Để có thể tổ chức xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học, rất cần có một cơ sở khoa học vững chắc, phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của Trường Đại
Trang 1BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
VŨ NGỌC HOA
CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Trang 2BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
VŨ NGỌC HOA
CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Hanoi University of Home Affairs
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài ……….6
2.Tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu……… 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Giả thuyết khoa học 12
7 Đóng góp của đề tài 12
8 Bố cục của đề tài 12
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHÁP LÍ VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2 Đặc điểm của chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học 14
1.3 Tiêu chí của chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học ……… 17
1.4 Mô hình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học……… ………26
1.5 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học………27
Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC CỦA VIỆT NAM……….……42
2.1 Chương trình đào tạo chất lượng cao ở một số trường đại học Việt Nam …… … 42
2.2 Tiềm lực đào tạo chất lượng cao trình độ đại học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 58
2.3 Nhu cầu của xã hội đối với chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học ……74
Chương 3 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI……… 79
3.1 Nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội……… 79
3.2 Xây dựng nội dung chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học………… 83
3.3 Lộ trình xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội giai đoạn 2020-2030 ……….…93
3.4 Giải pháp phát triển các điều kiện để triển khai chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội………96
Hanoi University of Home Affairs
Trang 53.5 Mô hình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội 103
KẾT LUẬN …….115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC……… 120
Hanoi University of Home Affairs
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao (CTĐT CLC) được xem là xu hướng tất yếu trong đào tạo đại học hiện nay ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động, đồng thời tạo cơ sở vững chắc để các trường đại học có thể tự chủ trong bối cảnh mới Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là gia tăng giá trị cho con người cả về vật chất, tinh thần, trí tuệ,
kỹ năng, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đặt ra “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”
Từ năm 2012, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội bắt đầu đào tạo trình độ đại học nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Nội vụ, nền công vụ và xã hội Bên cạnh CTĐT đại trà, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hướng đến đào tạo CLC một số ngành nhằm nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tính cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới Việc đào tạo CLC trình độ đại học là cần thiết đối với sự phát triển bền vững của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Trong đào tạo trình độ đại học nói chung và đào tạo CLC nói riêng, chương trình là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng của sản phẩm đào tạo Song, làm thế nào để có được các CTĐT thực sự có chất lượng cao, có sự khác biệt so với CTĐT đại trà? Chuẩn đầu ra của CTĐT CLC cần phải đạt được chuẩn mực như thế nào? Cấu trúc, nội dung kiến thức của CTĐT cũng như những kỹ năng cần được trang bị cho sinh viên trong suốt quá trình đào tạo là gì? Làm thế nào để lựa chọn đúng học phần cũng như phương pháp giảng dạy để sinh viên đạt chuẩn đầu ra của CTĐT ? là những câu hỏi mà các cơ sở giáo dục đại học phải trả lời để có thể xây dựng được các CTĐT CLC theo đúng nghĩa
Hanoi University of Home Affairs
Trang 7Để có thể tổ chức xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học, rất cần có một
cơ sở khoa học vững chắc, phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, cần thiết phải nghiên cứu cơ sở lí luận, pháp lí về CTĐT CLC; nghiên cứu tiềm lực đào tạo CLC của Trường, trên cơ sở đó đề xuất nguyên tắc, quy trình, lộ trình xây dựng CTĐT CLC; mô hình đào tạo CLC, giải pháp phát triển các điều kiện để triển khai CTĐT CLC trong giai đoạn 2020-2030 tại Trường Do đó, rất cần thiết phải nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu
Có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển CTĐT Tuy nhiên, do đề tài tập trung hướng đến việc xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận năng lực theo tinh thần của Kế hoạch hành động của ngành giáo dục năm 2017 [9]: “… các cơ sở giáo dục đại học đổi mới mục tiêu, CTĐT, đổi mới phương pháp giảng dạy từ cung cấp kiến thức sang hỗ trợ phát triển năng lực và phẩm chất, kỹ năng của người học; đổi mới cách tiếp cận xây dựng CTĐT đại học dựa trên kinh nghiệm của các CTĐT tiên tiến (POHE, CDIO)” và với Chiến lược phát triển Trường Đại học Nội vụ Hà Nội xác định sứ mệnh của trường là mở ra cơ hội học tập cho mọi người với nhiều hình thức đào tạo, đa ngành, đa trình độ theo định hướng ứng dụng, đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực của ngành nội vụ, nền công vụ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế [20] nên trong đề tài này, chúng tôi khái quát một số công trình về phát triển CTĐT đặc biệt là các công trình nghiên cứu về phát triển chương trình theo cách tiếp cận năng lực trong đào tạo theo định hướng ứng dụng
Yvonne Osborne đã phân tích sự cần thiết của chương trình giảng dạy phải dựa trên năng lực: Chương trình giảng dạy dựa trên năng lực đưa ra phương pháp tiếp cận lấy người học làm trung tâm cho sự phát triển và đánh giá việc dạy và học mà trong đó các học viên phải đối mặt với tình huống làm việc thực tế chuyên nghiệp để chuẩn bị cho họ ở mức độ sơ cấp trong thực
Hanoi University of Home Affairs
Trang 8hành Các chiến lược dạy và học thể hiện phương pháp học tập có liên quan đến tình huống làm việc nhằm hỗ trợ cho học viên có thể đáp ứng các yêu cầu chuyên môn về hành nghề của họ Do đó, các học viên sau khi tốt nghiệp sẽ phát triển năng lực của mình để có thể đáp ứng lại và dự đoán khả năng phát triển công việc của họ trong tương lai Tác giả cũng chỉ ra những thách thức của việc phát triển chương trình giảng dạy dựa trên năng lực như: Việc kiểm soát học tập dựa vào người thiết kế chương trình giảng dạy, những người này
có thể là các đại diện đến từ các trường đại học, hệ thống chăm sóc y tế, cơ quan quản lý và các chuyên gia điều dưỡng Thách thức chủ yếu cho những người xây dựng chương trình giảng dạy là đồng ý thay đổi từ một chương trình giảng dạy cơ bản, tập trung vào nội dung theo truyền thống thành chương trình giảng dạy dựa trên năng lực tập trung vào việc học tập và kết quả học tập của học viên Những người thiết kế chương trình giảng dạy sẽ được yêu cầu thay đổi từ cách giảng dạy hướng theo nội dung thành phát triển các quá trình học tập, theo đó việc suy nghĩ và hành động có thể được đo lường và phản ánh được các tiêu chuẩn chuyên môn thông qua sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học [23, tr.8]
Trần Khánh Đức trong Chuẩn đầu ra và phát triển CTĐT theo năng lực
ở bậc đại học [4] trình bày định hướng phát triển CTĐT theo năng lực: Phát
