1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2014 2015quyết định hình phạt trong trường hợpchuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạttheo luật hình sự việt nam

45 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả Lê Quang Trí
Người hướng dẫn Thạc sĩ Huỳnh Thị Lệ Kha
Trường học Trường đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên
Năm xuất bản 2014-2015
Thành phố Thủ Dầu Một
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 420,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm, căn cứ và ý nghĩa của việc quyết định hình phạt (8)
    • 1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt (8)
    • 1.1.2. Căn cứ để quyết định hình phạt (9)
    • 1.1.3. Những trường hợp quyết định hình phạt cụ thể (12)
      • 1.1.3.1. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật hình sự (12)
      • 1.1.3.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (15)
    • 1.1.4. Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt (16)
  • 1.2. Khái niệm, đặc điểm của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (18)
    • 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi chuẩn bị phạm tội (18)
    • 1.2.2. Khái niệm, đặc điểm của hành vi phạm tội chưa đạt (20)
    • 1.2.3. Phân biệt hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (21)
  • 1.3. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt từ năm 1945 cho đến nay (21)
    • 1.3.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985 (21)
    • 1.3.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 (0)
    • 1.3.3. Giai đoạn từ sau khi ban hành bộ luật hình sự 1999 đến nay (24)
  • 1.4. Kinh nghiệm của một số nước trong việc quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (24)
  • CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT (29)
    • 2.1. Quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hơp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (29)
    • 2.2. Căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo pháp luật hình sự Việt Nam (30)
    • 2.3. Nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (32)
    • 3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (38)
    • 3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt (40)
  • KẾT LUẬN (42)

Nội dung

Tuy Nhà nước ta đang trong quá trình hoàn thiện các quy phạm pháp luật của phápluật hình sự, nhưng hiện tại cho thấy rằng những quy định về việc quyết định hình phạttrong các trường hợp

Khái niệm, căn cứ và ý nghĩa của việc quyết định hình phạt

Khái niệm quyết định hình phạt

Khái niệm quyết định hình phạt là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật hình sự Việt Nam, phản ánh bản chất giai cấp của pháp luật Trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời, thuật ngữ “quyết định hình phạt” chưa được sử dụng, và hoạt động này được hiểu là “lượng hình” mà không có khái niệm rõ ràng Chỉ từ Bộ luật hình sự năm 1985, thuật ngữ “quyết định hình phạt” mới chính thức xuất hiện.

Luật hình sự Việt Nam hiện nay chưa định nghĩa rõ ràng về quyết định hình phạt, mà chỉ được nghiên cứu dưới góc độ khoa học Khái niệm này chưa được quy định trong hệ thống văn bản pháp lý hình sự chính thống, và chủ yếu dựa vào quan điểm cá nhân của các tác giả.

Quyết định hình phạt là quá trình mà Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể theo quy định của pháp luật để áp dụng cho người phạm tội.

Quan điểm cho rằng quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án trong việc lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, đã cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa hoàn toàn bao quát các vấn đề mà Tòa án phải xem xét trong giai đoạn quyết định hình phạt.

Quyết định hình phạt là quá trình mà tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức phạt cụ thể theo quy định của pháp luật để áp dụng cho người phạm tội Theo tác giả, khái niệm này có thể được hiểu theo hai cách: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Thứ nhất: Quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp là quyết định hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

Quyết định hình phạt theo nghĩa rộng bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các biện pháp chấp hành hình phạt Ngoài ra, còn có quyết định miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hoặc áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt.

Chính vì vậy khái niệm quyết định hình phạt có thể được khái niệm như sau:

Quyết định hình phạt của Tòa án dựa trên các căn cứ pháp lý để lựa chọn loại hình phạt và mức phạt cụ thể, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Tòa án cũng quyết định các biện pháp chấp hành hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt, đặc biệt trong trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên.

Căn cứ để quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là một khâu quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, yêu cầu phải tuân thủ các nguyên tắc như pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và cá thể hóa trách nhiệm hình sự Những nguyên tắc này không chỉ mang tính chỉ đạo mà còn được thể hiện cụ thể qua các căn cứ quyết định hình phạt.

