Từ ngày 05 đến ngày 10091960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập tại Hà Nội. Đại hội đã thống nhất đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định nhiệm vụ chiến lược cách mạng cụ thể của từng miền: Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc trở thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước, hậu thuẫn và chi viện cho miền Nam; Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giải phóng miền Nam thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước. Đại hội còn xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Như vậy trong giai đoạn 19541975 ở nước ta, một Đảng cách mạng phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng trên hai miền Đất nước. Bối cảnh Quốc tế: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cách mạng thế giới có bước phát triển mạnh mẽ. Liên Xô ngày càng khẳng định vị thế chính trị trên thế giới. Nhiều nước Đông Âu với sự giúp đỡ của Liên Xô đã đánh đuổi chủ nghĩa phátxít và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Phong trào đấu tranh giải phòng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ phát triển. Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trên cả nước, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (02091945). Đảng Cộng sản Đông Dương đã trở thành Đảng cầm quyền, cùng với mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trịxã hội đã tạo nên một sức mạnh tinh thần và lực lượng làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng non trẻ, Đảng và nhân dân ta từng bước lớn mạnh cả về lực lượng và tổ chức. Trên thế giới vào thời điểm này, Mỹ trở thành một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới tư bản. Thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, Mỹ và đồng minh tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bao vây chống phá chủ nghĩa xã hội. Mỹ không ký vào Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Gơnevơ, tìm mọi cach để thế chỗ Pháp ở Miền N
Trang 1Câu 3 Phân tích đường lối cách mạng Việt Nam từ năm 1954-1975 Ý nghĩa lịch sử và
kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)?
Từ ngày 05 đến ngày 10/09/1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập tại Hà Nội Đại hội đã thống nhất đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định nhiệm vụ chiến lược cách mạng cụ thể của từng miền: Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc trở thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước, hậu thuẫn và chi viện cho miền Nam; Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giải phóng miền Nam thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà Cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước Đại hội còn xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng
ở mỗi miền Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với
sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với
sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước
Như vậy trong giai đoạn 1954-1975 ở nước ta, một Đảng cách mạng phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng trên hai miền Đất nước
Bối cảnh Quốc tế:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cách mạng thế giới có bước phát triển mạnh mẽ Liên Xô ngày càng khẳng định vị thế chính trị trên thế giới Nhiều nước Đông
Âu với sự giúp đỡ của Liên Xô đã đánh đuổi chủ nghĩa phát-xít và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Phong trào đấu tranh giải phòng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ phát triển Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trên cả nước, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (02/09/1945) Đảng Cộng sản Đông Dương đã trở thành Đảng cầm quyền, cùng với mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trị-xã hội đã tạo nên một sức mạnh tinh thần và lực lượng làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng non trẻ, Đảng và nhân dân ta từng bước lớn mạnh cả về lực lượng và tổ chức
Trên thế giới vào thời điểm này, Mỹ trở thành một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới
tư bản Thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, Mỹ và đồng minh tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bao vây chống phá chủ nghĩa xã hội Mỹ không ký vào Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Gơnevơ, tìm mọi cach để thế chỗ Pháp ở Miền Nam Việt Nam Đồng thời sự rạn nứt trong các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện Sự bất đồng quan điểm trong con đường đi lên CNXH của Liên Xô và Trung Quốc, bắt đầu vào cuối thập niên
1950, lên đến đỉnh điểm vào năm 1969 và diễn tiến theo nhiều cách khác nhau cho đến cuối thập niên 1980 Việc này dẫn đến một sự chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế Ở trong nước, ngày 07/07/1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn và ép Pháp đưa lên làm thủ tướng bù nhìn, Mỹ từng bước biến Miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu
Trang 2mới ở Đông Nam Á Đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền.
Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta sau tháng 07/1954 là vạch ra được đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại
Tháng 09/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng” Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam “bước vào giai đoạn mới là: Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung Tại Hội nghị lần thứ 7 (tháng 03/1955) và lần thứ tám (tháng 08/1955), Trung ương Đảng nhận định: Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Tháng 12/1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Đảng ta xác định: “Mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình
Tháng 01/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra nghị quyết về cách mạng miền Nam, Hội nghị nhận định: “Hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau,… nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa
xã hội” Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam” “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”
Đó là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc
và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” Tuy vậy, cần thấy rằng cách mạng miền Nam vẫn có khả năng hòa bình phát triển, tức là khả năng dần dần cải biến tình thế, dần dần thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam có lợi cho cách mạng Khả năng đó hiện nay rất ít, song Đảng ta không gạt bỏ khả năng đó, mà cần ra sức tranh thủ khả năng đó” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã
mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng
Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính là quá trình hình thành đường lối chiến lược cho cách mạng cả nước được hoàn chỉnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội (06/1960) đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
Trang 3Ở miền Bắc, một chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa bước đầu được hình thành Trước khi rút quân ra khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp cùng
đế quốc Mỹ tiến hành nhiều hoạt động nhằm chống phá công cuộc xây dựng miền Bắc Trong các thành phố, chúng tháo dỡ máy móc chuyển vào Nam, đóng cửa một số nhà máy cửa hàng, lôi kéo lực lượng trí thức, cán bộ kỹ thuật tay nghề cao vào Sài Gòn Hồ sơ, tài liệu trong các công sở bị thiêu huỷ hoặc chuyển về vùng kiểm soát Chúng xuyên tạc, dụ
dỗ, cưỡng bức gần một triệu đồng bào di cư vào Nam, xúi dục bạo loạn, cài gián điệp ở lại, Cuộc đấu tranh chống địch phá hoại miền Bắc diễn ra khá gay go, trên tất cả các lĩnh vực
Trong nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc, có hơn 1,4triệu hécta đất bị
bỏ hoang, hàng chục vạn nông dân không nhà ở, nhiều công trình thủy lợi bị thực dân Pháp tàn phá, hàng chục vạn trâu bò bị giựt Trong công nghiệp, phần lớn các xí nghiệp máy móc thiếu, hoặc quá lạc hậu Khai thác mỏ giảm một nửa so với trước chiến tranh Hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng nói chung bị tàn phá nghiêm trọng Hàng triệu người miền Bắc mù chữ Số trường lớp thiếu, tỷ lệ học sinh đến trường thấp Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hầu như không đáng kể Thực trạng trên đòi hỏi phải khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Đó là nhiệm vụ trung tâm, nặng
nề của nhân dân miền Bắc sau tháng 07/1954 Trong năm 1954 và đầu năm 1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã ra chiếu chỉ thị, chủ trương khôi phục kinh tế Kế hoạch khôi phục kinh tế trong 3 năm (1955-1957) là phấn đấu đạt các chỉ tiêu kinh tế trước chiến tranh Nông nghiệp: Thực hiện cải cách ruộng đất trong những năm 1954-1956 không chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân chủ, chia ruộng đất cho nông dân, mà
nó còn có ý nghĩa quyết định trong khôi phục và phái triển kinh tế nông nghiệp Từ đợt 1 đến đợt 4, cải cách ruộng đất được tiến hành trong 3653 xã, đã chia khoảng 334.100 ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng Sau cải cách ruộng đất, các tầng lớp nông dân có diện tích canh tác tương đối đồng đều Do nông dân thực sự được quyền sở hữu ruộng đất và do các chính sách khuyến nông như, thủy lơi, phân bón, sức kéo nền nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng Đến năm 1957, sản lượng lúa của miền Bắc đạt khoảng 4 triệu tấn, tăng hơn 1,5 triệu tấn so với năm 1939
Về công nghiệp: Hầu hết các cơ sở sản xuất cũ được khôi phục, hơn 50 cơ sở mới, chủ yếu thuộc ngành sản xuất tiêu dùng được xây dựng Bên cạnh việc xây dựng cơ sơ sản xuất quốc doanh, khu vực công nghiệp tư nhân bao gồm cáccơ sở sản xuất tư bản tư doanh và tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển sản xuất
Ngành văn hoá giáo dục phát triển khá nhanh Hệ thống giáo dục từ phổthông đến đại học được tiêu chuẩn hóa một bước Năm học 1956-1957, có gần1 triệu học sinh phổ thông, hơn 600.000 học sinh vỡ lòng, 2984 sinh viên đại học, gần 8000 học sinh chuyên nghiệp trung cấp Hơn 1 triệu người được xoá nạn mù chữ Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nhà nước quan tâm xây dựng Nếp sống lành mạnh, vệ sinh được vận động thực hiện khắp mọi nơi Đến năm 1957, miền Bắc có 153 cơ sở điều trị, 108 đội y tế lưu động, khoảng 8000 cán bộ y tế từ bác sĩ đến y tá Những nạn dịch rất phổ biến ở miền Bắc
Trang 4như đau mắt hột, sốt rét… không còn xuất hiện nhiều như trước nữa.
Tuy nhiên trong buổi đầu xây dựng đất nước không thể tránh khỏi những khuyết điểm hạn chế Những sai lầm trong khi thực hiện cải cách ruộng đất ảnh hưởng lớn đến tư tưởng quần chúng nhân dân, nhất là tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, trí thức Lực lượng trong
và ngoài nước lợi dụng tình hình đó đã đẩy mạnh hoạt động thổ phỉ ở một số vùng miền núi, gây bạo loạn ở một số nơi ở vùng đồng bằng; nhóm Nhân văn giai phẩm ra nhiều ấn phẩm chống lại vai trò lãnh đạo của Đảng Đánh giá đúng nguyên nhân của các sự kiện trên, một mặt, Đảng và chính phủ nghiêm khắc sửa chữa sai lầm của mình, mặt khác, tuyên truyền giáo dục, phân hoá những người lầm đường trở về với sự nghiệp chung của dân tộc Đối với những phần tử đầu sỏ, ngoan cố, nhà nước kiên quyết xử lý theo pháp luật Trong ba năm khôi phục kinh tế, nền kinh tế miền Bắc được phục hồi, phát triển với
sự hiện diện của nhiều thành phần kinh tế Trên 10 vạn người thất nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng và các thị xã, thị trấn trên miền Bắc đã có việc làm ổn định Đời sống nhân dân dần được nâng cao
Với những thành tựu thu được trong thời kỳ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá xã hội, miền Bắc đã cơ bản khắc phục được hậu quả của chiến tranh Đây là thời đoạn lịch sử quá độ chuẩn bị cho miền Bắc bước vào thời kỳ mới
Ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1960, đánh bại chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ-Ngụy, đưa cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Trong giai đoạn 1961-1965, giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ Giai đoạn 1965-1968, đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ và chư hầu, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris Giai đoạn 1969-1975 đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ và tay sai mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đập tan toàn bộ chính quyền địch, buộc chúng phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện, giải phóng hoàn toàn miền Nam
Đường lối đó thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với miền Bắc vừa phù hợp với miền Nam, vừa phù hợp với cả nước Việt Nam và phù hợp với tình hình quốc tế Cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ trong lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế của thời đại Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quan dân ta phấn đấu giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam
Ý nghĩa lịch sử đối với nước ta:
Kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược (tính từ năm 1954),
30 năm chiến tranh cách mạng (tính từ 1945), 115 năm chống đế quốc thực dân phương Tây (tính từ 1858), quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, giải phóng miền Nam; đưa lại
Trang 5độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước.
Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước Mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, cùng chung một nhiệm vụ chiến lược là đi lên chủ nghĩa xã hội
Tăng thêm sức mạnh vật chất, tinh thần, thế và lực cho cách mạng và dân tộc Việt Nam,để lại niềm tự hào sâu sắc và những kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp dựng nước
và giữ nước giai đoạn sau
Góp phần quan trọng vào việc nâng cao uy tín của Đảng và dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế
Ý nghĩa đối với cách mạng thế giới:
Đập tan cuộc phản kích lớn nhất của chủ nghĩa đếquốc vào chủ nghĩa xã hội và cách mạng thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bảo vệ vững chắc tiền đồn phía Đông Nam Á của chủ nghĩa xã hội
Làm phá sản các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, gây tổn thất to lớn
và tác động sâu sắc đến nội tình nước Mỹtrước mắt và lâu dài
Góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của chúng ở khu vưc Đông Nam Á, mở ra sự sụp đổ không thểtránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vì mục tiêu đôc lập dân tộc, dân chủ, tự do
và hòa bình phát triển của nhân dân thế giới
Bài học kinh nghiệm:
Một là, đề ra và thực hiện đường lối giương cao ngọn cờ đôc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội nhằm huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ
Hai là, tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc, kiên định tư tưởng chiến lược tiến công, quyết đánh và quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược
Ba là, thực hiện chiến tranh nhân dân, tìm ra biện pháp chiến đấu đúng đắn, sáng tạo Bốn là, trên cơ sở, đường lối, chủ trương chiến lược đúng đắn phải có công tác tổ chức thực hiện giỏi, năng động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng trong quân đội, của các ngành, các cấp, các địa phương, thực hiện phương châm giành thắng lợi từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn
Năm là, phải hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng thực lực cách mạng
ở cả hậu phương và tiền tuyến
Trang 7Câu 4 Phân tích nội dung đường lối đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(12/1986)? Những thành tựu, khuyết điểm và bài học của 25 năm đổi mới (1986-2011)
Nội dung Đổi mới:
Đổi mới cơ cấu kinh tế, có chính sách sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, xác
định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
Đại hội VI đã vận dụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh tế nhiều thành phần Chính Lênin cũng cho rằng tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là để khẳng định hướng tiến lên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàn toàn là kinh tế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phần kinh tế phát triển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong môi trường vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau Đại hội VI xác định các thành phần kinh tế gồm có: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn với thành phần đó; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác Đại hội đã nêu rõ chính sách cụ thể đối với từng thành phần kinh tế, nhất là xóa bỏ thành kiến và sử dụng có hiệu quả kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể tiểu sản xuất
Cùng với thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đảng còn chủ trương đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế: sản xuất lương thực-thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất hàng xuất khẩu Bố trí lại cơ cấu sản xuất, chú trọng vị trí hàng đầu của sản xuất nông nghiệp