triển CTĐT cần xuất phát từ thực tế nghề nghiệp và các yếu tố liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; phát triển CTĐT theo định hướng các mục tiêu học tập
cụ thể để hình thành các năng lực chuyên môn; phát triển các CTĐT mở, tạo điều kiện thường xuyên cập nhật tri thức, kĩ năng mới; chú trọng yêu cầu phát triển năng lực hành nghề, giảm bớt các tri thức hàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với những biến đổi của thị trường lao động
Trần Hữu Hoan trong Phát triển chương trình giáo dục đề cập đến cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng chương trình giáo dục bao gồm: Cơ sở triết học, cơ sở về lịch sử, cơ sở tâm lý học, cơ sở lý luận dạy học hiện đại và
cơ sở xã hội Theo tác giả cơ sở triết học được cho là kiến thức trọng tâm cho
Hanoi University of Home Affairs
Trang 9việc thiết kế xây dựng chương trình giáo dục vì cơ sở triết học phản ánh ý tưởng, trường phái riêng của các nhà thiết kế chương trình giáo dục và ảnh hưởng trực tiếp đến mục đích, mục tiêu cụ thể và nội dung cũng như cách thức
tổ chức các hoạt động của chương trình giáo dục [6, tr.20] Triết lý giáo dục giúp các nhà xây dựng chương trình xác định rõ mục đích trong giáo dục; mục tiêu giảng dạy và các hoạt động trong nhà trường; vai trò của cá nhân trong trường trong hoạt động giáo dục, mối quan hệ giữa cá nhân với hoạt động tổ chức và triển khai chương trình; việc lựa chọn các chiến lược, phương pháp dạy học trong nhà trường và trong lớp học [6, tr 24]
Cơ sở xã hội của việc xây dựng chương trình giáo dục là chương trình đáp ứng các nhu cầu của cá nhân người học, và nhu cầu xã hội Các nhu cầu cá nhân người học gồm nhu cầu về thể chất, nhu cầu tâm lý xã hội, nhu cầu được giáo dục và nhu cầu phát triển Còn các nhu cầu xã hội có ý nghĩa và ảnh hưởng đến chương trình như chính trị, kinh tế, giáo dục, môi trường, văn hóa [6, tr 34]
Cơ sở tâm lý học của xây dựng chương trình giáo dục là chương trình phải luôn đảm bảo được phần thực hành phù hợp với nhu cầu người học, tránh
lý thuyết, lý luận thuần túy Việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới của người học phải dựa trên nền của những cái đã có trong đầu của người học [6, tr 35]
Nguyễn Vũ Bích Hiền [5] trong bài báo “Các xu hướng phát triển CTĐT theo quan điểm lấy người học làm trung tâm” nghiên cứu các xu hướng phát triển CTĐT theo quan điểm lấy người học làm trung tâm Trên cơ sở làm rõ khái niệm phát triển CTĐT và quan điểm lấy người học làm trung tâm, nghiên cứu nêu lên ba xu hướng phát triển chương trình là: thiết kế chương trình theo chuẩn đầu ra và đào tạo theo năng lực thực hiện, kêu gọi sự tham gia của nhiều bên liên quan (những người có mối quan tâm và được hưởng lợi ích trực tiếp hay gián tiếp từ chương trình) trong phát triển chương trình nhằm đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học, đào tạo theo học chế tín chỉ được coi là một ví dụ của việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình theo quan điểm
Hanoi University of Home Affairs
Trang 10lấy người học làm trung tâm Đó là cách phát triển chương trình giúp người học được chủ động và được quyền quyết định nhiều hơn cho hoạt động học tập của chính mình
Phát triển CTĐT đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) - Tài liệu cơ bản của Dự án phát triển giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở Việt Nam giai đoạn 2 do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì đã trình bày các đặc trưng cơ bản của đào tạo theo cách tiếp cận POHE là CTĐT
mở và dựa vào năng lực, xác định phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên rõ ràng,
có sự tham gia của thị trường lao động vào quá trình đào tạo POHE, đánh giá kết quả người học dựa vào năng lực [1, tr.58-64] Bên cạnh đó tài liệu này cũng trình bày chi tiết chu trình phát triển CTĐT POHE với các bước: Phân tích nhu cầu của thị trường lao động; xác đinh mục tiêu đào tạo, xây dựng hồ sơ nghề nghiệp, hồ sơ năng lực, chuẩn đầu ra; phân tích hiện trạng của Trường; xây dựng nội dung học tập, chủ đề học tập, sắp xếp hệ thống modun/học phần trong CTĐT; lựa chọn phương pháp giáo dục; tổ chức quá trình dạy học; phát triển
hỗ trợ học tập; xây dựng quy tắc đánh giá kết quả học tập; thực hiện và cải tiến CTĐT; phát triển chiến lược đánh giá CTĐT thích hợp [1, tr.71]
Những công trình nghiên cứu về xây dựng, phát triển chương trình đã bàn về cơ sở xây dựng CTĐT, xu hướng, sự cần thiết xây dựng chương trình theo cách tiếp cận năng lực; quy trình xây dựng CTĐT Trong đề tài này, chúng tôi kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trên để đi sâu nghiên cứu
về cơ sở khoa học xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài Cơ sở khoa học xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nhằm xác lập cơ sở lí
luận, pháp lí và thực tiễn của việc xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội; từ đó đề xuất quy trình, giải pháp xây dựng CTĐT CLC tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hanoi University of Home Affairs
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận, cơ sở pháp lí về CTĐT và xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học
- Nghiên cứu thực trạng xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học của Việt Nam
- Nghiên cứu nguyên tắc, chuẩn đầu ra, thời lượng, cấu trúc, nội dung, quy trình, lộ trình xây dựng CTĐT CLC và điều kiện thực hiện CTĐT CLC tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lí luận, pháp lí và thực tiễn xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: CTĐT CLC trình độ đại học
Phạm vi thời gian: xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội giai đoạn 2020-2030
Phạm vi không gian: xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại trụ sở chính của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích: Phân tích các CTĐT CLC đang triển khai tại một số trường đại học ở Việt Nam để tham khảo kinh nghiệm xây dựng CTĐT CLC tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội; phân tích đặc điểm của CTĐT CLC trình độ đại học; phân tích quy trình xây dựng CTĐT CLC
Phương pháp mô tả: Mô tả thực trạng năng lực đào tạo của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong việc đáp ứng các điều kiện đào tạo CLC
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra nhằm thu thập thông tin về nhu cầu học CTĐT CLC của học sinh lớp 12 ở một số tỉnh phía Bắc
Hanoi University of Home Affairs
Trang 12Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn một số chuyên gia nhằm thu thập thông tin về kinh nghiệm xây dựng và triển khai CTĐT CLC tại một số trường đại học ở Việt Nam
6 Giả thuyết khoa học
Việc xây dựng chương trình CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội dựa trên cơ sở lí luận, pháp lí và thực tiễn Điều này bảo đảm cho chương trình CLC trình độ đại học có tính khoa học, tính hiện đại, cập nhật, đáp ứng được nhu cầu của các bên liên quan
7 Đóng góp của đề tài
Đóng góp chủ yếu của đề tài:
- Về lí luận: Đề tài khái quát hóa một số nguyên tắc, yêu cầu trong các văn bản pháp lí về việc xây dựng CTĐT trình độ đại học nói chung và CTĐT CLC nói riêng; xây dựng được quy trình xây dựng CTĐT CLC
- Về thực tiễn: Đề tài đóng góp vào quá trình xây dựng CTĐT CLC trình
độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chương 2 Thực trạng xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học của Việt Nam