Thứ nhất : Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự

Các căn cứ quyết định hình phạt theo Điều 45 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) bao gồm việc Tòa án dựa vào quy định của Bộ luật Hình sự, xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cùng với các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tòa án căn cứ vào quy định của bộ luật hình sự để quyết định hình phạt, điều này xuất phát từ việc các quy định về tội phạm và hình phạt là cơ sở cho quyết định này Tòa án xem xét và dựa vào các quy định trong Bộ luật hình sự để đưa ra quyết định hình phạt, đồng thời đây cũng là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc xác định hình phạt.

Các quy định của Bộ luật hình sự là căn cứ quyết định hình phạt bao gồm các quy định ở phần chung và quy định ở phần các tội phạm.

Bộ luật hình sự quy định các nguyên tắc xử lý tại Điều 3, cùng với các quy định liên quan đến hình phạt từ Điều 26 đến Điều 40, bao gồm mục đích, nội dung, phạm vi và điều kiện áp dụng Điều 45 nêu rõ căn cứ quyết định hình phạt, trong khi các Điều 47, 50, 51, 52, 53 quy định về quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt Tình tiết giảm nhẹ được đề cập tại Điều 46, và tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 48 Điều 49 quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm, trong khi Điều 60 nói về án treo Ngoài ra, còn có quy định về miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt Chương X của Bộ luật hình sự cũng đưa ra các nguyên tắc chung cho việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt, cần xem xét khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung tương ứng với từng loại tội phạm.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tòa án có khả năng xác định khung hình phạt phù hợp, từ đó lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể.

Thứ hai : Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được thể hiện qua hai khái niệm quan trọng: “tính chất” và “mức độ” Tính chất nguy hiểm cho xã hội phản ánh những đặc điểm riêng của loại tội phạm khi tác động đến cộng đồng, trong khi mức độ nguy hiểm thể hiện đặc tính về “lượng” Hai yếu tố này là căn cứ chủ yếu trong việc quy định tội phạm, hình phạt và biện pháp chế tài đối với từng loại tội phạm cụ thể Do đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án cần xem xét kỹ lưỡng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

Mức độ nguy hiểm của tội phạm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, hành vi gây nguy hiểm đã thực hiện, và mức độ nghiêm trọng của hậu quả Thủ đoạn và phương pháp thực hiện tội phạm, hình thức và mức độ lỗi, cùng với động cơ và mục đích của người phạm tội cũng đóng vai trò quan trọng Ngoài ra, hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội tại thời điểm xảy ra tội phạm, cùng với các tình tiết về nhân thân và các yếu tố giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Thứ ba :căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

Nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự là tổng hợp các đặc điểm riêng biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự Điều này cũng là cơ sở để quyết định hình phạt, nhằm đạt được mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa tái phạm.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cần phải cân nhắc những đặc điểm về nhân thân người phạm tội dưới đây khi quyết định hình phạt:

Đặc điểm nhân thân của người phạm tội có ảnh hưởng lớn đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc biệt là thông qua mức độ lỗi của họ Chẳng hạn, những người có bệnh lý ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hoặc những người phạm tội do hoàn cảnh lạc hậu, đều có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội, như việc tự thú và thành khẩn khai báo, phản ánh khả năng cải tạo và giáo dục của họ.

Đặc điểm của nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ, do đó Tòa án cần xem xét khi quyết định hình phạt Việc này nhằm đảm bảo hình phạt thực tế, phù hợp với chính sách của nhà nước, nguyên tắc luật hình sự và đáp ứng mục đích trừng trị, giáo dục người phạm tội.

Thứ tư :các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết này không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh hay khung hình phạt, mà chỉ có tác dụng điều chỉnh mức độ trách nhiệm hình sự trong một khung hình phạt nhất định.

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 46 và điều 48 của Bộ luật hình sự hiện hành.

