1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp

142 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Duy Mộng Hà
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc khai thác và sử dụng Internet một cách hiệu quả phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu là một yêu cầu bức thiết nhằm hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục hiệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-**** -

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

TP.HCM tháng 4/2010

Trang 2

ĐH KHXH&NV GTĐT

BGĐT ĐLC GAĐT

TLGD KHKT GD-ĐT

GV

GD

PM DH NCKH

NV PPT

SV PPGD PTGD

PM TV-TT BC-TT CTXH

ĐP XHH

Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin- truyền thông Đại học Quốc gia Tp.HCM

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Giáo trình Điện tử

Bài giảng điện tủ

Độ lệch chuẩn Giáo án điện tử Tài liệu giảng dạy Khoa học kỹ thuật Giáo dục –Đào tạo Giảng viên

Giáo dục Phần mềm dạy học Nghiên cứu khoa học Ngữ văn

Powerpoint Sinh viên Phương pháp giảng dạy Phương tiện giảng dạy Phần mềm

Thư viện – Thông tin Báo chí – Truyền thông Công tác xã hội

Đông phương

Xã hội học

Trang 3

Văn hóa học Văn học – Ngôn ngữ Việt Nam học

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 12

CHƯƠNG II: 29

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 29

KHXH&NV TP HCM 29

2.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV TP HCM 29

2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV TP HCM 31

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 84

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hiện nay chúng ta đang bước vào thời đại toàn cầu hóa, thời đại của kinh tế tri thức, xã hội học tập cùng với sự bùng nổ thông tin qua nhiều kênh, trong đó nổi bật nhất là kênh Internet Chính Internet, một hệ thống thông tin toàn cầu, đem đến những nguồn tri thức phong phú, nguồn thông tin

vĩ đại và luôn cập nhật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng với cơ hội giao lưu chia sẻ thông tin cho bất cứ ai có điều kiện truy cập vào mạng Internet không giới hạn không gian, thời gian, không phân biệt dân tộc, tuổi tác, giới tính, trình độ,…

Internet đã được ứng dụng trong nhiều ngành nghề, đã trở thành một trong những công cụ chính của con người trong quá trình làm việc, học tập giúp tạo ra hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, nếu như con người biết khai thác đúng cách và tránh lạm dụng Internet cho những mục đích tiêu cực Ngoài ra, kinh tế thị trường với việc cạnh tranh khốc liệt, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải phát triển một nguồn nhân lực chất lượng cao, có những kiến thức và

kỹ năng mới, trong đó có kỹ năng đánh giá, tổng hợp, xử lý thông tin và tự học hỏi suốt đời nhằm xây dựng kiến thức cho riêng mình

Như vậy, trong giáo dục Đại học với chức năng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội và nghiên cứu khoa học, Internet là một công cụ không thể thiếu được Việc khai thác và sử dụng Internet một cách hiệu quả phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu là một yêu cầu bức thiết nhằm hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay, nhằm hình thành và rèn luyện

kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và tự học suốt đời, năng lực sáng tạo của người dạy và người học trong việc khai thác nguồn thông tin khổng lồ trên Internet

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Nền giáo dục mới là một nền giáo dục hiện đại,

sử dụng rộng rãi CNTT và truyền thông, mạng máy tính và Internet để tổ chức và triển khai quá trình dạy và học với những phương pháp và hình thức linh hoạt nhằm nâng cao nền tảng văn hóa và tinh thần chung của xã hội, mở ra những khả năng mới hỗ trợ cho quá trình học tập liên tục, học tập suốt

Trang 6

2

đời, học ở mọi lúc, mọi nơi, học từ xa và đặc biệt là tự học của mọi người Học trực tuyến và tương tác qua mạng Internet sẽ trở thành một hiện tượng toàn cầu…" 1

Chỉ thị về đẩy mạnh và phát triển CNTT nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa số 58 CT/TW của Ban chấp hành trung ương năm 2000, nhấn mạnh “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học, Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục

và đào tạo”, cùng hàng loạt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các nghị định và kế hoạch của chính phủ về giáo dục và đào tạo như Quyết định số 33/2002/QĐ-TTg ngày 8/2/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001-2005;…Một trong những giải

pháp tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2008-

2020 là “Xây dựng hệ thống thư viện điện tử dùng chung”

Đặc biệt ở bậc đại học, hoạt động học tập gắn liền với hoạt động tự học, tự nghiên cứu nhất là theo học chế tín chỉ hiện nay, đòi hỏi sự tích cực, chủ động cao của người dạy lẫn người học thì Internet lại trở thành công cụ cấp thiết, hữu ích, và mang tính hiệu quả cao Thế nhưng trong thực tế, Internet chỉ mới thâm nhập vào nước ta từ năm 1997 và mới phát triển rộng rãi trong thập niên đầu của thế kỷ 21, do đó không ít GV, SV còn bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng Internet, nhất là khai thác Internet phục vụ cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu Họ trở nên lúng túng với nguồn thông tin khổng lồ, không được hướng dẫn tìm kiếm, sử dụng nguồn thông tin từ World wide web vào các hoạt động dạy học và nghiên cứu, không được hướng dẫn và khuyến khích giao tiếp chuyên môn, chia sẻ thông tin từ các Forum mà đối với nhiều SV Internet được sử dụng như một công cụ để giải trí hơn là học tập và nghiên cứu

