1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viêntham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2014 2015đề tàitìm hiểu về đoạn văn mở đầuvà kết thúc trong truyệnngắn của nam caobình dương – 20151

71 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn của Nam Cao
Tác giả Trần Văn Huấn
Người hướng dẫn Tiến sĩ Phan Thị Ai
Trường học Trường đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 409,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 3. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài (8)
  • 4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 5. Nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài (0)
  • 6. Ý nghĩa đề tài (12)
  • Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. 1.1. Những nét khái quát về tác giả, tác phẩm của nhà văn Nam Cao (13)
    • 1.1.1. Tác giả Nam Cao (13)
    • 1.1.2. Tác phẩm của Nam Cao (14)
    • 1.2. Những cơ sở lý thuyết về truyện ngắn (17)
      • 1.2.1. Khái niệm (17)
      • 1.2.2. Một vài đặc điểm của truyện ngắn (18)
    • 1.3. Những vấn đề lý thuyết về đoạn văn (20)
      • 1.3.1. Khái niệm (20)
      • 1.3.2. Một số kiểu cấu trúc đoạn văn (21)
      • 1.3.3. Đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn (24)
  • Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU TRUYỆN NGẮN NAM CAO 2.1. Đặc điểm hình thức đoạn văn mở đầu (29)
    • 2.1.1 Cấu tạo đoạn văn mở đầu (29)
    • 2.1.2. Các kiểu câu trong đoạn văn mở đầu (33)
    • 2.2. Đặc điểm nội dung đoạn văn mở đầu (42)
      • 2.2.1. Nội dung – ngữ nghĩa của đoạn văn mở đầu (42)
      • 2.2.2. Nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của đoạn văn mở đầu (45)
        • 2.2.2.1. Nghĩa hiển ngôn đoạn văn mở đầu (0)
        • 2.2.2.2. Nghĩa hàm ngôn đoạn văn mở đầu (0)
    • 2.3. Các kiểu mở đầu (47)
  • Chương 3: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRUYỆN NGẮN NAM CAO. 3.1. Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc (50)
    • 3.1.1 Cấu tạo đoạn văn kết thúc (50)
    • 3.1.2. Các kiểu câu trong đoạn văn kết thúc (54)
    • 3.2. Đặc điểm nội dung đoạn văn kết thúc (60)
      • 3.2.1. Nội dung – ngữ nghĩa của đoạn văn kết thúc (60)
      • 3.2.2. Nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của đoạn văn kết thúc (0)
        • 3.2.2.1. Nghĩa hiển ngôn đoạn văn kết thúc (0)
        • 3.2.2.2. Nghĩa hàm ngôn đoạn văn kết thúc (0)
    • 3.3. Các kiểu kết thúc (65)
  • KẾT LUẬN (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

Việc khảo sát đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn của NamCao với cách tiếp cận ngôn ngữ học là một vấn đề không đơn giản.. Tuy nhiên,bằng sự nỗ lực quyết tâm cao chúng tôi tập

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

@ & ?

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊNTHAM GIA

CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả không sao chép hay sử dụng toàn bộ của bất kỳ một tài liệu, một công trình nghiên cứu nào khác.

Bình Dương, tháng 4 năm 2015

Tác giả Trần Văn Huấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành đề tài này, chúng tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của mọi người xung quanh, đặc biệt là cô giáo Phan Thị Ai, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài nghiên cứu cứu của chúng tôi Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa, các thầy

cô trên thư viện, cùng bạn bè và người thân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này.

Chúng tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành nhất đến cô hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa và trên thư viện, cùng với gia đình và bạn bè Xin chân thành cám ơn!

Bình Dương, tháng 4 năm 2015

Tác giả Trần Văn Huấn

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Phương pháp nghiên cứu 8

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 8

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài 11

6 Ý nghĩa đề tài 12

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. 1.1 Những nét khái quát về tác giả, tác phẩm của nhà văn Nam Cao 13

1.1.1 Tác giả Nam Cao 13

1.1.2 Tác phẩm của Nam Cao 14

1.2 Những cơ sở lý thuyết về truyện ngắn 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Một vài đặc điểm của truyện ngắn 17

1.3 Những vấn đề lý thuyết về đoạn văn 19

1.3.1 Khái niệm 19

1.3.2 Một số kiểu cấu trúc đoạn văn 20

1.3.3 Đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn 23

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU TRUYỆN NGẮN NAM CAO 2.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn mở đầu 29

Trang 6

2.1.1 Cấu tạo đoạn văn mở đầu .29

2.1.2 Các kiểu câu trong đoạn văn mở đầu .34

2.2 Đặc điểm nội dung đoạn văn mở đầu 45

2.2.1 Nội dung – ngữ nghĩa của đoạn văn mở đầu 45

2.2.2 Nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của đoạn văn mở đầu 48

2.2.2.1 Nghĩa hiển ngôn đoạn văn mở đầu 48

2.2.2.2 Nghĩa hàm ngôn đoạn văn mở đầu 50

2.3 Các kiểu mở đầu 51

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRUYỆN NGẮN NAM CAO. 3.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc 54