Nhà làm luật không thể quy định cụ thể mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với quyết định hình phạt, vì chúng phụ thuộc vào từng loại tội và vụ án cụ thể Do đó, Tòa án cần đánh giá tác động của các tình tiết này khi quyết định hình phạt Các tình tiết này được xem là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định hình phạt.

Nhìn chung, những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể được chia làm 3 nhóm:

Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm việc chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, cũng như những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Những trường hợp quyết định hình phạt cụ thể

1.1.3.1 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự

Trong Bộ luật hình sự, khung hình phạt được quy định dựa trên tính nguy hiểm của hành vi phạm tội Tuy nhiên, thực tế cuộc sống đa dạng với nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể xảy ra Nếu Tòa án áp dụng hình phạt tối thiểu theo quy định nhưng vẫn quá nghiêm khắc, Nhà nước cho phép Tòa án quyết định hình phạt nhẹ hơn Quy định này giúp cá thể hóa hình phạt, đảm bảo tính tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi và thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự.

Quyết định hình phạt nhẹ hơn theo quy định của Bộ luật hình sự được quy định tại điều 47 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), yêu cầu Tòa án phải có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 Trong trường hợp này, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã quy định, hoặc chuyển sang hình phạt nhẹ hơn Để thực hiện quyết định này, Tòa án cần dựa vào các căn cứ tại điều 45 BLHS và các quy định tại điều 47 Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 được coi là phổ biến và có giá trị cao hơn so với các tình tiết khác, do đó, người phạm tội phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên để được xem xét hình phạt nhẹ hơn.

Trong việc quyết định hình phạt nhẹ hơn, chỉ một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 46 BLHS không đủ để Tòa án áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt luật định Quy định này nhằm đảm bảo tính chính xác trong quyết định hình phạt, ngăn chặn lạm dụng pháp luật trong việc xác định tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 BLHS.

Bộ luật hình sự một cách tùy tiện.

Khi người phạm tội có đủ căn cứ để áp dụng hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, Tòa án sẽ quyết định hình phạt phù hợp tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, nhưng vẫn phải trong giới hạn cho phép.

Nếu điều luật có từ hai khung hình phạt trở lên và khung hình phạt hiện tại không phải là nhẹ nhất, Tòa án sẽ quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã quy định, nhưng phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.

Khung hình phạt nhẹ hơn được xác định dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt Nếu khung hình phạt có mức cao nhất thấp hơn, thì khung hình phạt đó được coi là nhẹ hơn Trong trường hợp hai khung hình phạt có mức cao nhất bằng nhau, khung hình phạt nào có mức thấp nhất thấp hơn sẽ được xem là nhẹ hơn.

Trong Bộ luật hình sự, các tội phạm có nhiều khung hình phạt thường được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng Khoản 1 thường là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật Nếu điều luật có ba khung hình phạt, thì khung hình phạt nhẹ hơn của khoản 3 là khoản 2, và khung hình phạt nhẹ hơn của khoản 2 là khoản 1.

Một số điều luật quy định khung hình phạt theo thứ tự giảm dần từ nặng đến nhẹ, trong đó khoản 1 thường là khoản có khung hình phạt nặng nhất Trong những trường hợp này, khung hình phạt nhẹ hơn liền kề với khoản 1 là khoản 2 của điều luật.

Khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, mức hình phạt không được thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn và phải nhẹ hơn mức tối thiểu của khung hình phạt mà điều luật quy định Ví dụ, trong trường hợp tội giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, nếu được chuyển sang khung hình phạt tại khoản 2 Điều 93 BLHS, Tòa án phải áp dụng mức hình phạt từ 7 năm tù đến dưới 12 năm tù, nhằm đảm bảo tuân thủ các điều kiện về mức hình phạt.

Nếu điều luật chỉ quy định một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là mức nhẹ nhất, Tòa án có thể quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất hoặc chuyển sang hình phạt nhẹ hơn.