Chương 3 Xây dựng CTĐT CLC trình độ đại học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hanoi University of Home Affairs
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHÁP LÍ VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
VÀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Chương trình đào tạo
Theo Wentling Tim, CTĐT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, cho biết toàn bộ nôi dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [24]
“CTĐT là hệ thống kiến thức lý thuyết và thực hành được thiết kế đồng
bộ với phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá kết quả học tập để đảm bảo người học tích luỹ được kiến thức và đạt được năng lực cần thiết đối với mỗi trình độ của giáo dục đại học” [17]
Trong Luật Giáo dục đại học năm 2018 [11], “CTĐT bao gồm mục tiêu, khối lượng kiến thức, cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá đối với môn học, ngành học, trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam”
Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm CTĐT là kế hoạch tổng thể cho hoạt động đào tạo, bao gồm mục tiêu đào tạo; chuẩn đầu ra; khối lượng kiến thức; cấu trúc, nội dung chương trình; phương pháp và hình thức đánh giá đối với môn học, ngành học
1.1.2 Chương trình đào tạo chất lượng cao
Theo Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16], “CTĐT CLC là CTĐT có các điều kiện đảm bảo chất lượng và chuẩn đầu ra cao hơn CTĐT đại trà tương ứng, đồng thời đáp ứng các tiêu chí và điều kiện tại Quy định này” (Quy định
về đào tạo CLC trình độ đại học – chú thích của tác giả đề tài)
Hanoi University of Home Affairs
Trang 141.2 Đặc điểm của chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học
1.2.1 Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chất lượng cao trình
độ đại học
Chuẩn đầu ra của người học tốt nghiệp trình độ đại học được quy định theo Quyết định 1982/QĐ-TTg [13] như sau: Về kiến thức, người tốt nghiệp trình độ đại học phải có: Kiến thức thực tế vững chắc, kiến thức lý thuyết sâu, rộng trong phạm vi của ngành đào tạo; kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, khoa học chính trị và pháp luật; kiến thức về công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công việc; kiến thức về lập kế hoạch, tổ chức và giám sát các quá trình trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể; kiến thức cơ bản về quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn Về kĩ năng, người tốt nghiệp trình độ đại học phải có:
Kỹ năng cần thiết để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp; kỹ năng dẫn dắt, khởi nghiệp, tạo việc làm cho mình và cho người khác; kỹ năng phản biện, phê phán và sử dụng các giải pháp thay thế trong điều kiện môi trường không xác định hoặc thay đổi; kỹ năng đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành
và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm; kỹ năng truyền đạt vấn đề
và giải pháp tới người khác tại nơi làm việc; chuyển tải, phổ biến kiến thức, kỹ năng trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể hoặc phức tạp; có năng lực ngoại ngữ bậc 3/6 Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam Về năng lực tự chủ và trách nhiệm, người tốt nghiệp trình độ đại học phải có năng lực: Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm; hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định; tự định hướng, đưa ra kết luận chuyên môn và có thể bảo vệ được quan điểm cá nhân; lập kế hoạch, điều phối, quản lý các nguồn lực, đánh giá và cải thiện hiệu quả các hoạt động
Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định: Chuẩn đầu ra của CTĐT CLC phải cao hơn của CTĐT đại trà tương ứng về năng lực chuyên môn; năng lực ngoại ngữ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin; năng lực dẫn dắt, chủ trì và làm việc nhóm; khả năng thích nghi với môi trường công tác;
Hanoi University of Home Affairs
Trang 15riêng năng lực ngoại ngữ tối thiểu phải đạt bậc 4/6 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc tương đương)
Xét về năng lực chuyên môn: Năng lực chuyên của người học tốt nghiệp CTĐT CLC cao hơn so với người học tốt nghiệp CTĐT đại trà về kiến thức thực tế, kiến thức lý thuyết trong phạm vi của ngành đào tạo; kỹ năng cần thiết
để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp
Xét về năng lực ngoại ngữ: Năng lực ngoại ngữ của người học tốt nghiệp CTĐT CLC cao hơn 01 bậc so với người học tốt nghiệp CTĐT đại trà Người học tốt nghiệp CTĐT chỉ cần đạt được bậc 3/6 trong khung năng lực ngoại ngữ
6 bậc dùng cho Việt Nam, tức là có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí, v.v có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra khi đến khu vực có sử dụng ngôn ngữ đó; có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm; có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, giấc mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình [15], trong khi người học tốt nghiệp CTĐT CLC phải đạt được bậc 4/6, tức là có thể hiểu ý chính của một văn bản phức tạp về các chủ đề cụ thể và trừu tượng, kể cả những trao đổi kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân Có thể giao tiếp ở mức độ trôi chảy, tự nhiên với người bản ngữ Có thể viết được các văn bản rõ ràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và có thể giải thích quan điểm của mình về một vấn đề, nêu ra được những ưu điểm, nhược điểm của các phương án lựa chọn khác nhau [15]
1.2.2 Thời lượng và cấu trúc của chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học
Theo Thông tư số 07/TT-BGDĐT [17], thời lượng hiện tại của CTĐT đại trà trình độ đại học tối thiểu là 120 tín chỉ Theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg [7], CTĐT trình độ đại học có thời lượng từ 120 đến 180 tín chỉ
Hanoi University of Home Affairs
Trang 16CTĐT CLC được xây dựng và phát triển trên nền của CTĐT đại trà hiện hành của Trường và để đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của CTĐT CLC phải cao hơn chuẩn đầu ra của của CTĐT đại trà tương ứng của Trường thì thời lượng của CTĐT CLC phải nhiều hơn thời lượng của CTĐT đại trà tương ứng
CTĐT CLC bao gồm các khối kiến thức: giáo dục đại cương, giáo dục chuyên nghiệp (kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành, chuyên ngành, kiến thức bổ trợ tự do - nếu có, thực tập cuối khóa, làm đồ án/khóa luận tốt nghiệp) [16] Như vậy, về cấu trúc, CTĐT CLC giống với CTĐT đại trà, chỉ khác biệt ở khóa luận tốt nghiệp Người học CTĐT CLC bắt buộc phải thực hiện khóa luận tốt nghiệp, còn trong CTĐT đại trà, người học có thể thực hiện khóa luận tốt nghiệp nếu đủ điều kiện theo quy định của Trường hoặc học học phần thay thế
khóa luận tốt nghiệp
1.2.3 Nội dung chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học
CTĐT CLC được xây dựng và phát triển trên nền của CTĐT đại trà hiện hành của Trường; có tham khảo CTĐT nước ngoài
Dựa trên nền nội dung của CTĐT đại trà, nội dung của CTĐT CLC được xây dựng và phát triển bằng cách: (1) bổ sung các học phần mới; (2) xây dựng một số học phần thuộc kiến thức cơ sở ngành và ngành có cùng tên, cùng số tín chỉ nhưng nâng cao về chuẩn đầu ra học phần so với chuẩn đầu ra học phần trong CTĐT đại trà; (3) xây dựng một số học phần thuộc kiến thức cơ sở ngành
và ngành có cùng tên, nhưng tăng về số tín chỉ và nâng cao về chuẩn đầu ra học phần so với chuẩn đầu ra học phần trong CTĐT đại trà; (4) xác định, lựa chọn một số học phần thuộc kiến thức cơ sở ngành và ngành để giảng dạy bằng dạy bằng ngôn ngữ của CTĐT nước ngoài hoặc bằng Tiếng Anh