3.1.1 Cấu tạo đoạn văn kết thúc .54

3.1.2 Các kiểu câu trong đoạn văn kết thúc 59

3.2 Đặc điểm nội dung đoạn văn kết thúc 67

3.2.1 Nội dung – ngữ nghĩa của đoạn văn kết thúc 67

3.2.2 Nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của đoạn văn kết thúc 71

3.2.2.1 Nghĩa hiển ngôn đoạn văn kết thúc 71

3.2.2.2 Nghĩa hàm ngôn đoạn văn kết thúc 72

3.3 Các kiểu kết thúc 74

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Nam Cao là một trong những cây bút được đông đảo đọc giả chú ý củadòng văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám, văn ông thường đề cậpsâu vào hình tượng người nông dân nghèo bị bần cùng hóa và những văn sĩnghèo chịu biết bao cực khổ bởi cuộc sống thường ngày và lối suy nghĩ bị biếnchất Với chủ đề nóng bỏng đó, ông đã để lại nhiều tác phẩm giá trị như: ChíPhèo, Đời thừa… Mỗi tác phẩm đều mang một nỗi niềm riêng, nhưng chungquy lại, dưới ngòi bút sắc sảo của mình, ông đã gửi vào đó niềm cảm thông sâusắc với nỗi thống khổ của những con người nghèo khó không sao vượt lên trên

số phận của mình

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã không tiếc lời bình phẩm về các sáng tác củaông, tuy nhiên dưới nhiều góc độ khác nhau, chẳng hạn như văn sĩ Tô Hoàinhận xét: “ Văn chương không chỉ nói đến miếng ăn” Dĩ nhiên điều nhận xét

đó không có gì lệch lạc cả, bởi vì tác giả sống trong thời kì này thì điều mànhiều người phải suốt ngày tìm kiếm, hoặc giành giật đó chính là miếng ăn.Chính những miếng ăn đó đã làm cho không ít độc giả phải rơi nước mắt nhưtrong tác phẩm: Đời thừa, Bài học quét nhà,… Tuy nhiên, nhận xét trên là chưatoàn diện vì ngoài cái đói, Nam Cao còn đề cập đến cái đẹp, cái thiên hướngcủa nghệ thuật: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, cũng không cần làánh trăng lừa dối, mà là tiếng kêu đau thoát ra từ kiếp lầm than kia…” Nếu nóiđến văn chương của Nam Cao mà chú trọng nhiều đến cuộc sống cơ cực thìcũng chưa hẳn đủ, mà phải đánh động đến nhiều ý nghĩa nhân văn cao cả nữa.Đặc biệt sức hút trong mỗi sáng tác của ông không chỉ bằng sự tái hiệnnhững kiếp người khốn khó mà nó còn là những nét đặc sắc trong sáng tác nghệthuật của ông Một trong những nét nghệ thuật này chính là sự mở đầu và kết

Trang 8

thúc trong mỗi sáng tác Một tác phẩm thực sự cuốn hút không bao giờ bắt đầuhay kết thúc bởi những điều tẻ nhạt vô vị, nó sẽ phải là sự khởi đầu mới lạ vàđộc đáo, đặc biệt là một kết thúc mở Để đọc giả có những nhìn nhận xác thực

về phong cách sáng tác của Nam Cao, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tích cực tìmhiểu và phân tích và có những công trình nổi bật như: Phong cách nghệ thuậtNam Cao của Phan Văn Tường, Đặc điểm ngôn ngữ của ngôn ngữ nhân vật quatác phẩm Nam Cao của Nguyễn Hoàng Tuấn… Mỗi tác giả đều nghiên cứu trênmột lĩnh vực khác nhau nhưng vẫn mở ra một thế giới nghệ thuật trong các sángtác của ông

Việc khảo sát đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn của NamCao với cách tiếp cận ngôn ngữ học là một vấn đề không đơn giản Tuy nhiên,bằng sự nỗ lực quyết tâm cao chúng tôi tập trung nghiên cứu với mong muốntìm ra sự sáng tạo trong mỗi tác phẩm của ông, đồng thời sẽ lí giải thêm mốiliên kết về hình thức và nội dung của đoạn văn mở đầu và kết thúc với toàn bộvăn bản Mặt khác, chúng tôi mong muốn xác định được cấu trúc cơ bản củađoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn Nam Cao nói riêng và truyệnngắn nói chung

2 Phương pháp nghiên cứu

Thống kê, phân loại, phân tích những chứng liệu, số liệu thu thập được và

đi đến nhận xét tổng quát về đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn của nhàvăn Nam Cao nói riêng và đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn nói chung

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.

3.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu tác giả Nam Cao.

3.1.1 Về góc độ văn học.

Nam Cao là một trong những cây bút hàng đầu trong dòng văn học hiệnthực, tuy nhiên để đạt được những thành công đó ông đã trải qua không ít sóng

Trang 9

gió Đứa con đầu lòng của nhà văn mang tên Cái lò gạch cũ, nhưng sau đó đượcnhà văn Lê Văn Trương đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi và cho một lời bình: “Quyển đôi lứa xứng đôi có được độc giả hoan nghênh hay không, đó là mộtđiều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông đã không hạ mình xuốngbắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái người ta đãtả”.

Nói và viết khác người đó là cá tính riêng biệt của Nam Cao, bất kì trongmột tác phẩm nào, hầu hết các nhân vật hiện lên đều mang trong mình một cái

gì đó mà ít nhà văn nào cùng thời mô tả, nó hoàn toàn khác, nó đau đớn, quằnquại nhưng chan chứa tình thương

“Dù viết về đề tài nào ,truyện của Nam Cao cũng thể hiện một tư tưởngchung: nỗi băn khoăn đến đau đớn trước thực trạng con người bị hủy hoại vềnhân phẩm do cuộc sống đói nghèo đẩy tới” Nam Cao thành công trong rấtnhiều đề tài, ông mang tới cho hồn văn hiện thực cái nhìn tổng thể sâu sắc

“Viết về người trí thức tiểu tư sản nghèo, Nam Cao đã mạnh dạn phân tích

và mổ xẻ tất cả, không né tránh như Thạch Lam; không cực đoan, phiến diệnnhư Vũ Trọng Phụng, cũng không thi vị hóa như Nhất Linh, Khái Hưng, ngòibút của Nam Cao luôn luôn tỉnh táo đúng mực” “Nam Cao đã mạnh dạn đi theomột lối đi riêng, nghĩa là không đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả Nhưng tài năng của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới sâu xa, chua chát vàtàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài năng của mình, thiên chứccủa mình”(Hà Minh Đức) Phong cách sáng tác của Nam Cao dần hoàn thiệnqua từng tác phẩm, nó đánh dấu một quá trình hoạt động miệt mài và khôngngừng thay đổi Đó chính là điều đặc biệt ở con người này Một con người cốnghiến