Tại Đại hội XI (01/2011), Đảng ta xác định gồm có bốn thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành phần kinh tế tư nhân (gồm kinh
tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong quá trình đổi mới, 25 năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Thực tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiều thành phần kinh tế đương nhiên là có nhiều hình thức sở hữu, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
Đảng chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, dứt khoát bỏ cơ chế quản lý tập trung quan
liêu, hành chính, bao cấp từ lâu đã không tạo được động lực phát triển, kìm hãm sản xuất, chưa chú ý tới quan hệ hàng hóa-tiền tệ, hiệu quả kinh tế và bộ máy quản lý cồng kềnh,
Trang 8những cán bộ quản lý kém năng động Cơ chế quản lý mới chu trọng hạch toán kinh doanh, hiệu quả kinh tế, chú trọng tính kế hoạch, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa-tiền tệ Kế hoạch hóa phải kết hợp đúng đắn với sửdụng các đòn bẩy kinh tế Nền kinh tế phải được quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu,với động lực thúc đẩy là sự kết hợp hài hòa lợi ích của toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích riêng của người lao động Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Đến Đại hội IX, "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối
Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đảng ta luôn luôn xác định, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi
trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI nêu rõ nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp phát triển khoa học-kỹ thuật và công nghiệp hóa XHCN ở nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quang trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Vì vậy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI chủ trương: "Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu Đi đôi với việc côgn bố luật đầu tư, cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nườc ta để hợp tác kinh doanh"
Đổi mới và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, tức là cần phải cải
cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước Tăng cường bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính-kinh tế với quản lý sản xuất-kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ phù hợp với đặc điểm kihn tế-xã hội
Nhà nước có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật
và chính sách cụ thể Xây dựng chiến lược kinh tế-xã hội và cụ thể hóa chiến lược đó
Trang 9thành những kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và năng lực quản lý Nhà nước, quản lý kinh
tế, quản lý xã hội
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI (01/2011) của Đảng đã dành một mục lớn nói về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó nhấn mạnh một số vấn đề: “Thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường; hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển biến mạnh về cải cách hành chính; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước”
Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng Thực chất là nắm vững và
vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí
Tại Đại hội VI, Đảng ta đã nhận thức rằng, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua một thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước “Thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn” Trong hàng loạt các quy luật khách quan, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sửa chữa sai lầm trước đó là là đã đưa quan hệ sản xuất đi quá nhanh, quá xa trong khi lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu, tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thông qua thực hiện cách mạng khoa học -công nghệ, đẩy mạnh -công nghiệp hoá, hiện đại hóa, từ đó điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp Các quy luật vận động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là các quy luật kinh tế đã từng bước nhận thức và vận dụng đúng đắn và có hiệu quả hơn Khi quyết định đường lối đổi mới ở Đại hội VI Đảng ta đã nghiêm túc chỉ ra rằng, cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái quy luật
Đảng chủ trương đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng quản lý điều hành của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị Đại hội VI của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền, tăng cường sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn, đổi mới phong cách làm việc, đi sâu,
đi sát thực tế, sát cơ sở, gắn bó với nhân dân Nâng cao trình độ trí tuệ, nắm bắt và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, hiểu biết sâu sắc những vấn đề kinh tế, xã hội
Những thành tựu sau 25 năm đổi mới:
1 Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển
Trang 10Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7% Tổng vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,9% GDP Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao Quy
mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện
2 Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và các lĩnh vực xã hội có tiến
bộ, bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện
Đổi mới giáo dục đạt một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt trên 20% tổng chi ngân sách; Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn dưới 4,5%, tỉ
lệ hộ nghèo giảm còn 9,5% Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên; Việt Nam
đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ
3 Quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường
Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững Sự phối hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại được chú trọng hơn Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước Phát triển quan hệ với các nước láng giềng; thiết lập và nâng cấp quan hệ với nhiều đối tác quan trọng
Nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với một số đối tác quan trọng; mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác; góp phần quan trọng vào việc tạo dựng và mở rộng thị trường hàng hoá, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tranh thủ vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn tài trợ quốc tế khác
4 Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố
Đảng và Nhà nước tiếp tục đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
5 Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động được nâng lên
6 Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực