1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch CCLLCT kinh tế chính trị Mác Lê -nin

26 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 4,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên em chọn đề tài “Những tác động cơ bản của quy luật giá trị và vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt

Trang 1

BÀI THU HOẠCHMÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ

HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Họ và tên học viên : NGUYỄN THỊ NGUYÊN

Mã số học viên : AF210269

Lớp : Cao cấp Lý luận Chính trị K72.A05

Khóa học : 2021-2022

Trang 2

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, về cơ bản Việt Nam đã, đang

và sẽ tiếp tục chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấpsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựukinh tế - xã hội ngày càng to lớn Thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là hệ thốngluật pháp và bộ máy quản lý ngày càng được xây dựng, hoàn thiện theo hướngtiến bộ, phù hợp Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng

và hiệu quả Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng Chính trị-xã hội ổnđịnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xâydựng là một nền kinh tế mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh

tế, văn hóa của đất nước và những giá trị xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đangphấn đấu Thế nhưng, vấn đề cần xem xét là liệu chúng ta có thể nghiên cứu để

áp dụng nhiều hơn, đầy đủ hơn những quy luật, những giá trị chung của thể chếkinh tế thị trường-một thành tựu của nhân loại vào nền kinh tế của chúng ta,nhằm tạo thuận lợi sự phát triển vừa nhanh hơn, vừa bền vững hơn hay không.Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những khó khăn lớn về mọi mặt nhất

là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện phápphát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất.Chính vì vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quantrọng Chúng ta cần phải thật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sựphát triển kinh tế Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang xâydựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ

những lý do trên em chọn đề tài “Những tác động cơ bản của quy luật giá trị

và vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam” làm bài viết thu hoạch của môn học.

Trang 5

NỘI DUNG

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ NỀN KINH

TẾ THỊ THƯỜNG

1.1 Quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổihàng hoá Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự chi phốicủa quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưuthông hàng hoá đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này Tuân theo yêucầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được,ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản

1.1.1 Nội dung của quy luật giá trị.

Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sởlượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết

Trong sản xuất hàng hoá thì vấn đề quan trọng nhất là hàng hóa sản xuất ra

có bán được hay không Để có thể tiêu thụ được hàng hoá thì thời gian lao động

cá biệt để sản xuất ra hàng hoá đó phải phù hợp với thời gian lao động xã hộicần thiết tức là phải phù hợp với mức lao hao phí mà xã hội có thể chấp nhậnđược Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào thời gian lao động xã hội đượcvới nhau khi lượng giá trị của chúng ngang nhau, tức là khi trao đổi hàng hoáphải luôn theo quy tắc ngang nhau

Quy luật giá trị là trừu tượng Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biếnđộng của giá cả hàng hoá Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả phụthuộc vào giá trị vì giá trị là cơ sở của giá cả Trong nền kinh tế hàng hoá thì giá

cả và giá thị trường chênh lệch nhau, cung ít hơn cầu thì giá cả sẽ cao hơn giá trị

và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá trị Nhưng xét chođến cùng thì tổng giá cả hàng hoá bao giờ cũng bằng tổng giá trị của hàng hoá.Giá cả hàng hoá có thể tách rời giá trị nhưng bao giờ cũng lên xuống xoay quanhgiá trị, đó là biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị

Tóm lại, yêu cầu của quy luật giá trị mang tính khách quan, nó đảm bảo sựcông bằng, hợp lý, bình đẳng giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá

1.1.2 Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị

Thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ thấy được sựhoạt động của quy luật giá trị Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá trị là

cơ sở, là nội dung của giá cả cho nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị; điều

Trang 6

này có nghĩa là những hàng hóa nào có giá trị càng cao thì giá càng cao vàngược lại.

Tuy nhiên, trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn chịu ảnh hưởng của cácquy luật như: cạnh tranh, cung - cầu và lưu thông tiền tệ Sự tác động của nhữngnhân tố này làm cho giá cả và giá trị không đồng nhất với nhau mà tách rờinhau Sự vận động giá cả của các hàng hóa trên thị trường lên - xuống xoayxung quanh giá trị trở thành cơ chế hoạt động của quy luật giá trị C.Mác gọi đó

là “vẻ đẹp” của quy luật giá trị

Trong “vẻ đẹp” này, giá trị hàng hóa là trục, giá cả hàng hóa trên thị trườnglên - xuống xoay quanh trục đó Đối với mỗi hàng hóa riêng biệt, giá cả của nó

có thể cao hơn, thấp hơn hoặc phù hợp với giá trị của nó Nhưng cuối cùng, tổnggiá cả phù hợp với tổng giá trị của chúng Chính nhờ phương thức vận động nhưvậy của giá cả mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