Trang 10

“Trong các trang truyện của Nam Cao, trang nào cũng có những nhân vậtchính hoặc phụ đang đối diện với cái chỗ kiệt cùng với đời sống con người đểrồi từ đó bắt buộc người ta phải bộc lộ mình ra, trước hết là tâm lí, nhân cáchrồi tiếp đến sau cùng là cái nỗi đau khôn nguôi của con người”(Nguyễn MinhChâu)

“Trong văn xuôi trước cách mạng,chưa có ai có được ngòi bút sắc sảo, gânguốc soi mói như của Nam Cao”( Nhà văn Lê Định Kỵ)

Nam Cao là một cây bút có tài, Ông thành công trong phong cách riêngcủa mình trong việc đi sâu vào miêu tả cuộc sống của những người nông dânnghèo, và giới trí thức bị bần cùng hóa Ông xứng đáng là một trong những nhàvăn lỗi lạc của thế kỉ XX với thể loại truyện ngắn

3.1.2 Về góc độ ngôn ngữ.

Vấn đề ngôn ngữ trong các sáng tác của Nam Cao, chưa được các nhànghiên cứu chú trọng nghiên cứu Chẳng hạn, chỉ thông qua một số đặc điểmcủa ngôn ngữ, hay phong các nghệ thuật của các tác giả như: Lê Hải Anh,Nguyễn Hoàng Tuấn… Các nghiên cứu chỉ đi sâu vào một vấn đề ngôn ngữ màchưa quan tâm nhiều tới vấn đề ngôn ngữ khác

Vấn đề nghiên cứu đoạn văn, một số tác giả tập trung cho nhà văn khácnhư: Vai trò đoạn mở đoạn kết với tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan của tác giả Trần Anh Hào,… hay chỉ nghiên cứu chung chung mà không

đi hẳn vào một tác giả như: Đặc điểm đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn củatác giả Lê Thị Thu Bình,…

Hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào trọn vẹn về góc độngôn ngữ trong việc thể hiện phong cách nghệ thuật và cách tạo lập đoạn văn

Trang 11

đối với nhà văn Nam Cao Trên cơ sở đó, chúng tôi mong muốn sẽ khẳng địnhmột phần về góc độ ngôn ngữ của nhà văn thông qua việc nghiên cứu đoạn văn

mở đầu và kết thúc trong các truyện ngắn của ông

4 Mục tiêu và nhiệm vụ.

4.1 Mục tiêu.

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu về đặc điểm nội dung và hình thức củađoạn văn mở đầu và kết thúc trong các truyện ngắn của Nam Cao thông qua làmnổi bật lên phong cách nghệ thuật trong các sáng tác của ông và tạo điều kiện

cơ sở cho việc dạy và học trong trường phổ thông và các cấp học khác

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Đề tài thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu đoạn văn mở đầu và kết thúc trongtruyện ngắn Nam Cao

Khảo sát đoạn văn mở đầu và kết thúc ở các mặt: cấu tạo, vai trò ngữnghĩa, quan hệ, kiểu mở và kết… để tìm ra những cứ liệu cụ thể làm sáng tỏ bảnchất của những đơn vị này

5 Nội dung và phạm vi nghiên cứu.

5.1 Nội dung nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu đoạn văn mở đầu và kết thúc trong một số truyện ngắncủa Nam Cao trình bày thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết về truyện ngắn và đoạn văn

Chương 2: Đặc điểm hình thức và nội dung đoạn văn mở đầu trong truyệnngắn Nam Cao

Chương 3: Đặc điểm hình thức và nội dung đoạn văn kết thúc trong truyệnngắn Nam Cao

5.2 Phạm vi nghiên cứu.

Trang 12

Với đề tài này, việc nghiên cứu đoạn văn mở đầu và kết thúc chúng tôi sẽtìm hiểu thông qua các truyện ngắn sau đây:

1 Chí phèo

2 Nghèo

3 Cái chết của con mực

4 Những chuyện không muốn

13 Xem bói14.Một bữa no15.Lão Hạc16.Rửa hờn17.Mua nhà18.Quên điều độ

Ngoài ra, chúng tôi có thể khảo sát thêm một số tác phẩm khác của nhàvăn Nam Cao cùng một số tác phẩm của tác giả khác

6 Ý nghĩa đề tài.

Đề tài này làm rõ các đặc điểm về nội dung, hình thức của các đoạn văn

mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn của Nam Cao Qua đó, phần nào làm rõbản chất, đặc trưng của đoạn mở và đoạn kết, và chứng minh sự phong phú đadạng trong cách mở đầu và kết thúc ở thể loại truyện ngắn, góp phần làm rõphong cách ngôn ngữ của nhà văn Nam Cao

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Những nét khái quá về tác giả, tác phẩm của Nam Cao.

1.1.1 Tác giả Nam Cao.

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (có nguồn ghi là Trần Hữu Trí), sinhnăm 1915, nhưng theo giấy khai sinh ghi thì là ngày 29 tháng 10 năm 1917.Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lí Nhân (nay

là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam) Ông đã ghép hai chữ của tên tổng vàhuyện làm bút danh: Nam Cao

Ông xuất thân từ một gia đình Công giáo bậc trung Cha ông là ông TrầnHữu Huệ, làm nghề thợ mộc và thầy lang trong làng Mẹ ông là bà Trần ThịMinh, vừa là nội trợ, làm vườn, làm ruộng và dệt vải

Thuở nhỏ, ông học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậc trunghọc, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường ThànhChung (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong- Nam Định) Nhưng vìthể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung, ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới

vợ năm 18 tuổi

Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong sốnhững thành viên đầu tiên của tổ chức này Bị địch khủng bố gắt gao, ông phảilánh về quê

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công Nam Cao tham gia cướpchính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính quyềnmới ở địa phương

Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc.Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên

Trang 14

Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam,làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ.