Theo tổng hợp từ báo Sinh viên Việt Nam của báo điện tử Việt Báo (http://vietbao.vn), một

cuộc điều tra của GS.TSKH Nguyễn Quang A đã tổng kết: "Có đến 70% sinh viên chưa biết khai thác, sử dụng Internet hiệu quả Có nghĩa là chính chức năng quan trọng nhất của Internet thì sinh viên Việt Nam hầu như đang đứng ngoài cuộc Phần lớn SV chỉ biết đến Internet trong việc truy cập, chat chit, còn khả năng tìm kiếm thông tin vẫn là ô cửa bị bỏ ngỏ" hoặc diễn đàn báo SV Việt Nam

1

Võ Nguyên Giáp, Những vấn đề giáo dục hiện nay- quan điểm và giải pháp, NXB Tri thức, 2007

Trang 7

xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng

sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2.1 Tìm hiểu thực trạng sử dụng Internet cũng như hiệu quả của việc sử dụng Internet vào công việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của các GV và SV tại trường ĐH KHXH & NV TP HCM, cùng những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này

2.2 Đề xuất những kiến nghị tăng cường việc sử dụng Internet và giải pháp nâng cao hiệu quả

sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu của các GV và SV tại trường ĐH KHXH &

NV TP HCM

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận về Internet, đặc điểm bản chất và vai trò của Internet trong dạy - học và nghiên cứu khoa học ở bậc Đại học

3.2 Khảo sát cụ thể thực trạng sử dụng Internet của GV và SV tại trường Đại học KHXH&

NV Tp Hồ Chi Minh

3.3 Phân tích các yếu tố nhận thức, hành vi và hiệu quả sử dụng Internet của GV và SV cũng như ý kiến của họ về nguyện vọng và phương hướng cải tiến hiệu quả sử dụng Internet và tăng

cường khai thác Internet

3.4 Đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp nhằm cải tiến việc sử dụng Internet một cách hiệu quả trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường Đại học KHXH& NV TP.HCM, khắc phục những khó khăn, tận dụng những ưu điểm mà Internet đem lại cho giáo dục đại học, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Đại học nói chung

Trang 8

4

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Việc sử dụng Internet trong giảng dạy và nghiên cứu của GV tại trường Đại học KHXH&

NV TP.HCM

4.2 Việc sử dụng Internet trong học tập và nghiên cứu của SV tại trường Đại học KHXH&

NV TP.HCM

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

5.1 GV và SV tại trường ĐH KHXH & NV TP HCM khá quan tâm đến việc sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình và đang có xu hướng sử dụng Internet ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, nhìn chung việc sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu còn khá mới mẻ, chưa hiệu quả, còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan

5.2 Có sự chênh lệch về mức độ sử dụng và khai thác Internet hiệu quả giữa GV & SV các khoa /bộ môn thuộc khối ngành ngoại ngữ và khối ngành xã hội nhân văn khác tại trường ĐH

KHXH & NV TP HCM Các khoa /bộ môn thuộc khối ngành ngoại ngữ vì đặc thù ngành học có thuận lợi về trình độ ngoại ngữ nên có xu hướng sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu nhiều hơn, nhất là từ các websites tiếng nước ngoài

6 KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

6.1 Khách thể nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu trên 481 khách thể bao gồm 358 SV ở 4 khoa và 123 GV ở 14 khoa / bộ môn tiêu biểu tại truờng ĐH KHXH&NV Tp.HCM (xem phụ lục)

6.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Do giới hạn về thời gian và kinh phí thực hiện nên đề tài chỉ nghiên cứu trên đối tượng sinh viên chính qui (chỉ ở bậc đào tạo đại học) ở 4 khoa tiêu biểu tại trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, chủ yếu là những SV đang học ở giai đoạn chuyên ngành

- Chỉ khảo sát được 123 giảng viên được lựa chọn ngẫu nhiên ở 14 khoa/ bộ môn tiêu biểu cho các nhóm ngành tại trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, tuy nhiên số lượng GV đại diện cho các khoa/ bộ môn không nhiều và có sự chênh lệch do điều kiện khảo sát và cũng do đặc thù của khoa về số lượng

- Đề tài khảo sát việc sử dụng Internet trong phạm vi các khóa đào tạo chính qui tập trung ở trường đại học nói trên

Trang 9

5

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp định tính: bao gồm nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn và quan sát

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Sưu tầm, nghiên cứu và phân tích các tài liệu lý luận trong và ngoài nước và các kết quả nghiên cứu thực tiễn (sách, báo, luận án, tạp chí, trang Web, tài liệu hội thảo, hội nghị chuyên đề có các công trình nghiên cứu…) về các vấn đề có liên quan đến đề tài Kết quả nghiên cứu, phân tích

được hệ thống hóa và trình bày trong chương I (cơ sở lý luận) của đề tài nghiên cứu, sau đó các

nguồn tham khảo được sắp xếp trong thư mục tham khảo

b Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân:

Phỏng vấn 10 giảng viên và 20 sinh viên được lựa chọn ngẫu nhiên ở trường ĐH KHXH&NV TP.HCM Nội dung phỏng vấn bao gồm ý kiến đánh giá, nhận định của GV và SV về:

- Những lợi ích cụ thể của Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH Thái độ, động cơ, mức độ hứng thú, mức độ thường xuyên và cách thức sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH của họ

- Những ưu điểm cũng như những hạn chế về số lượng, chất lượng tài liệu tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài SV và GV tìm được từ trên các Website

- Hiệu quả sử dụng Internet trong giao tiếp, chia sẻ chuyên môn với đồng nghiệp/bạn bè và thầy cô/