1.1.3 Tác động của quy luật giá trị

Quy luật giá trị tồn tại, hoạt động ở tất cả các phương thức sản xuất Có sảnxuất hàng hoá và có những đặc điểm hoạt động riêng tuỳ thuộc vào quan hệ sảnxuất thống trị Nó có tác dụng chủ yếu sau

Thứ nhất là điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất vàsức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hànghoá Do ảnh hưởng của quan hệ cung cầu giá cả hàng hoá trên thị trường lênxuống xuay quanh giá trị của nó Nếu một ngành nào đó, cung không đáp ứngcầu, giá cả hàng hoá lên cao thì những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sảnxuất Những người đang sản xuất hàng hoá sẽ thu hẹp quy mô sản xuất đểchuyển sang sản xuất loại hàng hoá này Như vậy, tư liệu sản xuất, sức lao động

và vốn được chuyển vào ngành này tăng lên, cung về loại hàng hoá này trên thịtrường sẽ tăng cao Ngược lại khi ngành đó thu hút quá nhiều lao động xã hội,cung vượt cầu, giá cả hàng hoá hạ xuống, thì người sản xuất sẽ phải chuyển bớt

tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu tư vào nơi có giá cảhàng hoá cao Nhờ vậy mà tư liệu sản xuất và sức lao động được phân phối qualại một cách tự phát vào các ngành này để đầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao.Nhờ vậy mà tư liệu sản xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tưphát vào các ngành sản xuất khác nhau ở đây ta thấy rằng sự biến động của giá

cả xung quanh giá trị không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác

Trang 7

động điều tiết nền kinh tế Ngoài ra ta còn thấy quy luật giá trị cũng điều tiết vàlưu thông hàng hoá Hàng hoá bao giờ cũng vận động từ nơi giá cả thấp đến nơigiá cả cao Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sự vận động đó, phân phối cácnguồn hàng hoá một cách hợp lý hơn trong nước

Thứ hai là kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển

Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất hàng hoá nào cũng mong cónhiều lãi Người có nhiều lãi hơn là người có thời gian lao động cá biệt ít hơnhoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Còn những người có thời gian laođộng cá biệt lớn hơn thời gian lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị lỗ không thu vềđược toàn bộ lao động đã hao phí Muốn đứng vững và thắng trong cạnh tranh,mỗi người sản xuất đều luôn luôn tìm cách rút xuống đến mức tối thiểu thời gianlao động cá biệt Muốn vậy, những người sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹthuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng những thành tựu mới của khoa học,

kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý của sản xuất, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ Sựcạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, kếtquả là năng suất lao động tăng lên nhanh chóng Ngoài ra để có thể thu đượcnhiều lãi, người sản xuất hàng hoá còn phải thường xuyên cải tiến chất lượng,mẫu mã hàng hoá cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, cải tiếncác biện pháp lưu thông, bán hàng để tiết kiệm chi phí lưu thông và tiêu thụ sảnphẩm nhanh Vì vậy quy luật giá trị có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoánhiều, nhanh, tốt, rẻ hơn

Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi người sảnxuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần thiết Những người làm tốt,làm giỏi có năng suất lao động cá biệt thấp hơn thời gian lao động xã hôị cầnthiết và nhờ đó họ phát tài, làm giàu, mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộngquy mô sản xuất Bên cạnh đó những người làm ăn kém, không may mắn, thờigian lao động cá biệt lớn hơn thời gian lao động xã hội cần thiết nên họ bị lỗ vốnthậm chí đi đến phá sản Như vậy, quy luật giá trị có ý nghĩa bình tuyển, đánhgiá người sản xuất, kích thích những yếu tố tích cực phát triển và đào thải cácyếu tố kém Nó đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản xuất

Thứ ba là phân hóa giữa những người sản xuất khác nhau

Sự phân hóa những người sản xuất nhỏ là kết quả tất yếu của sản xuất hànghóa Bởi vì, trong quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị những người có điều

Trang 8

kiện sản xuất thuận lợi, năng suất lao động cao, hao phí lao động cá biệt thấphơn hao phí lao động xã hội cần thiết nhờ đó thu được lợi nhuận cao có điềukiện mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, những người không có điều kiệnthuận lợi, gặp rủi ro trong kinh doanh, bị thua lỗ, phá sản trở thành người làm thuê.