Trên đường đi công tác, ông bị quân Pháp phục kích và bắn chết vào ngày

28 tháng 11 năm 1951 (30 tháng Mười âm lịch), tại Hoàng Đan (Ninh Bình)

1.1.2 Tác phẩm của Nam Cao.

Cuộc đời của nhà văn Nam Cao khá ngắn ngủi nhưng tác giả cũng để lạimột số lượng tác phẩm đồ sộ đa dạng về thể loại như: tiểu thuyết, truyệnngắn,

Các đề tài sáng tác của ông được chia thành hai giai đoạn trước và sauCách mạng tháng Tám Đề tài trước Cách mạng tháng Tám tập trung vào ngườinông dân nghèo và tầng lớp trí thức bị tha hóa, phản ánh lên một xã hội xô bồbóp nghẹt đi sức sống của con người Giai đoạn sau các tác phẩm của ông đã có

sự thay đổi trong quan điểm nghệ thuật, ông đi tìm hướng đi mới cho các nhânvật

Các tác phẩm của ông:

a Kịch.

Đóng góp (1951)

b Tiểu thuyết.

Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật

Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956)[3], ban đầu có tên Chết mòn Nhà xuất bản Văn Nghệ

-Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu,Ngày lụt

Trang 15

Cái mặt không chơi được

Chuyện buồn giữa đêm vui

Nhìn người ta sung sướng

Những chuyện không muốnviết

Những trẻ khốn nạnNghèo (1937)

Nụ cườiNước mắtNửa đêmPhiêu lưuQuái dịQuên điều độAnh tẻ

Rửa hờnSao lại thế này?

Thôi về điGiăng sáng (1942)Trẻ con không được ăn thịtchó (1942)

Truyện biên giớiTruyện tình

Tư cách mõ (1943)

Từ ngày mẹ chếtXem bói

Dì Hảo (1941)Nỗi truân chuyên của khách

má hồng (1946)

Mò Sâm Banh (1945)

Trang 16

Rình trộm

Làm tổ

Trang 17

Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dưcác nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1969), Địa dưViệt Nam (1951).

1.2 Những cơ sở lý thuyết về truyện ngắn

1.2.1 Khái niệm.

Lý thuyết về truyện ngắn đã được nghiên cứu ở Phương Tây ngay từnhững năm đầu thế kỉ XIX Qua hai thế kỉ các nhà lý thuyết về truyện ngắnvẫn bị dao động giữa hai câu hỏi: Truyện ngắn được viết ra như thế nào vànhững đặc tính thật sự của truyện ngắn là gì?

Trung Quốc và Nhật Bản, người ta vẫn coi truyện ngắn thuộc thể loạitiểu thuyết, được gọi là "tiểu thuyết đoản thiên" để phân biệt với loại tiểuthuyết chương hồi dài tập hay "tiểu thuyết trường thiên"

Người Việt nam ngày nay dùng từ truyện ngắn để chỉ "tiểu thuyết đoảnthiên" và tiểu thuyết để chỉ "tiểu thuyết trường thiên"

Việc lí giả khái niệm truyện ngắn cũng có nhiều ý kiến khác nhau:Nhà văn Nga A.Tônxtôi cho rằng: “Truyện ngắn là một hình thức nghệthuật khó khăn bậc nhất Trong truyện ngắn tất cả như trong bàn tay anh.Anh phải thông minh như anh đã hiểu biết bởi lẽ hình thức nhỏ không cónghĩa là nội dung không lớn lao, anh phải biết nói một cách ngắn gọn như làthơ chỉ được làm thơ tứ tuyệt Nhưng ngắn gọn ở đây là ngắn gọn tập trungtài liệu, lựa chọn những gì cần biết”

Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn

“Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡnhỏ Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đờisống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyệnngắn viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”

Trang 18

Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi củađời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp nhịp vậnđộng của xã hội và tái hiện được mọi biến thái trong đời sống vật chất cũngnhư tinh thần của con người.

Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu truyện kểbằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câutruyện dài như tiểu thuyết Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vàidòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số

đó

Ví dụ:

Truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao,…

Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhấtđịnh Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được mộtdiện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế

về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dàinhư tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống

Ví dụ:

Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam tình huống truyện chỉ xoay quanh hai nhân vật Liên và An trong một buổi chiều tàn nơi phố huyện.

1.2.2 Một vài đặc điểm của truyện ngắn.

Dựa vào các ý kiến cũng như phần định nghĩa đã nêu ta có thể rút ramột số đặc điểm của truyện ngắn:

Trang 19

để giới thiệu thời gian, không gian, cốt truyện, nhân vật… mặc dù không có

sự xuất hiện trực tiếp của tác giả nhưng người đọc vẫn cảm nhận thấy có một

ai đó đang chứng kiến và kể lại câu chuyện đó, rồi dẫn dắt theo một điểmnhìn, một cách cảm nhận đánh giá nhất định

Cốt truyện là phần hấp dẫn, lôi cuốn của các tác phẩm truyện Trênthực tế, rất ít các cốt truyện có xu thế giống nhau, nhung điểm chung là nó làhàng loạt các sự kiện các chi tiết các biến cố được xâu chuỗi lại với nhau, cáinày bổ trợ cho cái kia và khi giải quyết hết thì dừng lại Có cốt truyện đượctác giả xây dựng kịch tính, cao trào nhưng cũng có cốt truyện lại đi theo mộthướng khác, nhưng chung quy lại nó là yếu tố quyết định để dẫn đến sựthành công của một truyện ngắn

