1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁCLÊNIN

18 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự cần thiết đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Tác giả Tô Việt
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại bài thu hoạch
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 55,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam là nhiệm vụ cốt yếu để phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đấu tranh chống những tư tưởng đơn giản, chủ quan, duy ý chí, không coi trọng cơ sở khoa học là con đường phát triển này. Bởi vậy, đưa ra điều kiện và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là bước đi tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua. Trên thực tế, nền kinh tế tri thức đã hình thành, đã là hiện thực ở nhiều nước. Đó là xu thế tất yếu của quá trình phát triển sức sản xuất, là thành tựu quan trọng của loài người mà chủ nghĩa xã hội phải nắm lấy và vận dụng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Nhiều nước đang phát triển đã, đang đi nhanh vào nền kinh tế tri thức và đây cũng là thời cơ và thách thức hết sức to lớn, quyết liệt. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là một quá trình phát triển không phải một sớm một chiều, mà phải trải qua thời gian khá nhiều năm. Việc bảo đảm ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội cho quá trình này là rất cần thiết và đây chính là điều kiện kiên quyết để phát triển. Thực hiện đồng bộ quyết liệt và hiệu quả các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức và kinh tế số ở Việt Nam sẽ sớm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Trang 1

VIỆN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

Ở VIỆT NAM

Họ và tên học viên : Tô Việt

Mã số học viên : AF210230

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

I - MỞ ĐẦU ……… 1

1 Lý do chọn đề tài ………. 1

2 Mục tiêu ……… 1

3 Phạm vi bài viết ……… 1

II – NỘI DUNG ……… 2

1 Cơ sở lý luận về CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT ……… 2

1.1 Khái niệm ………. 2

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT ……… 3

1.3 Sự cần thiết phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT ở nước ta ……… 5

1.3.1 Đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số là sự lựa chọn tối ưu để rút ngắn khoảng cách tụt hậu ……… 5

1.3.2 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số là đòi hỏi bắt buộc để phát triển sức sản xuất của CNXH hiện thực……… 9

1.3.3 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số là đòi hỏi thiết yếu để xây dựng quan hệ sản xuất mỗi theo định hướng XHCN 10 1.3.4 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số do yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ……… 11

1.3.5 Do bản thân những tác động của CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số trong đời sống xã hội ……… 12

1.4 Việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT ở tỉnh Lạng Sơn 12 III - KẾT LUẬN ………. 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 15

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KTTT Kinh tế tri thức CNH Công nghiệp hóa HĐH Hiện đại hóa CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 3

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

I - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, quốc gia nào muốn phát triển phải đi nhanh vào nền KTTT Bởi vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KTTT là bước đi tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua Trên thực tế, nền KTTT đã hình thành, đã là hiện thực ở nhiều nước Việt Nam chúng ta cũng vậy, xuất phát điểm của nền kinh tế chúng ta thấp với một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nếu vẫn cứ duy trì một trình

độ phát triển thấp như vậy thì sẽ không đủ sức cạnh tranh với nền kinh tế của thế giới, yêu cầu bức thiết bây giờ cần phải có quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Do đó công nghiệp hóa nước ta phải đồng thời thực hiện cùng lúc ba tiến trình đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển KTTT

và kinh tế số Phạm vi tiến hành không chỉ đơn thuần là các ngành của nền kinh

tế quốc dân, mà còn là các lĩnh vực của đời sống xã hội, tức là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để chuyển lên một nền văn minh cao hơn Điều đó có nghĩa phải nắm các tri thức và công nghệ mới của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ Dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành KTTT Đây là một sự nghiệp đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước và sự đồng lòng quyết tâm của tất cả nhân dân

Tôi chọn chủ đề “Sự cần thiết đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn

với phát triển KTTT ở Việt Nam” để có thể hiểu được vai trò của các nhân tố

này trong sự nghiệp phát triển của đất nước

2 Mục tiêu:

- Tìm hiểu về sự nghiệp CNH, HĐH gắn với KTTT tại Việt Nam

- Hiểu được sự cần thiết phải CNH, HĐH phải gắn với KTTT tại Việt Nam

3 Phạm vi bài viết:

Quá trình CNH, HĐH gắn với KTTT tại Việt Nam

Trang 5

II - NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT

1.1 Khái niệm

* Công nghiệp hóa: CNH là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu

thành một nước công nghiệp

* Hiện đại hóa được hiểu là quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã

hội mang tính chất và trình độ tiên tiến nhất của thời đại hiện nay Đối với nước

ta, hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch trình độ văn minh

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hóa vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu

ra quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Trong bối cảnh của thế giới hiện nay,

để thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nước ta phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KTTT.

