Chính sách này không ngăn cản việc xem xét một bài báo đã bị một bài báo khác từ chối hay là bài báo chính thức sau bài đăng một số kết quả bước đầu của cùng một công trình hay là các bả
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là hai trọng tâm cơ bản trong quá trình đổi mới đất nước Việt Nam Từ hai trọng tâm này, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu Đào tạo đại học và sau đại học ở mọi hình thức dù tập trung hay không tập trung, dù tự học hay theo học các khoá chính quy luôn phải kết gắn với nghiên cứu khoa học thì mới đảm bảo chất lượng Nghiên cứu khoa học bao gồm hai phần liên quan tương hỗ lẫn nhau đó là nội dung nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu Một nội dung nghiên cứu tốt mà trình bày dở thì sẽ làm giảm đi giá trị của kết quả nghiên cứu và ngược lại, trình bày nghiên cứu dù thật tốt mà nội dung nghiên cứu không có gì thì cũng không ai muốn đọc Trong thời gian gần đây, khi đánh giá những luận văn tốt nghiệp, những bài trình bày trong các hội nghị khoa học cũng như xem xét các bài báo gửi đăng, một nhược điểm lớn mà chúng tôi nhận thấy chung ở các tác giả là phương pháp và bố cục trình bày Chính vì vậy, việc giúp cho các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực y học về cách trình bày nghiên cứu của mình là một trăn trở của chúng tôi
Trong đợt sang giảng dạy về chủ đề Phương pháp nghiên cứu khoa học trong y học theo khuôn khổ hợp tác
đào tạo Pháp - Việt, Giáo sư Hugiuer (Đại học Paris 6) có giới thiệu cuốn sách La rédaction médicale do ông biên soạn và đồng ý cho chúng tôi sử dụng để giúp đỡ cho sinh viên, học viên và các bác sĩ Việt Nam tham khảo Với kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Y Hà Nội trong nhiều năm, chúng tôi tham khảo cuốn sách của Huguier và biên soạn cuốn sách này một cách sao cho phù hợp với các bạn đọc Việt Nam để hy vọng giúp đỡ bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo khi trình bày kết quả nghiên cứu của minh Chúng tôi biết dù đã cố gắng song sai sót là điều khó tránh khỏi nhưng cũng xin mạnh dạn giới thiệu với bạn đọc
Cố PGS VS NGND Tôn Thất Bách Nguyên Hiệu trưởng trường ĐHYHN
6/30/2003
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Mục đích của cuốn sách này là nhằm giúp cho những ai muốn viết một luận án, một bản thu hoạch hay một bản báo cáo khoa học Sách trình bày những nguyên tắc viết một tài liệu khoa học y học (chương 1 và 2) và cách sử dụng chúng trong công trình nghiên cứu (chương 3 đến chương 13) Hiểu biết những nguyên tắc này giúp cho tác giả biết cách viết một cách chính xác, rõ ràng và súc tích Bên cạnh giá trị khoa học của công trình, nó góp phần làm cho công trình nghiên cứu được Ban biên tập của các tạp chí khoa học chấp nhận Rất nhiều trong số những nguyên tắc này cũng có thể áp dụng để viết một bài giảng hay một cuốn sách Hiểu biết các nguyên tắc viết bài trong y học cũng giúp cho việc nhận biết những bài báo kém sáng sủa, không chuẩn xác hay thiếu súc tích Để tiết kiệm thời gian thì không cần đọc những bài như vậy
Để viết một bài báo cần phải biết có thể tìm tài liệu tham khảo ở đâu và như thế nào Chủ yếu nhờ vào công nghệ tin học, ta sẽ thực hiện việc lựa chọn nhanh lần đầu các tài liệu và lưu trữ thông tin để có thể sử dụng dễ dàng: chương 14 dành cho vấn đề này
Các tác giả thường không biết con đường của một bài báo từ khi gửi bản thảo tới một tạp chí cho tới khi nó được đăng Điều này tác động ngay tới chính việc viết bài báo Thông tin này nằm trong chương 15
Chương cuối cùng của cuốn sách cho những lời khuyên để chuẩn bị trình bày báo cáo miệng hay dùng bảng trưng bày (poster) trong một hội nghị khoa học
Trang 3Bác sĩ Dominique Franco, Giáo sư về phẫu thuật tiêu hoá ở đại học Paris Sud, đã từng là tổng biên tập tạp chí Gastroenterologie Clinique et Biologique Bác sĩ Jean Paul Galmiche, Giáo sư chuyên ngành Gan-Tiêu hoá tại trường đại học Nantes, đã từng là tổng biên tập tạp chí Gastroenterologie Clinique et Biologique Ông
là người sáng lập và lãnh đạo tạp chí chuyên về đào tạo y học liên tục "Hépato-Gastro" Ông là thành viên ban biên tập tạp chí “Gut” và tạp chí "European Journal of Gastro-Enterology and Hepathology" Bác sĩ Bernard Grenier, Giáo sư danh dự của đại học Y khoa Tours, đã chủ trì các buổi sinh hoạt khoa học đào tạo chuyên ngành về phân tích các quyết định y học, về phương pháp đọc và phân tích cũng như biên tập báo y học ở nhiều trường đại học Pháp ngữ
Bác sĩ Michel Huguier, Giáo sư chuyên ngành phẫu thuật tiêu hoá ở đại học Paris VI, đã từng là thành viên ban biên tập tạp chí Gastroentérologic Clinique et Biologique Ông là đồng biên tập của tạp chí Hepato-Gastroenterology và phó biên tập tạp chí Chirurgie Ông là chủ tịch của Hội vì sự phát triển giảng dạy và nghiên cứu trong viết báo y học (ADERREM) và chủ trì các buổi thảo luận giảng dạy về viết báo y học Bác sĩ Gérard Lorette, Giáo sư chuyên ngành Da liễu trường đại học Tours Ông là tổng biên tập tạp chí Annales de Dermatologie Ông là Giám đốc bộ phận nhận bài của nhà xuất bản Doin Ông chủ trì các buổi thảo luận giảng dạy viết báo y học ở Pháp và ở nước ngoài
Bác sĩ Hervé Maisonneuve là giám đốc bộ phận thẩm định của cơ quan quốc gia về tín nhiệm và đánh giá trong y tế (ANAES) Ông đã từng là chủ tịch Hiệp hội Âu Châu của các nhà xuất bản khoa học Ông là thành viên các ban biên tập (JAM, Journal of Evaluation in Clinical Pratice) và đã chủ trì các hội thảo về giảng dạy viết báo y học
Trang 4TÊN VIẾT TẮT QUỐC TẾ CỦA CÁC ĐƠN VỊ ĐO
Chữ viết tắt là một dạng tương đương ngắn của một từ (fig thay cho figure) hay một nhóm từ (AND thay cho acide désoxyribonucléique) Thường người ta sử dụng chữ viết thường (kg chứ không phải Kg) nhưng không phải luôn luôn như vâỵ (DS dùng cho déviation standard) Thường không có dấu chấm sau chữ viết tắt (cm chứ không phải là cm., HTA chứ không viết là H.T.A.), trừ khi chữ viết tắt ở cuối câu hay trong một số trường hợp đặc biệt (i.m cho intramusculaire) Không có chữ viết tắt cho số nhiều (g cho gramme hoặc grammes) Các đơn vị thể tích (cm3) không được sử dụng ở vị trí và thay cho đơn vị dung tích (mL) Giữa số đo và đơn
vị đo có một khoảng trống (20 min chứ không phải là 20min) Trong bản hướng dẫn cho các tác giả của các báo có danh mục các chữ viết tắt hay chỉ rõ nơi tham khảo đăng chúng ở trong các báo
Một số chữ viết tắt thông dụng với chữ tương đương trong tiếng Anh (trong ngoặc đơn) khi có sự khác biệt giữa tiếng Anh với tiếng Pháp được liệt kê dưới đây Các chữ viết tắt này có thể được sử dụng không cần đưa định nghĩa
nhịp trên phút(coups par
độ đậm quang(densité
phân huỷ theo phút
sai số chuẩn của trung
trong cơ(intramessculaire) i.m trong phúc mạc(intraperitoneal) i.p
milimet khối (milimetre
Trang 5mili giây (miliseconde) ms phút (minute) min
bình thường (độ đậm đặc) N không rõ ràng(non signification) NS
pascal pA trọng lượng phân tử (poids moleculaire, molecular
đơn vị quốc tế(unité
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT CỦA CÁC TẠP CHÍ Y HỌC
Danh sách dưới đây được chọn lựa trong số những tạp chí đã được đưa vào Index Medicus với chữ viết tắt của các tạp chí đó theo quy định trong Index Danh sách đầy đủ được in trong số tháng Giêng của Index Medicus hàng năm và trong số 2 của cuốn “Cumulated Index Medicus”
Nói chung trong tên viết tắt sẽ loại bỏ các tính từ và chữ nối Những tạp chí mà tên chỉ gồm một từ được giữ nguyên (ví dụ như chest, gut, circulation) Trong danh sách dưới đây cũng như trong Index các dấu của tiếng Pháp được lược bỏ
Với những tạp chí không có trong Index Medicus, nên sử dụng các chữ viết tắt theo danh sách chuẩn của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (International Standard ISO-4-172(E): Documentation-international code for the abbreviation of titles of periodicals Geneva: International Organisation for Standardization; 1972) Danh sách này có thể tìm thấy ở Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (American National Standards Institute, 1430 Broadway, New York, NY10018) và cũng có thể tham khảo trong cuốn sách của Huth EJ (Medical style and format An international manual for authors, editors and publishers, Philadelphia: ISI Press, 1987, 355p)
Acta anaesthesiologica belgica: Acta Anaesthesiol belg
Acta anaesthesiologica scandinavica: Acta Anaesthesiol Scand
Acta anatomica (basel): Acta Anat (Basel)
Acta cardiologica (bruxelles): Acta Cardiol (Brux)
Acta chirurgica belgica: Acta Chir Belg
Acta clinica belgica: Acta Clin Belg
Acta cytologica (baltimore): Acta Cytol (Baltimore)
Acta dermato-venereologica (stockholm): Acta Derm Venereol (Stockh)
Acta medica scandinavica: Acta Med Scand
Advances in cancer research: Adv Cancer Res
Advances in cardiology: Adv Cardiol
Advances in immunology: Adv Immunol
Advances in internal medicine: Adv Intern Med
Advances in neurology: Adv Neurol
Advances in pediatrics: Adv Pediatr
Advances in pharmacology and chemotherapy: Adv Pharmacol Chermother
Agressologie: Agressologie
Aids research: AIDS Res
Ajnr American journal of neuroradiology: AJNR
Ajr American journal of roentgenology: AJR
Alcoholism: Alcoholism
Allergy: Allergy
American family physician: Am Fam Physician
American heart journal: Am Heart J
American journal of anatomy: Am J Anat
American journal of cardiology: Am J Cardiol
American journal of clinical nutrition: Am J Clin Nutr
American journal of clinical oncology: Am J Clin Oncol
American journal of Clinical pathology: Am J Clin Pathol
American journal of dermatopathology: Am J Clin Dermatopathol
American journal of diseases of children: Am J Dis Child
American journal of epidemiology: Am J Epidemiol
American journal of gastroenterology: Am J Gastroenterol
American journal of the medical sciences: Am J Med Sci
American journal of medicine: Am J Med
American journal of nursing: Am J Nurs
American journal of obstetrics and gynecology: Am J Obstet Gynecol
American journal of ophthalmology: Am J Ophthalmol
American journal of pathology: Am J Pathol
American journal of physical medicine: Am J Phys Med
American journal of physiology: Am J Physiol
American journal of psychiatry: Am J Psychiatry
American journal of public health: Am J Public Health
American journal of surgery: Am J Surg
Trang 7American journal of surgical pathology: Am J Surg Pathol
American journal of tropical medicine and hygiene: Am J Trop med Hyg
American reiewof respiratory disease: Am Rev Respir Dis
American surgeon: Am Surg
Anaesthesia: Anaesthesia
Anaesthesia and intensive care: Anaesth Intensive Care
Anesthesia and analgesia: Anesth Analg
Anesthesiology: Anesthesiology
Annales de biologie clinique (paris): Ann Biol Clin (Paris)
Annales de cardiologie et d,angeiologie (paris): Ann Cardiol Angeiol (Paris)
Annales de Chirurgie: Ann Chir
Annales de dermatologie et de venereologie: Ann dermatol Venereol
Annales d,endocrinologie (paris): Ann Endocrinol (Paris)
Annales de gastroenterologie et d,hepatologie (paris): Ann Gastroenterol Hepatol (Paris) Annales de genetique (Paris): Ann Genet (Paris)
Annales de l,institut pasteur immunologie: Ann Inst Pasteur Immunol
Annales de l,institut pasteur Microbiologie: Ann Inst Pasteur Microbiol
Annales de medecine interne (paris): Ann Med Interne (Paris)
Annales de pathologie: Ann Pathol
Annales de pediatrie (paris): Ann Pediatr (Paris)
Annales de radiologie (paris): Ann Radiol (Paris)
Annales d,urologie (paris): Ann Urol (Paris)
Annales of Clinical biochemistry: Ann Clin Biochem
Annales of dentistry: Ann Dent
Annales of emergency medicine: Ann Emerg Med
Annales of internal medicine: Ann Intern Med
Annales of Neurology: Ann Neurol
Annales of the newyork academy of sciences: Ann NY Acad Sci
Annales of otology, rhinology, and lagyngology: Ann Otol Rhinol Laryngol
Annales of plastic surgery: Ann Plast Surg
Annales of the rhematic diseases: Ann Rheum Dis
Annales of Surgery: Ann Surg
Annuals review of microbiology: Annu Rev Microbiol
Antimirobial agents and chemotherapy: Antimicrob Agents Chemother
Archives of dermatology: Arch Dermatol
Archives of disease in childhood: Arch Dis Child
Archives of environemental health: Arch Environ Health
Archives of general psychiatry: Arch Gen Psychiatry
Archives of internal medicine: Arch Intern Med
Archives of neurology: Arch Neurol
Archives of ophthalmology: Arch Ophthalmol
Archives of otolarygology: Arch Otolaryngol
Archives of otolaryngology-head and neck surgery: Arch otolaryngol Head Neck Srg Archives of pathology and laboratory medicine: Arch Pathol Lab Med
Archives of physical medicine and rehabilitation: Arch Phys Med Rehabil
Archives of Surgery: Arch Surg
Arthritis and rheumatism: Arthritis Rheum
Biomedicine and pharmacotherapy: Biomed Pharmacother
Blood: Blood
Brain: Brain
British dental journal: Br Dent J
British heart journal: Br Heart J
British journal of anaesthesia: Br J Anaesth
British journal of cancer: Br J Cancer
British journal of clinical pharmacology: Br J Clin Pharmacol
British journal of dermatology: Br J Dermatol
British journal of obstetrics and gynaecology: Br J Obstet Gynaecol
British journal of ophthalmology: Br J Ophthalmol
British journal ofpharmacology: Br J Pharmacol
British journal of psychiatry: Br J Psy
British journal of radiology: Br J Radiol
British journal of rheumatology: Br J Rheumatol
British journal of surgery: Br J Surg
Trang 8British medical journal: Br Med J
Bulletin of the world health organization: Bull WHO
Cahiers d, anesthesiologie: Cah Anesthesiol
Canadian medical association journal: Can Med Assoc J
Clinical genetics: Clin Genet
Clinical immunology and immunopathology: Clin Immunol Immunopathol Clinical orthopaedics and related research: Clin Orthop
Clinical pediatrics (Philadelphia): Clin Pediatr (Phila)
Clinical Pharmacology and therapeutics: Clin Pharmacol Ther
Critical care medicine: Crit Care Med
Current problems in surgery: Curr Probl Surg
Cutis: Cutis
Dakar medical: Dakar Med
Danish medical bulletin: Dan Med Bull
Diabetes: Diabetes
Digestive diseases and sciences: Dig Dis Sci
Disease of colon and rectum: Dis Colon Rectum
Drugs: Drugs
East african medical journal: East Afr Med J
Encephale: Encephale
Endocrinology: Endocrinology
European heart journal: Eur heart J
European Journal of cancer and clinical oncology: Eur J Cancer Clin Oncol European Journal of clinical investigation: Eur J Clin Invest
European Journal of immunology: Eur J Immunol
European Journal of pharmacology: Eur J Pharmacol
European Journal of respiratory dieases: Eur J Respir Dis
Gastroenterologie clinique et biologique: Gastroenterol Clin Biol
Infection and immunity: Infect Immun
International surgery: Int Surg
JNCI Journal of the national cancer institute: JNCI
Journal of allergy and clinical immunology: J Allergy Clin Immunol
Journal of the american college of cardiology: J Am Coll ardiol
Journal of the american dietetic association: J Am Diet Assoc