Truyện có khả năng miêu tả nhân vật một cách đầy đặn nhiều mặt.Mỗi tác phẩm đều giới thiệu có thể một phần hay toàn bộ cuộc đời của nhânvật thông qua việc tác giả dựng nên mối quan hệ xung quanh nhân vật, hayhoàn cảnh của nhân vật đó

Chi tiết trong truyện ngắn đóng vai trò quyết định sự thành bại củatruyện ngắn Nó được tác giả chọn lọc rất kĩ lưỡng và như để đánh dấu mộtbước ngoặt trong cốt truyện, hoặc để lại một ẩn ý gì đấy của tác giả chongười đọc tự tìm hiểu

Trang 20

Sức nén của truyện ngắn thường rất lớn, vì với dung lượng vài chụctrang giấy, mà nó mang một trọng trách lớn để dựng lên một biến cố lịch sửrất dài, hay cả một cuộc đời nhân vật…

Bút pháp trong truyện ngắn thường rất độc đáo, tùy vào phong cáchsáng tác của mỗi tác giả, mỗi truyện ngắn sẽ có sự khác biệt rõ ràng một ý đồsáng tác của tác giả

1.3 Những vấn đề lý thuyết về đoạn văn

1.3.1 Khái niệm

Về phương diện lí thuyết, chung quanh khái niệm đoạn văn có nhữngvấn đề bàn cãi và chưa có được sự thống nhất về ý kiến Thông thường, mỗinhà nghiên cứu tự xác định một nội dung về nó để làm việc

Chẳng hạn, như cái dấu hiệu viết hoa lùi đầu dòng được coi là khá hiểnnhiên đối với khá nhiều người

Trần Ngọc Thêm cho rằng: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồmmột chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và mang một nộidung nhất định được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức: ở dạng nói,

nó có kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt dài; ở dạng viết,

nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn

Giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (Bùi Tất Tươm,Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nxb GD 1997) quan niệm: “Đoạnvăn là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề.”

Như vậy, đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bảntính từ chữ viết hoa, thường lùi vào ở đầu dòng, cho đến chỗ chấm xuốngdòng Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một câu hoặc một chuỗicâu được xây dựng theo một câu trúc có hình thức rõ ràng, biểu thị một nộidung nhất định, tương đối độc lập trong văn bản

Trang 21

1.3.2 Một số kiểu cấu trúc đoạn văn.

1.3.2.1 Cấu trúc ngữ âm.

Cấu trúc ngữ âm trong việc bao gồm hiệp vần, phân nhịp, số lượng âmtiết, tạo hình tượng bằn âm thanh,…

Ví dụ:

Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng lên thành đồng Tổ

Quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre.

(Thép Mới, dẫn theoTrần Ngọc Thêm, 1985)

1.3.2.2 Cấu trúc cú pháp.

Cấu trúc cú pháp được thể hiện rõ ở hai trường hợp sau đây:

+ Song hành cú pháp( lặp cú pháp): gặp nhiều trong văn xuôi biềnngẫu, chặt chẽ nhất là ở câu đối

Ví dụ:

Do lao động, trí thức tăng thêm.

Do lao động, sức khỏe tăng thêm.

(Hồ Chí Minh)+ Quan hệ chức năng cú pháp(thành phần câu): Hiện tượng này, nóichung và thông thường, được giải thích như hiện tượng tỉnh lược(rút gọn)

Ví dụ:

Huấn đi về trạm máy Một mình, trong đêm.

(Nguyễn Thị Ngọc Tú)

1.3.2.3 Cấu trúc tuyến tính.

Là thủ pháp sắp xếp các vật, việc theo một trật tự trước sau nào đó

+ Trật tự diễn đạt quan hệ đồng thời

Ví dụ:

Phó lí, trương tuần cũng chạy như tộc biểu, tuần phu, tuy không phải làm việc gì, ai nấy vẫn sơ tóc gáy, chạy xuôi chạy ngược Phó hội, thủ quỹ

Trang 22

đối nhau với thư kí, chưởng bạ, mỗi người khoanh tay đứng tựa mỗi cột, dáng bộ len lét như rắn mồng năm Chánh tổng ngồi ngáp vặt bên bức câu lơn, con ruồi đậu mép không muốn đuổi Chánh hội luôn tay giở cuốn sổ thuế, hai mắt vẫn lấm la lấm lét trông đi đằng nào.

(Ngô Tất Tố)+ Trật tự diễn đạt quan hệ thời gian trước sau:

Ví dụ:

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người.

(Hồ Chí Minh)+ Trật tự diễn đạt quan hệ nguyên nhân sự kiện:

Ví dụ:

Phát súng nổ Em bé từ lưng trâu ngã lăn xuống.

(Anh Đức, dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 1985)

1.3.2.4.Diễn dịch và quy nạp.

Diễn dịch là cách thức, phương pháp suy lí đi từ nguyên lí chung đếnkết luận riêng Quy nạp là cách thức suy lí đi từ những hiện tượng, sự kiệnriêng đến kết luận chung

Ví dụ về chuỗi câu trong đoạn văn theo lối diễn dịch:

Trang 23

Nghệ thuật thơ trong “Nhật kí trong tù” rất phong phú Có bài là

phát biểu tực tiếp, đọc hiểu ngay Có bài lại dùng lối ngụ ngôn viết rất thâm thúy Có bài tự sự có bài trữ tình Lại bài châm biếm.

(Dẫn theo Ngữ pháp văn bản việc dạy Tập làm văn, 1985)

Ví dụ về chuỗi câu trong đoạn văn trình bày theo lối quy nạp:

Chính quyền nhân dân ta vững chắc Quân đội nhân dân hùng mạnh Mặt trận dân tộc rộng rãi Công nhân, nông dân và trí thức được rèn luyện

thử thách và tiến bộ không ngừng Nói tóm lại: lực lượng của chúng ta to

có hai cách diễn đạt thường gặp nhất là:

(a) Con chó cắn con mèo.

(b) Con mèo bị con chó cắn.

+ Sắp xếp theo lối móc xích là cách sắp xếp phần đầu của câu đứng sau

có chứa những từ ngữ nằm ở phần thuyết của câu đứng trước, làm cho haiphần ấy như là “móc” vào nhau

Ví dụ:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất.

Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến.

Muốn sử dụng tốt kĩ thuật thì phải có văn hóa Vì vậy, công việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết.

(Hồ Chí Minh)

Trang 24

+ Sắp xếp theo lối song hành là cách sắp xếp phần đề và phần thuyếtcủa câu này sóng đôi với phần đề và phần thuyết của câu khác.

Ví dụ:

Những đoạn gông đoạn bóng thì như có người đánh là chuối khô Những đoạn không bóng thì xỉn lại những chất ghét đen nhánh.

(Nguyễn Tuân)

1.3.3.Đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc truyện ngắn.

1.3.3.1.Đoạn văn mở đầu truyện ngắn.

 Về cấu tạo ngữ pháp.

Đoạn văn mở đầu có hai loại: đoạn văn bình thường và đoạn văn đặcbiệt

Đoạn văn mở đầu bình thường là đoạn văn gồm nhiều câu liên kết với

nhau thành một cấu trúc nhất định, thể hiện một nội dung tương đối hoànchỉnh

Ví dụ:

Trang 25

Điền có bốn cái ghe mây Tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ vỏn vẹn có bốn cái ghế mây này là có giá Không phải Điền mua Tính Điền rất ghét mua Từ ngày ra ở riêng đến giờ Điền mới mua có một lần Ấy là một một cái giường bằng gỗ bưởi của một người cô nghèo khó Người cô cần tiền để lấy thuốc ngã nước cho chồng Còn Điền thấy cũng cần có một cái giường Tháng ba vừa rồi vợ Điền mới sinh thêm một đứa con trai Nghĩa là bây giờ Điền có những hai con Cả nhà đúng bốn người, bốn người chất vào một cái giường! Giữa mùa rét thì cũng được, chen chúc nhau một tí càng ấm áp Nhưng mùa nực, còn gì là vệ sinh?

(Nam Cao – Giăng sáng)

Đoạn văn mở đầu đặc biệt là có thể là một từ, một cụm từ hoặc một câu,

có thể trọn vẹn hoặc chưa trọn vẹn về nội dung và hình thức nhưng nó thể hiệnmột cách ấn tượng ý đồ của tác giả và tạo hiệu quả nghệ thuật cao

Ví dụ:

Bu ơi con đói…

(Nam Cao – Nghèo)

 Về nội dung.

Đoạn văn mở đầu thường biểu hiện một nội dung tương đối hoàn chỉnh:nêu đề tài, khái quát chủ đề văn bản, giới hạn, định hướng nội dung triển khaiphần tiếp theo

Ví dụ:

ANH KIM,

Buổi tối hôm ấy, sau khi đưa các anh ra thuyền trở về Nam, tôi bực tức

vô cùng Tôi bực tức với tôi Tôi đay nghiến với tôi trong một phút cao hứng quá, đã mời các anh về nhà.

(Nam Cao – Mua nhà)Đoạn văn trên đã giới thiệu được chủ đề của truyện ngắn Chủ đề củatruyện là việc nhân vật trong truyện thấy tức tối với bản thân mình về cái nhà

Trang 26

của mình Với cách mở đầu đó nhà văn đã đi sâu vào phân tích tại sao anh bựctức, tại vì nhà anh quá nhỏ, và cần mua một cái nhà mới.

1.3.3.2.Một số đặc điểm về đoạn văn kết thúc.

a Khái niệm.

Đoạn văn kết thúc là một phần trong bố cục văn bản, có nội dung liênquan trực tiếp chặt chẽ với các phần triển khai và mở đầu, có vị trí đứng cuốivăn bản, có chức năng khép lại văn bản cả về nội dung lẫn hình thức

Ví dụ:

Ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy Bà huyện nhất định bắt mẻ gạo mới đong để trừ sáu hào nợ chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống thuốc.

(Nam Cao – Nghèo)

(Nam Cao – Cái chết của con mực)

 Nội dung của đoạn văn kết thúc truyện ngắn.

Trang 27

Đoạn văn kết thúc thường mang một nội dung tư tưởng lớn, nó thườngthể hiện qua các nội dung sau: thâu tóm một vấn đề; nêu kết cục, mang nộidung gợi mở định hướng vấn đề, thể hiện cảm xúc, thái độ đánh giá suy nghĩcủa tác giả.

(Nam Cao – Giăng sáng)Kết thúc truyện ngắn trên, tác giả đã dựng nên một khung cảnh Điềnđang tô điểm nghệ thuật nhưng không phải trong một khung cảnh như mơ màtrong một hoàn cảnh éo le, chật vật Và chính cuộc sống tủn mủn hằng ngày

đã giúp Điền có những tác phẩm để đời không như trong mộng với ánh trănglừa dối mà nó hiển hiện ngay trong chính những thời khắc đó

Kết thúc mở tạo ra suy nghĩ liên tưởng cho người đọc, đồng thời mangđến nhiều luồng ý kiến khác nhau Kiểu kết thúc này thường không bị gò bó,tạo sự bất ngờ

 Tiểu kết.