Trong trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, chỉ áp dụng khi mức thấp nhất của khung hình phạt cao hơn mức thấp nhất của loại hình phạt Tòa án không được quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức thấp nhất đã quy định trong Bộ luật hình sự Ví dụ, mức thấp nhất của hình phạt tù là 3 tháng, cải tạo không giam giữ là 6 tháng, và phạt tiền là 1 triệu đồng Nếu một người phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 133 BLHS (khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù), và có đủ điều kiện áp dụng Điều 47 BLHS, Tòa án có thể áp dụng hình phạt từ 3 tháng đến dưới 3 năm.

Khi Tòa án quyết định chuyển sang hình phạt nhẹ hơn, ví dụ như trong trường hợp tội giết con mới đẻ theo Điều 94 BLHS, người phạm tội có thể nhận hình phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm Nếu người này đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 47 BLHS, Tòa án có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn như cảnh cáo.

Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, cần chú ý đến các vấn đề quan trọng như tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Cần áp dụng quy định tại Điều 47 BLHS một cách hạn chế và chặt chẽ, đặc biệt khi không có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS, dẫn đến việc bị cáo phải nhận mức phạt cao nhất trong khung hình phạt Ngược lại, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định hình phạt ở mức thấp hơn trong khung hình phạt mà bị cáo đang bị xét xử.

Quyết định áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với quy định của Bộ luật hình sự chỉ được thực hiện đối với các hình phạt chính, không áp dụng cho hình phạt bổ sung Điều này là do hình phạt bổ sung có tác dụng loại trừ những điều kiện nhất định, ngăn cản người phạm tội tiếp tục vi phạm Vì vậy, không thể chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn đối với hình phạt bổ sung.

Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt

Hệ thống tư pháp hình sự có thể được hiểu như một quy trình bắt đầu từ hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người phạm tội và kết thúc khi họ hoàn thành hình phạt, được giáo dục và cải tạo để trở về với xã hội Sự "đổi mới" của người phạm tội sau quá trình này là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự Trong đó, quyết định hình phạt đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cải tạo và tái hòa nhập của người phạm tội.

Quyết định hình phạt đúng đắn, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả của hình phạt Hiệu quả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quyết định hình phạt là quan trọng nhất Hệ thống pháp luật hình sự cần được xây dựng và hoàn thiện, nhưng nếu hình phạt không được áp dụng chính xác, sẽ dẫn đến những chế tài không hiệu quả Tính hợp lý và hiệu quả của quy phạm pháp luật hình sự, bao gồm hình phạt, được kiểm nghiệm qua thực tiễn xét xử của Tòa án.

Quyết định hình phạt đúng đắn là yếu tố quan trọng trong việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Để đưa ra hình phạt chính xác, thẩm phán cần hiểu rõ các nguyên tắc và quy định liên quan Hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của người phạm tội Quyết định này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý xã hội mà còn giúp những người có tâm lý yếu kém nhận thức và từ bỏ ý định phạm tội, đồng thời khuyến khích mọi người tôn trọng và bảo vệ pháp luật.

Quyết định hình phạt phản ánh chính sách hình sự của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Hình phạt không chỉ là một quy định pháp lý mà còn mang tính chất chính trị và xã hội, thể hiện rõ nét chính sách hình sự của đất nước.

Hình phạt là một phần quan trọng trong chính sách xã hội, phản ánh bản chất giai cấp và chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo Điều 3 BLHS hiện hành, mọi hành vi phạm tội cần được phát hiện và xử lý kịp thời, công minh Cần nghiêm trị những người chủ mưu và cầm đầu, trong khi khoan hồng đối với những người tự thú và thành khẩn khai báo Để đạt được mục đích cao nhất của hình phạt, quyết định của Tòa án phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, cũng như phù hợp với xu thế xã hội và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước.

Khái niệm, đặc điểm của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Khái niệm, đặc điểm của hành vi chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện tội phạm, diễn ra với lỗi cố ý Giai đoạn này bắt đầu khi người phạm tội thực hiện các bước cần thiết để tiến hành hành vi phạm tội.

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn quan trọng, trong đó người phạm tội tìm kiếm và chuẩn bị công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội Sự cẩn thận và kỹ lưỡng trong việc chuẩn bị có thể tăng khả năng phạm tội, nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như không gian, thời gian và hoàn cảnh Điều này cho thấy tính phức tạp của các tội phạm thực tế, đòi hỏi sự chú ý từ các nhà làm luật để xử lý đúng đắn trong từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự hiện nay có nhiều quan điểm về khái niệm chuẩn bị phạm tội như sau:

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, trong đó người phạm tội tìm kiếm công cụ và phương tiện, lập kế hoạch thực hiện tội phạm, rủ rê người khác tham gia, hoặc thực hiện các hành vi khác để tạo ra điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, nhưng chưa bắt đầu hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm.

Hành vi chuẩn bị phạm tội được coi là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện tội phạm cố ý, trong đó người phạm tội tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện một tội phạm cụ thể theo quy định của Bộ luật hình sự.

Có quan điểm cho rằng lý do dừng lại là do "chuẩn bị phạm tội" được xem là hành vi tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện một tội phạm cụ thể đã được quy định.

Bộ luật hình sự quy định rằng nếu tội phạm chưa được thực hiện thì phải dừng lại do nguyên nhân ngoài ý muốn Quan điểm mở rộng không chỉ đề cập đến hành vi mà còn bao gồm việc tìm kiếm đồng phạm và cấu kết với nhau Cụ thể, "chuẩn bị phạm tội" được hiểu là hành vi tìm kiếm hoặc chuẩn bị công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, cũng như tìm kiếm đồng phạm và tạo ra các điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm, mặc dù tội phạm không được thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Theo quan điểm của tác giả, chuẩn bị phạm tội là giai đoạn quan trọng trong quá trình thực hiện tội phạm Đây là hành vi tìm kiếm và chuẩn bị công cụ, phương tiện, cùng với việc tạo ra các điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm Tuy nhiên, hành vi này có thể không dẫn đến việc thực hiện tội phạm do những nguyên nhân khách quan.

Căn cứ vào những quan điểm đã nêu trên, ta thấy được hành vi chuẩn bị phạm tội có những đặc điểm sau:

Đầu tiên, việc chuẩn bị công cụ, phương tiện và tạo ra các điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau.

Tìm kiếm công cụ và phương tiện phạm tội là hành động mà người phạm tội thực hiện để mua sắm, mượn hoặc thu thập các công cụ này bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể là hợp pháp hoặc bất hợp pháp.

"Sửa soạn" công cụ, phương tiện phạm tội là hành vi mà người phạm tội thực hiện việc chế tạo, thay thế, lắp ráp hoặc sửa chữa các công cụ và phương tiện nhằm mục đích thực hiện tội phạm một cách dễ dàng và thuận lợi hơn.

Tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm bao gồm các hành vi như lập kế hoạch, nghiên cứu địa hình và chuẩn bị kỹ lưỡng để đảm bảo quá trình phạm tội diễn ra suôn sẻ Những hành động này nhằm giảm thiểu khả năng bị phát hiện và ngăn chặn, từ đó tăng cường hiệu quả của hành vi phạm tội.

Người phạm tội chưa bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự, mà chỉ tiến hành các hoạt động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phạm tội sau này.

Thứ ba, là việc người phạm tội không thực hiện đến cùng mục đích của mình vì những lý do khách quan ngoài ý muốn của họ.

Khái niệm, đặc điểm của hành vi phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, khi người phạm tội đã bắt đầu hành vi nhưng không hoàn thành do lý do khách quan Sự phức tạp của tội phạm đòi hỏi chế định về phạm tội chưa đạt để quyết định hình phạt một cách hợp lý và nhân đạo, tạo điều kiện cho người phạm tội sớm trở lại với xã hội.

Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, nhiều tác giả đã trình bày quan điểm riêng về khái niệm phạm tội chưa đạt, nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu rõ các yếu tố cấu thành và hệ quả pháp lý liên quan đến loại tội phạm này.

Trong khoa học luật hình sự, lỗi được xác định là cố ý trực tiếp khi hành vi của người phạm tội thể hiện ý định thực hiện tội phạm, nhưng do những nguyên nhân ngoài ý muốn, tội phạm không được thực hiện hoàn toàn.