* Tri thức là những hiểu biết của con người về hiện thực được thu thập

thông qua trải nghiệm hoặc giáo dục, tìm hiểu và khám phá Tri thức của nhân loại là toàn bộ những hiểu biết do trí tuệ của con người sáng tạo ra từ trước tới nay Nó bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, kỹ năng , trong đó tri thức về khoa học, kỹ thuật và quản lý là những bộ phận quan trọng nhất Trong những năm gần đây, tri thức đã được công nhận là một yếu tố sản xuất theo cách thức riêng của nó dùng để phân biệt với các yếu tố sản xuất khác như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên

* KTTT là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng

tri thức, thông tin

Trang 6

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT

- Từ Đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi CNH là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH Đảng ta xác định thực chất của CNH XHCN là ''Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích lũy XHCN để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng'' Quan điểm này tiếp tục được các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo củng

cố và mở rộng

- Tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận

điểm quan trọng về phát triển KTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở

những ngành và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh

tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế- xã hội, từng bước phát triển KTTT ở nước ta'' Tới Đại hội X, việc phát triển KTTT

được thể hiện rõ với tư cách là một yếu tố cấu thành đường lối CNH-HĐH đất

nước: ''Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi

thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế

và CNH-HĐH Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại” Và Đại hội XI, với định

hướng chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng, sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững, Đảng ta tiếp tục

khẳng định: ''phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển KTTT, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Trang 7

- Đại hội XII nhấn mạnh cần “Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo

hướng hiện đại Chú trọng những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế (GDP bình quân đầu người, tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nông nghiệp, tỷ lệ đô thị hóa, điện bình quân đầu người, ); những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội (chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, số bác sĩ trên 1 vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo, ); và những tiêu chí phản ánh trình

độ phát triển về môi trường (tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, độ che phủ rừng, tỷ

lệ giảm mức phát thải khí nhà kính ).”

- Trong báo cáo chính trị tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định trong thời

gian tới cần phải “Đối mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy

mạnh CNH-HĐH, phát triển đất nước nhanh, bền vững” “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ”.

Với một số chỉ tiêu chủ yếu được Đảng ta đề ra trong 05 năm tới với các chỉ số như sau:

+ Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình

quân 5 năm là 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 4.700-5.000USD; Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 25% GDP; kinh tế

số đạt khoảng 20%GDP; Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân trên 6,5%/năm

+ Về xã hội: Tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi; Tỷ trọng lao động

nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo

là 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 28-30%

+ Về môi trường: Tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của dân cư

thành thị là 95-100% và nông thôn là 93-95%; Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 90%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 92%; Tỷ lệ cơ sở gây o nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%

Trang 8

Để đạt được những kết quả trên Đảng ta đã đưa ra 10 nhiệm vụ, giải pháp

trong đó có giải pháp là “Đẩy mạnh CNH, HĐH, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với

đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh

tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô”.

Với giải pháp này thì 02 giải pháp đầu tiên mà được đề cập đên là

Một là, Tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH dựa trên nền tảng của khoa học,

công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư.

Hai là, Thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, sản xuất thông minh, các

mô hình sản xuất kinh doanh mới, kinh tế chia sẽ, thương mại điện tử Thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước.

1.3 Sự cần thiết phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT ở nước ta.

Bên cạnh xu hướng có tính quy luật của công nghiệp hóa rút ngắn ở các nước đi sau, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KTTT và kinh tế số của Việt Nam còn là cần thiết, được bắt nguồn từ:

1.3.1 Đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số là sự lựa chọn tối ưu để rút ngắn khoảng cách tụt hậu

Do là nước đi sau, nên tất yếu Việt Nam phải lựa chọn con đường CNH rút ngắn Trong bối cảnh hiện nay, con đường đó phải là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh tế số Ở đây, HĐH được hiểu là quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ tiên tiến nhất của thời đại hiện nay Quá trình này có thể diễn ra ở nhiều nước, không phân biệt là nước phát triển hay đang phát triển Đối với nước ta, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn lộ trình để đuổi kịp các nước phát triển Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, để thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nước ta phải lựa chọn con đường CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT và kinh

tế số Bởi lẽ, KTTT và kinh tế số đã và đang là xu thế nổi bật của thời đại ngày nay

Trang 9

KTTT là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng trì thức, thông tin.