Các học phần giảng dạy bằng dạy bằng ngôn ngữ của CTĐT nước ngoài hoặc bằng Tiếng Anh chiếm tối thiểu 20% số tín chỉ các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, ngành, chuyên ngành [16]
Khi xây dựng CTĐT CLC có tham khảo từ CTĐT nước ngoài tương ứng
đã được kiểm định hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phéo thực hiện vầ
Hanoi University of Home Affairs
Trang 17cấp văn bằng Vì vậy, trong CTĐT CLC, có những học phần (thuộc khối kiến thức cơ sở ngành/ngành, chuyên ngành) tiếp nhận/kế thừa từ chương trình tương ứng của nước ngoài Điều này tạo nên tính quốc tế, hội nhập của chương trình CLC
1.2.4 Phương pháp, hình thức đánh giá đối với môn học, ngành học
Áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại theo hướng chú trọng phát triển năng lực phân tích, thực hành, sáng tạo, tự cập nhật kiến thức; năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trên nguyên tắc khách quan, minh bạch, linh hoạt, bám sát mục tiêu của mỗi học phần và của CTĐT
1.3 Tiêu chí của chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học
Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định các tiêu chí xác định
CTĐT CLC đồng thời cũng là điều kiện để có thể thực hiện CTĐT CLC
1.3.1 Giảng viên, trợ giảng
Điều 6 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định Giảng viên tham gia giảng dạy chương trình CLC trình độ đại học phải có trình độ thạc sĩ trở lên Riêng giảng viên dạy lý thuyết các học phần thuộc khối kiến thức ngành, chuyên ngành phải có trình độ tiến sĩ hoặc chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc
có trình độ thạc sĩ tốt nghiệp ở các trường đại học của các nước phát triển đúng ngành hoặc thuộc ngành gần (đối với các ngành đặc thù); Có năng lực chuyên môn, nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của CTĐT CLC; có kinh nghiệm giảng dạy liên quan đến ngành CTĐT CLC từ 3 năm trở lên; có phương pháp giảng dạy hiệu quả; áp dụng tốt công nghệ thông tin trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Giảng viên dạy các học phần chuyên môn bằng ngoại ngữ, còn phải có trình độ ngoại ngữ bậc 5/6 trở lên theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc tương tương) hoặc được đào tạo trình độ đại học trở lên toàn thời gian ở nước ngoài bằng ngôn ngữ đó
Như vậy, yêu cầu đối với giảng viên tham gia giảng dạy chương trình CLC trình độ đại học cao hơn so với yêu cầu đối với giảng viên tham gia giảng dạy chương trình đại trà
Hanoi University of Home Affairs
Trang 18Bảng 1.1 So sánh yêu cầu đối với giảng viên tham gia giảng dạy chương trình CLC trình độ đại học và yêu cầu đối với giảng viên tham gia giảng dạy chương trình đại trà
Yêu cầu
đối với giảng viên
Giảng viên tham gia giảng dạy chương trình CLC trình độ đại học
Giảng viên tham gia giảng dạy chương trình
đại trà
Trình độ giảng viên dạy
các học phần thuộc khối
kiến thức giáo dục đại
cương, kiến thức cơ sở
Đáp ứng yêu cầu của CTĐT đại trà:
Tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp
cơ sở hoặc tương đương được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một
Hanoi University of Home Affairs
Trang 19ĐTCLC
- Có ít nhất 01 đề tài phối hợp nghiên cứu với các tổ chức, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất liên quan đến CLC
bài báo được công bố trên tạp chí khoa học có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học chuyên ngành
Kinh nghiệm giảng dạy Kinh nghiệm giảng dạy
liên quan đến ngành CTĐT CLC từ 3 năm trở lên
Không yêu cầu kinh nghiệm giảng dạy
Giảng viên dạy các học
phần chuyên môn bằng
ngoại ngữ
Có trình độ ngoại ngữ bậc 5/6 trở lên theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc tương tương) hoặc được đào tạo trình
độ đại học trở lên toàn thời gian ở nước ngoài bằng ngôn ngữ đó
Không yêu cầu dạy các học phần chuyên môn bằng ngoại ngữ
Điều 6 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định trợ giảng CTĐT CLC trình độ đại học phải có đủ năng lực chuyên môn, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của học phần; sử dụng tốt các thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy để hỗ trợ giảng viên trong hướng dẫn sinh viên thực hiện bài tập, hướng dẫn thực hành, thảo luận, seminar, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp
1.3.2 Người quản lý và cố vấn học tập
Điều 7 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định người quản lý chương trình CLC phải có đủ năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm trong quản
lý đào tạo; sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý liên quan; có năng lực
Hanoi University of Home Affairs
Trang 20ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc Cố vấn học tập phải nắm vững CTĐT, quy định về đào tạo CLC và có khả năng hỗ trợ, tư vấn cho sinh viên trong quá trình học tập; có năng lực ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc
1.3.3 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
Điều 8 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học như sau:
1 Có phòng học riêng cho lớp đào tạo CLC được trang bị máy tính kết nối mạng internet và các thiết bị hỗ trợ giảng dạy, học tập; mỗi sinh viên chương trình CLC có nơi tự học ở trường, được sử dụng mạng internet không dây
2 Có đủ giáo trình, tài liệu tham khảo trong, ngoài nước và được cập nhật thường xuyên; có thư viện và thư viện điện tử cho giảng viên và sinh viên tra cứu và sử dụng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
3 Có đủ các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập; có các phần mềm mô phỏng cần thiết phục vụ giảng dạy thực nghiệm cho sinh viên chương trình CLC và các cơ sở vật chất cần thiết khác theo yêu cầu của CTĐT Như vậy, yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học cho đào tạo chương trình CLC cao hơn so với đào tạo chương trình đại trà
Bảng 1.2 So sánh yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa đào tạo chương trình CLC và đào tạo chương trình đại trà
Yêu cầu về cơ sở vật
chất phục vụ đào tạo
và nghiên cứu khoa
học
Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của chương trình CLC trình độ đại
học
Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của chương trình đại trà trình độ đại học (TT22/2017)
Thư viện Có đủ giáo trình, tài liệu
tham khảo trong, ngoài nước và được cập nhật thường xuyên
Có giáo trình đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Hanoi University of Home Affairs
Trang 21Có thư viện và thư viện điện tử cho giảng viên và sinh viên tra cứu và sử dụng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Có thư viện và thư viện điện tử cho giảng viên và sinh viên tra cứu và sử dụng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Phòng học Có phòng học riêng cho
lớp đào tạo CLC được trang bị máy tính kết nối mạng internet và các thiết
bị hỗ trợ giảng dạy, học tập
Có đủ phòng học đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập, nghien cứu khóa học
Nơi tự học ở trường Mỗi sinh viên chương
trình CLC có nơi tự học
ở trường, được sử dụng mạng internet không dây
Không yêu cầu
1.3.4 Nghiên cứu khoa học của người học
Điều 9 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định về NCKH của người học chương trình CLC trình độ đại học như sau: Trong cả khoá học, mỗi sinh viên chương trình CLC phải được tham gia NCKH theo nhóm nghiên cứu