Trang 28

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về nhà văn NamCao, những đặc trưng nổi bật của thể loại truyện ngắn Đồng thời cũng ởchương này, chúng tôi đã tóm lược những đặc điểm, tính chất, chức năng, vaitrò, nội dung của đơn vị cơ bản cấu thành văn bản - đoạn văn, đặc biệt là đoạnvăn mở đầu và kết thúc truyện ngắn

Ngoài ra, trong chương này, chúng tôi còn làm rõ mối liên hệ giữa cấutrúc đoạn văn nói chung vói thể loại đoạn văn trong truyện ngắn nói riêng.Giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, tác giả Nam Cao đã vận dụng đầy đủ cácđặc điểm trong cấu trúc đoạn văn để sử dụng trong các đoạn văn trong truyệnngắn của mình Như việc, tuân theo về thể lệ hình thức của đoạn văn trong vănbản, hay sử dụng đầy đủ cấu tạo của đoạn văn với đoạn văn bình thường; đặcbiệt, hoặc tạo ra một mở đầu; kết thúc mở trong phần nội dung

Những cơ sở lý thuyết mà chúng tôi đã nêu là tiền đề để chúng tôi sosánh, đối chiếu và làm sáng tỏ đặc điểm hình thức và nội dung của đoạn văn

mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn của Nam Cao

Trang 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU

TRUYỆN NGẮN NAM CAO

Dẫn nhập

Việc tạo dựng thành một văn bản có ý nghĩa rất quan trọng, văn bản là

sự kết hợp của ba phần chính: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn Mỗi một phầnnắm vị trí và chức năng khác nhau

Phần mở đoạn được xem là phần tạo được ấn tượng cho người đọc, nếukhởi đầu không tốt thì sẽ không tạo được sức hút cho các phần còn lại Ởchương này chúng tôi sẽ khảo sát các đoạn văn mở đầu trong truyện ngắncủa Nam Cao, thông qua đó làm nổi bật đặc điểm nội dung và hình thức vàkhẳng định thêm về phong cách sáng tác độc đáo của nhà văn Nam Cao

2.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn mở đầu.

2.1.1 Cấu tạo đoạn văn mở đầu

Đoạn văn mở đầu thuộc trong cấu trúc chung của một văn bản, nó có mối liên hệ trực tiếp với các thành phần khác trong văn bản Tuy nhiên nó lại mang một số nét cấu tạo có phần phức tạp hơn

Đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nam Cao cũng được chi thành hai loại: đoạn văn bình thường và đoạn văn đặc biệt

2.1.1.1 Đoạn văn bình thường.

Có rất nhiều nhà văn vẫn thường sử dụng cách giới thiệu tác phẩm vớiđoạn văn mở đầu như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp,… Tuy nhiên riêng vớiNam cao, ông lại mang tới một sự khác biệt với đoạn văn mở đầu, trong việc

đa dạng dưới hình thức và ý nghĩa nổi bật trong đoạn văn

Qua khảo sát trong 18 truyện ngắn của ông chúng tôi đã xác định được

14 tác phẩm trong số 18 truyện ngắn của ông mở đầu với những đoạn văn

Trang 30

bình thường chiếm tỉ lệ: 14/18(78%) Xét theo câu xuất hiện trong đoạn văn

có các kiểu đoạn văn sau:

a Đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành.

Số lượng đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành xuất hiện một số lượngkhông phải ít nó chiếm tỉ lệ 17% (3/18)

Ví dụ:

Từ ngửng mặt lên nhìn Hộ ba lần Ba lần Từ muốn nói, nhưng lại không dám nói Hắn đang đọc chăm chú quá Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút Đôi mắt sáng quắt có vẻ lồi ra Cái trán rộng hơi nhăn Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của

má thì bóng nhẫy Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách trông khắc khổ đến thành dữ tợn Từ thấy sợ…

(Đời thừa)Đoạn văn mở đầu trên về mặt cấu trúc câu thì hầu hết có cùng cấu trúc(lặp cấu trúc) các câu không có mỗi liên hệ mật thiết với nhau Về nội dung,tác giả tập trung miêu tả thái độ chăm chú đọc sách của nhân vật Hộ, giải thích

lí do vì sao mà Từ phân vân không dám nói

Với việc sử dụng đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành, Nam Cao đã đạtđược nhiều thành công trong việc miêu tả hay liệt kê một sự việc, và điều đócũng khẳng định cái tài của ông qua việc dựng các sự kiện theo một trình tự ănkhớp mặc dù xét về nội dung thì chúng có nghĩa không tương đương nhau

b Đoạn văn mở đầu theo kiểu móc xích.

Ngoài việc sử dụng đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành, tác giả cũng

sự dụng một số lượng khá lớn dưới dạng đoạn văn theo kiểu móc xích Trong

số các truyện ngắn nghiên cứu số lượng dạng này chiếm tỉ lệ 34% (6/18)

Trang 31

Ví dụ:

Hắn tưởng hắn chỉ nhọc thôi Nhưng đi qua một tiệm ăn, nghe tiếng mỡ reo trong chảo và ngửi những mùi xào nấu đưa ra hắn mới biết rằng hắn lại

còn đói nữa Chính vì đói cho nên hắn nhọc thế, mà đói cũng phải, tối hôm

qua nhịn, sáng hôm nay, chỉ có ăn dánh khoai lang bằng ngón tay cái, rồi đi ngay chưa cơm nước gì…

(Xem bói)Các câu trong đoạn văn trên liên kết với nhau mạch lạc, câu trước và câusau bổ sung nghĩa cho nhau và giúp văn bản tạo nên một khối thống nhất Quaviệc miêu tả nhân vật hắn đang trong trạng thái đói, tác giả đã cố ý sử dụng lặplại từ đói để miêu tả trạng thái đói của hắn là có thật và rất đói

c Đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch.

Với hình thức đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch, Nam Cao cũng dànhngòi bút của mình hướng theo Tuy nhiên với một số lượng không qua khiêmtốn, với kiểu mở đầu diễn dịch trong các truyện ngắn chiếm tỉ lệ 27% (5/18)

Ví dụ:

Người ta định giết con mực lâu rồi Mực là con già hơn trong hai con chó trong nhà Nhưng cũng là con xấu nết Nó ăn tục: đó là thường Nó nhiều vắt: cái ấy đủ khổ cho nó Nó cắn càn: ấy là cái khổ của bọn ăn mày Nhưng

nó lại sủa như một con gà gáy: cái này thì không thể nào tha thứ được.