Journal of the american medical association JAMA: JAMA
Journal of bone and joint surgery American volume: J Bone Joint Surg [Am] Journal of bone and joint surgery British volume: J Bone Joint Surg [Br] Journal de chirurgie (Paris): J Chir (Paris)
Journal of clinical endocrinology and metabolism: J Clin Endocrinol Metab Journal of clinical gastroenterology: J Clin Gastroenterol
Journal of clinical hypertention: J Clin Hypertens
Journal of clinical immunology: J Clin Immunol
Journal of clinical investigation: J Clin Invest
Journal of clinical microbiology: J Clin Microbiol
Journal of clinical pathology: J Clin Pathol
Journal of clinical pharmacology: J Clin Pharmacol
Journal of clinical endocrinology: J Clin Endocrinol
Journal of epidemiology and community health: J Epidemiol Community Health
Trang 9Journal of family practice: J Fam Pract
Journal of gerontology: J Gerontol
Journal of hepatology: J Hepatol
Journal of immunogenetics: J Immunogenet
Journal of immunological methods: J Immunol Methods
Journal of immunology: J Immunol
Journal of immunopharmacology: J Immunopharmacol
Journal of infectious disease: J Infect Dis
Journal of laryngology and otology: J Laryngol Otol
Journal of medical education: J Med Educ
Journal of molecular biology: J Mol Biol
Journal of nervous and mental diseases: J Nerv Ment Dis
Journal of neurology: J Neurol
Journal of neurosurgery: J Neurosurg
Journal of nursing administration: J Nurs Adm
Journal of oral and maxillofacial surgery: J Oral Maxillofac Surg
Journal of Pediatrics: J Pediatr
Journal of physiology (cambridge): J Physiol (Lon)
Journal de radiologie: J Radiol
Journal of thoracic and cardiovascular surgery: J Thorac Cardivasc Surg
Journal of toxicology, clinical toxicology: J Toxicol Clin Toxicol
Journal of trauma: J Trauma
Journal d,urologie (paris): J Urol (Paris)
Journal of urology: J Urol
Kidney international: Kidney Int
Lancet: Lancet
Mayo clinic proceedings: Mayo Clin Proc
Medical clinics of north america: Med Clin North Am
Medical Journal of Australia: Med J Aust
New england journal of medicine: N Eng J Med
Obststris and gynecology: Obstet Gynecol
Pain: Pain
Pathologie biologique (Paris): Pathol Biol (Paris)
Pediatric research: Pediatr Res
Pediatrics: Pediatrics
Pediatrie: Pediatrie
Pharmacology: pharmacology
Phlebologie: Phlebologie
Plastic and reconstructive surgery: Plast Reconstr Surg
Postgraduate medicine: Postgrad Med
Presse medicale: Presse Med
Proceeding of the natonal academy of sciences of the united states of america: Proc Natl Acad Sci USA
Radiology: Radiology
Reviews of infectious diseases: Rev Infect Dis
Revue d, epidemiologie et de sante publique: Rev Epidemiol Sante Publique
Revue francaise de gynecologie et d,, obstetrique: Rev Fr Gynecol Obstet
Revue des maladies respiratoires: Rev Mal Respir
Revue de medecine interne: Rev Med Interne
Revue neurologique (paris): Rev Neurol (Paris)
Revue de pneumologie clinique: Rev Pneumol Clin
Revue du rhumatisme et des maladies osteo-articulaires: Rev Rhum mal Osteoartic Science: Science
Trang 10Thorax: Thorax
Thymus: Thymus
Transplantation: Transplantation
Trang 11QUY ĐỊNH THỐNG NHẤT CHO BẢN THẢO GỬI ĐĂNG TRONG CÁC BÁO Y
và Uỷ ban này họp hàng năm Dần dần nhóm quan tâm tới những chủ đề khác
Uỷ ban đã cho xuất bản 5 lần bản "Qui định thống nhất cho bản thảo gửi đăng trong các báo y sinh học" Từ vài năm nay, Uỷ ban đã bắt đầu quan tâm tới những vấn đề vượt quá sự chuẩn bị các bản thảo Hiện tại một
số vấn đề được đề cập trong "Qui định thống nhất", một số khác được xử lý trong các qui định riêng rẽ Mỗi
đề nghị được đăng trong một tạp chí khoa học
Lần xuất bản thứ 5 (1997) là kết quả của một cố gắng để tổ chức và soạn lại bản qui định của lần xuất bản thứ 4 nhằm cải thiện sự sáng sủa và đề cập đến những chủ đề khác như bản quyền, sự giữ bí mật, việc mô tả phương pháp Nội dung toàn bộ của bản "Qui định thống nhất cho bản thảo gửi đăng trong các tạp chí y sinh học" có thể được in lại để đào tạo, cho các mục đích không sinh lợi mà không vi phạm bản quyền; uỷ ban khuyến khích việc phổ biến văn bản này
Các báo chấp nhận tuân theo bản "Qui định thống nhất" (hơn 500 báo) phải dẫn phiên bản 1997 trong hướng dẫn của mình với các tác giả Các yêu cầu thông tin và nhận xét xin gửi tới bà Kathleen Case ở ban thư ký của ICMJE, Annals of Internal Medicine, American College of Physicians Independence Mall W., Sith st, at Race, Philadelphia, PA 19106-1572 United States (Tel: 215-351-2661; fax:215-351-2644; email: kathyc @ acp.mhs Compuserve.com)
Những tờ báo có đại diện ở uỷ ban quốc tế các nhà biên tập của các tạp chí y học năm 1996 là Annals of Internal Medicine, British Medical Journal, Canadian Medical Association Journal, Journal of the American Medical Association, Lancet, Medical Journal of Australia, New England Medical Journal, Tidsskrift for den Norske Laegefovening, Western Journal of Medicine, Index Medicine
Cần phải xác định rõ qui định này bắt buộc gì và không bắt buộc gì
1 Bản "Qui định thống nhất" này là những hướng dẫn cho các tác giả về cách thức chuẩn bị bản thảo và không phải là hướng dẫn cho các nhà biên tập về phong cách của ấn phẩm (mặc dù có rất nhiều tờ báo xây dựng dựa trên các chỉ dẫn này nhằm để phù hợp với văn phong của họ)
2 Nếu các tác giả chuẩn bị bản thảo tuân thủ những qui định này, các biên tập viên của các tờ báo liên quan
sẽ không phải gửi trả bản thảo để yêu cầu sửa về cách trình bày trước khi xem xét để in Ngược lại, trong quá trình xuất bản, các bản thảo có thể được các biên tập viên sửa đổi để phù hợp với văn phong xuất bản riêng của tờ báo
3 Các tác giả gửi bản thảo tới các báo này không phải chuẩn bị bản thảo theo văn phong xuất bản của tờ báo
mà phải tuân thủ theo "Qui định thống nhất" Các tác giả cũng phải tôn trọng các chỉ dẫn cho tác giả của tờ báo để biết tờ báo đó thường in những chủ đề gì và nên gửi đăng dạng bài báo nào Ví dụ bài báo nghiên cứu, tổng quan hay thông báo lâm sàng Hơn nữa, các hướng dẫn của báo có thể chứa các qui định đặc biệt khác ví như số bản thảo cần gửi, ngôn ngữ được chấp nhận, độ dài của bài báo, các chữ viết tắt được chấp nhận
Tốt nhất là các tờ báo áp dụng qui định này ghi rõ trong chỉ dẫn cho tác giả rằng qui định của họ là tuân theo
"Qui định thống nhất cho bản thảo gửi đăng trong các báo y sinh học" và trích dẫn một dạng đã xuất bản
NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý TRƯỚC KHI GỬI BẢN THẢO ĐĂNG BÁO
Xuất bản trước và xuất bản đồng thời
Đã đăng báo và đăng đồng thời là đăng một bài báo có nội dung là một bài báo đã đăng Các độc giả của các bài báo "nguyên thuỷ" có quyền nghĩ rằng những gì họ đọc là nguyên bản trừ khi có một chú dẫn chỉ rõ rằng
Trang 12bài báo được in lại với sự đồng ý của tác giả và ban biên tập Cơ sở của việc này là các luật quốc tế về bản quyền, các nguyên tắc đạo đức và việc sử dụng tối ưu các nguồn tư liệu
Phần lớn các tờ báo không muốn đăng một công trình đã được công bố rộng rãi trong một bài báo đã xuất bản hay trong một bài báo đã gửi, hay đã được chấp nhận đăng ở một tờ báo khác dưới dạng in trên báo viết hay báo điện tử Chính sách này không ngăn cản việc xem xét một bài báo đã bị một bài báo khác từ chối hay
là bài báo chính thức sau bài đăng một số kết quả bước đầu của cùng một công trình hay là các bản tóm tắt, hay poster trong một hội nghị chuyên ngành dành cho các nhà khoa học Điều này cũng không loại trừ các kết quả của những bài báo trình bày ở một hội nghị khoa học nếu nó không được đăng toàn văn hoặc nếu nó đã được gửi đăng trong tóm tắt hội nghị hay trong một ấn phẩm tương tự Các bài báo đăng trong các tờ thông tin của hội nghị thường không được coi là sự vi phạm qui tắc này, nhưng các tóm tắt kết quả này không được khuyếch trương lên bởi các số liệu phụ thêm hay việc in lại các bảng số liệu hay minh hoạ
Khi gửi bài đăng, tác giả luôn phải trình bày cho ban biên tập biết tất cả các lần gửi đăng trước và các báo cáo bước đầu mà những cái đó có thể được xem như một lần xuất bản trước hay xuất bản đồng thời của cùng một công trình hay của một công trình rất gần Tác giả phải thông báo cho ban biên tập khi công trình có chứa đựng những chủ đề mà những cái đó đã là chủ đề của một báo cáo bước đầu đã xuất bản Một báo cáo như vậy phải được trích dẫn và tham khảo trong bài báo mới Cần gửi kèm một bản của bài báo này cùng bài gửi đăng để ban biên tập quyết định
Nếu dự định hay in đồng thời mà không có các chú dẫn như trên các tác giả phải sẵn sàng chờ đợi một sự phản ứng từ ban biên tập ít nhất, việc từ chối ngay lập tức bản thảo sẽ có thể xảy ra Nếu ban biên tập không được thông báo về những sự vi phạm này, và bài báo đã được xuất bản, một thông báo về việc xuất bản đồng thời này có thể được đăng với hoặc không có sự đồng ý và giải thích của tác giả
Việc thông báo trước, thường là cho đại chúng về một thông tin khoa học viết trong một bài báo đã được chấp nhận nhưng còn chưa được đăng là một sự vi phạm vào chính sách của phần lớn các báo Trong một
số trường hợp, và chỉ sau khi có thống nhất với nhà xuất bản thì một thông báo trước về kết quả có thể được chấp nhận, ví dụ để thông báo cho công chúng về một nguy cơ cho sức khoẻ cộng đồng
Xuất bản lần 2 có thể chấp nhận
Việc xuất bản lần thứ 2 bằng một ngôn ngữ khác là có thể với điều kiện là các qui tắc sau đây được tôn trọng:
- Các tác giả nhận được sự đồng ý của ban biên tập của cả hai tờ báo Ban biên tập của lần xuất bản thứ 2 phải có một bản sao, một bản in thử hay bản thảo chính thức của ấn bản đầu tiên
- Quyền ưu tiên của lần in thứ nhất được tôn trọng với khoảng thời gian ít nhất 2 tuần giữa 2 lần xuất bản (trừ khi có sự thoả thuận đặc biệt giữa hai nhà xuất bản)
- Bài báo của lần in thứ 2 được viết cho đối tượng độc giả khác với độc giả của ấn bản đầu
- Lần in thứ 2 chứa cùng các kết quả và sự giải nghĩa như lần in đầu
- Một ghi chú ở trang đầu đề của lần xuất bản thứ 2 thông tin cho người đọc, các chuyên gia và người thu thập tài liệu rằng bài báo đã được đăng toàn phần hay 1 phần và dẫn tài liệu tham khảo đầu tiên Một ghi chú
có thể chấp nhận được viết như sau: “Bài báo này dựa trên một nghiên cứu nguyên uỷ đã đăng trong (tên của tạp chí với chỉ dẫn đầy đủ)”
Việc cho phép đăng lần thứ hai phải được đồng ý không có yêu cầu về tài chính
Bảo vệ quyền của bệnh nhân
Bệnh nhân có quyền được tôn trọng sự tự do cá nhân mà không ai được vi phạm khi không có sự đồng ý của chính người bệnh Những thông tin qua đó có thể cho phép nhận dạng người bệnh không được đăng trong các ấn phẩm bằng chữ viết, ảnh trừ khi những tư liệu này là không thể thiếu cho mục đích khoa học và bệnh nhân (hay cha mẹ hoặc người giám hộ) đã đồng ý rõ ràng bằng văn bản cho phép đăng Bệnh nhân cần được xem bản thảo gửi đăng trước khi quyết định cho phép bằng văn bản cho việc đăng báo vì mục đích này Những chi tiết cho phép nhận diện bệnh nhân phải được che bỏ khi chúng có vai trò không thật cần thiết, nhưng tư liệu không được làm sai hay làm giả để đạt mục đích tránh nhận diện Một sự vô danh hoàn toàn là khó có thể đạt được và khi nghi ngờ thì luôn cần một sự cho phép bằng văn bản rõ ràng Trong phần hướng dẫn cho tác giả phải ghi rõ yêu cầu việc có đồng ý bằng văn bản
YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC GỬI BẢN THẢO
Tóm tắt các yêu cầu về kỹ thuật
Trang 13- Đánh máy toàn bộ bản thảo cách dòng
- Mỗi chương của bản thảo phải bắt đầu bằng một trang mới
- Sử dụng thứ tự sau đây: trang đầu đề, tóm tắt và từ khoá, nội dung bài, lời cảm ơn, tài liệu tham khảo, bảng
số liệu (mỗi bảng trên một trang riêng biệt), các chú giải của các minh hoạ
- Các minh hoạ (ảnh bóng không sửa) không được rộng quá 203x254mm
- Gửi kèm tất cả các giấy cho phép in lại của tất cả các tư liệu đã công bố hay khi sử dụng các hình ảnh cho phép nhận dạng người
- Gửi kèm các giấy tờ cần thiết như là giấy tờ về chuyển quyền tác giả
- Gửi kèm số bản thảo đủ theo yêu cầu dưới dạng bài viết
- Giữ lại tất cả bản sao của các tư liệu gửi đi
Đánh máy bản thảo trên giấy trắng, khổ 216x279mm hoặc ISO A4 (210x297mm), để lề ít nhất 25mm Chỉ đánh máy trên một mặt giấy Sử dụng cách dòng đôi cho trang đầu đề, tóm tắt, nội dung, cảm ơn, tài liệu tham khảo, các bảng số liệu và các chú giải cho các minh hoạ Đánh số trang theo thứ tự, bắt đầu bằng trang đầu
đề Đánh số trang ở góc phải trên hoặc dưới của mỗi trang
Bản thảo trên đĩa mềm vi tính
Với các bài báo đã gần với bản thảo đã được chấp nhận cuối cùng, một số báo yêu cầu tác giả gửi tới một bản sao dưới dạng điện tử (hay đĩa mềm vi tính); có thể chấp nhận nhiều dạng xử lý văn bản hay tạo trang kiểu ASCII
Khi gửi đĩa mềm, các tác giả phải:
- Đảm bảo đã gửi một bản in sao y nội dung của bài báo trong đĩa;
- Chỉ lưu trong đĩa bản thảo ở dạng cuối cùng;
- Tài liệu được xác định rõ;
- Ghi nhãn đĩa chỉ rõ phần mềm thống kê sử dụng và tên tư liệu;
- Thêm các thông tin về “phần mềm" và "phần cứng" được sử dụng
Các tác giả phải tham khảo hướng dẫn với tác giả của các báo về các định dạng được chấp nhận, các quy ước về xác định tư liệu, số bản thảo phải gửi và các thông tin chi tiết khác
Trang đu đ
Trang đầu đề phải bao gồm: (a) tên bài báo, phải súc tích nhưng chứa đựng thông tin; (b) tên của từng tác giả, với chức danh khoa học cao nhất và nơi làm việc; (c) tên và địa chỉ của khoa hay cơ sở nơi công trình được thực hiện; (d) giấy miễn trừ trách nhiệm nếu cần; (e) tên và địa chỉ của tác giả chịu trách nhiệm gửi và nhận bản thảo; (f) tên và địa chỉ tác giả sẽ gửi báo biếu hoặc ghi rõ là không cung cấp báo biếu; (g) nguồn gốc các sự hợp tác bao gồm các học bổng, trang thiết bị, thuốc hay các vật liệu khác; (h) một đầu đề thông dụng ngắn dưới 40 ký tự (kể cả ký tự và khoảng trống) đặt ở cuối trang đầu đề
Trang 14giả chịu trách nhiệm
Ban biên tập có thể yêu cầu ghi rõ tác giả nào đã tham gia vào phần nào; thông tin này có thể được đăng Càng ngày sẽ càng có nhiều nghiên cứu đa trung tâm thực hiện bởi một nhóm tác giả Tất cả những thành viên của một nhóm được ghi danh như là tác giả, hoặc là ở dưới đầu đề hay ở cuối trang phải đáp ứng đầy
đủ các tiêu chí để trở thành tác giả như đã nói ở trên Những thành viên của nhóm không đáp ứng đủ các yêu cầu trên chỉ được nhắc tới với sự đồng ý của họ trong phần cảm ơn hay phần phụ lục (xem phần cảm ơn)
Thứ tự tên các tác giả là kết quả của sự thoả thuận của các đồng tác giả Thứ tự được sắp xếp theo nhiều cách khác nhau và ý nghĩa của nó không phải luôn luôn rõ ràng trừ khi nó được xác định bởi các tác giả Các tác giả nếu muốn có thể giải thích sự lựa chọn thứ tự tên trong một chú thích ở cuối trang Khi quyết định thứ
tự tên, các tác giả phải biết rằng nhiều báo giới hạn số tên tác giả trong các bản tóm tắt và National Library of Medicine chỉ ghi trong Medline tên của 24 tác giả đầu tiên và tên của tác giả cuối cùng khi có trên 25 tác giả
Tóm tt và t khoá
Trang thứ hai phải bao gồm phần tóm tắt (tối đa là 150 từ cho các tóm tắt không cấu trúc và 250 từ cho các tóm tắt cấu trúc) Phần tóm tắt phải trình bày mục đích của nghiên cứu hay thử nghiệm, các phương pháp chủ yếu (chọn chủ đề nghiên cứu hay chọn động vật thí nghiệm; phương pháp quan sát hay phân tích), và các kết luận chính Cần nhấn mạnh về các khía cạnh mới và quan trọng của nghiên cứu hay quan sát
Phía dưới tóm tắt, các tác giả phải ghi và xác định rõ từ 3 đến 10 từ hay câu ngắn để giúp cho việc chỉ số hoá bài báo dễ dàng hơn Các thuật ngữ này có thể được đăng cùng với phần tóm tắt Cần phải sử dụng các
từ trong danh sách của Index Medicus: “Medical Subject Headings (MeSH)”; nếu các từ muốn dùng không có trong danh sách này (MeSH), các thuật ngữ đơn giản có thể được sử dụng Phần đặt vấn đề
Xác định mục đích của bài báo và tóm tắt các cơ sở xuất phát của nghiên cứu hay của quan sát Chỉ trích dẫn các tài liệu tham khảo cần thiết nhất và không đưa vào các kết quả hay các kết luận sẽ được trình bày sau
Ph ng pháp
Mô tả phương thức chọn đối tượng của quan sát hay thí nghiệm (bệnh nhân hay động vật thí nghiệm bao gồm
cả nhóm chứng) Xác định tuổi, giới và các đặc điểm quan trọmg của đối tượng Việc định nghĩa và sử dụng các yếu tố về chủng tộc và dân tộc là quá mức cần thiết Các tác giả chỉ sử dụng các yếu tố này khi đặc biệt chú ý đến chúng
Xác định các phương pháp, các máy móc (tên và địa chỉ của nhà sản xuất trong ngoặc đơn), và các quy trình với chi tiết vừa đủ để cho phép người đọc có thể kiểm tra lại các kết quả Đưa ra các tài liệu tham khảo chỉ rõ các phương pháp thông dụng, bao gồm cả các phương pháp thống kê (xem dưới đây); đưa ra tài liệu tham khảo và mô tả ngắn khi phương pháp đã được xuất bản nhưng ít được biết tới; mô tả các phương pháp mới hoặc được cải tiến cơ bản, nói rõ lý do tại sao lựa chọn phương pháp đó và đánh giá các hạn chế của các phương pháp đó Định nghĩa và xác định cụ thể các thuốc và các chế phẩm hoá học cùng với tên khoa học, liều dùng và đường dùng
Các báo cáo của các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên phải đưa ra các thông tin về tất cả các yếu tố quan trọng của nghiên cứu bao gồm cả sơ đồ nghiên cứu (quần thể nghiên cứu, các thủ thuật hay trị liệu, các kết quả và lý do lựa chọn các thuật toán phân tích thống kê), cách thực hiện các nghiên cứu (phương pháp chọn ngẫu nhiên, sự phân nhóm điều trị) và phương pháp sử dụng để tạo ra sự vô danh (phương pháp mù) Các tác giả gửi bài đến các tạp chí đại cương phải có một đoạn mô tả các phương pháp xác định, chọn lựa, lấy và tổng hợp các kết quả Các phương pháp này phải được mô tả trong phần tóm tắt
Với những nghiên cứu trên người phải chỉ rõ xem việc nghiên cứu có tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức của Uỷ ban chịu trách nhiệm về thử nghiệm trên người (Uỷ ban của vùng hay của quốc gia) hay tuân theo tuyên bố Helsinki năm 1975, sửa đổi năm 1983 Không được sử dụng tên hoặc chữ viết tắt tên bệnh nhân hay số lưu trữ bệnh án của bệnh viện đặc biệt là trong các ảnh minh hoạ Với các thí nghiệm trên động vật, phải chỉ rõ
Trang 15xem các hướng dẫn của cơ sở hay của hội đồng quốc gia về nghiên cứu hay luật quốc gia về chăm sóc và
sử dụng động vật trong phòng thí nghiệm có được tôn trọng
Mô tả phương pháp thống kê với chi tiết vừa đủ để cho phép độc giả khi tham khảo số liệu nguyên thuỷ có thể kiểm tra các kết quả báo cáo Nếu có thể thì lượng hoá các kết luận và trình bày chúng cùng với các phương tiện thích hợp để đánh giá các sai sót về phép đo hay những chỗ không chắc chắn (ví dụ như khoảng tin cậy) Tránh việc đặt cơ sở tin tưởng trên một giả thiết thống kê duy nhất như là giá trị của p là cái không luôn luôn mang lại một thông tin định lượng quan trọng Trình bày tiêu chuẩn của các đối tượng nghiên cứu Đưa ra các chi tiết về cách chọn mẫu ngẫu nhiên Mô tả các phương pháp đảm bảo tính vô danh của các mẫu nghiên cứu Trình bày các biến chứng của việc điều trị Báo cáo số lượng các trường hợp nghiên cứu Trình bày số các trường hợp bị mất liên lạc trong quá trình theo dõi (như là những trường hợp loại ra khỏi nghiên cứu trong một thử nghiệm lâm sàng) Các tài liệu giúp cho việc đề ra nghiên cứu và các phương pháp thống kê phải được trích dẫn từ công trình chuẩn (với việc ghi rõ số trang) hơn là trong bài báo khi các ý tưởng hay phương pháp được trình bày sơ lược Trình bày rõ các chương trình tin học được sử dụng
Đặt phần mô tả chung của phương pháp trong phần phương pháp nghiên cứu Khi các số liệu được tổng hợp lại trong phần kết quả phải chỉ rõ phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích các kết quả đó Giới hạn
số lượng các bảng và biểu đồ ở mức tối thiểu để giải thích các luận điểm của bài báo và làm cho việc trình bày chúng dễ dàng hơn Hãy sử dụng các đồ thi thay vì các bảng với quá nhiều số liệu; đừng nhắc lại các số liệu đã đưa trong các bảng và biểu đồ Tránh dùng các thuật ngữ kỹ thuật thống kê với ý nghĩa không kỹ thuật như kiểu “bấp bênh” (muốn nói phương pháp ngẫu nhiên), “bình thường”, “rõ rệt”, “tương quan” hay “mẫu thử” Phải dịnh nghĩa các thuật ngữ thống kê, các chữ viết tắt và phần lớn các biểu tượng
Kt qu
Trình bày các kết quả một cách hợp lý trong bài, trong các bảng và các minh hoạ Đừng nhắc lại trong bài tất
cả các số liệu trong các bảng hay các minh hoạ; chỉ nêu giá trị hay tóm tắt các quan sát chủ yếu
Li cm n
Tại vị trí thích hợp trong bài báo (chú thích cuối trang đầu đề hay phụ lục cuối bài báo; tham khảo, theo quy định của báo), một hay nhiều thông tin phải được xác định: (a) những người đóng góp vào công trình đáng được cảm ơn nhưng chưa xứng để có một chỗ trong vị trí tác giả ví dụ như sự ủng hộ của chủ nhiệm khoa cho công trình; (b) lời cảm ơn cho các sự giúp đỡ về kỹ thuật; (c) lời cảm ơn cho các giúp đỡ về vật chất hay tài chính có ghi rõ bản chất của giúp đỡ và (d) các mối quan hệ có thể là nguồn gốc của những tranh chấp về quyền lợi
Những người tham gia về mặt khoa học vào công trình nhưng sự tham gia đó chưa đủ để có thể đứng vào hàng ngũ các tác giả phải được ghi nhận với sự xác định rõ chức năng hay sự đóng góp của họ: ví dụ “tư vấn khoa học”, “ đọc và cho ý kiến vào đề cương nghiên cứu”, “thu thập số liệu”, “tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng” Những người này phải cho phép thì mới được nêu tên họ Tác giả có trách nhiệm thu thập các bản cho phép đó của những người được cảm ơn vì người đọc thường cho rằng những người đó đã đồng ý vói các số liệu và các kết luận của bài báo
Những giúp đỡ về kỹ thuật cần được cảm ơn trong một đoạn riêng tách biệt với những lời cảm ơn cho các sự giúp đỡ khác
Trang 16TàI liu tham kho
Đánh số thứ tự các tài liệu tham khảo theo thứ tự tính cho lần xuất hiện đầu tiên trong bài Xác định các tài liệu tham khảo trong bài viết, trong các bảng hay các chú giải bằng chữ số ả rập trong ngoặc đơn Các tài liệu tham khảo được trích dẫn trong các bảng hay trong chú giải của các biểu đồ phải được đánh số tuỳ theo lúc
nó xuất hiện lần đầu trong phần bài viết liên quan tới bảng hay biểu đồ đó Sử dụng văn phong như trong các
ví dụ dưới đây, dựa trên cách viết của Thư Viện Y Học Quốc Gia Hoa Kỳ đăng trong Index Medicus Đầu đề của báo phải được viết tắt theo cách viết của Index Medicus Hãy tham khảo danh mục các báo được chỉ dẫn trong Index Medicus, do Thư Viện Quốc Gia xuất bản hàng năm và trong số tháng Giêng của Index Medicus Cũng có thể lấy danh mục này từ trên mạng Internet trong trang Web:
Hãy tránh dùng các tóm tắt của các hội nghị khoa học làm tài liệu tham khảo Khi tham khảo các tài liệu đã được chấp nhận nhưng còn chưa đăng phải ghi như sau: “đang in” hay “sẽ xuất bản”; tác giả phải nhận được
sự đồng ý bằng văn bản cho việc tham khảo các tài liệu đó và phải kiểm tra để chắc chắn tài liệu đó đã được chấp nhận đăng Các thông tin về các bài báo đã gửi đăng nhưng chưa được chấp nhận phải được trích dẫn trong bài như sau “quan sát không đăng báo” cùng với sự cho phép bằng văn bản ghi rõ nguồn gốc của nó Tránh tham khảo các “thông tin cá nhân” trừ khi các thông tin đó chứa đựng một thông tin chủ yếu mà không thể tìm thấy trên các phương tiện đại chúng; trong trường hợp này tên của người và ngày trao đổi thông tin phải được ghi rõ trong ngoặc đơn trong bài báo Tác giả phải kiểm tra tài liệu tham khảo bằng bản gốc Cách viết của “Quy định thống nhất” (cách viết theo nhóm Vancouver) đã được chấp nhận rộng rãi tuân theo cách viết thống nhất ANSI được Thư Viện Y Học Quốc Gia (NLM) chấp nhận sử dụng cho các cơ sở dữ liệu của
họ Có những chú thích được thêm vào để chỉ rõ sự khác nhau giữa cách viết theo Vancouver hay theo NLM
1 Bài báo trong báo định kỳ
Liệt kê 6 tác giả đầu tiên tiếp theo là chữ et al (Chú ý: NLM liệt kê tới 25 tác giả; nếu có nhiều hơn 25 tác giả, NLM liệt kê 24 tác giả đầu tiên, tác giả cuối cùng và sau đó là et al.)
Vega KJ, Pina I, Krevsky B Heart transplantation is associated with an increased risk for pancreatobiliary disease Ann Intern Med 1996 Jun 1;124 (11):980-3 Nếu một tạp chí đánh số trang liên tục theo tập (giống như phần lớn các báo y học), tháng và số có thể bị nhầm lẫn (Chú ý: Cách trình bày này sử dụng cho các ví
dụ của "Quy định thống nhất" NLM không sử dụng cách trình bày này)
Vega KJ, Pina I, Krevsky B Heart transplantation is associated with an increased risk for pancreatobiliary disease Ann Intern Med 1996;124:980-3
Khi có trên 6 tác giả được liệt kê:
Parkin DM, Clayton D, Black RJ, Masuyer E, Friedl HP, Ivanov E, et al Childhood leukaemia in Europe after Chernobyl: 5 year follow-up Br J Cancer 1996;73:1006-12
2 Cơ quan với tư cách là tác giả
The Cardiac Society of Australia and New Zealand Clinical exercise tress testing Safety and performance guidelines Med J Aust 1996;164:282-4
3 Tác giả khuyết danh
Cancer in South Africa [editorial] S Afr Med J 1994;84:15
4 Bài báo viết bằng ngôn ngữ không phải tiếng Anh
(Chú ý: NLM dịch đầu đề sang tiếng Anh, đặt phần dịch trong dấu móc và thêm vào chữ viết tắt chỉ ngôn ngữ nguyên thuỷ)
Ryder TE, Haukeland EA, Solhaug JH Bilateral infrapatellar seneruptur hos tidligere frisk kvinne Tidsskr Nor Laegeforen 1996;116:41-2
Trang 17Ozben T, Nacitarhan S, Tuncer N Plasma and urine sialic acid in non-insulin dependent diabetes mellitus Ann Clin Biochem 1995;32 (Pt 3):303-6
12 Ghi rõ lại bài báo khi cần
Enzensberger W, Fischer PA Metronome in Parkinson's disease [letter] Lancet 1996;347-1337
Clement J, De Bock R Hematological complications of hantavirus nephropathy (HVN) [abstract] Kidney Int 1992;42:1285
13 Bài báo có chứa một đoạn trích
Garey CE, Schwarzman AL, Rise ML, Seyfried TN Ceruloplasmin gene defect associated with epilepsy in EL mice [retraction of Garey CE, Schwarzman AL, Rise ML, Seyfried TN In: Nat Genet 1994;6:426-31] Nat Genet 1995;11:104
14 Bài báo được rút ra
Liou GI, Wang M, Matragoon S Precocious IRBP gene expression during mouse development [retracted in Invest Ophthalmol Vis Sci 1994;35:3127] Invest Ophthalmol Vis Sci 1994;35:1083-8
15 Bài báo có chứa một đính chính
Hamlin JA, Kahn AM Herniography in symptomatic patients following inguinal hernia repair [published erratum appears in West J Med 1995;162:278] West J Med 1995;162:28-31
(Chú ý: theo cách viết của hệ thống Vancouver thì việc dùng dấu phảy giữa tên nhà xuất bản và số chỉ ngày
là sai mà phải dùng dấu chấm phảy)
16 Tác giả với tư cách cá nhân
Ringsven MK, Bond D Gerontology and leadership skills for nurses 2nd ed Albany (NY): Delmar Publishers;1996
17 Ban biên tập hay người biên soạn với tư cách là tác giả
Norman IJ, Redfern SJ, editors Mental health care for elderly peaple New York: Churchill Livingstone;1996
18 Cơ quan với tư cách là tác giả và ban biên tập
Institute of Medicine (US) Looking at the furture of the Medicaid program Washington (DC): The Institute;1992
19 Chương trong một cuốn sách
(Chú ý: Cách viết của hệ thống Vancouver hay sử dụng dấu hai chấm hơn là dấu chấm trước số trang) Phillips SJ, Whisnant JP Hypertension and stroke: In: Laragh JH, Brenner BM, editors Hypertension: pathophysiology, diagnosis, and management 2nd ed New York: Raven Press;1995.p.465-78
20 Bản ghi nhớ của hội nghị
Trang 18Kimura J, Shibasaki H, edotors Recent advances in clinical neurophysiology; 1995 Oct 15-19; Kyoto, Japan Amsterdam: Elsevier 1996
21 Thông tin từ hội nghị
Bengtsson S, Solheim BG Enforcement of data protection, privacy and security in medical informatics In: Lun KC, Degoulet P, Piemme TE, Rienhoff O, editors
MEDINFO92 Proceeding of the 7th World Congress on Medical Informatics;1992 Sep 6-10;Geneva, Switzerland Amsterdam: North-Holland;1992.p 1561-5
22 Báo cáo khoa học hoặc kỹ thuật
Thực hiện với một hãng là nhà cung cấp tài chính hay nhà tài trợ:
Smith P, Golladay K Payment for durable medical equipment billed during skilled nursing facility stays Final report Dallas (TX): Dept of Health and Human Services (US), Office of Evaluation and Inspections;1994 Oct, Report No.: HHSIGOEI69200860
Thực hiện với một cơ quan bảo trợ:
Field MJ, Tranquada RE, Feasley JC, editors Health Services research: work force and educational issues, Washington: National Academy Press;1995 Contract No.: AHCPR282942008 Sponsored by the Agency for Health Care Policy and Research
23 Luận án
Kaplan SJ Post-hospital home health care: the elderly's access and utilization [dissertation] St Louis (MO): Washington Univ.:1995
24 Văn bằng
Larsen CE, Trip R, Johnson CR, inventors; Novoste Corporation, assignee Methods for procedures related
to the electrophysiology of the heart US petent 5,529,067 1995 Jun 25
25 Bài trong báo hàng ngày
Lee G Hospitalizations tied to ozone pollution: study estimates 50,000 admissions annually The Washington Post 1996 Jun 21;Sect A:3 (col 5)
26 Tư liệu nghe nhìn
HIV+/AIDS: the facts and the furture [videocassette] St Louis (MO): Mosby-Year Book;1995
27 Tư liệu pháp lý:
Luật dân sự:
Preventive Health Amendment of 1993, Pub L No 103-107 Stat 2226 (Dec 14,1993)
Dự án luật:
Medical Records Confidentiality Act of 1995, S 1360, 104th Cong., 1st Sess (1995)
Luật về các quy tắc liên bang:
Informed Consent, 42 C.F.R Sect 441.257 (1995)
Điều trần:
Increased Drug Abuse: the impact on the Nation's Emergency Rooms: Hearing before the Subcomm On Human Resources and Intergovernmental Relations of the House Comm On Gouvernment Operations, 103rd Cong., 1st Sess (May 26, 1993)
28 Bản đồ
North Carolina Tuberculosis rates per 100,000 population, 1990 [demographic map] Raleig: North Carolina Dept of Environment, Health, and Natural Resources, Div Of Epidemiology;1991
29 Kinh thánh
The Holy Bible King James version Grand Rapids (MI): Zondervan Publishing House;1995 Ruth 3:1-18
30 Từ điển và các tài liệu tham khảo tương tự
Stedman's medical dictionary 26th ed Baltimore: Williams & Wilkins; 1995 Apraxia; p 119-20
31 Tác phẩm kinh điển
The Winter's Tale: act 5, scence 1, lines 13-16 The comlete works of William Shakespeare London: Rex;
Trang 191973
32 Tài liệu đang in