SV của GV và SV và những yếu tố ảnh hưởng

- Những điều kiện thuận lợi và khó khăn nổi bật trong quá trình sử dụng Internet cùng những phương hướng khắc phục, nguyện vọng cải tiến việc sử dụng Internet

Cuộc phỏng vấn được ghi âm hoặc ghi chép thành biên bản Những thông tin được thu thập, phân tích theo các chủ đề: nhận thức, thái độ, thực trạng, khó khăn, thuận lợi, phương hướng, nguyên vọng Sau đó chúng được sử dụng kết hợp với dữ liệu thu được từ 2 bảng hỏi, nhằm phân tích thực trạng và đưa ra kiến nghị cải tiến việc sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH một cách thuyết phục, cụ thể và rõ ràng hơn tại trường ĐH KHXH&NV TP.HCM

Trang 10

6

c Phương pháp quan sát:

Quan sát, phân tích một số Websites của trường/ khoa và chuyên ngành, công cụ tra cứu Internet, diễn đàn đang được sử dụng ở các khoa/ bộ môn của ĐH KHXH&NV TP.HCM, để có sự

mô tả cụ thể về cấu trúc, giao diện, hình thức thẩm mỹ,…của các Websites

Các phòng máy vi tính, phòng tra cứu dữ liệu, phòng máy phục vụ NCKH, thư viện, máy tính

ở khoa, các khu vực có wireless ở trường cũng được quan sát để bổ sung cho kết quả thu được từ bảng hỏi và phỏng vấn sâu cá nhân

7.2 Phương pháp định lượng:

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dành cho SV và GV một số khoa trường ĐH

KHXH&NV TP HCM

Bảng hỏi bao gốm 2 phần: phần thông tin cá nhân và phần nội dung, được thiết kế để thu thập

số liệu trên 2 đối tượng là GV và SV thuộc trường trên

+ Bảng hỏi dành cho sinh viên gồm 27 câu hỏi

+ Bảng hỏi dành cho giảng viên gồm 27 câu hỏi

Kết quả của 2 bảng hỏi được so sánh và bổ sung cho nhau

Nội dung cơ bản của bảng hỏi với hai loại câu hỏi đóng và câu hỏi mở được sử dụng, bao gồm:

- Mức độ quan trọng của Internet đối với việc giảng dạy, học tập và NCKH ở Đại học, nhận thức về những lợi ích cụ thể của Internet

- Mức độ sử dụng và cách thức sử dụng và mục đích sử dụng Internet cụ thể ở trường ĐH

KHXH&NV TP HCM

- Hiệu quả sử dụng, mức độ hài lòng về việc sử dụng Internet (số lượng cũng như chất lượng thông tin thu được từ Internet, mức độ và hiệu quả giao tiếp chia sẻ thông tin trên mạng)

- Năng lực hỗ trợ việc khai thác, sử dụng Internet của GV và SV của trường

- Những thuận lợi và khó khăn cụ thể trong quá trình sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH tại trường

- Nguyện vọng về phương hướng cải tiến sử dụng Internet hiệu quả trong giảng dạy, học tập và NCKH tại trường

Trang 11

7

7.3 Phương pháp xử lý thông tin:

Các thông tin tư liệu được hệ thống hóa theo các chủ đề lý luận, để trình bày khái quát về

lịch sử nghiên cứu và cơ sở lý luận

Các thông tin định tính được sắp xếp theo các chủ đề, dưới dạng trích dẫn báo cáo, viết biên

bản, gỡ băng phỏng vấn Kết quả được xử lý bằng tay theo phương pháp phân tích nội dung Các trích dẫn được sử dụng kết hợp với số liệu thống kê định lượng

Các thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS, bao gồm:

- Thống kế mô tả, tính tần số và phần trăm cũng như tương quan chéo giữa biến độc lập và biến phụ thuộc kèm theo kiểm nghiệm Chi-Square khi dữ liệu cho phép

- Tính trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định Anova để thấy ý nghĩa của sự khác biệt giữa các trung bình điểm số

8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Xây dựng thêm phần cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hành cho môn học ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tài liệu tham khảo cho môn Giáo dục suốt đời, chuyên ngành quản lý giáo dục tại khoa Giáo dục Đồng thời kết quả đề tài cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các GV muốn tăng cường hiệu quả sử dụng Internet trong giảng dạy, giao tiếp với SV, đồng nghiệp và NCKH hoặc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn tại trường ĐH KHXH&NV TP HCM cũng như

ở các trường ĐH khác Đồng thời giúp ban lãnh đạo nhà trường hiểu rõ thực trạng để từ đó đưa ra những chính sách hỗ trợ, cải tiến cơ sở vật chất nhằm tăng hiệu quả sử dụng Internet của GV và SV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Nó cũng được sử dụng cho SV tham khảo để có thêm kinh nghiệm sử dụng Internet hiệu quả trong học tập và định hướng tìm đề tài NCKH hoặc làm khóa luận, luận văn về các vấn đề có liên quan đến đề tài

Trang 12

8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ở nước ngoài việc ứng dụng CNTT nói chung và Internet nói riêng vào dạy học đã được quan tâm nghiên cứu rất nhiều trong khoảng hai thập niên gần đây Việc giảng dạy, học tập có sự trợ giúp của máy vi tính và mạng Internet được áp dụng ở tất cả mọi ngành học, mọi cấp học và trở nên rất phổ biến ở các nước tiên tiến Nhìn chung các đề tài nghiên cứu về việc sử dụng Internet trong quá trình giảng dạy, học tập đã đề cập đến vấn đề học từ xa qua hệ thống E-learning với môi trường học tập đa phương tiện; vai trò của người học khi tham gia môi trường học tập này và vai trò tư vấn của người dạy; thiết kế quá trình học tập với sự hỗ trợ của máy vi tính và Internet; đặc biệt là sự giao tiếp (tương tác) giữa người dạy và người học đồng bộ (online) hay không đồng bộ (offline), tương tác giữa người và máy; các quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; đánh giá chất lượng

Elearning…(Các bài viết của các thành viên trong “The international E-Learning association”,

Mới đây, còn có các bài nghiên cứu về Blended learning (học kết hợp), kết hợp giữ học tập điện tử với học tập truyền thống, nhằm đem lại kiến thức vừa rộng vừa sâu khi khai thác thông tin trên Internet của nhóm tác giả DTI Global Watch Mission (Beyond E-Learning: practical insight from the USA - www.stonybrook.edu/spd/dean_papers/newdelhi.pdf ) Đặc biệt tác giả nhấn mạnh

đến vai trò tương tác hỗ trợ với người hướng dẫn, với giáo viên trong quá trình người học tự học với công cụ Internet và năng lực tự học, tự đánh giá của người học Thế giới trên mạng là thế giới ảo nhưng lại đòi hỏi những kỹ năng thật rất thực tế (real-life skills), kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp xã hội,… để có thể sử dụng Internet hiệu quả Khái niệm mLearning, mobile learning (học di động), liên kết giữa vi tính di động và Elearning, học thông qua các phương tiện/ thiết bị di động cũng được các tác giả bàn luận rất thú vị trong thế giới ngày ngày với các phương tiện truy cập Internet di động ngày càng tăng ở khắp mọi nơi NanoLearning hay nLearning, học tập được truyền qua số lượng bites rất nhỏ là những vấn đề mới đang được nghiên cứu ở Hoa kỳ…

Đi sâu nghiên cứu về việc lựa chọn, sử dụng phương tiện, multimedia, các phần mềm hỗ trợ học tập, cách thiết kế các chương trình hướng dẫn người học trong môi trường học tập có sự hỗ trợ của Internet,… có các tác giả Roy D.Pea (giám đốc Trung tâm Ứng dụng CNTT trong dạy học - Mỹ),

Trang 13

9

Newby Timothy J trong "Instructional Technology for teaching and learning" đã đề cập đến các hình thức sử dụng Internet nhằm mục đích hỗ trợ học tập như ứng dụng Internet để liên lạc, giao tiếp; tra cứu thông tin; xuất bản và phổ biến thông tin, …Đặc biệt có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về việc học tập trực tuyến (Online learning, Online education), các đề tài này đều nhấn mạnh sự tương tác giữa thầy - trò và giữa những người học trong môi trường học tập có sự hỗ trợ của Internet như: Priscilla Norton, Patti Shank, Amy Sitze, George M.Piskurich, Greg Kearsley, Ph.D Chinh - Hsiung Tu (trường đại học Northern Arizona - Mỹ), …

Tác giả Rebecca Eynon với bài viết “Sử dụng Internet trong Giáo dục ĐH”

002) trình bày những kinh nghiệm sử dụng Internet trong giảng dạy và học tập ở bậc Đại học qua việc phân tích ba nhóm ngành học ở 1 trường Đại học, cho thấy động cơ giúp SV hứng thú trong việc sử dụng Internet bao gồm tăng kinh nghiệm thông tin học tập, đáp ứng với những thay đổi trong

GD ĐH va nhu cầu cơ hội học tập linh hoạt cũng như những lý do sở thích cá nhân và vui thú Sau cùng tác giả đề xuất đa dạng hóa các bối cảnh sử dụng Internet, CTTT-TT (ICT) trong giảng dạy và học tập ở Đại học “Giáo duc ĐH trong thời đại Internet” của Shelly Mc Cauley Jugovich, “Tương lai của dạy và học Online trong GDĐH” của Kyong- Jee Kim đề xuất cải tiến các chiến lược sư phạm trong trường ĐH, năng lực sư phạm kết hợp với năng lực CNTT

Kết quả cuộc khảo sát về tài liệu học tập điện tử (qua Internet) trên toàn nước Mỹ năm 1996 (CSUF 2000 Technology Survey) cho thấy: E-mail 25%, nguồn tài nguyên từ các website 9%,

Multimedia 11%, Handouts 28%, Courseware 19%, phòng máy vi tính 24% Trong đó: Giáo viên sử dụng 32% Online Catalog, 34% thư viện điện tử, 68% website, 67% e-mail liên lạc với sinh viên; Sinh viên sử dụng 23% Online Catalog, 28% thư viện điện tử, 46% website, 37% e-mail Theo thống

kê của Trung tâm Thống kê giáo dục quốc gia Hoa kỳ (NCES), năm 2009-10, các khóa học trực tuyến dự kiến chiếm 31% trong tổng số các khóa học đăng ký ở trình độ sau phổ thông trung học ở Hoa kỳ (Paul J Edelson, Elearning in the US: new directions & opportunities, 2001)

Ngoài ra còn có các bài báo tạp chí, website, kỷ yếu hội thảo, hội nghị chuyên ngành,… Gail

E Pritchard (Improving Learning with IT, National Research Council, Academy Press, Washington DC., 2006); dự án nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu học trực tuyến - National Center

Trang 14

10

for Online Learning Research (NCOLR) ; tạp chí Educational Technology and Society, tạp chí The