Trong nền KTTT, việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Nếu việc sản xuất của cải của một quốc gia trong nền kinh tế nông nghiệp dựa chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong nền kinh tế công nghiệp tuy đã có sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn là chủ yếu, thì trong nền KTTT, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu KTTT là nền kinh tế được phát triển chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại Cơ sở của nền KTTT là tri thức

Sự ra đời và phát triển của nền KTTT là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội Nó được thúc đẩy bởi sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là sự phát triển nhanh mang tính đột phá của CNTT Sự xuất hiện ngày càng nhiều các sáng kiến, phát minh khoa học đã tạo ra tính linh hoạt, hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất Điều quan trọng hơn, là những tri thức đó được phổ biến cực nhanh trên diện rộng thông qua mạng internet siêu tốc và các phương tiện thông tin hiện đại đã tạo ra

sự bứt phá chưa từng có trong năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế

Theo tính toán của giới chuyên môn, chỉ tính riêng quá trình chuyển giao công nghệ được rút ngắn, có thể đẩy mức tăng trưởng kinh tế thế giới lên đến 1% hằng năm, tương đương với 300 tỷ USD và còn cao gấp bội theo mức gia tăng của tổng sản phẩm thế giới trong thế kỷ XXI Thực tế cho thấy, khi lực lượng sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công và đất đai thì ra đời nền kinh

tế nông nghiệp, khi sản xuất dựa chủ yếu vào máy móc và tài nguyên thiên nhiên thì ra đời kinh tế công nghiệp, đến khi sự sản xuất ra của cải vật chất dựa chủ yếu vào tri thức thì ra đời nền KTTT KTTT là giai đoạn phát triển cao của lực lượng sản xuất, cao hơn so với các nền kinh tế trước nó là kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp

Đặc đỉểm của nền KTTT:

Trang 10

Thứ nhất, tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp Tri thức là nguồn vốn

vô hình to lớn, quan trọng nhất trong đầu tư phát triển nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức Khác với các nền kinh tế đã có trong lịch sử (nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp), nền KTTT lấy tri thức là nguồn lực có vị trí quyết định nhất của sản xuất, là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển

Trong nền kinh tế này, tri thức không chỉ tham gia vào quá trình quản lý, điều hành sản xuất, mà còn trực tiếp là một nguồn lực, yếu tố đầu vào của sản xuất cùng với các nguồn lực khác (vốn, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên ) tạo nên quá trình sản xuất Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn Sáng tạo là động lực phát triển

Thứ hai, nền kinh tế dựa ngày càng nhiều vào các thành tựu của khoa học

và công nghệ Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, sức cạnh tranh chủ yếu dựa

vào tối ưu hóa và hoàn thiện công nghệ hiện có, thì trong nền KTTT lại dựa chủ yếu vào việc nghiên cứu, sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới Trong nền KTTT, cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ chất lượng cao Các quyết sách kinh tế được tri thức hóa

Thứ ba, cơ cấu lao động được chuyển dịch theo hướng ngày càng coi trọng lao động trí tuệ Trong nền KTTT, cơ cấu lao động chuyển dịch theo

hướng giảm số lao động trực tiếp làm ra sản phẩm, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm và làm văn phòng Lao động trí tuệ chiếm

tỷ trọng ngày càng cao Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không ngừng làm chủ tri thức, hoàn thiện các kỹ năng, thích nghi nhanh với sự phát triển và sáng tạo tri thức, công nghệ mới là một yêu cầu nghiêm ngặt Xã hội học tập là nền tảng của KTTT

Thứ tư, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng Quyền sở hữu

trí tuệ là sự đảm bảo pháp lý cho tri thức và sự đổi mới sáng tạo sẽ tiếp tục được tạo ra, duy trì và phát triển Trong nền KTTT, nguồn lực trí tuệ và năng lực đổi

Ngày đăng: 06/10/2023, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w