Phạm tội chưa đạt được coi là giai đoạn thứ hai trong quá trình thực hiện tội phạm Giai đoạn này diễn ra sau giai đoạn chuẩn bị, khi người phạm tội đã sử dụng các điều kiện thuận lợi đã chuẩn bị để thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, họ không thể hoàn thành hành vi đó do những nguyên nhân khách quan cản trở.

Tác giả không đưa ra khái niệm cụ thể về tội phạm chưa đạt, mà chỉ nêu rõ rằng trong quá trình thực hiện tội phạm, có những trường hợp kẻ phạm tội không hoàn thành đầy đủ các hành vi cần thiết hoặc không đạt được kết quả mong muốn, do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ.

Theo quan điểm của tác giả, "phạm tội chưa đạt" là giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, khi người phạm tội bắt đầu thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhưng không thể hoàn thành do những lý do khách quan.

Dựa trên những khái niệm đã nêu trên, ta có thể khái quát đặc điểm của phạm tội chưa đạt như sau:

Người phạm tội đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật này bảo vệ.

Thứ hai, người phạm tội chưa thể hoặc không thể thực hiện đến cùng hành vi phạm tội vì những nguyên nhân nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ.

Phân biệt hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều là giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng có sự khác biệt cơ bản về tính chất Trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, người phạm tội chỉ thực hiện các hành vi chuẩn bị như tìm kiếm và sửa soạn công cụ mà chưa xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Ngược lại, phạm tội chưa đạt xảy ra khi người phạm tội đã bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội, đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội này Sự nguy hiểm của phạm tội chưa đạt cao hơn so với chuẩn bị phạm tội, dẫn đến trách nhiệm hình sự cũng khác nhau theo quy định của pháp luật.

Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt từ năm 1945 cho đến nay

Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985

Sự kiện Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng cho nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật Trước đây, Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ và áp dụng pháp luật của Pháp, nhưng sau Cách mạng, nhà nước mới đã ban hành các quy định nhằm bảo vệ trật tự xã hội và chính quyền non trẻ Những quy định này không chỉ mới mẻ mà còn mang tính sáng tạo, nhân văn và thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, việc xây dựng một hệ thống pháp luật hình sự toàn diện để điều chỉnh các hành vi xâm phạm xã hội là rất khó khăn Thời điểm này không có văn bản pháp luật hình sự nào quy định rõ ràng về hình phạt cho các trường hợp chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt Tuy nhiên, một số quy định đã được đề cập trong các tội phạm cụ thể, như sắc luật số 02/SLT ban hành ngày 18/06/1957, quy định về các trường hợp phạm pháp quả tang và khẩn cấp Cụ thể, Điều 2 của sắc luật này nêu rõ rằng để ngăn ngừa thiệt hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và tài sản của nhân dân, cơ quan Công an có quyền bắt giữ trong các trường hợp khẩn cấp trước khi có lệnh từ cơ quan tư pháp cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên.

1 Có hành động chuẩn bị làm việc phạm pháp.

2 Người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra vụ phạm pháp chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là kẻ phạm pháp.

3 Tìm thấy chứng cớ phạm pháp trong người hoặc tại nhà ở của người tình nghi phạm pháp.

4 Có hành động chuẩn bị trốn, hoặc đang trốn.

5 Có hành động chuẩn bị tiêu hủy chứng cớ hoặc đang tiêu hủy chứng cớ; làm giả chứng cớ hoặc đang tiêu hủy chứng cớ Có sự thông đồng giữa những kẻ phạm pháp với nhau để trốn tránh pháp luật.

6 Căn cước, lai lịch không rõ ràng.

Bản tổng kết số 452/HS2 ngày 18/09/1970 chỉ ra rằng hành vi chuẩn bị phạm tội được coi là nguy hiểm và phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng chưa có quy định cụ thể về hình phạt cho hành vi này Mặc dù tài liệu này hướng dẫn về hình phạt đối với tội phạm chưa đạt, nhưng chỉ đề cập đến một trường hợp cụ thể là giết người chưa đạt.