Internet and Higher Education (www.elsevier.com/ /iheduc)…

Tóm lại, tình hình nghiên cứu về việc sử dụng CNTT&TT, Internet trong giảng dạy và học tập trên thế giới rất phong phú, ngày càng đa dạng và sâu rộng

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Internet chính thức xuất hiện ở nước ta từ năm 1997, cho đến nay, với 13 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam có thể nói Internet vẫn còn khá mới mẻ đối với nhiều người trong nhiều lãnh vực: văn hóa, xã hội, giáo dục,… Do đó, các cuộc khảo sát ở nước ta cho thấy việc khai thác, sử dụng Internet vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều GV và SV, học sinh vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn, trong việc sử dụng Internet, ứng dụng CNTT&TT trong dạy, học và NCKH

Về nghiên cứu Internet trong lĩnh vực xã hội có đề tài của Bùi Hoài Sơn (Viện Văn hóa -

Thông tin, 2006) “Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội ” Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra những thay đổi văn hóa và xã hội do việc sử dụng Internet mang lại với một loạt các vấn đề tiêu cực như sự hình thành thế giới ảo, những giá trị xã hội mới như khái niệm về tình bạn, tình yêu, các loại tội phạm mới ra đời,…Giới trẻ chưa đủ trưởng thành để tránh những mặt hạn chế của Internet, tận dụng phát huy hững mặt tiêu cực của nó, nhât là trong việc học hỏi

Trong nghiên cứu về giáo dục dựa trên phương tiện cơ bản là Internet “E-learning - Hệ thống đào tạo từ xa ”, nhóm tác giả TS Trần Văn Lăng, Th.S Đào Văn Tuyết và TS Choi Seong đã đi sâu

nghiên cứu về việc thiết kế nội dung chương trình, các phương pháp, phương tiện và cách thức sử dụng Internet phục vụ quá trình dạy học từ xa và cho rằng: “Việc sử dụng CNTT&TT, đặc biệt là Internet, được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều biến chuyển trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo

dục,…”

Trong bài nghiên cứu "CNTT và việc đổi mới phương pháp GD-ĐT", GS.TSKH Hoàng

Kiếm - Giám đốc Trung tâm phát triển CNTT ĐHQG TP.HCM đã đánh giá cao vai trò của Internet với khả năng phát triển của mạng máy tính và các ứng dụng phong phú của nó cho phép phát triển các thư viện điện tử và mô hình đào tạo từ xa bằng cách kết hợp với các phương tiện nghe nhìn tiên tiến

Trang 15

với đề tài “Tìm hiểu nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM”

Kết quả cho thấy nhu cầu sử dụng internet của sinh viên là rất lớn nhưng tập trung chủ yếu vào học tập và giải trí Bản thân sinh viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng internet phục vụ cho học tập và giải trí

Ngoài ra còn có một loạt các bài báo, tạp chí, website, kỷ yếu hội thảo, hội nghị chuyên ngành khác nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học như Th.S Đặng Thị Thu Thủy với bài

viết "Khai thác, sử dụng Internet góp phần tích cực hóa hoạt động học tập môn Toán của học sinh ở trường trung học cơ sở" (Tạp chí Giáo dục số 171 kì 1 – 9/2007); “Hình thành kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet trong dạy học môn Giáo Dục Học ở trường ĐHSP Hà Nội” của thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hồng đăng trên tạp chí Giáo dục số 228 Hội thảo "Ứng dụng CNTT&TT trong GD&ĐT" do tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG phối hợp với Bộ GD&ĐT tổ chức

ngày 28/2/2003 và 01/3/2003 tại Hà Nội

Theo tổng hợp từ báo điện tử Việt Báo (http://vietbao.vn), GS.TSKH Nguyễn Quang A khi

nghiên cứu về tình hình sử dụng Internet trong SV đã tổng kết: hơn 70% sinh viên chưa biết khai thác, sử dụng Internet có hiệu quả Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu sự hướng dẫn và

hạn chế về kỹ năng sử dụng Internet của SV Bài báo cũng cho biết thực tế hiện nay các trường đại học chưa chú ý đến việc hướng dẫn sinh viên cách khai thác, sử dụng Internet mặc dù Internet được đánh giá cao trong việc hỗ trợ học tập của sinh viên

Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay các tác giả đã quan tâm nghiên cứu về tình hình sử dụng

Internet trong xã hội, trong GD&ĐT cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng Internet trong dạy học ở Đại học, đặc biệt là lĩnh vực E-learning đã được nhiều tác giả nghiên cứu một cách sâu sắc Bên cạnh đó cũng thấy rằng các đề tài chủ yếu nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc sử

Trang 16

12

dụng Internet, CNTT&TT trong giảng dạy, học tập chứ chưa có nhiều bài hướng dẫn cụ thể về cách thức sử dụng Internet hiệu quả đối với người dạy và người học trong bối cảnh học truyền thống chính quy, mặt đối mặt Khai thác, sử dụng Internet trong NCKH ở Đại học chưa được đề cập đến

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Internet

1.2.1.1 Khái niệm Internet và một số thuật ngữ có liên quan

a Khái niệm Internet

2

Tom Sheldon, Bách khoa toàn thư mạng, NXB Thống kê, 2001

Trang 17

13

Hay định nghĩa từ wikipedia “Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy

nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo

kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa

(giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu” (http://vi.wikipedia.org/wiki/Internet)

Tóm tại, các định nghĩa đều mô tả rõ Internet như một hệ thống thông tin toàn cầu, liên kết với tất cảc các nơi, mọi lãnh vực ngành nghề, mọi đối tượng sử dụng….đem lại cơ hội giao lưu và học hỏi rất lớn cho con người trên khắp thế giới với CNTT và máy vi tính phát triển như hiện nay

b Một số thuật ngữ có liên quan đến Internet

- Mạng máy tính: Mạng máy tính hay hệ thống mạng (computer network hay network system),

được thiết lập khi có từ 2 máy vi tính trở lên kết nối với nhau để chia sẻ tài nguyên: máy in, máy fax, tệp tin, dữ liệu

- WWW (World Wide Web), hay Web, là một tập hợp các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink) và các địa chỉ URL, và nó có thể được truy nhập bằng cách sử dụng Internet

- Website: Website là một tập hợp các trang web (web page) thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web của Internet Một website có một địa chỉ Internet xác định Ví dụ: www.edu.net.vn

- Web page: Một trang web là một phần của website được kết nối từ trang chủ hoặc từ một trang web khác Web page phản ánh một nội dung nào đó và chiều dài có thể ngắn hơn hoặc dài hơn một trang màn hình, thông thường, dài khoảng hai trang màn hình

- Home page: Là trang chủ hay thường gọi là trang chính đóng vai trò giới thiệu về trang web

và liên kết tới các trang, sẽ liên kết tới các web page trong cùng website hoặc các website khác Khi truy cập vào website thì đa số các trường hợp, trang chủ được mở đầu tiên

- Tên miền: Mục đích chính của tên miền là để cung cấp một hình thức đại diện, hay nói cách khác, dùng những tên dễ nhận biết, thay cho những tài nguyên Internet mà đa số được đánh địa chỉ bằng số

Trang 18

14

- Địa chỉ website hay URL (Uniform Resource Locator): Website hay URL là tập hợp các trang web Một website hay một dịch vụ trên web có một địa chỉ duy nhất trên Internet dùng để định

rõ vị trí của nó Hầu hết các website chứa hàng chục, hàng trăm, hay hàng ngàn trang web

- Web browser (trình duyệt web): đây là công cụ duy nhất để khai thác thông tin trên Internet thực hiện kết nối vào Website Các trình duyệt web thực hiện việc truy cập và hiển thị văn bản

Người dùng đánh vào địa chỉ URL của Website cần sử dụng trong vùng Address của web browser

- Virus máy tính: là những chương trình hay đoạn mã được thiết kế để tự nhân bản và sao chép chính nó vào các đối tượng lây nhiễm khác (file, ổ đĩa, máy tính ), có thể phá hỏng các file dữ liệu hoặc làm tê liệt cả hệ thống máy tính lớn

- Thư điện tử, hay email (từ chữ electronic mail), là một hệ thống chuyển nhận thư từ qua các

mạng máy tính

1.2.1.2 Sơ lược lịch sử Internet

Tiền thân của Internet là ARPANET (Advances Research Projects Agency Network), mạng máy tính được xây dựng bởi Bộ Quốc Phòng Mỹ (DOD) vào năm 1969 Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Sau đó, năm 1984, ARPANET được chia làm hai phần:

MILNET là hệ thống mạng dành cho quân sự và ARPANET mới nhỏ hơn, hai mạng vẫn liên kết với nhau nhờ giải pháp kỹ thuật gọi là IP (Internet Protocol)

Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Tới năm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển

Năm 1991, Tim Berners Lee ở Trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo một ý tưởng về siêu văn bản được đưa ra từ năm 1985 WWW xuất hiện bởi nhu cầu của các viện và trường đại học Mạng Internet phát triển nhanh chóng ở Mỹ rồi lan

ra toàn cầu, phục vụ trao đổi thông tin trong nhiều lãnh vực

Ngày nay Internet đã phát triển với hệ thống mạng không dây (Wireless Network) – Wifi, tên gọi đầy đủ Wireless Fidelity là một trong những kĩ thuật nối mạng tiên tiến nhất hiện nay, có khả năng thực hiện kết nối ở mọi nơi, mọi thời điểm mà không cần sử dụng các thiết bị kết nối cồng kềnh, phức tạp như trước đây

Trang 19

15

1.2.1.3 Vai trò, lợi ích cũng như thử thách của Internet trong đời sống xã hội

a) Vai trò và lợi ích của Internet:

Internet có vai trò quan trọng trong mọi lãnh vực trong đời sống xã hội, vì bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có thông tin, và con người ai cũng có nhu cầu chia sẻ và tiếp nhận thông tin, để xã hội tồn tại và phát triển Hiện nay, nhiều cơ quan tổ chức cung cấp thông tin công khai cho xã hội qua trang web riêng Trong kinh doanh, Internet vừa có lợi cho doanh nghiệp vừa có lợi cho khách hàng tìm hiểu thông tin về nhau (http://lapdatadsl.org/content/10-loi-ich-internet)

Trong thời đai KH-KT phát triển như vũ bão và mọi thứ chuyển biến rất nhanh, nhịp sống ngày càng hối hả hơn, nhu cầu tiếp nhận và chia sẻ thông tin nhanh chóng nhằm đạt hiệu quả công việc là rất cấp thiết Internet hỗ trợ đắc lực cho việc tìm kiếm, tiếp nhận thông tin và giao tiếp nhanh chóng và hiệu quả, đặc biệt phục vụ cho một xã hội học tập, nơi mọi người có nhu cầu học hỏi suốt đời cho mục đích nghề nghiệp cũng như mục đích cá nhân hay xã hội