(Chú ý: NLM hay dùng từ “sẽ đăng” vì một số tài liệu sẽ không được đăng.) Leshner AI Molecular mechanisms of cocaine addiction N Engl J Med In press 1997
T liu đIn t
33 Bài báo trong một tờ báo ở dạng điện tử
Morse SS Factors in the emergence of infectious diseases Emerg Infect Dis [serial online] 1995 Jan-mar [cited 1996 Jun 5];1(1):[24 screens] Available from: URL: http://www.cdc.gov/ncidod/EID/cid.htm
34 Bản chuyên khảo ở dạng điện tử
CDI, clinical dermatology illustrated [monograph on CD-ROM] Reeves JRT, Maibach H CMEA Multimedia Group, producers 2nd ed Version 2.0 San Diego: CMEA;1995
sử dụng các biểu tượng sau đây theo thứ tự: *,†,‡,Đ,**,††,‡‡, v.v…
Xác định các phép đo thống kê của các biến số như khoảng cách, loại và sai số chuẩn trung bình
Không sử dụng các dòng ngang và dọc bên trong bảng
Đảm bảo tất cả các bảng được sử dụng trong bài
Nếu bạn sử dụng các số liệu trong một công trình khác dù có được đăng hay không, phải được phép và cảm
ơn cũng như ghi rõ nguồn gốc
Việc sử dụng quá nhiều bảng so với độ dài của bài báo có thể gây ra những khó khăn cho việc sắp trang Tham khảp các số của tờ báo mà mình định gửi bài đăng để ước lượng xem có bao nhiêu bảng được sử dụng trên 1000 từ trong bài
Ban biên tập, khi chấp nhận một bài báo có thể yêu cầu rằng những bảng phụ thêm có chứa các thông tin phụ quan trọng nhưng quá dài để có thể in sẽ được lưu trữ trong một cơ sở lưu trữ, ví dụ như “National Auxilliary Publication Service” ở Hoa Kỳ hay sẽ được tác giả cung cấp khi có yêu cầu Các bảng này phải gửi kèm bài
để ban biên tập xem xét Các minh hoạ (biểu đồ)
Phải gửi toàn bộ các yếu tố của biểu đồ Biểu đồ phải được vẽ bởi các nhà chuyên nghiệp và chụp ảnh, các bản viết tay hay đánh máy không được chấp nhận Với các tranh vẽ, các hình X quang và các tư liệu khác, hãy gửi các phim chụp ảnh đen và trắng, chất lượng tốt, thường ở cỡ 127x173mm nhưng không bao giờ được vượt quá 203x254mm Các chữ, số và ký hiệu phải rõ ràng và có cỡ đủ để có thể nhìn được sau khi
đã thu nhỏ để in Các đầu đề và các phần giải thích cụ thể của các chú giải trong các minh hoạ không được nằm trong hình minh hoạ
Mỗi hình phải có một cái nhãn dán vào mặt sau trên đó ghi rõ số của hình, tên tác giả và chiều đặt hình Không được viết trực tiếp lên mặt sau hình cũng như không được vạch lên hay làm hỏng hình bằng các kẹp giấy Không được gấp hình cũng như dán hình lên bìa
Các ảnh chụp tiêu bản vi thể phải có thang chia độ ở trong Các dấu hiệu, mũi tên hay chữ cái dùng trong các ảnh vi thể phải tương phản
Với các ảnh chụp người, phải làm cho chủ thể không thể nhận ra được hoặc các ảnh phải kèm theo đồng ý
Trang 20bằng văn bản cho phép sử dụng (xem bảo vệ quyền của người bệnh)
Đánh số thứ tự các minh hoạ theo lần xuất hiện đầu tiên trong bài báo Nếu một minh hoạ đã xuất bản, phải cảm ơn nguồn cung cấp và gửi kèm cho phép bằng văn bản của người có quyền tác giả cho phép in lại Sự cho phép được yêu cầu độc lập với tác giả và nhà xuất bản, trừ những tư liệu về lĩnh vực công cộng
Với những minh hoạ màu, kiểm tra xem tờ báo có yêu cầu phim âm bản màu, giấy trong dương bản hay các phim màu Những khung đánh dấu vùng sẽ sử dụng của minh hoạ sẽ giúp cho ban biên tập Một số báo chỉ đăng những minh hoạ màu nếu tác giả chấp nhận trả tiền
Chú gii ca các minh ho
Đánh máy cách dòng chú giải của các minh hoạ trên một trang riêng, đánh số chúng bằng chữ số ả rập tương ứng với các minh hoạ Với các dấu hiệu, các mũi tên, các số hay chữ cái dùng để xác định các phần trong minh hoạ, phải giải thích chúng rõ ràng trong chú giải Giải thích các thang độ ở trong và ghi rõ các phương pháp nhuộm tiêu bản
Đ n v đo
Việc đo chiều dài, chiều cao, trọng lượng và thể tích theo hệ thống mét (mét, kilogam, lít) hoặc các hệ số của chúng
Nhiệt độ sử dụng hệ Celcius Huyết áp đo tính bằng milimét thuỷ ngân
Tất cả các đơn vị đo của các xét nghiệm máu và sinh hoá sử dụng theo hệ đơn vị quốc tế Các ban biên tập
có thể yêu cầu rằng các tác giả thêm các đơn vị vào trước khi đăng
Chữ viết tắt và ký hiệu
Chỉ được sử dụng các chữ viết tắt đã chuẩn hoá Tránh viết tắt trong đầu đề và trong tóm tắt Phải viết đầy
đủ thuật ngữ trước khi sử dụng chữ viết tắt lần đầu trong bài, chỉ trừ khi đó là một đơn vị đo quốc tế
Gửi bản thảo tới báo
Gửi đủ số bản thảo và minh hoạ theo yêu cầu trong một phong bì tốt, nếu cần cho thêm một tấm bìa để tránh gấp gãy các ảnh trong quá trình vận chuyển Cho các minh hoạ vào một phong bì tốt riêng biệt
Gửi kèm theo bản thảo một lá thư được ký bởi tất cả các đồng tác giả, nội dung gồm: (a) lưu ý về việc bài đã từng đăng trước đó, đăng đồng thời hay đã gửi đăng một phần công trình trong một tờ báo khác; (b) tình trạng các liên quan về tài chính hay liên quan khác có thể là nguồn gốc của các tranh chấp quyền lợi; (c) một bản cam đoan rằng bài báo đã được đọc và chấp nhận bởi tất cả các đồng tác giả, rằng các tiêu chuẩn để xác định tư cách tác giả trong tài liệu này được tuân thủ và ngoài ra mỗi tác giả đều đồng ý rằng bản thảo là kết quả của một công trình trung thực; (d) tên, địa chỉ và số điện thoại của tác giả là người liên lạc và là người sẽ chịu trách nhiệm liên hệ với các tác giả khác, chịu trách nhiệm xem lại bản thảo và sửa lỗi Bức thư này phải chứa đựng tất cả các thông tin cần thiết cho Ban biên tập như là thể loại bài mà bài báo sẽ gửi đăng trong tạp chí đó, chấp nhận chịu thanh toán tiền trả cho việc in các minh hoạ màu
Gửi kèm theo bản thảo bản sao của các giấy cho phép in lại một tư liệu đã xuất bản, cho phép sử dụng các hình minh hoạ, các yếu tố cho phép nhận diện người hay ghi tên các người cần cảm ơn
VIỆC TRÍCH DẪN BẢN QUY ĐỊNH THỐNG NHẤT
Có nhiều tờ báo đăng “Quy định thống nhất cho bản thảo gửi đăng trong các tạp chí y sinh học” và các địa chỉ kèm theo (nhiều trang web có đăng tài liệu này) Để trích dẫn ấn bản mới nhất của bản "Quy định thống nhất”, hãy tìm một ấn bản xuất bản sau ngày 1 tháng Giêng năm 1997
Trang 21Chương 1
PHƯƠNG PHÁP VIẾT BÁO KHOA HỌC
Cách viết một bài báo khoa học đồng thời vừa là yếu tố cơ bản, vừa là yếu tố phụ của nội dung bài báo Để
có thể hiểu rõ về sự tưởng như đối nghịch này, ta có thể ví cách viết như mặt kính của một bể nuôi cá cảnh, nội dung khoa học của bài báo như những con cá nuôi trong bể này (1) Lợi ích mà cách viết mang lại là rất quan trọng: nếu mặt kính của bể cá mờ đục thì không thể chiêm ngưỡng những gì chứa bên trong dù nó có đẹp đến đâu chăng nữa Tuy nhiên tự bản thân cách viết không mang lại mục đích vì chẳng ai ngắm một cái
bể cá chỉ vì cái mặt kính Học cách viết cũng giúp ta biết cách đọc tốt hơn Trên thực tế, một độc giả nắm được cách viết sẽ nhận ra dễ dàng lợi ích khoa học của một bài báo được viết chuẩn xác nghĩa là viết một cách chính xác, rõ ràng và súc tích Một bài báo không chính xác, tối nghĩa, với những chỗ lạc đề, sẽ làm cho người đọc phải mất một thời gian dài cố gắng, đôi khi một cách vô vọng, để tìm hiểu nội dung bài báo Hiểu biết những nguyên tắc viết bài báo khoa học cho phép người đọc loại bỏ ngay khi mới xem qua những bài báo không tôn trọng những nguyên tắc này Do đó người đọc sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian mà không sợ
bỏ sót một thông điệp khoa học ẩn chứa trong một bài báo trình bày tồi vì nguy cơ này rất thấp Kinh nghiệm cho thấy thường có sự đồng hành giữa nội dung và hình thức: "những gì người ta biết rõ thì sẽ được trình bày
rõ ràng" (2) Hệ quả là những gì không rõ ràng thường chứa đựng một lợi ích khoa học rất hạn chế
MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC VIẾT BÁO KHOA HỌC
Mục đích đặc trưng của việc viết báo y học là truyền đạt một thông điệp khoa học mà thể thức thường gặp là bài báo đăng kết quả nghiên cứu hay là "Bản báo cáo nghiên cứu" Mục đích này giải thích rõ cách viết bài báo khoa học phải là một kỹ thuật xuất phát từ khoa học chứ không xuất phát từ văn chương hay thơ ca Trên thực tế, việc viết báo khoa học được hướng dẫn bởi những nguyên tắc tự bản thân nó nói lên tính chặt chẽ khoa học Đó phải là những nguyên tắc xuất hiện dần, đáp ứng theo một logic chứ không phải là những giáo điều áp đặt Ví dụ, các tài liệu tham khảo phải được trình bày sao cho người đọc có thể tham chiếu dễ dàng nhất Điều này không tuân theo một quy tắc duy nhất: Có nhiều hệ thống tham khảo mà mỗi hệ thống đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng Tuy nhiên các tạp chí y học tìm cách tốt nhất để trình bày tài liệu tham khảo một cách hài hoà(3)
Mục đích thứ hai của cách trình bày một bản báo cáo khoa học không phải là một mục đích đặc biệt: đó là phải viết sao cho để bài báo được độc giả hưởng ứng Trong văn chương, mục đích này đạt được nhờ cốt truyện hấp dẫn, sự giàu có về từ vựng, văn phong của tác giả Trong khoa học, giá trị của nội dung khoa học
là trên hết Tuy nhiên sự xuất hiện ngày càng nhiều các tạp chí và bài báo y học làm cho người đọc phải chọn lựa nên đọc cái gì (4) Khi lợi ích khoa học tương đương nhau, chúng ta có xu hướng đọc các bài báo rõ ràng, chính xác, và súc tích hơn Do vậy, chúng ta chỉ đặt mua những tạp chí nào có những bài báo đáp ứng những nguyên tắc đó nhiều nhất Hơn nữa, thường những tạp chí có uy tín là nơi thu hút được những bài có giá trị Những tạp chí đó có nhiều khả năng chọn lựa bài: Tạp chí British Medical Journal nhận được khoảng
5000 bài báo gửi đăng một năm mà chỉ có 600 bài được đăng Một nửa số bài báo gửi đến thậm chí không nhận được sự phân tích tỷ mỷ vì đó không phải là những bài báo đăng kết quả nghiên cứu, hoặc quá chuyên sâu, tối nghĩa hoặc có giá trị tầm thường về mặt khoa học (5)
Ba tiêu chun cht lng mt bài báo khoa hc gm:
1) Giá trị khoa học;
2) Chất lượng của sự trình bày khoa học;
3) Sử dụng thành thạo thứ ngôn ngữ dùng viết bài báo
Rất tiếc một thực trạng đã xảy ra là sự xuất hiện bùng nổ các bài báo và tạp chí do sự cần thiết phải có danh mục công trình nghiên cứu, sự cần thiết phải đăng bài để có số lượng bài báo (6) Sự cần thiết phải đăng báo
dù với động cơ nào đi nữa đã làm xuất hiện cả những sự không trung thực Tháng 4 năm 1987 vấn đề này đã trở thành chủ đề một cuộc bàn luận ở Hội nghị khoa học Hoa Kỳ(7) Người ta đã đề nghị lập ra một uỷ ban kiểm tra và cả hình thức phạt trong trường hợp gian lận khoa học! Phương thuốc tốt nhất có lẽ là sự tiến bộ trong cách nhìn nhận của các thành viên các hội đồng thi hay các uỷ ban quy định số lượng bài báo Việc cho điểm đánh giá các tạp chí khoa học có thể là một cách xác định giá trị các tạp chí nào chỉ nhận đăng các bài báo có chất lượng Trường đại học Y Havard đã đề nghị một biện pháp phòng ngừa có tính hiện thực: Trường này yêu cầu các ứng viên dự tuyển chỉ xuất trình một số lượng hạn chế các công trình của họ: 7 công trình với ứng viên cho vị trí phó giáo sư, 10 công trình cho vị trí giáo sư (7) Cũng với tinh thần đó mà người ta yêu cầu các ứng viên cho giải thưởng Nobel hay Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ chỉ trình tối đa 12 công trình (8) Nhưng đối với hội đồng xét duyệt thì đếm đầu các bài báo dễ hơn là đọc bài báo đó (9)
VIẾT BÁO KHOA HỌC VÀ VIỆC SỬ DỤNG TỐT NGÔN NGỮ
Trang 22Các nguyên tắc viết một bài báo khoa học trong bất cứ trường hợp nào cũng không bỏ qua việc tôn trọng các quy tắc ngữ pháp dù viết ở ngôn ngữ nào chăng nữa Sự trộn lẫn giữa việc viết báo khoa học với việc sử dụng không tốt ngôn ngữ thể hiện sự lẫn lộn hoàn toàn giữa hai khái niệm khác nhau: Nguyên tắc viết bài và ngữ pháp Ví dụ: thật là kỳ lạ khi Ban biên tập của một tạp chí lại có thể bảo vệ được văn phong y học của ngôn ngữ trong khi chấp nhận đăng một bài báo có những câu không thể hiểu được đại loại như: “chỉ có thể nghĩ tới một carcinome epidermoide tiên phát và một Sarcome là chẩn đoán vì bệnh phẩm phẫu thuật đã bị làm hỏng do điều trị coban trước đó”
Khi một tác giả băn khoăn về cách viết một câu, một đoạn hay một chương nào đó, người đó phải trả lời được 3 câu hỏi sau đây:
1) Dạng thức nào thích hợp nhất với ý tưởng và hiện tượng mà ta muốn trình bày?
2) Kiểu diễn đạt nào là đơn giản và rõ ràng nhất cho người đọc?
3) Kiểu diễn đạt nào súc tích nhất?
Ba câu hỏi này có tầm quan trọng giảm dần: Đừng hy sinh sự chặt chẽ cho lối hành văn sáng sủa cũng như không hy sinh sáng sủa cho sự súc tích
HỌC CÁC NGUYÊN TẮC PHỔ BIẾN TOÀN CẦU TRONG VIẾT BÁO KHOA HỌC
Các nguyên tắc viết báo khoa học không phải là tự nhiên mà có: Để biết đọc thì chỉ biết các chữ cái thôi chưa đủ; cũng như vậy, để viết đúng một bài báo khoa học thì việc biết viết bằng một thứ ngôn ngữ nào đó vẫn chưa đủ Vì vậy việc học những nguyên tắc viết báo khoa học dù rất đơn giản là cần thiết
Việc cần thiết phải dạy những nguyên tắc này đã được đặt ra từ lâu ở nhiều nước (10) Ví dụ ở Hoa Kỳ, những khoa giảng dạy phương pháp viết báo khoa học đã được thành lập ở các trường đại học: L Debakey lãnh đạo khoa thông tin khoa học (11) tại trường đại học Y Baylor ở Houston, F.P Woodford đã sáng lập chương trình giảng dạy 18 tháng cho các biên tập viên khoa học chuyên nghiệp (12) tại trường đại học Rockerfeller ở New York Tại Mayo Clinic ở Rochester đã tổ chức chương trình giảng dạy về viết báo khoa học cho sinh viên và các thầy thuốc (13) Khoa xuất bản y học giúp các thầy thuốc viết các công trình ngay từ khi có ý tưởng Cách làm này là sự bổ sung tốt nhất cho việc giảng dạy lý thuyết (14)
Ở Anh cách viết công trình khoa học đã được dạy ở Viện khoa học và kỹ thuật Cardiff Những chương trình giảng dạy tích cực đã được tổ chức dưới sự lãnh đạo của S Lock, "biên tập viên" của tạp chí British Medical Journal (15)
Ở Pháp, G P Revillard đã nêu lên sự cần thiết phải giảng dạy về kỹ thuật viết các bản thu hoạch nghiên cứu trong chương trình học sau đại học "3ème cycle" (16) Năm 1975, J A Farfor đã đề nghị thành lập một tổ chức giảng dạy cách viết công trình y học ở ba mức độ (1,17): 1) Một đợt giảng có thời lượng vài giờ cho sinh viên y khoa năm thứ nhất hay thứ hai để giúp họ viết một bệnh án và trả lời các câu hỏi thi; 2) Một khoá học từ bốn đến sáu buổi rưỡi cho các sinh viên đại học năm thứ ba giúp họ viết luận án và nhất là các bản tóm tắt nghiên cứu; 3) Một khoá giảng sâu hơn nhiều dành cho các bác sĩ khi họ hợp tác với ban biên tập các tạp chí y học Mặc dù khá muộn màng so với các nước khác, việc giảng dạy về phương pháp viết công trình y học đã được bắt đầu nhờ những ý tưởng của từng cá nhân, nhất là ở Paris, Tours, Nantes, Angers, Lille Các
ý tưởng này đã tập hợp lại năm 1987 bằng việc thành lập Hội phát triển giảng dạy và nghiên cứu về viết công trình khoa học y học (Association pour le developpement de l'enseignement et de la rechercher en rédaction médical - ADERREM)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Farfor JA Enseigner la rédaction médicale Chapitre II La structure du compte rendu de recherche Cah
Med 1976;2:783-5
2 Boileau-Despréaux N L'art poétique Chant I In: (Euvres, nouvelle édition Paris: Billiot, 1726:7-33