do các giảng viên hướng dẫn hoặc tham gia đề tài NCKH với giảng viên Hàng năm, sinh viên chương trình CLC phải có ít nhất 01 đề tài phối hợp nghiên cứu với các tổ chức, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất liên quan đến CLC Như vậy, yêu cầu về NCKH trong đào tạo chương trình CLC cao hơn so với đào tạo chương trình đại trà
Hanoi University of Home Affairs
Trang 22Bảng 1.3 So sánh yêu cầu về nghiên cứu khoa học của người học giữa đào tạo chương trình CLC và đào tạo chương trình đại trà
Yêu cầu về NCKH của
người học
Yêu cầu về NCKH
chương trình CLC trình độ đại học
Yêu cầu về NCKHcủa người học chương trình đại trà trình độ đại học (TT19/2012/TT-BGDĐT)
Tham gia NCKH theo
nhóm nghiên cứu do các
giảng viên hướng dẫn
hoặc tham gia đề tài
NCKH với giảng viên
Trong cả khóa học, bắt buộc tham gia NCKH theo nhóm nghiên cứu do các giảng viên hướng dẫn hoặc tham gia đề tài NCKH với giảng viên
Trong cả khóa học, không bắt buộc tham gia NCKH theo nhóm nghiên cứu do các giảng viên hướng dẫn hoặc tham gia đề tài NCKH với giảng viên
Thực hiện đề tài phối
hợp nghiên cứu với các
tổ chức, doanh nghiệp và
cơ sở sản xuất liên quan
đến CLC
Hàng năm, bắt buộc thực hiện 01 đề tài phối hợp nghiên cứu với tổ chức, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất liên quan đến ngành đào tạo CLC
Hàng năm, không bắt buộc thực hiện 01 đề tài phối hợp nghiên cứu với các tổ chức, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất liên quan đến ngành đào tạo CLC
1.3.5 Hợp tác quốc tế
Điều 5 và Điều 10 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định về hợp tác quốc tế trong đào tạo CLC trình độ đại học như sau: Cơ sở đào tạo có chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên với trường đại học nước ngoài Cơ
sở đào tạo thực hiện một số hoặc tất cả các hình thức hợp tác quốc tế sau để hỗ trợ phát triển chương trình CLC: bồi dưỡng, trao đổi giảng viên và sinh viên; tổ chức hợp tác NCKH, tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, giao lưu học thuật; liên kết thư viện, trao đổi kinh nghiệm, thông tin, tài liệu, ấn phẩm khoa học;
Hanoi University of Home Affairs
Trang 23tham gia các tổ chức khoa học, nghề nghiệp quốc tế liên quan đến chương trình CLC Như vậy, yêu cầu về hợp tác quốc tế trong đào tạo chương trình CLC cao hơn so với đào tạo chương trình đại trà
Bảng 1.4 So sánh yêu cầu về hợp tác quốc tế trong đào tạo CLC trình độ đại học và hợp tác quốc tế trong đào tạo đại trà trình độ đại học
Yêu cầu về hợp tác
quốc tế trong đào tạo
Yêu cầu về hợp tác quốc tế trong đào tạo CLC trình độ đại học
Yêu cầu về hợp tác quốc tế trong đào tạo đại trà trình độ đại học
Chương trình trao đổi
sinh viên, giảng viên
với trường đại học nước
ngoài
Bắt buộc phải có Chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên với trường đại học nước ngoài
Không bắt buộc phải có Chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên với trường đại học nước ngoài
để hỗ trợ phát triển chương trình CLC
Không bắt buộc phải thực hiện một số hoặc tất
cả các hình thức hợp tác quốc tế để hỗ trợ phát triển chương trình đại trà
1.3.6 Tổ chức và quản lý đào tạo
Điều 12 Thông tư số 23/2014/TT-BGDĐT [16] quy định về tổ chức và quản lý đào tạo CLC trình độ đại học như sau: 1 Tổ chức đào tạo chương trình CLC phải đảm bảo:
a) Thực hiện theo học chế tín chỉ, sử dụng triệt để phương pháp giảng dạy mới theo hướng phát huy năng lực cá nhân của sinh viên, tăng cường rèn luyện
kĩ năng mềm, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại và các phần mềm chuyên dụng để giải quyết các nội dung chuyên môn;
Hanoi University of Home Affairs
Trang 24b) Có ít nhất 20% số tín chỉ các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, ngành và chuyên ngành được dạy bằng ngôn ngữ của CTĐT nước ngoài hoặc Tiếng Anh, trong đó có ít nhất 1/2 số tín chỉ nêu trên do giảng viên được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 6 của Quy định này đảm nhiệm (trừ những ngành chỉ đào tạo ở Việt Nam);
c) Tổ chức cho sinh viên tham quan, thực hành, thực tập tại các tổ chức, doanh nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất trong hoặc ngoài nước theo kế hoạch; mời các giảng viên thỉnh giảng và báo cáo viên là các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nghệ nhân đến từ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở trong nước hoặc nước ngoài tham gia giảng dạy, báo cáo chuyên đề, hướng dẫn thực hành, thí nghiệm, phát triển nghề nghiệp; hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động, doanh nghiệp liên quan để mời tham gia, hỗ trợ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học;
d) Áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại theo hướng chú trọng phát triển năng lực phân tích, thực hành, sáng tạo, tự cập nhật kiến thức; năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trên nguyên tắc khách quan, minh bạch, linh hoạt, bám sát mục tiêu của mỗi học phần và của CTĐT;
đ) Bố trí đủ trợ giảng cho mỗi học phần thuộc khối kiến thức chuyên ngành;
e) Bố trí đủ người hướng dẫn thảo luận, thực hành, thí nghiệm, thực tập; đảm bảo mỗi nhóm thảo luận không quá 30 sinh viên, nhóm thực hành không quá 15 sinh viên
2 Quản lý đào tạo
a) Áp dụng tối đa các quy định quản lý học vụ, giảng viên và sinh viên của CTĐT tham khảo;
b) Có bộ phận hoặc cán bộ quản lý chuyên trách theo dõi, quản lý và tổ chức triển khai thực hiện chương trình CLC;
c) Cố vấn học tập, giảng viên ngoài giờ lên lớp phải bố trí thời gian trả lời, giải quyết các vấn đề vướng mắc của sinh viên về nội dung học tập;
Hanoi University of Home Affairs
Trang 25d) Tổ chức lấy ý kiến của sinh viên tối thiểu một lần sau mỗi học kỳ về nội dung, phương pháp giảng dạy của giảng viên; công tác quản lý, phục vụ; điều kiện cơ sở vật chất và tổ chức trả lời những ý kiến phản ánh của sinh viên Như vậy, yêu cầu về tổ chức và quản lý đào tạo CLC trình độ đại học cao hơn so với đào tạo chương trình đại trà trình độ đại học
Bảng 1.5 So sánh yêu cầu về tổ chức và quản lý đào tạo gia đào tạo CLC trình độ đại học và đào tạo đại trà trình độ đại học
Yêu cầu về tổ chức và
quản lý đào tạo
Yêu cầu về tổ chức và quản lý đào tạo CLC trình độ đại học
Yêu cầu về tổ chức và quản lý đào tạo đại trà trình độ đại học
Giảng viên thỉnh giảng,
báo cáo viên đến từ tổ
chức, doanh nghiệp
Bắt buộc phải mời giảng viên thỉnh giảng, báo cáo viên đến từ tổ chức,
doanh nghiệp
Không bắt buộc phải mời giảng viên thỉnh giảng, báo cáo viên đến từ tổ
chức, doanh nghiệp
Áp dụng các phương
pháp đánh giá hiện đại
Bắt buộc áp dụng các phương pháp đánh giá
hiện đại
Khuyến khích áp dụng các phương pháp đánh
giá hiện đại
Bố trí trợ giảng cho mỗi
học phần thuộc khối
kiến thức chuyên ngành
Bắt buộc bố trí đủ trợ giảng cho mỗi học phần thuộc khối kiến thức
chuyên ngành
Không bắt buộc bố trí trợ giảng cho mỗi học phần thuộc khối kiến thức
Có bộ phận hoặc cán bộ quản lý chuyên trách theo dõi, quản lý và tổ chức triển khai thực hiện chương trình đại trà
Áp dụng các quy định quản lý học vụ, giảng viên và sinh viên của Việt Nam
Hanoi University of Home Affairs
Trang 261.4 Mô hình đào tạo chất lượng cao
1.4.1 Quan niệm về mô hình đào tạo chất lượng cao
Có những cách tiếp cận khác nhau về mô hình đào tạo CLC:
(1) Mô hình đào tạo CLC là sự mô phỏng quá trình đào tạo phức tạp bao gồm các yếu tố đầu vào; quá trình dạy học, phục vụ dạy học; các yếu tố đầu ra (kết quả đào tạo); đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo
(2) Mô hình đào tạo CLC là mô hình tổ chức quản lí đào tạo CLC một cách hiệu quả Dạy học là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Trong đó,
có các đơn vị chức năng tham gia vào quá trình đào tạo Do vậy, các cơ sở giáo dục thường chú trọng tổ chức quản lí đào tạo một cách hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo
Trong đề tài này, mô hình đào tạo CLC được tiếp cận với tư cách là mô hình quá trình đào tạo
1.4.2 Cấu trúc mô hình đào tạo
1.4.2.1 Các yếu tố đầu vào trong quá trình đào tạo CLC
Các yếu tố đầu vào trong quá trình đào tạo bao gồm: (1) Tuyển sinh: chất lượng tuyển sinh, quy mô tuyển sinh, phương thức tuyển sinh; (2) Giảng viên: tỷ lệ giảng viên/sinh viên; số lượng giảng viên có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm PGS, GS; kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy, đạo đức nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên); (3) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo: giảng đường, phòng thực hành, phòng đọc sách, phòng máy tính; thiết bị (máy tính, thiết bị nghe - nhìn…), tài liệu học tập và công nghệ thông tin (sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, internet, CD-ROMs và các tài nguyên học tập khác; (4) Nguồn tài chính: Ngân sách nhà nước, nguồn thu sự nghiệp và khác nguồn thu khác
1.4.2.2 Quá trình dạy học, phục vụ dạy học
Quá trình dạy học, phục vụ dạy học CLC bao gồm: (1) Quá trình dạy học: mục tiêu đào tạo, CTĐT, phương thức đào tạo (phương pháp dạy học, hình thức tổ chức đào tạo), đánh giá kết quả học tập; (2) Quá trình phục vụ dạy học:
Hanoi University of Home Affairs
Trang 27cố vấn học tập, đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo, tài liệu học tập của giảng viên và sinh viên
1.4.2.3 Đầu ra trong quá trình đào tạo
Các yếu tố đầu ra trong đào tạo CLC bao gồm: (1) Năng lực (kiến thức,
kĩ năng, thái độ và trách nhiệm nghề nghiệp) của người học sau khi tốt nghiệp: (a) Kiến thức: kiến thức tổng hợp về pháp luật và quản lí nhà nước, kiến thức liên ngành, kiến thức chuyên ngành); (b) Kĩ năng: Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kĩ năng nghiên cứu độc lập, kĩ năng ngoại ngữ và một số kĩ năng mềm khác (kĩ năng quản lí, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm…); (c) Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có trách nhiệm với xã hội và tuân theo pháp luật…; phong cách làm việc chuyên nghiệp, độc lập, chủ động; (2) Tỉ lệ thôi học, tốt nghiệp; Tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp
1.4.2.4 Đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo
Đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo bao gồm đánh giá trong (tự đánh giá), đánh giá ngoài (các tổ chức kiểm định độc lập)
1.5 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao trình
độ đại học
Trong Kế hoạch hành động của ngành giáo dục năm 2017 [5], Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ra nhiệm vụ: “Chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học đổi mới mục tiêu, CTĐT, đổi mới phương pháp giảng dạy từ cung cấp kiến thức sang
hỗ trợ phát triển năng lực và phẩm chất, kỹ năng của người học; đổi mới cách tiếp cận xây dựng CTĐT đại học dựa trên kinh nghiệm của các CTĐT tiên tiến (POHE, CDIO)”
Chiến lược phát triển Trường Đại học Nội vụ Hà Nội xác định sứ mệnh của trường là mở ra cơ hội học tập cho mọi người với nhiều hình thức đào tạo,
đa ngành, đa trình độ theo định hướng ứng dụng, đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực của ngành nội vụ, nền công vụ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế [11]
Hanoi University of Home Affairs
Trang 28Chính vì xác định chiến lược phát triển theo định hướng ứng dụng nên trong đề tài này chúng tôi trình bày quy trình phát triển CTĐT CLC trình độ đại học theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) Phát triển CTĐT CLC trình độ đại học theo cách tiếp cận POHE gồm các bước sau:
1.5.1 Khảo sát, phân tích nhu cầu của thị trường lao động
Việc khảo sát, phân tích nhu cầu của thị trường lao động nhằm xác định các năng lực, phẩm chất nghề nghiệp mà thị trường lao động mong muốn ở sinh viên tốt nghiệp ra trường Đồng thời cùng nắm bắt những thay đổi của thị trường lao động đối với ngành nghề đào tạo, cập nhật xu thế phát triển ngành nghề trong tương lai [1, tr 85]
Đối tượng cung cấp thông tin về nhu cầu của thị trường lao động thường
là nhóm lãnh đạo/quản lí ở đơn vị sử dụng nhân lực, cựu sinh viên làm việc ở đơn vị sử dụng nhân lực thuộc lĩnh vực ngành nghề đào tạo Phương pháp thu thập thông tin là phỏng vấn trực tiếp hoặc điều tra xã hội học Nội dung khảo sát, phỏng vấn tập trung vào các vị trí việc làm, các công việc chính của mỗi vị trí và các yêu cầu năng lực để thực hiện được các công việc đó
1.5.2 Xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng hồ sơ nghề nghiệp, hồ sơ năng lực, chuẩn đầu ra
a Xác định mục tiêu đào tạo
Đào tạo CLC trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực có tính cạnh tranh cao trên thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
b Xây dựng hồ sơ nghề nghiệp
Hồ sơ nghề nghiệp bao gồm các thông tin cơ bản về các vị trí việc làm
mà người học có thể đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp CTĐT, các công việc chính của mỗi vị trí việc làm mà sinh viên tốt nghiệp có thể đảm nhận và mô tả khái quát về các năng lực (kiến thức, kĩ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm) để có
Hanoi University of Home Affairs
Trang 29thể hoàn thành các công việc đó Như vậy, hồ sơ nghề nghiệp bao gồm sơ đồ phân tích nghề nghiệp và các phiếu phân tích công việc
Sơ đồ phân tích nghề nghiệp bao gồm các thông tin về vị trí việc làm, các công việc chính của mỗi vị trí việc làm (Phụ lục 2 Sơ đồ phân tích nghề nghiệp)
Thí dụ Sơ đồ phân tích nghề nghiệp của chuyên ngành Quản lí di sản văn hóa và phát triển du lịch tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
SƠ ĐỒ PHÂN TÍCH NGHỀ NGHIỆP
1 Tên ngành/chuyên ngành: Quản lí di sản văn hóa và phát triển du lịch
2 Các vị trí việc làm phổ biến và các công việc chính của mỗi vị trí việc làm
và tổ chức đón khách, sắp xếp nơi lưu trú, ăn uống cho khách
du lịch
A2 Thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch
A3 Tổ chức tham quan cho khách du lịch tại điểm
du lịch
A4 Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm cho khách
du lịch A5 Theo dõi,
giám sát, kiểm tra việc phục vụ
du khách
A6 Thanh toán các dịch vụ với các nhà cung cấp và báo cáo, quyết toán sau tour với công ty
Lữ hành
A7 Xử lý các tình huống,
sự cố xảy ra trong quá trình tham quan du lịch
Phiếu phân tích công việc bao gồm kiến thức, kĩ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm để có thể hoàn thành các công việc trong sơ đồ phân tích nghề nghiệp (Phụ lục 3 Mẫu phiếu phân tích công việc)
Hanoi University of Home Affairs
Trang 30Thí dụ Phiếu phân tích công việc Thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch thuộc vị trí Hướng dẫn du lịch của chuyên ngành Quản lí di
sản văn hóa và phát triển du lịch tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
PHIẾU PHÂN TÍCH CÔNG VIỆC
Tên công việc: Thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch
1 Mô tả khái quát công việc
1.1 Thuộc vị trí việc làm Hướng dẫn du lịch
1.2 Bối cảnh thực hiện công việc: Khi đưa đoàn khách đi tham quan 1.3 Các nhiệm vụ chính cần phải thực hiện
- Thuyết minh cho khách du lịch