Hậu quả của tội giết người đã thành công thường bị xử nặng hơn so với tội giết người chưa đạt, do tính nghiêm trọng của hậu quả Trong các trường hợp giết người chưa đạt, những vụ gây thương tích nặng thường nhận hình phạt cao hơn so với những vụ chỉ gây thương tích nhẹ Ngược lại, những trường hợp chỉ gây thương tích nhẹ thường bị xử phạt nặng hơn so với những trường hợp chưa gây thương tích.

Pháp luật hình sự hiện nay chưa quy định cụ thể về hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt Thông tin này chủ yếu được đề cập qua các sắc luật và tổng kết xét xử của Tòa án.

1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành

Bộ luật hình sự đầu tiên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ra đời năm 1985, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước Bộ luật này đã quy định rõ ràng về khái niệm chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, cụ thể tại Điều 15.

1 Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm Người chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự.

2 Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

3 Đối với những hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các Điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng, tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

Chế định quyết định hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt không được quy định độc lập trong chương quyết định hình phạt Thay vào đó, nó được quy định chung với các quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt tại khoản 3 Điều 15 của Bộ luật Hình sự 1985.

Bộ luật hình sự 1985 chỉ đưa ra các căn cứ để quyết định hình phạt và quy định khung hình phạt chung cho các trường hợp như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành, nhưng chưa xác định rõ giới hạn cụ thể.

Giai đoạn từ sau khi ban hành bộ luật hình sự 1999 đến nay

Qua các lần sửa đổi và bổ sung từ năm 1985 đến 1999, các nhà làm luật đã nhận thấy sự cần thiết phải quy định chi tiết và chặt chẽ hơn về vấn đề này.

Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 6, khóa X đã thông qua Bộ luật hình sự Việt Nam năm

Bộ luật hình sự 1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000, quy định về vấn đề chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt tại điều 17 và 18 Ngày 04/08/2000, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của bộ luật, bao gồm cả hướng dẫn về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.

Chế độ quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đã được cải cách đáng kể trong Bộ luật hình sự 1999, với quy định bổ sung về giới hạn giảm nhẹ hình phạt Hình phạt dành cho người chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt phải thấp hơn so với người thực hiện tội phạm hoàn thành, thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án trong việc quyết định hình phạt Tuy nhiên, đến năm 2009, mặc dù Bộ luật hình sự có sửa đổi, các quy định liên quan đến chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt vẫn được giữ nguyên.

Kinh nghiệm của một số nước trong việc quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thách thức và yêu cầu cho các cá nhân, tổ chức, và cơ quan, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học pháp lý Những thành tựu và tiến bộ của các quốc gia lớn trên thế giới cung cấp kinh nghiệm quý báu cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật tại Việt Nam.

Chúng ta sẽ khám phá các quy định liên quan đến chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, cũng như cách quyết định hình phạt cho những trường hợp này tại Liên bang Nga và Ukraina Đây là những quốc gia không xa lạ với Việt Nam, đã cùng chúng ta đồng hành trên con đường xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hưng thịnh của Liên bang Xô Viết.

Bộ luật hình sự liên bang Nga được Đu-ma quốc gia thông qua vào ngày 24/5/1996, phê chuẩn bởi hội đồng liên bang vào ngày 5/6/1996, và được tổng thống ký ban hành vào ngày 13/6/1996 Bộ luật này có hiệu lực từ 1/1/1997 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, với lần sửa đổi gần nhất diễn ra vào ngày 5/4/2013.

Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định về việc phân loại tội phạm như sau: Điều 5 Phân loại tội phạm

Tội phạm được phân loại theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, bao gồm tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng trung bình, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng bao gồm các hành vi cố ý hoặc vô ý, với mức hình phạt cao nhất theo quy định của bộ luật không vượt quá ba năm tù.