1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1.2.1 Mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm pháttriển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội nâng caonăng suất lao động xã hội, từng bước xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới

xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh”, “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại vàquan hệ sản xuất tiên bộ phù hợp” [2, tr.70]

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn

hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các chuẩnmực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Cơ bảnbảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước vàthị trường; sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triểncon người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệmôi trường, phát triển xã hội bền vững Chủ động, tích cực hội nhập kinh tếquốc tế gắn vói xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính minh bạch,tính dự báo được trong xây dựng thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợicho phát triển kinh tế - xã hội

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phấn đẩu đến năm 2030, là nước đangphát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lýhiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh vàbền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắnvới nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế” [4, t.I,tr.217]

1.2.2.Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đặc trưng về sở hữu và thành phần kinh tể

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế

có nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế

Trang 9

được tự chủ sản xuất kinh doanh và chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường,luật pháp của Nhà nước Giữa các chủ thể vừa có sự hợp tác, vừa có cạnh tranh

và được bình đẳng trước pháp luật

Đảng ta đã xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tể, trong đó: kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng đượccủng cố, phát triển; kinh tể tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tể có vốnđầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quyhoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [4, t.I, tr.128-129]

Đặc trưng về cơ chế vận hành

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: “giữa Nhànước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ” [4, t.I, tr.130]

Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam được Đảng xác định: “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo

vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tể vĩ mô, các cân đối lớncủa nền kinh tế Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hànghóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bồ hiệu quả các nguồn lực; điều tiếtsản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc nhữngdoanh nghiệp yếu kém Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợphoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại điện vàbảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác;cung cấp dịch vụ hỗ trợ các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của cáctầng lớp nhân dân với Nhà nước ” [4, t.I, tr.130-131]

Đặc trưng về phân phối

Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồmphân phối các nguồn lực quốc gia cho sự phát triển kinh tế - xã hội và phân phốithu nhập Các nguồn lực cho sự phát triển, đặc biệt là các nguồn lực mà Nhànước là đại diện chủ sở hữu như: tài nguyên, khoáng sản, đất đai, ngân sách nhànước được tiến hành phân phối theo lộ trình thực hiện chiến lược, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng giai đoạn và đảm bảo lợi ích quốcgia trong dài hạn Việc chi tiêu ngân sách, tăng chi đầu tư phát triển, xóa đói,giảm nghèo, giáo dục, nghiên cứu khoa học và y tế thu hút nguồn lực của xãhội đầu tư vào một số hoạt động kinh tế, xã hội

Trang 10

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiều hìnhthức phân phối: “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực chophát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả laođộng, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lựckhác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [2, tr.74].Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam được xác định: Đảm bảo từng bước cải thiện và nâng cao đời sốngcủa nhân dân Căn cứ để tiến hành phân phối là kết quả lao động và hiệu quảkinh tế Bên cạnh thực hiện cơ chế phân phối thu nhập đó, cần thực hiện cácchính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội để thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nhất

là các đối tượng chính sách, vùng sâu, vùng xa Đại hội XIII của Đảng nhấnmạnh: “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá

cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc

độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạođộng lực nâng cao năng suất và hiệu quả” [4, t.I, tr.149]

1.3 Bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thuật ngữ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng địnhtại Đại hội IX của Đảng (năm 2001) Đó là kết quả của quá trình 15 năm đổi mới

tư duy và thực tiễn ở nước ta, được đúc kểt lại trên cơ sở đánh giá và rút ra cácbài học lớn qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội VII, VIII Theo tinhthần đó, Đại hội IX của Đảng xác định: “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lỷ của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa”[1, tr.86]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nên kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quyluật của kinh tể thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi cácnguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội” [2, tr 204-205]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ,

Trang 11

đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó

là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằmmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vãn minh” [3,tr.102]

Từ nhận thức lý luận như vậy, cũng trong Đại hội XII, Đảng ta khẳng địnhnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “có quan hệ sảnxuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thểthuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, họp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thịtrường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồnlực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhànước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thịtrường Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh

tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng cáccông cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiếtnền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vaitrò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.25-26]

Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủnghĩa xã hội Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hànhđầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa vi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” [4, t.I tr.128].Như vậy, xét về bản chất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam là một kiểu hình kinh tế thị trường vừa tuân theo các quy luật chungcủa nền kinh tế thị trường, vừa hàm chứa những giá trị xã hội chủ nghĩa trongvận hành, quản lý cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh

2 TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TRỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA

2.1 Sự cần thiết của quy luật giá trị trong việc phát triển kinh tế thị trường.

Trang 12

Trong một nền kinh tế, mọi hệ thống kinh tế đều được tổ chức bằng cách nàyhay các khác để huy động tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực đó nhằm sản xuất ra hàng hoá Việc sản xuất phải được tiếnhành theo những phương pháp tốt nhất, phân phối hàng hóa sản xuất được saocho đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội Đó là vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế

- xã hội Trong nền kinh tế chỉ huy thì những vấn đề cơ bản đều do các cơ quanNhà nước quyết định, còn một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của

nó do thị trường quyết định được xem là nền kinh tế thị trường

Phát triển kinh tế thị trường là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới kinh tế xãhội Thực tế cho thấy, không có quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế thịtrường phát triển lại không có sự điều hành của Nhà nước Mỗi quốc gia có mộtchính sách quản lý và phát triển kinh tế đặc thù của quốc gia đó, nhưng xét chođến cùng thì cũng không thoát khỏi quy luật chung là áp dụng các quy luật kinh

tế và vận hành chúng một cách có hiệu quả vào sự phát triển kinh tế Nó có vaitrò điều tiết nền sản xuất hàng hoá một cách hợp lý rồi từ đó gây ảnh hưởng tớinền kinh tế của đất nước Chính vì vậy quy luật giá trị có vai trò rất quan trọngtrong sự phát triển kinh tế thị trường của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam nócũng có vai trò không nhỏ, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc dânthông qua sự điều tiết của nó đối với nền sản xuất hàng hoá

2.2 Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta thời gian qua

Không một nền kinh tế nào có thể coi là hoàn thiện, là phát triển tốt tuyệt đốicho dù đó có là nền kinh tế của một quốc gia phát triển nhất thế giới đi nữa Lúcnào nó cũng chứa những mặt trái, những mặt còn chưa tốt, những hạn chế cầnđược tiếp tục khắc phục Việc áp dụng các quy luật kinh tế vào việc vận hành vàquản lý nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ đổ vỡnền kinh tế do vận dụng không đúng cách, không đúng yêu cầu thực tế Đó vẫn

là một trong những vấn đề nan giải của rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó

có cả nước Việt Nam của chúng ta

Có thể nói, trải qua 35 năm đổi mới, mô hình kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trở thành đóng góp lý luận

cơ bản và sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhậnđịnh: “Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngàycàng đầy đủ hơn Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoànthiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập

Trang 13

quốc tế Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng

bộ, gắn với thị trường khu vực và thế giới” [4, t.I tr.59-60] “Thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướng hiệnđại, đồng bộ và hội nhập” [4, t.II tr.31] Đường lối đổi mới kinh tế phù hợp vớiyêu cầu khách quan đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất xã hội, thúc đẩy nềnkinh tế của nước ta tăng trưởng vượt bậc, đời sống của nhân dân được cải thiện

rõ rệt Nhờ vậy, sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã giành được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trởthành nước có thu nhập trung bình; hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế khu vực vàthế giới, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế

Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành quốcgia thu nhập trung bình thấp Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 -1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4%, thì giai đoạn

1991 - 1995, tăng trưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm Các giai đoạn sau đóđều có mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức bình quân6,8 %/năm Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịchCovid-19, thiên tai ,bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăngtrưởng bình quân 5 năm 2016-2020 đạt khoảng 6%/ năm và thuộc nhóm cácnước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới [4, t.2-1, tr.8] Liên tiếp trong 4năm, từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng caonhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất[5] Quy mônền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD thì đến năm

2020 đã đạt khoảng 343 tỷ USD [6] Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả

về vật chất và tinh thần, năm 2020, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 3.500USD Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích luỹ - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư,năng lượng, lương thực, lao động - việc làm… tiếp tục được bảo đảm, góp phầncủng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiềunghèo của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm

2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm trên 1,4%/năm [4, t.2-1, tr.43]; Chỉ

số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập [7] Xếp hạng về pháttriển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020[8], cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế

Ngày đăng: 22/11/2021, 20:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quổc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quổc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2011
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2016
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2021
6. “Kinh tế Việt Nam 2020: một năm tăng trưởng đầy bản lĩnh”, http:/ww.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2020: một năm tăng trưởng đầy bản lĩnh
9. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chínhtrị Mác-Lênin
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Lý luậnchính trị
Năm: 2021
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w