3 International Committee of Medical Journal Editors Uniform requirements for manuscrips submitted
to biomedical journals N Engl J Med 1997;336:309-15 (traduction fran†aise voire page 149)
4 Department of Clinical Epidemiology and Biostatistics, McMaster University Health of Science How to read clinical journals: I Why to read them and how to start reading them critically Can Med Assoc
J 1981;124:555-8
5 Smith R Steaming up windows and refereeing medical papers Br Med J 1982;285:1259-61
6 Garfield E In thuth, the “flood” of scientific literature is only a myth Scientist 1991;2:11-25
7 Angell M, Relman AS Fraud in biomedical research A time for congressional restraint N Engl J Med
Trang 231988;318:1462-3
8 Stossel TP Volume: papers and academic promotion Ann Intern Med 1987;106:146-8
9 Stetten D Publication: numbers and quality Science 1986;232:4746
10 Farfor JA Pour une réhabilitation de la presse médicale fran†aise: à quand la fin de
l'amateurisme? Cah Med 1977;3:683-7
11 DeBakey L The scientific journal: editorial policies and pratices: guidelines for editors, reviewers, and
subauthors In collaboration with PF Cranefield et al St Louis: Mosby, 1976,129p
12 Woodford FP Training professional editors for scientific journals Scholarly Publishing 1970;2:41-6
13 Roland CG, Cox BG A mandatory course in scientific writing for undergraduate medical students J Med
Educ 1976;51:89-93
14 Cox BG The author's editor Mayo Clin Proc 1974;49:314-7
15 Lock S Introduction (à l'enseignement de la rédaction médicale) Cah Med 1976;2:630-2
16 Revillard JP Pour un enseignement de l'expession médicale et scientifique La rédaction d'un article
Lyon Médical 1970;224:1-9
17 Farfor JA Pourquoi la recherche médicale fran†aise est-elle sous-estimatée dans les pays de langue
anglaise? Cah Med Lyonnais 1975;51:11-4
18 Huguier M, Poitout D Diplôme d' études approfondies en sciences chirurgicales Ann Chir
1986;40:449-53
Trang 24Chương 2
CÁC DẠNG BÀI VIẾT VÀ BÀI BÁO TRONG Y HỌC
Sự đa dạng của các bài viết và bài báo trong y học là để đáp ứng với sự đa dạng về mục đích của chúng Các tạp chí y học cho phép các tác giả trình bày theo ít nhất tám cách khác nhau, mỗi cách tương ứng với một dạng bài báo đã được xác định Hệ quả là việc xếp loại các bài báo trong y học thành các dạng khác nhau mang lại cho người đọc thông tin về mục đích chung của bài báo, như vậy hướng người đọc chọn lựa ngay từ đầu
Các dng bài vit và bài báo khác nhau trong y hc:
Bài đăng công trình nghiên cứu (article original)
Bài xã luận (editorial)
Thông báo lâm sàng (cas clinique ou fait clinique)
Thư gửi Ban biên tập ( lettre à la rédation)
Tổng quan (revue generale)
Hiệu chỉnh (mise au point)
Phân tích bình luận (analyse commentée)
Bài giảng (article didactique)
Sách (livres)
Luận án bác sỹ y học, khi trình bày một công trình nghiên cứu phải được viết như một bài báo khoa học, nghĩa
là như một bài đăng công trình nghiên cứu
Mỗi dạng bài báo có điểm đặc trưng riêng Việc không tuân thủ những đặc điểm này thể hiện sự thiếu nghiêm túc của người viết
BÀI ĐĂNG CÔNG TÌNH NGHIÊN CỨU
Đây là bài báo nguyên thuỷ còn gọi là khoá luận hay báo cáo khoa học ở một số tạp chí, trình bày một công trình nghiên cứu theo một chủ đề nào đó Các tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, đưa ra các kết quả nghiên cứu của mình và bàn luận về các kết quả đó
Cấu trúc một bài báo nghiên cứu là sự lặp lại một cách máy móc vì nó là kết quả của logic khoa học Phần Đặt vấn đề phải nói rõ tại sao công trình được thực hiện Phần Tư liệu và phương pháp nghiên cứu phải chỉ
ra công trình được thực hiện thế nào Phần kết quả mô tả những gì đã nhận thấy và chỉ những gì đã nhận thấy Ngược lại phần Bàn luận hay bình luận có thể viết tự do hơn, mặc dù vẫn phải tôn trọng những nguyên tắc chung Tài liệu tham khảo giúp để chứng minh những điều các tác giả khẳng định, chủ yếu ở phần đặt vấn
đề và phần bàn luận Cấu trúc này phù hợp với một logic chứ không phải với một sự giáo điều áp đặt Bài báo nghiên cứu cũng khác với bài giảng ở chỗ mục đích của bài giảng là giảng dạy cho người đọc Việc nhầm lẫn giữa các thể loại thể hiện sự thiếu chặt chẽ trong việc viết bài báo Cấu trúc một bài báo nghiên cứu thường được gọi là IMRAD (1) Nó có nghĩa là: I = Introduction = Đặt vấn đề, M = Matériel et méthodes = Tư liệu và phương pháp, R = Résultats = Kết quả, A = and = và, D = Discussion = Bàn luận
Cu trúc mt bài báo nghiên cu (gi là cu trúc IMRAD)
Tên bài báo và tóm tắt
Tài liệu tham khảo
Hai sai lầm lớn nhất và thường gặp nhất là: thứ nhất là đặt trong một chương những vấn đề không có vị trí ở
đó như đưa nhận xét vào chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu hay chương Kết quả, mô tả đối tượng nghiên cứu trong chương Kết quả Sai lầm thứ hai là biến một phần hay toàn bộ chương Bàn luận thành một bài giảng sư phạm (2)
Trang 25BÀI XÃ LUẬN
Bài xã luận thường được Ban biên tập của một tạp chí yêu cầu một tác giả có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn đó viết Tác giả tự do bày tỏ quan điểm, phân tích các công trình nghiên cứu đã xuất bản, đưa ra các giả thuyết hoặc đề xuất những nghiên cứu mới Vì lý do đó, tác giả của bài xã luận khi viết không phải tuân theo cấu trúc IMRAD Định nghĩa về bài xã luận cho thấy nó chỉ do một tác giả viết Một bài xã luận phải ngắn vào khoảng 6 trang đánh máy Trong một bài xã luận nên tránh đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể Tác giả cần giữ một thái độ phê phán đối với các kết quả nghiên cứu của riêng mình Bài xã luận là một dạng bài báo y học rất cụ thể: Các kết quả thống kê cho thấy đó là loại bài được đọc nhiều nhất trong các tạp chí y học nổi tiếng (3) Trên thực tế với tư cách là người đọc, cách rất tốt để tạo ra quan điểm về một vấn đề là đọc bài xã luận về vấn đề đó Một bài xã luận có thể có cùng chủ đề với bài nghiên cứu trong cùng một số của tạp chí,
đó là dạng bài xã luận "chủ đề"
THÔNG BÁO LÂM SÀNG
Thông báo lâm sàng có mục đích trình bày một bệnh án và bình luận ngắn về bệnh án đó Vì lý do đó độ dài bản thảo không nên vượt quá 4-6 trang đánh máy Thông báo lâm sàng phải đưa ra các thông tin độc đáo về sinh bệnh học, lợi ích của quá trình chẩn đoán hay điều trị một bệnh lý nào đó Các tạp chí nổi tiếng có một chính sách rất chặt chẽ trong việc đăng các thông báo lâm sàng Chính sách này là do có rất nhiều thông báo lâm sàng được gửi tới Không phải bao giờ cho đăng những trường hợp hiếm gặp cũng có ích, thường vì đó
là những trường hợp không có lợi ích rõ ràng về tính sư phạm (4) Việc viết một thông báo lâm sàng nên tránh hai xu hướng: Từ một trường hợp đã gặp làm một điểm báo y học hay viết một bài giảng dưới vỏ bình luận một bệnh án
Thảo luận giải phẫu bệnh-lâm sàng gần với dạng thông báo lâm sàng (5) Việc này được thực hiện bởi một hay nhiều bác sĩ thảo luận những vấn đề về chẩn đoán hay điều trị đặt ra nhân một trường hợp bệnh nhân Thảo luận giải phẫu bệnh-lâm sàng là một bài báo có tính giảng dạy mà một minh họa là mục "Bệnh án lâm sàng" hay “Thảo luận lâm sàng - giải phẫu bệnh” của Bệnh viện Trung tâm Masachussets được đăng hàng tuần trong tạp chí New England Journal of Medicine (6) Tại Pháp, có những tạp chí đăng thường kỳ những bài thảo luận giải phẫu bệnh-lâm sàng
Thảo luận lâm sàng giống như thảo luận giải phẫu bệnh-lâm sàng, trình bày những vấn đề về chẩn đoán và điều trị của một bệnh án lâm sàng Khác với thảo luận giải phẫu bệnh-lâm sàng mà mỗi phần được thảo luận bởi một chuyên gia khác nhau (5), thảo luận lâm sàng là một dạng bài báo giảng dạy, cập nhập một vấn đề qua một bệnh án cụ thể được trình bày Dạng thảo luận lâm sàng được đăng thường kỳ trong tạp chí Annals
of Internal Medicine
Đôi khi có người chỉ trích dạng thông báo lâm sàng (6,7) Tuy nhiên khi nó có chất lượng tốt thì lại mang lại rất nhiều kết quả bởi vì 56% độc giả của tạp chí New England Journal of Medicine nói rằng họ đọc ít nhất ba lần một tháng mục "Bệnh án lâm sàng" trong báo này (8) Vì vậy Ban biên tập các tạp chí y học nên khuyến khích đăng dạng bài này với điều kiện phải kiểm soát chất lượng (4)
THƯ GỬI BAN BIÊN TẬP
Thư gửi Ban biên tập là một bức thư gửi cho Ban biên tập của một tạp chí với mục đích được đăng trên tạp chí đó Nội dung của thư gửi Ban biên tập có thể là một thông báo lâm sàng ngắn hoặc các kết quả bước đầu một công trình nghiên cứu hay có thể là lời bình luận về một bài báo đã đăng trước đó trong chính tạp chí đó Thư gửi ban biên tập phải ngắn, ít hơn hai trang đánh máy và có dưới sáu tài liệu tham khảo
Các kết quả trình bày trong thư gửi Ban biên tập có thể sẽ được đăng sau này một cách chi tiết hơn Thư gửi Ban biên tập cho phép các tác giả tính ngày công bố nếu công trình không đăng hay chỉ được thảo luận miệng Lợi điểm của thư gửi ban biên tập là nó được đăng nhanh sau khi được Ban biên tập chấp nhận, thường chỉ trong vòng vài tuần, trong khi muốn đăng một công trình nghiên cứu thì thời gian chờ đợi là vài tháng thậm chí một năm hoặc hơn
Thư gửi Ban biên tập có thể là lời trả lời, một bình luận hay có thể là một quan điểm ngược lại với một bài báo
đã đăng trước đó trong cùng tạp chí (9) Khả năng trao đổi này giữa các tác giả và người đọc là một thói quen rất được ưa chuộng ở các tạp chí Anh-Mỹ (9) đã phát triển trong các tạp chí tiếng Pháp Có những tạp chí chỉ chấp nhận loại thư gửi Ban biên tập kiểu này mà thôi
TỔNG QUAN
Trang 26Bài tổng quan là một bài điểm lại một cách đầy đủ nhất có thể được những hiểu biết về một chủ đề xuất phát
từ việc phân tích toàn bộ mọi mặt các công trình đã đăng Trong phần tài liệu tham khảo có thể dẫn hàng vài trăm tài liệu Một bài tổng quan tốt phải đáp ứng được những yêu cầu sau (10): 1) chỉ hướng tới một chủ đề
cụ thể đã được trình bày rõ ở phần mở đầu 2) trình bày những nguồn tài liệu đã được sử dụng để thu thập thông tin và chỉ rõ những tiêu chuẩn nào để sử dụng tài liệu trong số những tài liệu đã đọc, ví dụ như tác giả một bài tổng quan về điều trị một bệnh chỉ lấy những nghiên cứu tiền cứu có kiểm chứng 3) phân tích phương pháp luận và giá trị của các kết quả thu được trong các công trình khác nhau được sử dụng trong bài 4) trình bày tóm tắt trong những đoạn cuối của bài tổng quan những số liệu và kết quả có giá trị nhất và gợi ý những hướng nghiên cứu cho các công trình trong tương lai Người đọc nhờ vậy nhận được một cái nhìn tổng thể bao quát về một vấn đề cả về mặt lịch sử và triển vọng mở ra từ đó
HIỆU CHỈNH
Hiệu chỉnh là một thể loại nằm giữa hai thể loại có tính hoàn chỉnh hơn là bài xã luận và bài tổng quan Người viết bài này phải là tác giả của những công trình chủ yếu trong vấn đề đó Bài này cũng giống như bài xã luận thường được viết theo yêu cầu của Ban biên tập một tạp chí
Bài hiệu chỉnh có nội dung tập trung vào một chủ đề hạn hẹp xuất phát từ những bài báo đăng trong những năm gần đây và từ kinh nghiệm bản thân của tác giả Sự khác biệt giữa hai nguồn thông tin này phải thể hiện
rõ ràng Ngay từ phần đặt vấn đề, các tác giả phải giải thích bài hiệu chỉnh được viết bởi lý do gì Trong phần nội dung chính của bài báo phải tránh việc chỉ đơn giản sắp xếp các kết quả trái ngược cạnh nhau mà phải đưa ra sự giải thích các điều trái ngược, quan điểm cá nhân của tác giả, đưa ra gợi ý giải quyết những điểm bất đồng để cho phép người đọc có thể tự sàng lọc những quan niệm của họ về chủ đề đó Tài liệu tham khảo nên chọn lọc và chỉ giới hạn ở vài chục tài liệu
BÀI ĐIỂN HÌNH
Bài điểm bình có nội dung là phân tích và bình luận về những bài báo xuất hiện trong những tháng gần đây trong những tạp chí khác Tốt nhất là bài này do một tác giả hiểu biết sâu về chủ đề đó viết Bài dạng này chỉ nên có 2-3 trang đánh máy và bao gồm hai phần: Phần đầu tóm tắt bài báo với sự tham khảo phần tóm tắt của các tác giả, phần thứ hai là phần bình luận và phê phán về giá trị của các kết quả và những điều mà kết quả đó mang lại cho sự hiểu biết về chủ đề Sự xuất hiện của phần bình luận bộc lộ nhân thân tác giả Một vài tài liệu tham khảo, thường là khác với những tài liệu được dẫn trong bài báo được điểm có thể làm nòng cốt cho phần bình luận
Loại bài này rất được độc giả quan tâm Có những tạp chí chỉ đăng những bài điểm bình, thậm chí có cả những cuốn sách xuất bản thường kỳ đăng loạt bài này như cuốn "Year Books"
BÀI GIẢNG
Mục đích của bài giảng là giảng dạy cho người đọc như chính tên của loại bài này chỉ ra Một bài giảng đòi hỏi phải chuyên sâu về vấn đề và có khả năng mang lợi ích cho tất cả mọi độc giả muốn tìm hiểu về chủ đề đó,
dù đó là người chưa biết gì hay chỉ biết một phần vấn đề
Kèm theo bài giảng có phần hướng dẫn đọc sách gọi là phần danh mục tài liệu liên quan dành cho những ai muốn biết sâu hơn về chủ đề Danh mục tài liệu khác tài liệu tham khảo Tuy nhiên một bài giảng, ngoài danh mục tài liệu liên quan còn có thể có tài liệu tham khảo là những tài liệu làm nòng cốt cho bài viết và được trích dẫn trong bài
LUẬN ÁN BÁC SỸ
Luận án bác sỹ thường là dịp đầu tiên sinh viên tiếp xúc với việc viết báo y học Mục đích của một luận án phải được xác định một cách cẩn thận trước khi bắt tay vào thực hiện: tra cứu hàng chục hay hàng trăm tài liệu để rồi sau đó tự hỏi có thể rút ra những cái gì là trái ngược với việc đáng phải làm Mục đích của một luận
án cũng như tất cả các công trình khoa học là trả lời câu hỏi được đặt ra một cách rõ ràng Việc bảo vệ luận
án phải là việc trình bày một công trình nghiên cứu cá nhân và những ảnh hưởng mà công trình đó tạo ra
Một luận án vì vậy phải được trình bày theo cấu trúc của một công trình nghiên cứu: Đặt vấn đề, Đối tượng và phương pháp, Kết quả, Bàn luận và Tài liệu tham khảo Cách thức viết một luận án như vậy giúp cho sau này
dễ dàng đăng công trình trong một tạp chí dưới dạng một bài báo nghiên cứu, đó là cách duy nhất để thông
Trang 27báo các kết quả của công trình Trong thực tế, rất nhiều tạp chí y học từ chối chấp nhận khi đưa một luận án vào phần tài liệu tham khảo một bài báo vì đó là một công trình khó tiếp cận cho những ai không sống ở thành phố có trường đại học mà luận án đó được bảo vệ và càng khó hơn cho các người đọc ở nước ngoài khi muốn tham khảo tài liệu đó
TÀI LIỆU THAM KIHẢO
1 Farfor JA Enseigner la rédaction médicale Chapitre II La structure du compte rendu de recherche Cah
Med 1976;2:783-5
2 Huguier M, Molkhou JM La rédaction médicale Gastroenterol Clin Biol 1986;10:29-33
3 Morgan PP Scientific editorials A precious and scarce element in medical journals Can Med Assoc J
1985;132:315
4 Amsler R De l'honnêteté fondamentale des publications médicales Concours Médical 1971;93:647-50
5 Pariente A Le cas clinique est-il un genre désuet? Ann Gastroenterol Hepatol (Paris) 1987;23:1
6 Relman AS Are the case records obsolete? N Engl J Med 1979;301:1112-3
7 Lipkin M The CPC as an anachronism N Engl J Med 1979;301:1113-4
8 Scully RE In defence of the CPC N Engl J Med 1979;301:1114-6
9 Morgan PP How to write a letter to editor that the editor will want to publish Can Med Assoc J
1985;132:1344
10 Murlow CD The medical review article: state of the science Ann Intern Med 1987;106:485-8
Trang 28CHƯƠNG 3:
VĂN PHONG
Văn phong tốt nhất cho một bài báo khoa học là không có văn phong (1): Ba yếu tố cơ bản nhất của một bài báo khoa học là chính xác, rõ ràng và ngắn gọn Cách viết một bài báo khoa học tự bản thân nó thể hiện tính chặt chẽ khoa học Nó khác biệt một cách cơ bản với văn phong trong văn chương
CÁCH VIẾT TRONG KHOA HỌC KHÁC VỚI CÁCH VIẾT TRONG VĂN CHƯƠNG
Nền văn hoá và việc học ở nhà trường đã ảnh hưởng tới việc viết văn trong khoa học và có lẽ đã có ảnh hưởng xấu tới việc đó Trên thực tế việc viết văn trong khoa học y học có những điểm đặc biệt biểu hiện ở nhiều nguyên tắc: sử dụng tốt thì của động từ, loại bỏ những kiểu diễn đạt hoa mỹ, những biểu hiện có tính cảm tính, những thể bị động không cần thiết
Việc sử dụng đúng thì của động từ
Tính logic khoa học đòi hỏi sử dụng thì quá khứ cho tất cả những hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ và chỉ
sử dụng thì hiện tại trong những trường hợp được xác định Như vậy, trong một bài báo nghiên cứu, thì quá khứ phải được dùng cho tất cả những gì liên quan tới kinh nghiệm cá nhân của các tác giả bởi vì những cái
đó đã xảy ra trong quá khứ dù chỉ mới vừa xảy ra: cách thức tiến hành nghiên cứu (tư liệu và phương pháp), những cái nhận được (kết quả) Thì quá khứ cũng phải được dùng cho tất cả những điều xuất phát từ kinh nghiệm của các tác giả khác, cả ở phần đặt vấn đề cũng như ở phần bàn luận
Khi viết trong khoa học, việc sử dụng thì hiện tại tường thuật cho những sự kiện xảy ra trong quá khứ thường dẫn tới sự không logic trong dạng thức: “bệnh nhân đang đến bệnh viện ngày 15 tháng 9 năm 1983” (sử dụng thì động từ thời hiện tại cho một hiện tượng đã xảy ra nhiều năm trước Một cuộc phẫu thuật đã được thực hiện Khi mổ "đang" tìm thấy một khối u (nhận xét như trên) và khối u này đã được cắt bỏ Bệnh nhân "sẽ" được xuất viện (động từ ở thì tương lai cho một sự kiện trong quá khứ) ngày thứ tám sau mổ”
Hơn nữa, việc sử dụng thì hiện tại để mô tả những hiện tượng trong quá khứ là nguồn gốc của sự phóng đại: một khẳng định kiểu như "những cystadenomes của tuỵ được quan sát thấy ở phụ nữ từ 40 đến 60 tuổi" là muốn nói đến kinh nghiệm cá nhân của tác giả hay là số liệu trong y văn? Nếu là để nói tới kinh nghiệm cá nhân của tác giả thì phải chia động từ ở thì quá khứ Nếu là để nói đến những điều đã biết trong y văn thì phải chia ở hiện tại Khi đọc một câu viết "Tất cả những bệnh nhân bị ung thư tuyến tuỵ khi có di căn hạch đã chết trong vòng 5 năm" người đọc sẽ hiểu rằng đó là kinh nghiệm của bản thân tác giả Ngược lại khi viết "Tất cả bệnh nhân ung thư tuỵ chết trong năm năm" là muốn nói tới một điều đã được tất cả mọi người biết Vì vậy cần khẳng định điều này bằng một hay các tài liệu tham khảo
Các diễn đạt văn hoa
Chúng ta đã được học để không dùng một từ nhiều lần sát nhau, ngoại trừ khi muốn tạo ra những tác dụng lặp lại Vì vậy ta được khuyên tìm các diễn đạt hoa mỹ bằng cách dùng các từ đồng dạng
Ngược lại, tính logic của việc viết báo khoa học đòi hỏi sử dụng cùng một từ để chỉ một hiện tượng (1,2) Việc
sử dụng trong một bài báo các từ "sốt", "sốt nhẹ", "thay đổi nhiệt độ", "tăng nhiệt độ" làm người đọc phải tự hỏi tại sao tác giả không sử dụng một từ duy nhất và cố đi tìm nguyên nhân của việc dùng các từ khác nhau
do trong thực tế y học các từ này có ý nghĩa khác nhau Việc cấm sử dụng các dạng diễn đạt hoa mỹ bắt buộc tác giả phải chọn lựa trong số những từ có nghĩa gần nhau từ nào phù hợp nhất với hiện tượng quan sát thấy và sau đó chỉ sử dụng duy nhất từ đó cả trong bài báo lẫn trong tất cả các bảng hay chú thích của các minh hoạ Trong một bài báo thuộc ngành giải phẫu tạo hình, một độc giả khi đọc bài báo có các cụm từ "vạt
có cuống của phần dưới cơ thang hay "phần chính dưới cơ thang", nếu không phải là nhà giải phẫu học sẽ không biết đó chỉ là một cơ và một nhà giải phẫu sẽ tự hỏi tại sao tác giả không sử dụng theo danh pháp quốc
tế
Những diễn đạt cảm tính
Ngôn ngữ trong văn chương chấp nhận và đôi khi tìm kiếm những biểu đạt có tính cảm tính Điều đó không có bất cứ vị trí nào trong văn phong khoa học Tại sao lại viết "sau nhiều giờ cố gắng vất vả chúng tôi đã tham gia một cách vô vọng vào sự tiến triển của "mà không viết là "bệnh nhân đã chết" Liệu chúng ta có thấy lợi
Trang 29ích gì cho người đọc khi viết một câu như: "chúng tôi biết rõ là những bệnh nhân sau mổ bệnh cường tuyến cận giáp mà có biến chứng về tiết niệu thì tiên lượng bệnh rất nặng, tuy nhiên những biến chứng đó đòi hỏi chúng tôi phải cố gắng rất nhiều" Độc giả không quan tâm tới những cố gắng của bạn Cũng với lý do như vậy, tốt nhất đừng sử dụng những cách diễn đạt có tính xã giao như kiểu "nhờ sự giúp đỡ của người bạn đồng nghiệp tuyệt vời và bạn của chúng ta, bác sỹ X" Nếu bạn muốn cảm ơn bác sỹ X đã gửi bệnh nhân cho bạn, đã đọc xét nghiệm này hay xét nghiệm khác, đã đọc lại và cho ý kiến về bản thảo của bạn, hãy cảm ơn ông ấy ở cuối bài báo bằng một phụ chương có tên là cảm ơn Hãy viết ở đó: "Chúng tôi cảm ơn bác sỹ X đã đọc các phim chụp cắt lớp vi tính"
Trong một bài báo khoa học
Hãy nhắc lại cùng một từ để chỉ cùng một sự vật, không nên sử dụng các danh từ tương tự như :
Sốt, nhiệt độ cao, hơi sốt, tăng nhiệt độ, tình trạng sốt
47%, gần một nửa, một nửa, vào khoảng 1 lần trên hai
Ung thư, u, adenocarcinome, tổ chức tân tạo
Loại bỏ các diễn đạt cảm tính
"Chúng tôi đã phát hiện "
"Không may, may mắn "
"Chúng tôi rất ngạc nhiên nhận thấy rằng "
"Chúng tôi đã ngạc nhiên "
"Rất hay, rất ấn tượng, thất vọng "
Việc sử dụng chủ từ "tôi" hay "chúng tôi" không được gây ra sự mơ hồ Trong viết báo khoa học không còn vị trí cho sự khiêm tốn hay cho các cách diễn đạt cảm tính khác (1) Tốt nhất hãy viết: "chúng tôi đã khám 10 bệnh nhân" hay "tôi đã khám" tuỳ theo có một hay nhiều tác giả
SỰ CHÍNH XÁC THỂ HIỆN TÍNH NGHIÊM TÚC KHOA HỌC
Tính nghiêm túc khoa học phải đặt dấu ấn trên một công trình khoa học từ khi chuẩn bị cho tới khi thực hiện giai đoạn cuối cùng là viết bài báo Hậu quả là nếu không cẩn thận khi soạn thảo bài báo sẽ dẫn đến việc độc giả sẽ hỏi là công trình được thực hiện với mức độ nghiêm túc như thế nào Sự chính xác là biểu hiện chủ yếu của tính nghiêm túc khoa học
Sự chính xác thể hiện bằng định nghĩa trong chương Tư liệu và phương pháp nghiên cứu Trong một nghiên cứu lâm sàng, quần thể nghiên cứu phải được xác định, các tiêu chuẩn đánh giá phải được mô tả chính xác
và không được thiếu hay bỏ sót Trong một nghiên cứu về thời gian sống của bệnh nhân xơ gan đã có búi giãn tĩnh mạch thực quản, các nhà gan học của trường đại học Havart ở Boston đã không bị coi là thừa khi định nghĩa thế nào là xơ gan, là búi giãn tĩnh mạch thực quản, là cổ chướng (3) Trong một công trình nghiên cứu thực nghiệm, việc trình bày phương pháp phải đủ rõ ràng để thực nghiệm đó có thể được lặp lại trong công trình nghiên cứu của người khác
Tính chính xác phải thể hiện khi trình bày phương pháp nghiên cứu và kết quả: một khối u không phải ước lượng là kích thước nhỏ, bằng quả cam hay bằng quả dưa mà phải đo bằng centimet (4) Không viết là nặng, nhẹ mà cân nặng bao nhiêu gram Một bệnh nhân gầy đi 5 kg không có cùng ý nghĩa khi trọng lượng ban đầu
là 30 kg hay 90 kg Việc gầy đi từ 90 kg xuống 85 kg không có cùng ý nghĩa khi xảy ra trong 2 tháng hay trong
1 năm
Sự chính xác khi trình bày các kết quả đòi hỏi phải kiểm tra sự tương ứng của tất cả các số liệu trong bài và trong các bảng số liệu Một nhà khoa học đã bỏ hàng tháng để mô tả các khó khăn của một nghiên cứu hay tính chính xác các kết quả cho tới 4 số thập phân, phải dành sự chú ý để người thư ký không nhầm miligram thành mililitre và nhà xuất bản không chuyển thành millimetre (5)
Sự chính xác
Bỏ những danh từ trống rỗng:
"U to" là bao nhiêu: 3 cm, 15 cm, 27 cm
" Quan sát mới đây" là khi nào: 1970, 1980, 1985
"Một số nhất định" chính xác là số nào: 10, 23, 67
"Khổng lồ", "hẹp", "rộng", "mênh mông", "nhỏ nhắn", "nặng", "nhẹ", "thường gặp", "hiếm", "rất hiếm", "hiện tại",
"cổ xưa", "quan trọng"
Trang 30Tỷ lệ creatinin máu cao: là bao nhiêu
Bỏ những đại từ trống rỗng:
"Rất nhiều, ít, nhiều, một cách sâu sắc, một cách trung bình, khá đủ, quá, thường, hiếm khi"
Trong một bài báo, nhất là bài giảng dạy, việc ghi số tỷ lệ phần trăm có thể gây khó khăn cho việc đọc và nhớ
Vì những lý do này, có những tính từ hay đại từ được sử dụng Một nghiên cứu tiến cứu nhiều trung tâm ở Pháp (6) đã cho phép đề nghị các thuật ngữ tương ứng tốt nhất với các tỷ lệ phần trăm (bảng 1) Sự thiếu vắng trong từ vựng các thuật ngữ để chỉ các tỷ lệ từ 40 đến 60 % dẫn tới việc sử dụng cách diễn đạt "1 trên 2"
Bng 1: Các tính t và đi t đ ngh đ biu th t l (6)
SỰ SÁNG SỦA CHO PHÉP BÀI BÁO ĐƯỢC VÀ HIỂU
Sau sự chính xác, sự sáng sủa là yếu tố thứ hai của một bài báo khoa học
Một bài báo đăng kết quả nghiên cứu không chỉ có mục đích để được đăng báo, trước hết nó phải để được đọc (5) Số lượng các tạp chí y học và số bài báo đăng trong đó bắt buộc người đọc phải chọn lựa Sự chọn lựa này được hướng dẫn bởi ngôn ngữ mà bài báo được viết, nội dung tạp chí có chuyên sâu hay không cũng như danh tiếng của tờ báo, cuối cùng bằng chính sự sáng sủa của bản thân bài báo: những bài báo kém sáng sủa sẽ ít có cơ hội được đọc hơn Mặc dù vẫn còn những tạp chí chấp nhận đăng những bài báo như vậy
Viết bằng một ngôn ngữ sao cho đơn giản và rõ ràng
áp dụng cho mọi ngôn ngữ (7) Mục đích của một bài báo khoa học không phải để khoe sự phong phú từ vựng của mình mà để trình bày công trình nghiên cứu Tất cả các tác giả phải luôn luôn tự hỏi liệu có thể sử dụng một thuật ngữ đơn giản hơn, liệu từ được sử dụng có thể hiểu được bởi một độc giả nước ngoài không nói được tiếng ta sử dụng mà chỉ có một vài khái niệm về ngôn ngữ đó Các qui tắc này càng quan trọng hơn
do ngôn ngữ y học làm biến dạng việc sử dụng một số từ, tạo ra một số từ mới, thậm chí một từ lóng ở điểm
TỶ LỆ THUẬT NGỮ ĐỀ NGHỊ THUẬT NGỮ CHẤP NHẬN ĐƯỢC THUẬT NGỮ NÊN TRÁNH
Trang 31này các nguyên tắc viết bài báo khoa học gặp gỡ với việc sử dụng tốt ngôn ngữ Tại sao lại viết: những vết loét này là những nguồn cung cấp bổ trợ cho tỷ lệ tử vong thay vì "các vết loét đã dẫn tới tỷ lệ tử vong cao hơn"?
Sự biến dạng của ngôn ngữ y học thậm chí dẫn tới việc một sinh viên đã viết trong một bản dự thi tuyển nội trú: "Ta đặt bệnh nhân dưới sự che phủ kháng sinh!"
Việc sử dụng dấu phẩy
Sự thiếu vắng dấu phảy có thể là nguồn gốc của sự tối nghĩa "ba bệnh nhân đều bị theo thứ tự đau, buồn nôn
và nôn và ỉa chảy" Bệnh nhân thứ hai đã bị buồn nôn và nôn, bệnh nhân thứ ba bị ỉa chảy, hay bệnh nhân thứ hai bị buồn nôn, và bệnh nhân thứ ba buồn nôn và nôn! (1) Việc đặt một dấu phảy ở đúng vị trí loại bỏ sự tối nghĩa Ngược với văn chương và thơ ca, trong một bài báo khoa học, ưu tiên sử dụng dấu phảy giữa một loạt các từ, chỉ sử dụng chữ "và" khi nó đứng giữa hai từ có liên quan với nhau Chính sách này đã được áp dụng bởi các báo như British Medical Journal, Lancet và New England Journal of Medicine (1)
Sử dụng sai từ "vân vân"
Et coetera mà dạng viết tắt là etc có nghĩa là "và những cái còn lại" trong một sự tiếp nối có thể xác định Dạng thức "etc" chỉ được sử dụng trong một bài báo khoa học chỉ sử dụng nếu nó không dẫn tới bất kỳ sự hiểu lầm nào: đó là trường hợp một xét nghiệm viên sử dụng hai nhóm ống nghiệm, nhóm đầu có 50 ống đánh dấu từ A1 đến A50, chứa một dung dịch có độ pha loãng khác nhau và nhóm thứ hai gồm 50 ống nghiệm khác đánh số từ B1đến B50 chứa một dung dịch khác Nếu người làm thí nghiệm trộn lẫn ống A1 với ống B1, rồi ống A2 với ống B2, có thể sử dụng "etc" để tránh giải thích 48 quy trình tiếp theo
Et coetera sử dụng sai sẽ dẫn tới sự không chính xác: Bạn muốn nói gì khi viết "các xét nghiệm sinh học, huyết đồ, tốc độ máu lắng etc"? liệu bạn có xét nghiệm cả bilirubin, canxi máu? Et coetera mở rộng cửa về một chân trời vô định và không thể chấp nhận trong một bài báo khoa học Đó là một ngân phiếu trắng đưa cho độc giả (1) Việc sử dụng sai "etc" là gần với sự không chính xác của "ví dụ" hay "như là" (1) Sau đây là một ví dụ về điều không nên làm "bệnh nhân đã được dùng kháng sinh kinh điển như là, ví dụ Penicilline etc" thêm vào với việc sử dụng sai etc, cái gì được gọi là "kháng sinh kiểu kinh điển"? muốn nói gì ở đây với "ví dụ"?
Một ngôn ngữ đơn giản Sử dụng tốt ngôn ngữ
Tìm để loại bỏ các tiếng lóng y học:
Dùng "che phủ" kháng sinh thay vì "điều trị" kháng sinh hay "kháng sinh liệu pháp"
Hội chứng "tăng nhiệt" thay cho "sốt" Bệnh nhân bị "hội chứng khó nuốt" thay vì bệnh nhân bị "khó nuốt" Các kết quả này "làm xuất hiện" thay vì : "các kết quả này đã chỉ ra"
Ruột thừa nằm ở "vị trí dưới gan" thay cho "ruột thừa nằm dưới gan"
Kinh nghiệm đã "giới hạn các sự vượt tràn" của biến chứng thay vì kinh nghiệm đã "giảm" các biến chứng Một "biểu hiện cổ chướng" thay cho "cổ chướng"
Một phim X quang "nói" Ai đã nghe một phim X quang nói?
Một "vật mang ung thư" có đặt nó trên một cái đĩa?
"Một thang bậc" điều trị: theo mặt bắc?
"Quả cầu ORL" đó có phải là một quả cầu thuỷ tinh?
Các dấu hiệu siêu âm không thể giả định về chẩn đoán bản chất của hình ảnh
Sử dụng các động từ và các từ cho chính xác
Thăm khám "phát hiện": phát hiện có nghĩa là làm xuất hiện cái mà trước đây không được biết và bí mật Tại sao không nói một cách đơn giản "thăm khám cho thấy"?
Trang 32Bệnh nhân "bày tỏ" một sự đau đầu thay vì bệnh nhân "bị" đau đầu (ngược lại bệnh nhân có thể bày tỏ một điều xin lỗi)
Ta chỉ có thể "tìm thấy" một khối u khi nó đã bị mất và "trở lại bệnh viện" nếu người ta đã đi ra trước đó
"Bằng" không có nghĩa là "tương đương với", "theo" không có nghĩa là "tuỳ theo", "nhờ vào" không có nghĩa là
"do", "hội chứng" không có nghĩa "triệu chứng học" hay "triệu chứng", "thay thế" không phải là "khả năng" (8) Một phẫu thuật viên "nhi" là một phẫu thuật viên có đặc điểm của trẻ em
Những danh từ và tính từ có một nghĩa thống kê chính xác khác với nghĩa thông thường: tương ứng, tỷ xuất, tần suất, rõ rệt
Không đưa ra các từ mới:
Số lượng bệnh nhân "được cắt"
"Sự tiến triển" của thai nghén
Bệnh nhân đã được dùng thuốc chống đông, dùng thuốc kháng sinh, được xét nghiệm toàn diện, được sàng lọc
Bệnh nhân đã được "cho đường" (bạn đọc hãy bình tâm, đó chỉ là một trường hợp giảm đường huyết) Tránh những tính từ liên tiếp:
"Bệnh nhân xơ gan cổ chướng nhiễm trùng": ai nhiễm trùng, bệnh nhân xơ gan hay dịch cổ chướng của xơ gan?
"Tăng huyết áp nặng": nặng như thế nào ?
Khi bạn viết, đừng dùng các từ Anh hoá, nhất là khi không có ý thức:
Cần phải tính đến một "liệu pháp ngược" cho "căn bệnh nghiện" của các thầy thuốc với ngày càng nhiều "ao" tiếng nước ngoài đang dần dần làm ô nhiễm ngôn ngữ y học của ta (2): planing, cocktaik, screening thay cho
kế hoạch, hỗn hợp, sàng lọc Shunt, thrill, feed-back thay cho cầu nối, run, phản hồi?
Các chữ viết tắt
Việc sử dụng các chữ viết tắt các đơn vị đo lường quốc tế khi chúng đứng sau một số là hợp pháp thậm chí được khuyến khích, có thể viết "bệnh nhân nặng 50 kg" nhưng không được viết "sự tiến triển của trọng lượng bằng kg", trong ví dụ này, kilogramme không có số đứng trước nó nên phải được viết đầy đủ bằng chữ Nếu bạn không chắc chắn về một chữ viết tắt, hãy kiểm tra lại nó: m là viết tắt của metre, min là chữ viết tắt của minute (không phải là mn), G là viết tắt của gauss, Gy là chữ viết tắt của gray, g của gramme Những chữ viết tắt các đơn vị này là không đổi Danh sách các chữ viết tắt quốc tế chủ yếu cùng với danh sách các chữ viết tắt của các đơn vị nằm ở cuối sách
Ngoài những chữ viết tắt của các đơn vị đo, các chữ viết tắt có lợi ích là làm bài viết được rút ngắn, làm bài viết dễ đọc hơn thay cho các khái niệm hay các từ quá dài, được sử dụng nhiều lần trong bài như ống mật chủ có thể viết tắt là OMC Nhưng việc lạm dụng các chữ viết tắt sẽ đi ngược lại mục đích của nó là làm cho việc đọc bài báo dễ dàng hơn, do đó chỉ nên sử dụng chữ viết tắt cho một từ khi từ đó được sử dụng trên ba lần trong một bài báo Hơn nữa không nên dùng quá hai hay ba chữ viết tắt, ngay cả khi nó đã được giải thích
vì sẽ dẫn tới việc làm bài báo rất khó đọc, ví dụ: "83 Bn có 1 TV+D, 93 Bn có 1 SV+D và 83 Bn có 1 PVC"! Tất cả các chữ viết tắt phải được viết đầy đủ khi xuất hiện lần đầu Phải viết "đã phát hiện sỏi ống mật chủ (OMC)" Từ tiếp sau đó mỗi khi nói tới ống mật chủ, ta chỉ cần sử dụng chữ viết tắt OMC Qui tắc này áp dụng cho tất cả các chữ viết tắt cho dù chữ viết tắt đó có vẻ rất thông dụng Tất cả các thầy thuốc biết tiếng Pháp đều biết là ECBU muốn nói tới "examen cyto - bacteriologique des urines - xét nghiệm tế bào và vi khuẩn học nước tiểu" Khi đọc một đoạn như sau chúng ta sẽ nghĩ gì?: "Trên Px của w.d.w.n.w.m có BP, P, R và T trong giới hạn bình thường"? Chữ AFC có thể có nghĩa là hội ngoại khoa Pháp (Association fran†aise de chirurgie) theo cách hiểu của các nhà ngoại khoa trong khi lại có nghĩa là phân tích từng phần của mối tương quan theo các nhà lập trình tin học Qui tắc này cũng bao hàm với các dấu hiệu: Khi sự biến đổi của một nhóm xung quanh một giá trị trung bình biểu thị bằng ± 4, phải chỉ rõ ± là biểu thị cho kiểu khoảng cách, sai số chuẩn, hay phương sai
Những nguyên tắc này cũng áp dụng cho tóm tắt của bài báo Tuy nhiên tốt nhất nên tránh chữ viết tắt trong tóm tắt, trừ khi đó là một từ hay một nhóm từ khá dài và được sử dụng trên ba lần trong tóm tắt, mà điều này hiếm khi xảy ra Cũng như vậy đối với các bảng biểu, tuy nhiên nếu có sử dụng chữ viết tắt ở đây thì phải giải thích bằng chú thích dưới bảng hay trong chú giải của biểu đồ
SỰ SÚC TÍCH
Tính súc tích là đặc trưng thứ ba của một bài báo khoa học (9) J.A Farfor đã so sánh hai câu sau:
1) "Bạn đồng nghiệp tuyệt vời và người bạn của tôi, giáo sư N, người trong nhiều năm là một chủ nhiệm khoa sáng chói của Khoa Da Liễu Trường Đại Học Y Khoa thuộc Đại Học Tổng Hợp X ở Y, vừa mới công bố một thống kê rất quan trọng những trường hợp bệnh rất hiếm gặp và rất hay mà ông đã trình bày một cách tuyệt
Trang 33vời ở hội nghị da liễu quốc tế diễn ra mới đây ở Stockholm"
2) "N đã công bố 11 trường hợp" câu đầu tiên gồm 68 từ, câu thứ hai có 5 từ Thế mà câu thứ hai chứa đựng nhiều thông tin khoa học hơn so với câu đầu Những cụm từ "bạn đồng nghiệp tuyệt vời và người bạn", "chói sáng", "rất hay", "tuyệt vời" là những diến đạt cảm tính "Nhiều", "quan trọng", "hiếm", "mới đây" là những từ trống rỗng Theo J.A Farfor, sau thí dụ này, những từ và câu không cần thiết là một trong những nguyên nhân chính gây ra dài dòng vô ích cho bao nhiêu bài báo y học ở mọi thể loại (1) Ông gọi những từ, tính từ, đại từ này là "gỗ mục"
Việc loại bỏ các danh từ, đại từ , tính từ trống rỗng là việc phải làm Hãy đừng viết câu dạng như: thật thú vị khi chỉ ra rằng " Nếu bạn thấy việc chỉ ra điều đó là thú vị, hãy chỉ ra điều đó và đừng phải nói rằng bạn thấy thú vị làm điều đó, nếu điều đó bạn thấy không hay thì hãy đừng nói tới Cũng với sự chú ý đến tính súc tích của bài báo, hãy đừng đưa ra các thông tin ngoài lề (1) Khi ta muốn xem trên bảng thông báo ở nhà ga giờ khởi hành của chuyến tàu đi từ Paris đến Chantilly, chúng ta đâu đó cần biết gần Chantilly có một khu rừng đẹp mà vào mùa xuân, nếu buổi sáng dậy sớm ta có thể hái được những bông hoa huệ chuông tuyệt đẹp
"Có một số điểm có vẻ đáng để chúng ta thảo luận"
"Chúng tôi muốn kêu gọi sự chú ý tới sự kiện "
Loại bỏ từ ngữ rườm ra, thừa:
"Tuyệt đối" bình thường; tiên lượng "đi trước", điều trị "kháng sinh liệu pháp"; ống "hoàn toàn" đầy
Tránh lặp lại
Sự lặp lại một sự kiện hay một ý tưởng đi ngược lại nguyên tắc súc tích Chỉ có một sự lặp lại là được phép
và thậm chí là cần thiết đó là nội dung của phần tóm tắt tương quan với bài báo Ngoài trường hợp đặc biệt này ra phải tránh lặp lại Không nhắc lại câu đầu tiên của đầu đề trong phần tóm tắt Đừng nhắc lại các kết quả trong phần bàn luận Đừng nhắc lại các đoạn của phần đặt vấn đề trong phần bàn luận
Không phải khi nào cũng dễ tránh được sự lặp lại, vì vậy cần cân nhắc xem một điều nên nói ở phần đặt vấn
đề hay phần bàn luận thì có lợi hơn Tất nhiên có thể cụ thể hoá trong phần bàn luận những điều đã gợi ra ở phần đặt vấn đề Để tránh lặp lại các kết quả trong phần bàn luận, thì nên trình bày kết quả dưới dạng bảng hay biểu đồ Khi đó có thể viết trong phần bàn luận: "Tỷ lệ sống mà chúng tôi quan sát được (bảng II) khác với kết quả thu được " Việc trích dẫn bảng II cho phép tránh việc nhắc lại tỷ lệ sống là bao nhiêu
Sự tĩnh lược
Sự súc tích thái quá dẫn tới việc lược bớt những từ hay ý tưởng bắt buộc phải có để có thể hiểu được câu văn hay nội dung bài Ta có thể thấy: sự quá ngắn gọn làm hỏng tính sáng sủa của một bản trình bày khoa học Sự rút gọn thái quá trong một báo cáo khoa học có thể so sánh với một cái thang thỉnh thoảng lại bị thiếu một bậc (1) Nhà khoa học phải trình bày từng giai đoạn lý luận của mình để độc giả tránh phải suy diễn ngay
cả khi một số giai đoạn có vẻ là tất yếu Ngược lại với một bài thơ, ở đây tránh khêu gợi sự tưởng tượng của độc giả Khi chứng minh rằng a=b và b=c thì phải chỉ rõ là như vậy a cũng =c Trong thực tế sự rút gọn có thể dẫn tới việc suy diễn quá mức các qui tắc logic Một nhóm nghiên cứu y học gửi đến một tạp chí một bài báo công bố kết quả của một nghiên cứu thực nghiệm trên động vật về tử vong do một loại thuốc gây ra (1): Các tác giả đã viết: "không chứng minh được bất kỳ mối liên quan nào giữa tỷ lệ tử vong với số lượng thuốc hấp thụ khi số lượng này dưới 15mg" Trong lời phê bình bài báo, biên tập viên đã trả lời các tác giả: "Các bạn đã thông báo không có bất kỳ mối liên quan nào giữa tỷ lệ tử vong và liều thuốc sử dụng chỉ khi liều lượng này dưới 15mg Điều này dẫn tới giả thiết là có mối tương quan đó khi liều cao hơn 15mg Bạn phải chỉ rõ là mối tương quan đó có hay không?" Một ví dụ khác của sự lược bớt là "trong số 16 máu tụ, 4 trường hợp phàn nàn " Ai đã từng thấy một khối máu tụ phàn nàn? Vì vậy phải viết "Trong số 16 bệnh nhân bị máu tụ, 4 người phàn nàn "
KẾT LUẬN
Để kiểm tra sự tôn trọng các nguyên tắc này, chúng tôi khuyên các tác giả là trước khi gửi một bài báo tới một tạp chí, hãy đọc lại bốn lần, mỗi lần có một mục đích rõ ràng:
Trang 341) Đảm bảo sử dụng đúng thì của động từ trong các chương tư liệu và phương pháp, kết quả ở thì quá khứ và không dùng thì hiện tại trong các chương này
2) Loại bỏ các danh từ, tính từ, đại từ trống rỗng, không có vai trò
3) Kiểm tra sự liên quan giữa các số liệu trong bài, các bảng, các biểu đồ
4) Tự hỏi xem liệu các danh từ, các tính từ, các đại từ và động từ được sử dụng liệu có thể hiểu được bởi một người nước ngoài chỉ biết chút ít về ngôn ngữ của bài viết được không
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Farfor JA Enseigner la rédaction médicale Chapitre III Le style Cah Med 1976;1-2:1053-9
2 Vigy M Le fran†aise est une langue vivante qui peut être malade Concous Médical 1975;97:1727-8
3 Garceau AJ, Chalmers TC, and the Boston Inter Hospital Liver Group The natural history of
cirrhosis I Survival with esophageal varices N Engl J Med 1963;268:469-73
4 DeBakey L, DeBakey S Medical writing The case report II Style and form Int J Cardiol 1984;6:247-54
5 Day RA How to write and publish a scientific paper Cambridge: Cambridge University Press,
1989:87-93
6 Les Associations de Recherche en Chirurgie Hay JM, Michot F, Flamant Y, Leblanc Y Comment
traduire en pourcentages les mots exprimant la fréquence (ou sensibilité) des signes dans une maladie Gastroenterol Clin Biol 1991;15:481-8
7 Savage F, Godwin P Controlling your language: making English clear Trans R Soc Trop Med Hyg
Trang 35Chương 4
ĐẦU ĐỀ BÀI BÁO
Tất cả những độc giả của một bài báo ít nhất cũng sẽ đọc đầu đề của bài báo Vì vậy đầu đề bài báo phải được đặt đặc biệt cẩn thận và trau chuốt lại mỗi khi xem lại bản thảo (1) và các ban biên tập thường phải đề nghị tác giả sửa lại đầu đề bài báo Viết một đầu đề tốt là một nhiệm vụ khó khăn nhưng là việc bắt buộc phải làm
Đầu đề bài báo phải nói lên nội dung của bài báo với sự chính xác và súc tích nhất Đầu đề bài báo cùng với phần tóm tắt phải tạo thành một cấu trúc hoàn toàn độc lập với phần còn lại của bài báo, nhưng phải phản ảnh chính xác nội dung của toàn bài báo Phần đầu đề và tóm tắt có thể so sánh với một bài báo được viết trên một tấm bưu thiếp (2)
Với người đọc, đầu đề có vai trò thu hút và chọn lọc (2): khi đọc đầu đề, người ta sẽ quyết định xem có đọc phần tóm tắt hay không Có thể xem đầu đề bài báo bằng hai cách: Đọc lướt các bản mục lục của các tạp chí hay cuốn tập hợp các bản tóm tắt như cuốn Current Contents; hoặc có thể thực hiện một thư mục theo chủ đề: nghĩa là tìm tất cả những bài báo viết về một chủ đề bằng cách tra trong các cuốn niên giám như cuốn Index Medicus hay tra ở các hệ thống tin học thống kê về vấn đề đó như Medline hay Internet
Một đầu đề tồi sẽ làm cho một công trình không được biết đến
Một đầu đề phải tránh hai khuynh hướng:
Quá ngắn gọn, có nguy cơ không phản ánh được nội dung đặc trưng của bài báo
Quá chi tiết, có nguy cơ quá dài
Những tiêu chuẩn của một đầu đề bài báo tốt:
Một đầu đề tốt phải sáng sủa, đặc trưng, không có tính gợi ý
Độ dài của đầu đề:
Đầu đề phải ngắn (10 đến 15 từ) để có thể cho phép đọc nhanh (2): "Các biểu hiện khác nhau giữa các khối
u lymphome angiocentriques nguyên phát và thứ phát của virus Epstein-Barr", "Calcitonin với việc đề phòng mất xương thời kỳ sau mãn kinh" Các đầu đề trên không vượt quá 14 từ, tuy nhiên khá cụ thể Tuy vậy sự ngắn gọn của đầu đề không được làm độc giả nhầm lẫn về nội dung bài báo Ví dụ một đầu đề chung chung như kiểu "Đái đường" không phù hợp với một bài báo nghiên cứu về một mặt đặc hiệu nào đó trong chẩn đoán hay trong điều trị đái tháo đường Nói chung, đầu đề càng dài khi nội dung đề cập càng cụ thể: "Ung thư
dạ dày", "Điều trị ngoại khoa ung thư dạ dày", "Kết quả điều trị ngoại khoa ung thư dạ dày", "Kết quả điều trị ngoại khoa ung thư nông của dạ dày"
Những đầu đề chi tiết tạo ra sự rất cụ thể "Tác dụng của Levamisole trong dự phòng những đợt tiến triển của bệnh Crohn tiềm ẩn: nghiên cứu tiến cứu có kiểm chứng tại nhiều trung tâm trên 155 bệnh nhân" Trong ví dụ này, đầu đề rất cụ thể nhưng số từ được sử dụng vượt quá 20 từ Một đầu đề dài như vậy làm khó đọc Tuy nhiên có thể rút ngắn lại đầu đề đó mà vẫn giữ được tính chính xác
Các đầu đề phụ
Sử dụng các phụ đề chỉ là một thoả hiệp Ví dụ: "Những u xơ khu trú lành tính của màng phổi Nghiên cứu giải phẫu bệnh lâm sàng và hoá miễn dịch tế bào trên sáu trường hợp”, "Ung thư đại tràng Kết quả điều trị ngoại khoa Trình bày một thống kê 234 bệnh nhân" Đầu đề được chia thành hai hay ba phần bằng các dấu chấm, dấu phẩy hay hai chấm Điểm lợi là cho phép đọc với hai tốc độ, phần đầu là chủ đề, phần sau nêu cụ thể về nghiên cứu được tiến hành Tuy nhiên tốt nhất là nên cô đọng toàn bộ thông tin vào một đầu đề duy nhất Trên thực tế, nguy cơ của những phụ đề này là làm cho đầu đề gần như trở thành một tóm tắt, do đó thành những đầu đề dở kiểu như "Những triển vọng của ghép gan khác chỗ ở người Xơ gan và u nguyên phát của gan Nghiên cứu chủ yếu là thống kê dựa trên những bệnh nhân tử vong trong thời gian một năm trong một bệnh khoa tiêu hoá vùng Paris" Phụ đề thứ ba ám chỉ phương pháp nghiên cứu là hoàn toàn không cần thiết Hơn nữa, trong phụ đề đầu tiên, từ có tính chủ quan "Triển vọng" có thể được thay bằng từ "Kết quả" là một từ có tính mang thông tin nhiều hơn và đầu đề đáng ra phải bắt đầu bằng "Ghép gan khác chỗ ở người" rồi tiếp bằng phụ đề: "Kết quả ở bệnh xơ gan và u nguyên phát của gan" "Một bệnh khoa ở Paris" rõ ràng là hoàn toàn không cần thiết và hơn nữa không chính xác
Văn phong
Trang 36Những từ chứa đựng thông tin nhiều nhất phải đặt ở đầu của đầu đề, đó là vị trí nhấn mạnh, thu hút sự chú ý Những khái niệm không cần thiết, không chứa đựng thông tin thì không nên sử dụng như là "Những nghiên cứu mới đây về " "Nhân ", "Nhận xét về " Sai lầm sẽ nhân đôi nếu lại đặt những cách diễn đạt như vậy ở
Nhìn lại về (thật là một cách bắt đầu quá dở cho một bài báo công bố
Kết quả nghiên cứu)
Thường nên dùng một văn phong trung tính không khẳng định kiên quyết "Hội chứng Gardner-Diamond trên một bé gái 14 tuổi Thảo luận về giá trị chẩn đoán của các thử nghiệm bì" Có những tác giả muốn chỉ ra kết quả trong kiểu đặt đầu đề "Không có sự khác nhau giữa tăng huyết áp ác tính và tăng huyết áp tiến triển” Điều này làm nhầm tưởng là kết quả có giá trị không thể chối cãi, nếu không những kết luận có thể được ngoại suy một cách lạm dụng chỉ đơn giản do đọc đầu đề Đặc biệt có những đầu đề tìm cách gợi sự tò mò ở người đọc: "Đề phòng chảy máu tái phát ở người xơ gan Liệu pháp tiêm xơ có tốt hơn propranolol?", "Nội soi hay X quang? Lựa chọn của bệnh nhân Nghiên cứu so sánh tiến cứu về sự chấp nhận của người bệnh đối với nội soi phần trên ống tiêu hoá và chụp X quang" Một sự chất vấn người đọc như vậy phù hợp với dạng bài xã luận hơn là một bài đăng kết quả nghiên cứu
Dạng đầu đề hỏi cũng tìm cách gợi ra phản ứng của người đọc nhưng với cách ít khêu gợi hơn "ảnh hưởng của thai nghén trên tiến triển của bệnh Hodgkin?", "Trong điều trị cơn hen cấp có nên chỉ định phối hợp sympathomimetics với methylxanthines?" Đầu đề ở đây tương ứng với câu hỏi ai đặt vấn đề nghiên cứu" Một
số đầu đề khác có cấu trúc phức tạp Nó bao gồm sự pha trộn các văn phong trên đây: Dạng hỏi, phụ đề, dạng hỏi-trả lời Chúng tôi không khuyên kiểu trình bày đó: sự phức tạp làm khó có thể đọc nhanh được Nếu đầu đề bắt buộc phải phức tạp, không nghi ngờ gì nữa bài báo đáng được chia ra thành nhiều bài riêng biệt
LÀM THẾ NÀO XÂY DỰNG MỘT ĐẦU ĐỀ
Nên tham khảo một vài số của một tạp chí để quen với cách sử dụng đầu đề của tạp chí đó Cũng nên tham khảo phần lời khuyên cho các tác giả trong đó đôi khi giới hạn số lượng từ hay phong cách của đầu đề
Để xây dựng đầu đề, chúng tôi khuyên nếu có thể được, nên dùng những từ khoá trong bộ Index Medicus Cách chọn từ cho một đầu đề như vậy có hai điểm lợi: tránh được việc dùng trong đầu đề những từ không có tính thông tin, những danh từ không thường dùng, những từ mới hay những từ quá cổ Hơn nữa, điều đó đảm bảo rằng bài báo sẽ được ghi đúng đắn trong những cuốn chỉ dẫn có đăng lại trực tiếp những từ của đầu đề như trong cuốn Current Contents Khi đã chọn được từ cho đầu đề, cần tìm cách xếp đặt chúng theo trật tự, tốt nhất là tôn trọng nguyên tắc vị trí chủ chốt, có tính đến tính riêng biệt của bài báo
Cần đọc lại toàn bộ đầu đề một lần cuối để đảm bảo rằng không có lỗi về cú pháp, không có lỗi chính tả, không viết tắt và không có các danh từ mà người đọc có thể hiểu nước đôi
Nên đưa dự thảo đầu đề cho một hay hai đồng nghiệp đọc để đề nghị họ cho lời khuyên Nếu kết quả không được hài lòng, điều đó có nghĩa là phải viết lại đầu đề Đầu đề có thể viết rất nhanh trước khi bắt đầu viết bài báo, tuy nhiên khi kết thúc bài báo, bao giờ cũng phải xem lại đầu đề để đảm bảo đã suy nghĩ kỹ về việc chọn từng từ và sử dụng tốt nhất các từ đó (4)
ĐẦU ĐỀ THÔNG DỤNG
Một đầu đề thông dụng (titre courant, running title) là một đầu đề rút gọn được một số tờ tạp chí đặt ở phần trên các trang của bài báo Nó bao gồm ít hơn 40 ký tự hay khoảng trống Ví dụ, một bài báo có tên "Đánh giá chủ quan và khách quan lâu dài phẫu thuật chống trào ngược ở bệnh nhân viêm thực quản trào ngược: nghiên cứu trên 215 bệnh nhân" có đầu đề thông dụng là "phẫu thuật chống trào ngược" Một số tạp chí tự đặt đầu đề này, một số yêu cầu tác giả đặt
Trang 37TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Roberts WC The article's title Am J Cardiol 1985;56:210-2
2 Farfor JA Cours élémentaire de rédaction médicale Chapitre IV Le titre et le résumé Cah med
1977;2:1153-5
3 DeBakey S, DeBakey L The title what's in a name Int J Cardiol 1983;2:401-6
4 Huth EJ Writing the first draft In: Huth EJ How to write and publish papers in the medical scien
Trang 38Chương 5
TÁC GIẢ
Khi một tạp chí có uy tín chấp nhận một bài báo là đồng nghĩa với sự công nhận tính nghiêm túc và tính chính xác của một công trình Việc đăng bài báo là kết quả cuả điều đó và rất bình thường là tác giả của bài báo đó
sẽ được biết tới Việc tham gia với tư cách là tác giả các bài báo được đăng là một yếu tố quan trọng trong
sự thăng tiến nghề nghiệp cVì những lý do đó, tên của một hay nhiều tác giả được đặt ngay dưới tên bài báo Việc sử dụng tên tác giả phải tuân theo những nguyên tắc chặt chẽ
AI LÀ TÁC GIẢ ?
Về lý thuyết câu trả lời thật đơn giản: tác giả là người đã viết bài báo Trong thực tế vấn đề thường phức tạp hơn vì một tác giả hầu như không bao giờ làm việc một mình và các thành viên trong nhóm làm việc muốn sự tham gia của họ vào công trình phải được công nhận chính thức; nhiều người mong muốn tên của họ xuất hiện trong phần tên tác giả để có thể được thăng tiến hay được ghi nhận trong nghiên cứu Vì vậy có xu hướng là một công trình mang rất nhiều tên tác giả Số lượng trung bình các đồng tác giả một bài báo không ngừng tăng lên Ngược lại, tỷ lệ phần trăm bài báo viết bởi một tác giả trong tạp chí New England Journal of Medicine giảm từ 49% năm 1946 xuống 4% năm 1977 (1); tình trạng tương tự cũng xảy ra ở tạp chí Lancet giữa 1930 và 1975
Tác giả ở vị trí thứ nhất
Tác giả ở vị trí thứ nhất là người thực hiện phần chính của công trình hay là người chỉ đạo thực hiện nghiên cứu Đó là người viết bản thảo bài báo Nếu người đó thực hiện công trình và viết một mình thì đó là tác giả duy nhất của bài báo Điều này rất hiếm xảy ra với một công trình nghiên cứu khoa học nhưng đó lại là quy tắc với bài xã luận
Tên của chủ nhiệm khoa hay trưởng phòng xét nghiệm
Tên của chủ nhiệm khoa hay trưởng phòng xét nghiệm thường xuất hiện trong nhóm tên tác giả khi đó là người đề ra ý tưởng nghiên cứu, tập hợp nhóm nghiên cứu, tìm nguồn tài chính khi cần thiết để thực hiện công trình Thường tên của những người này được đặt ở vị trí cuối cùng (3) Nó có tác dụng bảo lãnh khi những tác giả khác trong công trình còn chưa được biết tới rộng rãi trong cộng đồng khoa học Khi một chủ nhiệm khoa hay trưởng phòng xét nghiệm chấp nhận đứng tên trong một bài báo, điều đó có nghĩa người đó
đã kiểm chứng quá trình nghiên cứu, xác định tính khách quan của các kết quả và chất lượng viết bài báo Đòi hỏi bắt buộc này là điều rất khó thực hiện do thường khó mà theo dõi một cách chặt chẽ việc thực hiện đúng đắn quá trình nghiên cứu đặc biệt là trong những phòng xét nghiệm lớn, nơi có nhiều đề tài được đồng thời tiến hành Nó đòi hỏi ít nhất một chủ nhiệm khoa hay trưởng phòng xét nghiệm khi chấp nhận đứng tên trong một bài báo phải chịu trách nhiệm về bài báo và những phê bình nếu có Vì lý do này, có những tạp chí bắt buộc mỗi tác giả phải ký tên đảm bảo trách nhiệm của mình về bài báo
Tất cả các công trình đăng tải phải được tác giả hay những đồng tác giả ký tên bảo đảm trách nhiệm của mình, sẵn sàng chấp nhận các nhận xét, phê bình, nhưng cũng được hưởng sự nổi tiếng nhờ việc đăng tải công trình mang lại
Theo thoả thuận nhóm Vancouver, những người ký tên vào một bài báo phải đồng thời (4):
1) Đã tham gia và tổ chức công trình nghiên cứu dẫn tới bài báo hay đã phân tích, đánh giá các kết quả 2) Đã tham gia chính vào việc biên soạn bàn thảo đầu tiên hay sửa các bản thảo tiếp theo
3) Đã chấp nhận bản thảo chính thức
Các tác giả khác
Các tác giả khác phải tham gia tuỳ mức độ vào nghiên cứu và vào việc biên soạn bài báo Việc bài báo có nhiều tác giả không có ảnh hưởng rõ ràng với người đọc (3) Lý do của xu hướng này có nhiều: làm việc theo nhóm (5) sự tham gia ngày càng nhiều hơn của những chuyên gia khác nhau khi họ được xin ý kiến dù chỉ với một thông báo lâm sàng (5); nhất là vai trò của việc có bài đăng báo trong cuộc đời khoa học, điều này do khái niệm "đăng báo hay là chết" (6) Có 3 cách đơn giản để tăng số bài đăng báo của một tác giả: Đăng những bài báo có ít lợi ích, nhân lên nhiều tác giả cho một bài báo hay chia một bài thành nhiều bài khác nhau Tăng số lượng tác giả sẽ giúp cho một đồng nghiệp có cơ hội thăng tiến và đến lượt họ cũng sẽ làm như thế với mình Cách làm này có vẻ rất hấp dẫn và có hiệu quả Tuy nhiên các hội đồng giữ quyền đánh giá
sự tham gia của mỗi tác giả vào công trình: nếu có nhiều tác giả quá thường bài báo đó bị chỉ trích hay nghi
Trang 39ngờ (2,7)
Có những tạp chí bắt đầu lo ngại về sự bùng nổ số lượng tác giả Họ luôn chấp nhận danh sách đầy đủ tên tác giả ở đầu bài báo nhưng hạn chế số lượng tên tác giả trong phần tài liệu tham khảo khi số lượng này quá nhiều Uỷ ban quốc tế của các ban biên tập báo y học (International Committee of Medical Journal Editors) (4) đã đồng ý chấp nhận đăng trong phần tài liệu tham khảo tên của tất cả tác giả một bài báo nếu số lượng thấp hơn bảy và khi số tác giả từ bảy trở lên thì chỉ nêu tên sáu người đầu; sau đó ghi "et al"
Các nghiên cứu nhiều trung tâm
Khi các công trình được thực hiện bởi một nhóm rất nhiều người thực hiện, như trong một nghiên cứu nhiều trung tâm, giải pháp áp dụng là tuỳ theo quy định riêng trong nhóm hay quy định của tạp chí mà công trình sẽ đăng Nói chung, các tác giả có tên trong bài báo là những người bằng cách này hay cách khác đóng góp nhiều nhất vào nghiên cứu Tên của những tác giả này đi kèm với tên của nhóm nghiên cứu và địa chỉ Tạp chí New England Journal of Medicine giới hạn 12 tác giả cho một nghiên cứu nhiều trung tâm (8) Những người tham gia khác được cảm ơn chung ở cuối bài báo: "Phân tích đa chiều các yếu tố tiên lượng ung thư trực tràng còn khả năng phẫu thuật" L S Freedman, P Mucaskill, A N Smith Medical Research Council cancer trials office, MRC Centre Cambridge and Department of Surgery " và ở cuối bài báo "Chúng tôi cảm
ơn tất cả các phẫu thuật viên, kỹ thuật viên xạ trị, các nhà giải phẫu bệnh học "
Ngược lại, có những nghiên cứu nhiều trung tâm sử dụng tên hay ký hiệu viết tắt của một hay những tổ chức tham gia vào nghiên cứu "Nang nước gan do sán được mổ ở Pháp Association Universitaire de recherche en chirurgie " Danh sách những người tham gia nghiên cứu được ghi ở cuối trang đầu hay cuối bài báo Thứ tự đăng tên có thể theo vần A, B, C hay theo tầm quan trọng của sự tham gia vào nghiên cứu
Có những cách trung gian giữa hai loại trên: một dạng là sau tên bài báo là tên của nhóm điều hành rồi đến tên các tác giả tham gia chính vào nghiên cứu Tạp chí New England Journal Medicine đòi hỏi ít nhất có một tên tác giả trước tên nhóm (8) Ví dụ "M Thelma J Smith, Louise L Jones and Duane J Brown, đại diện nhóm The Boston Porphyria Study group"
Cũng có thể đăng ở cuối trang đầu sự tham gia của từng người "Chủ tịch nhóm nghiên cứu L.Gennari; Uỷ ban soạn thảo: G Bonfanta, F.Bozzetti , nhóm phân tích số liệu: G Menazzanote , Những cơ sở tham gia và các thành viên chính: "
Tác giả hay người tham gia?
Một số thống kê thực hiện ở Anh (Trường Đại Học Y Khoa Newcastle) chỉ ra rằng những chỉ tiêu để trở thành một tác giả ít khi được biết tới mà khi biết thì không được áp dụng (9) Từ những kết quả này cùng với những phê bình, đề nghị của một trong những nhà biên tập của tạp chí JAMA, Drummond Rennie (10) và từ những cuộc họp của nhóm Vancouver đã cho ra đời thuật ngữ người tham gia (11) Sẽ là sáng suốt khi ghi rõ với vài
từ ngắn gọn vai trò chính xác của từng người trong một bài báo Ví dụ "người đã thực hiện các thí nghiệm miễn dịch học, người đã phân tích các kết quả, người đã viết quy trình và theo dõi đề tài" Từ năm 1997, một
số tạp chí trong đó có tạp chí Lancet và Britisch Medical Journal đã thêm chú thích về vai trò của những người tham gia ở cuối bài đăng công trình nghiên cứu, tên của các tác giả vẫn được đặt ở sau đầu đề bài báo
LỜI CẢM ƠN
Việc cảm ơn những người giúp đỡ thực hiện đề tài, nhưng sự đóng góp của họ không phải với tư cách là đồng tác giả ví dụ như đối với nhà giải phẫu bệnh hay nhà điện quang mà các xét nghiệm của họ giúp xác lập chẩn đoán là điều bình thường theo phép lịch sự Lời cảm ơn cũng dành cho những ai giúp đỡ về tài chính, lời cảm ơn dành cho sự giúp đỡ kỹ thuật khi thao tác, giúp thu thập tài liệu hay đánh máy bản thảo được trình bày ở một phần riêng Phải cảm ơn Chủ nhiệm khoa khi người đó không tham gia vào công trình Sự đồng ý bằng văn bản của người được cảm ơn là một điều bình thường, một số tạp chí bắt buộc phải có sự đồng ý này
Các tạp chí có quy định về nơi ghi lời cảm ơn ở cuối trang, phần phụ lục hay ở cuối bài báo trước phần tài liệu tham khảo Khi gửi bài để đăng, tên của những người được cảm ơn được đặt ở một trang riêng Khi bỏ trang này thì hội đồng duyệt bản thảo của tạp chí mà bài báo gửi đến có thể đánh giá bài báo một cách khách quan
Trang 40Lời cảm ơn không nên có những từ ngữ chủ quan, cảm tính Khi bạn muốn cảm ơn bác sĩ X đã thực hiện các xét nghiệm giải phẫu bệnh trong công trình của mình, không nên viết "chúng tôi cảm ơn bạn đồng nghiệp kính mến bác sĩ X mà sự hợp tác tuyệt vời đã cho phép có được những thông tin không thể thiếu về giải phẫu bệnh lý " mà hãy viết "Chúng tôi cảm ơn bác sĩ X, người đã thực hiện các xét nghiệm giải phẫu bệnh"
Lời cảm ơn cần phải ngắn Tạp chí New England Journal of Medicine đã lấy ví dụ một nghiên cứu nhiều trung tâm tổng cộng có 12 trang, trong đó 5 trang là lời cảm ơn (8)! Lời cảm ơn nên giới hạn ở một cột, khoảng 600
từ (8) Chỉ nên cảm ơn mỗi người tham gia một lần Tên các uỷ ban, số lượng các trường hợp của từng điều tra viên, đóng góp của từng trung tâm không nên liệt kê ra
YÊU CẦU GỬI BÁO BIỂU
Có những tạp chí yêu cầu ghi rõ tên của tác giả nhận báo gửi biếu, thường ghi ở cuối trang nhất của bài báo
Chấp nhận cung cấp báo biếu có nghĩa là chấp nhận gửi cho những người yêu cầu mỗi người một bản Điều chấp nhận có vẻ bình thường này đôi khi khó thực hiện được Trên thực tế, trong khi phần lớn các tạp chí cung cấp các bản báo biếu (từ 50- 100 bản) miễn phí thì có những tạp chí yêu cầu trả tiền Hơn nữa, cước vận chuyển tới những địa chỉ ở nước ngoài nếu có nhiều người yêu cầu có thể tăng cao
Để cẩn thận, nên từ chối cung cấp báo biếu nếu mình không chắc chắn có thể đáp ứng theo yêu cầu bằng cách ghi ở cuối trang thứ nhất của bài báo: "không cung cấp báo biếu" Tuy nhiên, việc cung cấp báo biếu lại rất có tác dụng khi bài báo đăng trong những tạp chí có lượng phát hành hạn chế, nằm trong chuyên ngành rất sâu hay khi yêu cầu đến từ những nước mà ở đó các thư viện vì lý do kinh tế chỉ nhận được rất ít các tạp chí Chúng tôi thấy cần tạo điều kiện thuân lợi cho những yêu cầu đến từ những nước như vậy, mà khi đó việc gửi báo biếu trở thành một phương tiện thông tin rất quan trọng thậm chí là duy nhất
TRONG THỰC TẾ NÊN THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO?
Nên thực hiện danh sách các tác giả ngay từ khi bắt đầu công trình Điều này giúp cho việc xác định trách nhiệm, nhiệm vụ và sự tham gia cụ thể của từng người Khi bản thảo được viết, mỗi tác giả phải đọc, nhận xét, sửa chữa và chấp nhận chính thức có đứng tên trong danh sách tác giả hay không, nghĩa là chấp nhận toàn bộ nội dung bài báo hay không (12)
Đứng trước tên họ của tác giả là tên riêng viết tắt chữ cái đầu hay cả tên riêng ở một số tạp chí Cần kiểm tra
kỹ lưỡng danh sách và chính tả tên tác giả (13) Địa chỉ của tất cả các tác giả được liệt kê, cùng với địa chỉ của viện nghiên cứu, khoa hay phòng thí nghiệm nơi công trình được thực hiện Cần chỉ rõ địa chỉ của tác giả
là người chấp nhận gửi báo biếu hoặc chỉ rõ là không cung cấp báo biếu Cần đọc lại lần cuối lời khuyên với tác giả của các tạp chí để đảm bảo chắc chắn rằng tất cả phù hợp với quy định và yêu cầu tất cả các tác giả
ký tên vào cuối thư gửi đăng cùng với những chú ý của tạp chí nếu có
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Durack DT The weight of medical knowledge N Engl J Med 1978;298:773-5
2 Strub RL, Black FW Multiple authorship Lancet 1976;2:1090-1
3 Burman KD “Hanging from the masthead”: reflections on authorship Ann Intern Med 1982;97:602-5
4 International Committee of Medical Journal Editors Uniform requirements for manuscrips submitted
to biomedical journals N Engl J Med 1997;336:309-15 (traduction fran†aise, voir p 149
5 Fye WB Medical authorship: Traditions, Trends and Tribulations Ann Intern Med 1990;113:317-25
6 Crump AJ They are not alone Nature 1984;309:10
7 Diamond D Multi-authorship explosion N Engl J Med 1969;280:1484-5
8 Kassirer JP, Angell M On authorship and acknowledgments N Engl J Med 1991;325:1510-2
9 Bhopal R, Rankin J, McColl E, Thomas L, Kaner E, Stacy R et al The vexed question of authorship:
views of reseachers in a British medical faculty Br Med J 1997;314:1009-12
10 Rennie D, Yank V, Emanuel L When authorship fails: a proposal to make contributors accountable
JAMA 1997;278:579-85
11 Smith R Authorship is dying: long live contributorship The BMJ will publish lists of contributors and
guarantors to original articles Br Med J 1997;315:696
12 Cowell HR Responsibilities of authors J Bone Joint Surg 1987;69 A:1311
13 Correction: omitted author's name Ann Intern Med 1988;108:496