- Xử lý các tình huống khó và nguy cấp/ nguy hiểm liên quan đến đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
2 Yêu cầu về kiến thức
2.1 Trình bày được kiến thức văn hóa, lịch sử và địa lý để xây dựng bài thuyết minh tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
2.2 Giải thích được phương pháp thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch
3 Yêu cầu về kĩ năng
3.1 Xây dựng được bài thuyết minh tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
3.2 Thuyết minh có ấn tượng và giúp khách du lịch hiểu sâu và thực hiện được về một loại hình du lịch chuyên biệt
3.3 Giới thiệu được một địa điểm tham quan hoặc tuyến điểm du lịch khác để gợi ý cho du khách và thực hiện vai trò quảng bá, marketing du lịch của hướng dẫn viên
3.4 Giám sát, quản lý và xử lý được các tình huống khó và nguy cấp/ nguy hiểm liên quan đến đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
4 Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm nghề nghiệp
4.1 Sáng tạo, linh hoạt trong thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch
4.2 Tuân thủ pháp luật, chủ động, linh hoạt xử lý được các tình huống khó và nguy cấp/ nguy hiểm liên quan đến đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
c Xây dựng hồ sơ năng lực
Hanoi University of Home Affairs
Trang 31Sau khi xây dựng được hồ sơ nghề nghiệp, tức là đã mô tả khái quát về các năng lực (kiến thức, kĩ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm) để có thể hoàn thành các công việc trong mỗi vị trí việc làm, tổ soạn thảo CTĐT xác định các năng lực của từng vị trí việc làm (Phụ lục 4 Năng lực của vị trí việc làm)
Hồ sơ năng lực bao gồm năng lực của tất cả các vị trí việc làm đã được xác định trong sơ đồ phân tích nghề nghiệp Hồ sơ năng lực bao gồm các năng lực chung và năng lực nghề nghiệp Các năng lực chung bao gồm các năng lực cần thiết cho nhiều ngành như năng lực giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập, ra quyết định; hiểu biết cơ bản về khoa học xã hội, khoa học chính trị và pháp luật; năng lực lập kế hoạch, điều phối, quản lý các nguồn lực, đánh giá và cải thiện hiệu quả các hoạt động.…Các năng lực nghề nghiệp là các năng lực cần thiết để người học sau khi tốt nghiệp có thể hoàn thành các công việc trong mỗi vị trí việc làm (ở sơ đồ phân tích nghề nghiệp) Hồ sơ năng lực được coi là tương thích với hồ sơ nghề nghiệp khi các năng lực mà sinh viên tốt nghiệp có được giúp họ hoàn thành tốt các công việc trong hồ sơ nghề nghiệp
Các năng lực trong hồ sơ năng lực được xác định theo các mức độ theo logic hình thành năng lực từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Ở mỗi mức năng lực, các tình huống nghề nghiệp được mô tả cụ thể cho mỗi năng lực Thông thường, trong CTĐT đại học theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp, năng lực thường được xác định khoảng từ 3 đến 4 mức Các mức năng lực ngoại ngữ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin; năng lực dẫn dắt, chủ trì và làm việc nhóm; khả năng thích nghi với môi trường công tác và một số năng lực chuyên môn trong hồ sơ năng lực của CTĐT CLC phải được xác định cao hơn so với năng lực của CTĐT đại trà
Thí dụ: Xác định các mức năng lực Thuyết minh trên tuyến hoặc tại điểm cho khách du lịch thuộc vị trí việc làm Hướng dẫn du lịch của chuyên ngành
Quản lí di sản văn hóa và phát triển du lịch tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hanoi University of Home Affairs
Trang 32- Xác định được phương pháp thuyết minh phù hợp theo từng đối tượng tham quan;
- Thuyết minh được cho đoàn khách tại điểm
du lịch hoặc trên tuyến du lịch
- Sử dụng linh hoạt và có sáng tạo các kiến thức văn hóa, lịch sử
và địa lý để xây dựng bài thuyết minh tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch;
- Xác định phương pháp thuyết minh hấp dẫn và linh hoạt nhất theo từng đối tượng tham quan
và theo đối tượng khách du lịch
- Thuyết minh có
ấn tượng và để lại tình cảm tốt đẹp cho đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
- Giới thiệu một địa điểm tham quan hoặc tuyến điểm du lịch khác
- Sử dụng linh hoạt
và có sáng tạo các kiến thức văn hóa, lịch sử và địa lý để xây dựng bài thuyết minh tại điểm du lịch hoặc trên tuyến
du lịch;
- Xác định phương pháp thuyết minh hấp dẫn và linh hoạt nhất theo hướng chuyên gia về đối tượng tham quan và theo đối tượng khách du lịch
- Thuyết minh có ấn tượng và giúp khách
du lịch hiểu sâu và thực hiện được về một loại hình du lịch chuyên biệt
- Giới thiệu một địa điểm tham quan hoặc tuyến điểm du lịch khác để gợi ý
Hanoi University of Home Affairs
Trang 33để gợi ý cho du khách và thực hiện vai trò quảng
bá, marketing du lịch của HDV
- Giám sát, quản
lý và xử lý được các tình huống liên quan đến đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến du lịch
cho du khách và thực hiện vai trò quảng bá, marketing
du lịch của HDV
- Giám sát, quản lý
và xử lý được các tình huống khó và nguy cấp/ nguy hiểm liên quan đến đoàn khách tại điểm du lịch hoặc trên tuyến
du lịch
- Có khả năng làm trưởng nhóm điều hành các hoạt động hướng dẫn tham quan du lịch trong chuyến đi của đoàn khách trên tuyến và tại điểm du lịch
- Tư vấn cho công ty
lữ hành các loại hình
du lịch mới, các điểm du lịch mới cũng như nội dung
và phương pháp thuyết minh, tổ chức hướng dẫn đoàn khách tham quan tại điểm hoặc tuyến điểm du lịch đó
Hanoi University of Home Affairs
Trang 34d Xây dựng chuẩn đầu ra
Đặc trưng của CTĐT theo định hướng ứng dụng là đào tạo định hướng đầu ra theo nhu cầu của thị trường lao động nên xây dựng CTĐT theo định hướng ứng dụng đồng nghĩa với việc chuyển đổi hồ sơ năng lực thành chuẩn đầu ra của CTĐT
Cũng giống hồ sơ năng lực, chuẩn đầu ra cũng bao gồm hai nhóm năng lực: năng lực chung (kiến thức giáo dục đại cương, kĩ năng mềm, năng lực tự chủ và trách nhiệm chung) và năng lực nghề nghiệp (kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành/chuyên ngành, kĩ năng nghề nghiệp, năng lực tự chủ và trách nhiệm riêng của từng ngành), thể hiện các năng lực mà sinh viên cần đạt được khi tốt nghiệp, bảo đảm cho việc hoàn thành các công việc trong mỗi vị trí việc làm mô tả trong hồ sơ nghề nghiệp nhưng không gắn với các tình huống nghề nghiệp (Phụ lục 5 chuẩn đầu ra của CTĐT)
Khi xây dựng chuẩn đầu ra của CTĐT chất lượng cao, tổ soạn thảo CTĐT đối sánh với chuẩn đầu ra của CTĐT đại trà, chuẩn đầu ra của CTĐT tương ứng của nước ngoài Việc đối sánh với CTĐT đại trà để làm rõ mức độ nâng cao so với chuẩn đầu ra của CTĐT đại trà về năng lực chuyên môn; năng lực ngoại ngữ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin; năng lực dẫn dắt, chủ trì và làm việc nhóm; khả năng thích nghi với môi trường công tác
Việc đối sánh với CTĐT nước ngoài tương ứng để làm rõ sự tương đồng
và khác biệt giữa chuẩn đầu ra của CTĐT CLC so với chuẩn đầu ra của CTĐT nước ngoài tương ứng về kiến thức, kĩ năng chuyên môn, kĩ năng mềm, năng lực tự chủ và trách nhiệm (Phụ lục 6 Đối sánh chuẩn đầu ra của CTĐT)
1.5.3 Thiết kế khung chương trình đào tạo đảm bảo mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra
a Xác định thời lượng và cấu trúc khung chương trình
CTĐT CLC được được xây dựng và phát triển trên nền của CTĐT đại trà nên các khối kiến thức trong CTĐT CLC tương tự với các khối kiến thức trong CTĐT đại trà Trong Phụ lục II Thông tư 23/2014/TT-BGDĐT, CTĐT CLC
Hanoi University of Home Affairs