Tội phạm nghiêm trọng trung bình bao gồm các hành vi phạm tội cố ý với mức hình phạt tối đa không vượt quá năm năm tù, và các hành vi phạm tội vô ý có mức hình phạt tối đa trên ba năm tù.

4 Tội phạm nghiêm trọng là những hành vi cố ý mà mức cao nhất của khung hình phạt do bộ luật này quy định là không quá mười năm tù.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được định nghĩa là những hành vi cố ý mà mức hình phạt cao nhất theo quy định của bộ luật này là trên mười năm tù hoặc các hình phạt nghiêm khắc hơn.

Khi xem xét các tình tiết thực tế và mức độ nguy hiểm của tội phạm, tòa án có quyền giảm nhẹ loại tội phạm xuống một mức thấp hơn, với điều kiện người phạm tội bị kết án không quá năm năm tù hoặc hình phạt nhẹ hơn Đối với những người phạm tội theo các khoản 4 và 5, mức án cũng không được vượt quá năm năm và bảy năm tù tương ứng.

Bài viết này đề cập đến việc phân loại tội phạm theo Bộ luật hình sự Liên bang Nga, đặc biệt là trong việc quyết định hình phạt cho các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Trước khi xem xét các quy định về hình phạt, chúng ta cần tìm hiểu về các quy định liên quan đến chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Theo Điều 29 của Bộ luật hình sự Liên bang Nga, có sự phân biệt rõ ràng giữa tội phạm hoàn thành và tội phạm chưa hoàn thành.

Tội phạm được xem là hoàn thành khi hành vi của người phạm tội đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của bộ luật.

2 Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là tội phạm chưa hoàn thành.

Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành được quy định theo điều luật liên quan đến tội phạm hoàn thành, với việc viện dẫn các điều khoản cụ thể.

30 của bộ luật này. Điều 30 Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Chuẩn bị phạm tội bao gồm việc tìm kiếm, chuẩn bị hoặc sửa soạn công cụ và phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội Điều này cũng liên quan đến việc tìm kiếm đồng phạm, bàn bạc về việc thực hiện tội phạm, hoặc cố ý tạo ra các điều kiện khác để thực hiện tội phạm, ngay cả khi hành vi phạm tội không được thực hiện đến cùng do các hoàn cảnh khách quan.

2 Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Phạm tội chưa đạt là hành động hoặc không hành động có ý thức của người phạm tội, nhằm thực hiện tội phạm nhưng không thành công do hoàn cảnh khách quan Điều 66 quy định về quyết định hình phạt đối với tội phạm chưa hoàn thành.

1 Khi quyết định hình phạt đối với tội phạm chưa hoàn thành phải cân nhắc các tình tiết làm cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

Thời hạn và mức hình phạt cho hành vi chuẩn bị phạm tội không được vượt quá thời hạn và mức hình phạt cao nhất của tội danh hoàn thành.

Thời hạn và mức hình phạt cho tội phạm chưa đạt không được vượt quá thời hạn và mức cao nhất của hình phạt nặng nhất đối với tội phạm đã hoàn thành.

4 Không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với việc chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT

Ngày đăng: 03/07/2023, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
6. Quốc hội ( 2009 ), Bộ luật hình sự ( sửa đổi, bổ sung ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự ( sửa đổi, bổ sung )
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
7. Trịnh Tiến Việt (2009), “ Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm”, Tạp chí khoa học đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên san luật học ) số 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Tạp chí khoa học đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên san luật học )
Năm: 2009
8. Trịnh Tiến Việt ( Chủ biên ) ( 2013 ), Tội phạm và trách nhiệm hình sự ( sách chuyên khảo ), Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và trách nhiệm hình sự
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2013
9. Dương Tuyết Miên ( Chủ biên ) ( 2007 ), Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: Nxb lao động – xã hội
Năm: 2007
10. Nguyễn Tất Thành ( Chủ biên ) ( 2013 ), Luật hình sự một số nước trên thế giới ( phần chung ), Nxb Hồng đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự một số nước trên thế giới ( phần chung)
Tác giả: Nguyễn Tất Thành
Nhà XB: Nxb Hồng đức
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm