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong ba thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế

kỷ XX Thắng lợi đó đã tạo ra "một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta": chấm dứt sự áp bức,bóc lột của thực dân Pháp tồn tại trong 87 năm (1858-1945) và sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế tồn tạingót nghìn năm, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập…Cả dân tộc Việt Nam bước vào một kỷnguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, chưa kịp củng cố và phát triển thì chính quyền cách mạngphải đối phó với muôn vàn khó khăn: kinh tế nghèo nàn lạc hậu, ngân quỹ nhà nước trống rỗng, nạn đói, nạndốt, sự chống phá của các đảng phái phản động… nhưng khó khăn lớn nhất khiến vận mệnh dân tộc rơi vào tìnhthế "ngàn cân treo sợi tóc" đó là âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, đặc biệt là của quân Tưởng vàthực dân Pháp

Để giữ vững chính quyền cách mạng, để bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân đã đạt được, trênlĩnh vực ngoại giao, Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối chính trị vô cùnglinh hoạt, sáng tạo đó là "cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược", triệt để lợi dụng mẫu thuẫn tronghàng ngũ kẻ thù, tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc

Từ tháng 9-1945 đến trước tháng 3-1946, thực hiện việc nhân nhượng với quân Tưởng, chính quyền cáchmạng cung cấp 10 ngàn tấn gạo mỗi tháng cho quân đội Tưởng, thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu về nhà ở, điềukiện sinh hoạt, tạm thời cho phép lưu hành tiền Quan Kim trong phạm vi trao đổi hàng hoá giữa nhân dân ta vớiquân đội Tưởng, mở rộng thành phần Chính phủ liên hiệp lâm thời, dành 1 ghế Phó Chủ tịch nước, 4 ghế Bộtrưởng và 70 ghế trong Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử, tránh mọi xung đột vớiquân đội Tưởng Phải nhân nhượng với Tưởng nhưng Đảng ta cũng xác định phải giữ vững 2 nguyên tắc, đó làgiữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền cách mạng và giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất

Trang 15

đất nước; đồng thời kiên quyết trừng trị bọn tay sai phản cách mạng.

Với sách lược tạm hòa hoãn với quân Tưởng, chúng ta đã hạn chế đến mức thấp nhất mọi hoạt động phá hoạicủa quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, góp phần làm ổn địnhmọi mặt ở miền Bắc, tạo điều kiện cho nhân dân ta có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bịbước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Ngày 28-2-1946, chính quyền Tưởng Giới Thạch và thực dân Pháp ký Hiệp ước Hoa - Pháp tại Trùng Khánh.Theo Hiệp ước này, quân đội Tưởng rút về nước nhường cho quân Pháp quyền giải giáp quân đội Nhật củachúng ở miền Bắc Đông Dương Đổi lại, Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa,bán cho Tưởng đoạn đường sắt Côn Minh - Hồ Kiều, nhượng cho Tưởng một đặc khu ở cảng Hải Phòng, hànghóa của Tưởng vận chuyển qua miền Bắc sẽ được miễn thuế

"Hiệp ước Hoa - Pháp" là một sự chà đạp thô bạo đối với độc lập, chủ quyền của Việt Nam; buộc Đảng vànhân dân ta phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc là đánh Pháp ngay từ khi chúng đưa quân ra miền Bắc,hoặc là chủ động hoà hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, tránh tình thế cùng một lúc phải đốiphó với nhiều kẻ thù, bảo toàn thực lực, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, tiếnlên giành thắng lợi hoàn toàn

Lựa chọn giải pháp hòa với thực dân Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũngchỉ rõ lập trường đàm phán của chúng ta là: "Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta… và sựthống nhất quốc gia của ta"

Chủ trương hòa với thực dân Pháp được tiến hành thông qua việc ký kết bản "Hiệp định sơ bộ" (6-3-1946) vàbản "Tạm ước" (14-9-1946) giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp

Mọi nỗ lực ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều bị tư tưởng hiếu chiến của thực dânPháp phá bỏ Nhân dân Việt Nam một lần nữa phải đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược

Chủ trương "cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược" đã thể hiện rõ sự thông minh, sáng suốt, tàitình, khéo léo, bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Chủtrương này được thực hiện thắng lợi không chỉ góp phần to lớn vào việc giữ vững nền độc lập, bảo vệ chínhquyền cách mạng non trẻ, đưa dân tộc vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", cả nước có thêm thời gianchuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với hoạt động ngoạigiao của Đảng và Nhà nước ta trong những giai đoạn sau này

Ý nghĩa:

Nhờ có sách lược hòa hoãn với tưởng và Pháp mà chúng ta có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mớiQua đó cta rút ra được:

-lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù nguy hiểm nhất

-bài học về việc kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

Trang 16

- bài học đề cao thế hợp pháp và sức mạnh của chính quyền cách mạng

- bài học biết phân hóa kẻ thù

- bài học biết nhân nhượng đúng lúc, nhân nhượng có giới hạn, nhân nhượng có nguyên tắc

Câu 2.3: Trình bày nội dung, ý nghĩa của đường lối kháng chiến chống Pháp?

Hoàn cảnh lịch sử

- Tháng 11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phố Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộlên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh - Hàng Bún (Hà Nội) Đồngthời Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ ta, đòi phải tước hết vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi kiểm soát an ninh trật

tự ở Thủ đô

- Trước tình hình đó, từ ngày 13 đến ngày 22/12/1946 Ban thường vụ trung ương Đảng ta đã họp tại Vạn Phúc,

Hà Đông dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó Hội nghị đã cử phái viên

đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có kết quả Hội nghị cho rằng khả năng hoà hoãn không còn Hoàhoãn nữa sẽ dẫn đến hoạ mất nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ Do đó, hội nghị đã quyết định hạ quyếttâm phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện mànkịch đảo chính quân sự ở Hà Nội Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi Vào lúc 20h ngày 19/12/1946, tất cả cácchiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng Rạng sáng ngày 20/12/1946, lời kêu gọi toàn quốc khángchiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài tiếng nói Việt Nam

· Thuận lợi của nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là: cuộc chiếntranh của ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc, ta đã có sự chuẩn bịcần thiết về mọi mặt, nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng đánh thắng quân xâm lược

· Khó khăn của ta là: Tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch Ta bị bao vây bốn phía, chưa đượcnước nào công nhận, giúp đỡ Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được hai nước Lào,Campuchia và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở MiềnBắc

b Quá trình hình thành và nội dung đường lối kháng chiến

- Ngay sau cách mạng tháng Tám, trong chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" Đảng ta đã khẳng định kẻ thù chínhcủa dân tộc ta là thực dân Pháp xâm lược Trong quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, trung ươngĐảng và Hồ Chí Minh đã chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao để làm thất bại âm mưu củaPháp định tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam

- Ngày 19/10/1946 thường vụ trung ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất, do Tổng Bí thưTrường Chinh chủ trì Xuất phát từ nhận định "không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất địnhphải đánh Pháp" Hội nghị đã đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể cả về tư tưởng và tổ chức để quân dân

cả nước sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới Trong chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ ra ngày 5/11/1946,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cục khi bước vào cuộc kháng chiến vàkhẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối cùng

- Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện qua 3 văn kiện chính là: Lời kêu gọi toàn quốckháng chiến của Hồ Chí Minh (20/12/1946), Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của trung ương Đảng (22/12/1946)

và tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh (9/1947)

Nội dung:

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành, bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm 1945 đến 1947 Nội dung cơ bản của đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính Đường lối đó được

thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, lời kêu gọi, bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và

Trang 17

đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, trong đó tập trung ở các văn bản: Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc 1945), Chỉ thị Tình hình và chủ trương (3-3-1946), Chỉ thị Hòa để tiến (9-3-1946), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (8-1947),

(25-11-Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàn

toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới

Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực tham gia kháng

chiến Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến

sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một mặt trận” Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt chotoàn dân đánh giặc

Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân sự mà cả về chính trị,

kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mangtính quyết định Động viên và phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật chất,tinh thần trong nhân dân phục vụ kháng chiến thắng lợi

Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng Trường kỳ kháng chiến là một quá trình vừa đánh

tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trênchiến trường có lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu thành mạnh Kháng chiến lâudài nhưng không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến

có bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng

Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là sự kế thừa tư tưởng chiến lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng

giải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ Hồ Chí Minh Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huynguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộcchiến tranh nhân dân Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần

và vật chất của quốc tế khi có điều kiện Lấy độc lập, tự chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, trở thành ngọn cờdẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên Đường lối đó được nhân dân ủng hộ,hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Pháp

Bài học kinh nghiệm:

- Đảng ta xây dựng đường lối kháng chiến đúng đắn quán triệt sâu sắc

- Kết hợp đúng đắn nhiêm vụ chống đế quốc và phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để gây mầmmóng cho Chủ Nghĩa Xã Hội

Trang 18

- Thực hiện phương châm vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hâu phương vững mạng.

- Quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ lâu dài nhất định thắng lợi

Ý nghĩa lịch sử

Đối với nước ta, việc đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân đãlàm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức ở mức độ cao, buộc chúngphải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương; đã làm thất bại âm mưu mởrộng và kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ, kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương; giải phónghoàn toàn miền Bắc, tạo điều kiện để miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm căn cứ địa, hậu thuẫn cho cuộc đấutranh ở miền Nam; tăng thêm niềm tự hào dân tộc cho nhân dân ta và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trườngquốc tế

Đối với quốc tế, thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, mở rộng địa bàn,tăng thêm lực lượng cho chủ nghĩa xã hội và cách mạng thế giới; cùng với nhân dân Lào và Campuchia đập tanách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, trước hết là hệ thống thuộc địa của thực phân Pháp.Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh nói: "Lần đầutiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là một thắnglợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xãhội chủ nghĩa trên thế giới"

Câu 2.4: Trình bày nội dung cơ bản Chính cương của Đảng (2-1951) và ý nghĩa lịch sử?

Bài làm:

a) Nội dung cơ bản:

+ Tính chất xã hội Việt Nam có ba tính chất: Dân chủ nhân dân một phần thuộc địa nửa phong kiến Ba tính chất

đó đang đấu tranh lẫn nhau, nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân vàtính chất thuộc địa Mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân tộc Việt Nam chốngthực dân Pháp và can thiệp Mỹ

+ Đối tượng cách mạng Việt Nam có hai đối tượng:

•Đối tượng chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ

•Đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể là phong kiến phản động

+ Nhiệm vụ cách mạng:

•Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc

•Xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng

•Phát triển chế độ dân chủ nhân dân gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội

Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc

+ Động lực của cách mạng gồm: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc Ngoài ra còn có những thân sĩ(địa chủ) yêu nước và tiến bộ Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó họp lại thành nhân dân, mà nền tảng làcông nông, lao động trí óc Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng

+ Sắp xếp loại hình cách mạng: Đảng ta căn cứ vào 3 loại hình cách mạng của Lênin (cách mạng giải phóng dântộc, cách mạng tư sản kiểu mới và cách mạng vô sản) gọi cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc, dân chủ,nhân dân Đồng chí Trường Chinh giải thích:

Gọi là cách mạng dân tộc vì nó đánh đổ đế quốc giành độc lập cho dân tộc

Gọi là cách mạng dân chủ vì nó đánh đổ giai cấp phong kiến giành lại ruộng đất cho nông dân

Trang 19

Gọi là cách mạng nhân dân vì nó do nhân dân tiến hành cuộc cách mạng ấy.

Đây là sự bổ sung và phát triển lý luận cách mạng của Đảng ta vào học thuyết Mác- Lênin mà công lao to lớnthuộc về đồng chí Trường Chinh

+ Phương hướng tiến lên của cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhấtđịnh sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đây là một quá trình lâu dài và đại thể trải qua ba giai đoạn:

•Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc

•Giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt đểngười cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân

•Giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội

Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau

+ Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: "Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân Đảng lao độngViệt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam Mục đích của Đảng là phát triểnchế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giaicấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam

+ Chính sách của Đảng: có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủnghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi

+ Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hoà bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hộichủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô, thực hiện đoàn kết Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt

- Miên - Lào

b) Ý nghĩa: Không biết

Câu 2.5: Trình bày nội dung và ý nghĩa đường lối chiến lược chung được Đảng ta thông qua tại Đại hội lần thứ III (tháng 9-1960)?

Tóm tắt:

* Đường lối kháng chiến chống Mỹ của Đảng ta được thông qua tạiĐại hội Đảng III (tháng 9/1960):

+ Nhiệm vụ chung: "Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thựchiện thống nhất nước nhà trên cơsở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độclập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở ĐôngNam Á và thế giới"

.+ Nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:•Một là, tiếnhành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.•Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ

và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước

+ Mục tiêu chiến lược: "Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiếnlược khác nhau,mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền tronghoàn cảnh nước nhà tạm bịchia cắt Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ vàbọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc"

+ Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mục tiêu chung nên "Hai nhiệm vụ chiến lược

ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau"

+ Vị trí, tác dụng:

•Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậuthuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định

Trang 20

nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất cả nước.

•Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóngmiền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoànthành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

+ Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, Đảng kiên trì conđường hoà bình thốngnhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hoàbình thống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta và phù hợp với

xu hướng chung của thế giới "Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tìnhthế Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhândân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc"

+ Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thựchiện thống nhất nước nhà là một quá trình đấutranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miềnNam Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đilên chủ nghĩa xã hội

diễn giải:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp trong hoàn cảnh lịch sử đất nước và thế giới có những đặcđiếm nổi bật sau đây: Đến cuối năm 1960, sự nghiệp cách mạng ở hai miền nước ta có những bước tiến quantrọng Ở miền Bắc, công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế đã đạtđược những thành tựu quan trọng Ở miền Nam, cuộc đấu tranh chống Mỹ - Diệm đã giành được thắng lợi có ýnghĩa chiến lược trong phong trào "Đồng khởi" (1959 - 1960), làm lung lay chế độ ngụy quyền Sài Gòn Phongtrào cũng đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lựclượng chuyển sang thế tiến công Trong thời điểm này, tình hình thế giới cũng có nhiều thay đổi, vừa là thuậnlợi, vừa là thách thức cho cách mạng Việt Nam Sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên Xô

và Trung Quốc đã có nhiều ảnh hường tích cực đến cách mạng Việt Nam Phong trào đấu tranh giải phóng dântộc ở các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ Đó là thuận lợi cơ bản cho cách mạng ViệtNam ở cả hai miền Tuy nhiên, sự mâu thuẫn trong phong trào cộng sản mà tâm điểm là quan hệ Liên Xô -Trung Quốc đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và cũng ảnhhưởng đến cách mạng Việt Nam Sự phát triển của cách mạng hai miền Bắc - Nam đòi hỏi Đảng phải nhanhchóng hoạch định đường lối cách mạng cho cả nước, thống nhất ý chí và hành động, định hướng tư tưởng vàhoạt động thực tiễn cho cách mạng của hai miền Mặt khác, đã gần 10 năm kể từ khi diễn ra Đại hội đại biểu lầnthứ 11 của Đảng (tháng 2-1951), cách mạng Việt Nam đã có nhiều thay đổi, thế và lực của đất nước đã pháttriển, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra cho cả dân tộc ta trên con đường cách mạng gải phóng dântộc để đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, cùng với sự thách thức của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở mộtnước nghèo nàn, lạc hậu, Đảng và dân tộc Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề thực tiễn phức tạp đặt

ra yêu cầu cấp thiết Đảng phải sớm khẳng định những nhiệm vụ cụ thể cho sự nghiệp cách mạng ở hai miền đấtnước Lần đầu tiên sau 30 năm hoạt động trong điều kiện bí mật và chiến tranh, Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ III của Đảng đã được tiến hành tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5-9-1960 đến ngày 10-9-1960 Tham dự Đại hội

có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết hay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đến tham

dự Đại hội còn có đại biểu các đoàn thể và các đảng phái dân chủ trong nước và đại biểu của 16 đoàn quốc tế.Nội dung chủ yếu của Đại hội:

Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà"

Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn trình bày, thảoluận và thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua Nhiệm vụ vàphương hướng của kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất (1961 - 1965)

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết do Đại hội thông qua về nhiệm vụ vàđường lối của Đảng trong giai đoạn mới gồm những vấn để lớn sau:

- Về đường lối cách mạng chung trong cả nước:

Căn cứ vào tình hình và đặc điểm nước ta, Đại hội đã xác định cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mớicùng lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau: chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vàchiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai chiến lược

đó có mối quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau Mỗi chiến lược cách mạng ở mỗi miền

Trang 21

của đất nước có vị trí và trách nhiệm riêng trong mục tiêu chung là hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Miền Bắc sau khi hoàn toàn giải phóng đă trở thành căn cứ địa cách mạng chung của cả nước Tiến lên xây dựngchủ nghĩa xã hội, miền Bắc được tăng cường về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh cách mạng

ở miền Nam bảo dám sự phát triển của cách mạng trong cả nước Vì vậy, "cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc rỏ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệpthống nhất nước nhà của nhân dân ta" Trong sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc , dân chủ nhân dân trong

cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, cách mạng miền Nam "có tác dụng quyết định trực tiếp đối vời sựnghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai"

Trong khi giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, cả hai chiến lược cách mạng ở hai miền đều nhằm giải quyếtmâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thựchiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc

Từ những nhiệm vụ trên đây, Đại hội vạch ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong thời ký mới là:''Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân lộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nướcnhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới"

- Về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đấu tranh thực hiện thống nhất nướcnhà:

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phongkiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thốngnhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Đại hội đề ra "Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng ở miền Nam là đoàn kếttoàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài NgôĐình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam thực hiệnđộc lập dân tộc, các quyền tự do dân chu và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thốngnhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới".Cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước

Đó là quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay saicủa chúng ở miền Nam

- Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:

Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là vấn đề trung tâm thảo

luận tại Đại hội Xuất phát từ các đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hộixác định: cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt, là mộtquá trình đấu tranh gay go giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, tư tưởng văn hoá và kỹ thuật

Về đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Báo cáo chính trị khẳng định:'Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc

ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhấtnước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới"

Để thực hiện xây dựng chiến lược này, Nghị quyết Đại hội đã xác định: cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựngchủ nghĩa xã hội là hai mặt của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cải tạo xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ cơ bản,trong đó, cải cạo nông nghiệp là khâu chính của toàn bộ công cuộc cải tạo nhằm tăng năng suất lao lộng, pháttriển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xâydựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủnghĩa xã hội "Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta là xây dựng một nền kinh tế xãhội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng,

ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệpnhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nôngnghiệp hiện đại"

Cùng với việc phát triển kinh tế, Nghị quyết Đại hội còn đề cập đến việc phát triển văn hóa, giáo dục, khoa

học-kỹ thuật: xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân: tăng cường đoàn kết quốc tế, vấn đề Đảng và công tác tổ chứccán bộ của Đảng

Căn cứ vào đường lối chung trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đại hội đã thảo luận và

Trang 22

thông qua nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) nhằm mục tiêu: "phấn đấu

để thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủnghĩa xã hội; đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, làm cho kinh tế miến Bắc nước ta thành một nềnkinh tế xã hội chủ nghĩa".

Để đạt được mục tiêu trên, Đại hội đề ra năm nhiệm vụ:

- Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng,đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện

- Hoàn thành công cuộc cảicách xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ vàcông thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh

- Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng kinh tế vàcông nhân lành nghề, xúc tiến công tác khoa học và kỹ thuật

- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động

- Đi đôi với kết hợp phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh, bảo vệ sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đại hội xác định rằng, sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng, cho nên Đảng cần phải tăngcường sự lãnh đạo đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đốivới cuộc đấu tranh nhằmhoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc Muốnthế, "phải nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, cụ thể là phải tăng cường tính chất giai cấp vàtính chất tiên phong của Đảng, phải củng cố sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng"

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa III gồm có 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết BộChính trị gồm 11 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết Ban Bí thư gồm có 7 dồng chí Đồng chí Hồ ChíMinh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trungương Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng nước ta doĐảng lãnh đạo Đại hội đã đề ra được đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và con đường giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước Nghị quyết của Đại hội là nguồn ánh sáng mới, là cơ sở để toàn Đảng và toàndân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành sự nghiệpđấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình, thống nhất lại nước nhà

Ý nghĩa:

Ngày 10-9/1960, Đại hội đã nhất trí thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạnmới; Thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng và Lời kêu gọi của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của ĐảngLao động Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn bế mạc Đại hội

- Đường lối đó thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,vừa phù hợp với miền Bắc vừa phù hợp với miền Nam, vừa phù hợp với cả nước Việt Nam và phù hợp với tìnhhình quốc tế, nên đã huy động và kết hợp được sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh cả nước vàsức mạnh của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô vàTrung Quốc Do đó đã tạo ra được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược,giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung của cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinhthần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừađúng với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế của thời đại

- Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quândân ta phấn đấu giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranhthắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam

Câu 2.6: Trình bày đường lối kháng chiến chống Mỹ của Đảng được đề ra trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 11 và lần thứ 12 năm 1965 và ý nghĩa của Nghị quyết?

Ngày đăng: 02/05/2023, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w