Trang 35bao gồm 02 khối kiến thức: khối kiến thức giáo dục đại cương, khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (gồm kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành, chuyên ngành) Ở từng cơ sở giáo dục đại học, có quy định riêng về tỷ lệ của mỗi khối kiến thức và kiến thức trong từng khối
Tuy nhiên có sự khác biệt về khối lượng kiến thức và học phần so với CTĐT đại trà Để đáp ứng chuẩn đầu ra cao hơn so với chuẩn đầu ra của CTĐT đại trà, thời lượng CTĐT CLC phải cao hơn thời lượng CTĐT đại trà Thông tư 23/2014/TT-BGDĐT không quy định cụ thể về khối lượng kiến thức của CTĐT CLC Trong thực tế các CTĐT CLC trình độ đại học ở Việt Nam có khối lượng kiến thức cao hơn khoảng 10% so với CTĐT đại trà tương ứng
b Lựa chọn nội dung học tập, xác định các học phần trong CTĐT
- Lựa chọn nội dung học tập
Để lựa chọn nội dung học tập của một CTĐT, tổ soạn thảo CTĐT căn cứ vào hồ sơ năng lực, chuẩn đầu ra: Nhóm các năng lực có nội dung tương đồng lại thành nội dung học tập chung cho các năng lực đó
Cụ thể, thực hiện các bước sau:
1 Lập danh sách các nội dung học tập theo từng năng lực trong Hồ sơ năng lực: Xác định các nội dung phải đảm bảo yêu cầu: Nội dung đó phản ánh các công việc sinh viên phải làm sau khi tốt nghiệp; phù hợp đối với sinh viên
2 Phân bổ các nội dung học tập cho năm học, học kì: Việc phân bổ phải đảm bảo yêu cầu về tính logic của phát triển năng lực từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Hanoi University of Home Affairs
Trang 36Để đáp ứng yêu cầu cao hơn về năng lực của người học sau khi tốt nghiệp so với CTĐT đại trà, bên cạnh các học phần giống với CTĐT đại trà, trong CTĐT CLC, tổ soạn thảo thiết kế những học phần mới không có trong CTĐT đại trà; một số học phần thuộc kiến thức cơ sở ngành và ngành có cùng tên, cùng số tín chỉ nhưng nâng cao về chuẩn đầu ra học phần so với chuẩn đầu
ra học phần trong CTĐT đại trà; xác định, lựa chọn một số học phần thuộc kiến thức cơ sở ngành và ngành trong CTĐT nước ngoài tham khảo để giảng dạy bằng dạy bằng ngôn ngữ của CTĐT nước ngoài tham khảo đó hoặc Tiếng Anh với khối lượng tối thiểu bằng 20% khối lượng kiến thức cơ sở ngành và ngành
Đồng thời với việc xác định được tất cả các học phần để hình thành các năng lực cần thiết đã được xác định trong hồ sơ năng lực, tổ soạn thảo CTĐT xác định trình tự của các học phần Việc xác định trình tự của các học phần dựa vào các yếu tố sau [1, tr.99]: (i) Khía cạnh tâm lí, giáo dục (từ dễ đến khó, từ đơn lẻ đến tổng thể hoặc ngược lại, từ cụ thể đến trừu tượng); (ii) Thông tin về tình trạng ban đầu (đối với các học phần kĩ thuật cần học sau các môn Toán học, Vật lí để có được những kiến thức kĩ năng cần thiết); (iii) Quan hệ logic giữa các học phần khác nhau trong CTĐT; (iv) Trình tự học tập logic: Những học phần chủ yếu cung cấp kiến thức đi trước (ở mức độ thấp) sau đó là những học phần ở mức ứng dụng vào thực tiễn (thực tập nghề nghiệp, khóa luận tốt nghiệp ); (v) Các học phần liên quan đến nhau học song song trong một học kì (trình tự kết nối theo chiều ngang) và những học phần khác học kế tiếp nhau (kết nối theo chiều dọc) – là cơ sở để xây dựng khung CTĐT
1.5.4 Thiết kế đề cương các học phần theo chương trình đào tạo đã xác định
Đề cương học phần bao gồm các thành tố sau: Thông tin về giảng viên; thông tin chung về học phần; mục tiêu của học phần; chuẩn đầu ra của học phần; tóm tắt nội dung học phần; nội dung chi tiết học phần; học liệu; lịch trình giảng dạy; hình thức tổ chức dạy học và phương pháp dạy học; đánh giá kết quả học tập học phần; chính sách đối với học phần và các yêu cầu khác của
Hanoi University of Home Affairs
Trang 37giảng viên
a Xây dựng chuẩn đầu ra học phần, nội dung chi tiết học phần
Chuẩn đầu ra của học phần bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ nghề nghiệp mà người học phải đạt được sau khi học xong học phần Chuẩn đầu ra của học phần chỉ rõ đóng góp của học phần vào việc hình thành năng lực trong
Việc thiết kế các nội dung chi tiết học phần bao gồm các chương mục nhằm đạt được chuẩn đầu ra của học phần
1.1 <tên mục>
1.1.1
1.1.2
… 1.2 <tên mục>
Trang 38b Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học và phương pháp dạy học
Hình thức tổ chức dạy học và phương pháp dạy học thể hiện sự tương tác giữa giảng viên, sinh viên và tài liệu giảng dạy, học tập, được lựa chọn và hoạch định một cách có chủ ý để đạt được chuẩn đầu ra học phần
Bảng 1.8 Quan hệ giữa hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học
và chuẩn đầu ra học phần (theo mô hình K-U-A-I)
c Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập được đánh giá bằng cách so sánh với chuẩn đầu ra của học phần, bao gồm đánh giá quá trình và đánh giá kết thúc học phần Lựa chọn phương pháp đánh giá tùy thuộc vào mức khác nhau trong chuẩn đầu ra của học phần; cơ sở vật chất phục vụ đào tạo; thời điểm đánh giá, loại đánh giá (đánh giá quá trình và đánh giá kết thúc học phần)
Hanoi University of Home Affairs
Trang 39Phát triển CTĐT đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng [1, tr 111] gợi ý các phương pháp đánh giá tối ưu phù hợp với các mức khác nhau trong chuẩn đầu ra học phần (được xây dựng theo mô hình K-U-A-I)
Bảng 1.9 Quan hệ giữa phương pháp đánh giá và chuẩn đầu ra học phần (theo mô hình K-U-A-I)
1.5.5 Lấy ý kiến về chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học
Hanoi University of Home Affairs
Trang 40Theo quy định của Thông tư số 23 /2014/TT-BGDĐT [9], CTĐT CLC trình độ đại học phải có ý kiến thẩm định của hai (2) chuyên gia ngoài cơ sở đào tạo (trong nước hoặc quốc tế) am hiểu lĩnh vực chuyên môn
Căn cứ các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT các trình độ của giáo dục đại học ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày
14/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc lấy ý kiến thẩm định
của chuyên gia ngoài cơ sở đào tạo (trong nước hoặc quốc tế) am hiểu lĩnh vực
chuyên môn về CTĐT CLC với những nội dung cơ bản sau:
- Mục tiêu của CTĐT CLC với các nội dung đánh giá cụ thể: được xác định rõ ràng; phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của cơ sở giáo dục đại học; phù hợp với mục tiêu của giáo dục đại học quy định tại Luật giáo dục đại học
- Chuẩn đầu ra của CTĐT CLC với các nội dung đánh giá cụ thể: thể hiện triết lý giáo dục của CTĐT; phản ánh tầm nhìn và sứ mạng của Nhà trường; phản ánh yêu cầu của các bên liên quan, tương thích với yêu cầu của thị trường lao động trong ngành nghề tương ứng đối với người học tốt nghiệp; được chuyển tải đầy đủ vào CTĐT cấu trúc và nội dung CTĐT); được viết theo cách để có thể quan sát, đo lường được và đánh giá được
- Cấu trúc, nội dung CTĐT với các nội dung đánh giá cụ thể: Nội dung của CTĐT phản ánh chuẩn đầu ra của CTĐT; nội dung CTĐT mang tính cập nhật; sự cân đối giữa các kiến thức đại cương và chuyên nghiệp; sự gắn kết và liền mạch giữa các học phần cơ sở và chuyên ngành; tỷ lệ hợp lí giữa các nhóm học phần bắt buộc và nhóm học phần tự chọn; thời gian đào tạo của chương trình; tính logic về thời gian và trình tự thực hiện từng học phần)
- Phương pháp dạy học với các nội dung đánh giá cụ thể: lựa chọn phương pháp dạy và học bảo đảm tương thích với chuẩn đầu ra; tính đa dạng của phương pháp dạy và học;
- Đánh giá kết quả học tập với các nội dung đánh giá cụ thể: đo lường được mức độ người học đạt được các chuẩn đầu ra; sử dụng đa dạng các
Hanoi University of Home Affairs