(Cái chết của con mực)Trong đoạn văn trên, tác giả đã dùng lối văn diễn dịch Việc con mựcphải chết là do những lí do sau đó mà tác giả đã nêu:già, xấu nết, ăn tục…

2.1.1.2 Đoạn văn đặc biệt.

Việc sử dụng một câu đơn, hay một câu ghép,… trong đoạn văn mở đầucũng mang đến những giá trị khởi sắc cho truyện ngắn Nam Cao Nhưng con

số đó lại dừng ở một số lượng khá ít chỉ chiếm 22%(4/18) Dưới đây là sự

Trang 32

a Đoạn mở đầu là một cụm từ.

Việc mở đầu văn bản với một cụm từ là một chuyện hiếm gặp nên trongcác sáng tác của tác giả, ông cũng không đặc biệt chú trọng Và với kiểu mởđầu này tác giả không dùng tới

b Đoạn văn mở đầu là một câu.

Đoạn mở đầu kiểu này được tác giả trình bày dưới hai dạng: câu đơn vàcâu ghép

 Đoạn văn mở đầu là một câu đơn.

Với hình thức mở đầu này, Nam Cao cũng mang đến sự đa dạng trongsáng tạo của ông với số lượng 17%(3/18)

Ví dụ:

Trong số bạn thân của tôi, thế nào chẳng có người trách tôi:

Lớp này hắn đổ đốn hay sao mà lại đem chuyện hắn ra viết thế? Dơ dáng quá!

(Những chuyện không muốn viết)Cũng tương tự như mở đầu bằng một cụm từ, ở đây khác ở chỗ là việc

mở đầu bằng một câu đơn Với cách mở đầu này sẽ mang đến cho người đọccái hiểu nhanh nhất về những phần tiếp sau mà tác giả định viết

Ví dụ:

Bu ơi con đói…

(Nghèo)Trong tác phẩm Nghèo, tác giả đã mở đầu bằng một câu đối giản: Bu ơi

là thành phần trạng ngữ với chủ ngữ con, và vị ngữ đói Đó là tiếng kêu đóicủa một thằng cu bé đòi ăn Nó gây một ấn tượng bất ngờ, và toàn bộ truyệnngắn sau đó, đã tập trung tái hiện lại cảnh đói khổ của gia đình nhà anh Chuột

Trang 33

c Đoạn văn mở đầu là một câu ghép.

Việc sử dụng câu ghép trong việc mở đầu một truyện ngắn thay cho mộtđoạn văn dài là một yếu tố cũng khá mới mẻ và gây được ấn tượng lơn hơn sovới câu đơn Trong các truyện ngắn mà chúng tôi nghiên cứu với kiểu mở đầunày có 5% (1/18)

Ví dụ:

Khôn đòn quan, gái ngoan đòn chồng.

(Đòn chồng)Đoạn văn trên là một câu ghép và hai vế câu so sánh tương đồng thể hiệnmột quan niệm sống cách ngắn gọn, hàm súc nội dung sâu sắc

Nam Cao vẫn xứng đáng là cây bút hàng đầu trong thể loại truyện ngắntrong việc ông đem đến cho nên văn học Việt Nam những bước chuyển mìnhtrong việc xây dựng đoạn văn mở đầu với những cấu tạo đa dạng và phongphú

2.1.2 Các kiểu câu trong đoạn văn mở đầu

2.1.2.1 Theo cấu trúc.

Phân theo cấu trúc ( cấu tạo ngữ pháp) chúng tôi đi theo hướng phân cáckiểu câu truyện ngắn Nam Cao thành: câu đơn và câu ghép

a Câu đơn.

Khảo sát trong 18 tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy trong tất

cả các tác phẩm tương đương với 18 đoạn văn mở đầu, đoạn văn nào cũng có

số lượng lớn các câu đơn xuất hiện

Số lượng câu trong 18 đoạn văn mở đầu là 164 câu, trong đó câu đơnchiếm tới 94,5% (155/164) Một con số khá nhiều, và những câu đơn cũng cótác dụng rất lớn trong việc hình thành đoạn văn Trong câu đơn, chúng tôi

Trang 34

cũng chia thành ba loại, là câu đơn một nòng cốt và câu đặc biệt, và câu đơn

có kết cấu C-V làm thành phần

 Câu đặc biệt.

Là loại câu không xác định được thành phần, câu một thành phần

Ví dụ:

Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt

đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời.

Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là nhà ai Tức mình hắn chửi ngay làng Vũ Đại… không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ

thế này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ

ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa

đã đẻ ra Chí Phèo Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời

biết! Hắn không biết, cả làng Vũ đại cũng không ai biết…

 Câu đơn có một nòng cốt C – V.

Loại câu đơn này xuất hiện phổ biến trong các đoạn văn mở đầu củaNam Cao

Ví dụ:

Trang 35

Mối hiềm //bắt đầu từ cái trần ngôn.

(Rửa hờn)

Hắn// vừa đi vừa chửi.

(Chí Phèo)

Cuộc khám khung cửi// bắt đầu.

Quan //đã sức cho tất cả các qua hội đồng và các hương chức trong làng phải làm chung.

(Thôi, đi về)Ngoài các câu đơn có đủ thành phần chủ ngữ vị ngữ, thì trong một sốđoạn văn mở đầu vẫn xuất hiện các câu đơn với một cụm C – V có các thànhphần phụ: bổ ngữ, trạng ngữ, …

Ví dụ:

Quả như lời hắn đoán, thằng bé // khóc chán rồi lặng thật

(Cười)

Trong số bạn thân của tôi, thế nào chẳng có người đã trách tôi:

Lớp này hắn đổ đốn hay sao mà lại đem chuyện hắn ra viết thế? Dơ

Ngày đăng: 03/07/2023, 10:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w