Trước mắt Internet mở rộng của các nguồn thông tin, với World Wide Web là nguồn dữ liệu tổng hợp, giống như thư viện, bảo tàng, nơi hội thảo, nơi chứa các dữ liệu nghiên cứu, các sưu tập kiến thức và văn hóa của loài người từ xưa đến nay… Đặc biệt, khi Internet được sử dụng trên toàn thế giới, với sự tham gia đóng góp của cộng đồng rộng lớn nên nó càng trở nên đa dạng, phong phú,

đa ngôn ngữ và mang nhiều tầm nhìn

Internet không chỉ kết nối con người với nguồn tài nguyên tri thức trên mạng mà nó còn kết nối họ với một nguồn tài nguyên quan trọng hơn tất cả, đó là kết nối con người, xóa bỏ cả ranh giới quốc gia, tương tác với mọi người ở khắp nơi trên thế giới, ở mọi nền văn hóa khác nhau, hướng người học đến một nền giáo dục đa văn hóa với một kho tàng văn hóa vô tận Qua Internet, mọi người trên toàn thế giới còn có thể chia sẻ những nguồn thông tin, những hiểu biết, những chủ đề họ cùng quan tâm, cùng nhau xây dựng một xã hội ngày một tốt đẹp hơn Internet là công cụ quan trọng,

hỗ trợ cho các hội nghị từ xa diễn ra trong mọi lãnh vực

Một lợi ích quan trọng của Internet là nó có khả năng cung cấp nhiều dạng thông tin rất trực quan, sinh động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú cho con người, nhất là người học qua các kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động giúp nhanh chóng tiếp thu thông tin Internet còn giúp ta mua sắm dễ dàng và giải trí phong phú thuận tiện

Trang 20

16

Tóm lại Internet có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống nhờ chức năng cung cấp thông tin, là công cụ liên lạc giao tiếp và chia sẻ thông tin bằng cách đưa thông tin lên mạng Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt, công nghệ dù hiện đại đến đâu vẫn không tránh khỏi các mặt hạn chế, những tác hại, ảnh hưởng tiêu cực của Internet đến đời sống con người không phải là không có

vì nó là “con dao 2 lưỡi” khiến nhiều người lo ngại và phải tìm cách khắc phục

b) Những hạn chế và thử thách của Internet:

Về mặt xã hội, giới trẻ là những người bị ảnh hưởng bởi Internet nhiều nhất bởi họ là tầng lớp tiến bộ nhất trong xã hội, nhanh nhạy trong việc tiếp cận với các công nghệ mới, nhưng chính điều này đã gây ra nhiều mối lo ngại cho xã hội như sự hình thành thế giới ảo, những quan niệm lệch lạc

về tình bạn và tình yêu, nạn bạo lực, truy cập các trang web khiêu dâm, … và đặc biệt nghiện các trò chơi online Về mặt kỹ thuật, khi sử dụng Internet người dùng có thể bị tấn công bởi các hacker “mũ đen”, virus máy tính, thư rác (spam), bị chúng phá hỏng dữ liệu hoặc ăn cắp các thông tin cá nhân (http://www.pondered.org/the_internet.html)

Trong lĩnh vực giáo dục ngày nay Internet đang được triển khai ứng dụng và đã đem lại những hiệu quả tích cực nhưng kèm theo đó cũng có những khó khăn và bất cập, thể hiện qua việc tổng hợp các bài viết về các bất lợi của Internet

Thứ nhất, Internet không thể hỗ trợ hoàn toàn cho người dạy và người học trong quá trình dạy – học Hơn nữa, kiến thức, kỹ năng về Internet ở một số SV và GV vẫn còn hạn chế Việc sử dụng Internet trong dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó Điều đó làm cho Internet, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và tính hiệu quả của nó

Thứ hai, không giống như sách giáo khoa hay các băng đĩa dạy học, thông tin trên các trang web không ở dạng tĩnh và không ổn định Khi chúng ta quay trở lại tìm kiếm một thông tin cũ nào đó trên website thì có thể thông tin đã bị tháo xuống, không còn xuất hiện trên website đó nữa Trừ trường hợp nếu nội dung và cách thiết kế của thông tin đó có những thay đổi sẽ có lợi trong việc cập nhật các thông tin

Thứ ba, vì việc công bố website rất dễ dàng và không một tổ chức nào có trách nhiệm kiểm tra chất lượng chúng, nên thông tin trên website có thể mang tính khoa học cao, cũng có thể là những

Trang 21

và thu nhập khi truy cập Internet với tỷ lệ khác biệt về việc truy cập Internet giữa nhóm người có trình độ học vấn cao nhất và thấp nhất là 25% Điều này phản ánh sự chênh lệch lớn trong xã hội và gây ra sự bất bình đẳng giữa mọi người

Việc sử dụng Internet hiện nay cũng xuất hiện các vấn đề vi phạm như:

- Sự xâm phạm quyền riêng tư, quyền cá nhân trên Internet đang gia tăng đáng kể trong

những năm gần đây: đối với các thông tin cá nhân được khai báo khi sử dụng các dịch vụ trên

Internet chúng ta không đảm bảo được sự bảo mật của thông tin, không biết chúng sẽ được sử dụng như thế nào Bọn tội phạm có thể dựa vào chúng nhằm theo dõi, phát hiện ra những thông tin có lợi cho chúng để lừa đảo lấy tiền hoặc đe dọa tống tiền nạn nhân hoặc khai báo giả mạo hoặc không khai báo các thông tin cần thiết, gây trở ngại cho sự hoạt động của các cơ quan chức năng khác

- Nạn đạo văn trên Internet (chiếm lấy ý tưởng hoặc các bài viết của người khác thành của mình) hiện nay đang là một vấn đề ngày càng leo thang SV rất dễ dàng copy các thông tin trên Internet và “paste” (dán) nó vào bài của mình GV lại không có đủ thời gian để tìm kiếm các website nhằm kiểm tra việc đạo văn của SV Các cuộc điều tra tại Mỹ cho thấy việc đạo văn hiện nay diễn ra

ở cả học sinh trung học và SV đại học Có đến 80% SV đại học thừa nhận họ đã gian lận và 90% tin rằng những sinh viên gian lận sẽ không bị phát hiện Tuần báo Education Week cũng đã công bố kết quả một cuộc điều tra trên toàn nước Mỹ với kết quả 54% SV thừa nhận họ đã từng đạo văn ít nhất một lần qua Internet GV cần phải biết tìm kiếm, so sánh đối chiếu các bài làm của SV với các nguồn tài nguyên trên Internet và từ đó phát hiện ra những SV vi phạm

Như vậy, khi SV copy thông tin từ Internet mà không trích dẫn nguồn thông tin đó, bất kể nó

là e-mail, hình ảnh, nhạc, video, audio hoặc nội dung nào đó từ các website là họ đã xâm phạm bản quyền tác giả (sự độc quyền về việc công bố, xuất bản sản phẩm hoặc bán các bản quyền) Luật bản quyền không chỉ giúp bảo vệ chống lại việc download bất hợp pháp các tài liệu trên Internet mà nó còn bảo vệ các tác giả sách, phim, báo chí, các tài liệu tham khảo, tạp chí và phần mềm

Trang 22

18

Như vậy việc phát huy các ưu điểm và khăc phục các hạn chế của Internet là điều luôn đặt ra cho mọi xã hội

1.2.1.4 Ứng dụng của Internet trong một số tình huống giảng dạy và học tập

Theo Newby Timothy 3 đề cập trong "Instructional technology for teaching and learning",

Internet có ba ứng dụng chính trong dạy-học, Internet là nguồn cung cấp thông tin; phục vụ giao tiếp

và là kênh chia sẻ, xuất bản thông tin Nó được ứng dụng trong các tình huống học tập tự học, học từ

xa và học trên lớp

a Internet là nguồn cung cấp thông tin:

Tài liệu học tập của sinh viên ngày nay không chỉ giới hạn trong sách giáo khoa và các thư viện truyền thống mà đã vượt ra bên ngoài nhà trường GV hiện nay không còn là người độc quyền cung cấp kiến thức nữa Internet cho phép người dùng có khả năng truy cập các nguồn tài nguyên dữ liệu và thông tin ở những vị trí khác nhau trên toàn thế giới Do đó có thể nói Internet là một kho dữ liệu khổng lồ, cung cấp cho chúng ta nguồn thông tin đa dạng, phong phú, cập nhật, thuộc tất cả các lĩnh vực ở mọi lúc, mọi nơi, kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau và các tài liệu khác trong WWW Với WWW sinh viên có thể tìm được các văn bản, đồ họa, âm thanh, video, virtual realy, các phần mềm máy tính, … và liên kết đến các trang web khác Điều này sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của người học

Một hình thức cung cấp thông tin hiệu quả cho việc học tập của Internet đó là thông qua các website, thư viện điện tử hoặc giáo trình điện tử, các từ điển trực tuyến Các thư viện điện tử và từ điển trực tuyến phổ biến ở Việt Nam là: mạng thư viện Việt Nam (www.thuvien.net), thư viện giáo trình điện tử của Bộ GD& ĐT (http://ebook.edu.net.vn), từ điển bách khoa toàn thư

(www.bachkhoatoanthu.gov.vn), Wikipedia (http://vi.wikipeia.org) Do đó, môi trường học tập của

SV ngày càng trở nên đa dạng hơn với sự trợ giúp của Internet

Trong tình huống tự học: sau các giờ dạy và học trên lớp, hoạt động sử dụng Internet của cả

SV và GV gắn liền với quá trình tự học, tự nghiên cứu một cách sáng tạo Nguồn thông tin, tài liệu

đa dạng, phong phú của Internet không những phục vụ giảng dạy, học tập chuyên môn mà còn đáp ứng nhu cầu tìm tòi, mở rộng và học hỏi bổ sung kiến thức của mỗi người GV hiện nay cần cập nhật

3

Newby Timothy J., Stepich Donald A., Lehmen James D., Russell James D., Instructional technology for teaching and learning,

Prentice- Hall, Inc.,2000

Trang 23

Trong tình huống học từ xa: thông qua Internet người học có thể theo học các chương trình

đào tạo từ xa (distance learning - E-learning) vào bất cứ lúc nào có nhu cầu Chỉ cần ngồi trước màn hình, học viên có thể tiếp thu các bài học có đủ cả âm thanh và hình ảnh sống động Internet đã tạo ra các lớp học ảo không cần có sự hiện diện của cả GV và học viên mà vẫn đảm bảo được công tác đào tạo GV chuẩn bị tài liệu giảng dạy, tiến hành soạn bài giảng trên máy tính cá nhân và đưa lên trang Web của chương trình đào tạo từ xa Học viên có thể tiếp thu các bài học của các môn học cho ngành học của mình thông qua việc truy cập vào trang Web cần thiết

Trong tình huống lớp học: việc sử dụng Internet gắn liền với hình thức giảng dạy và học tập

hiện đại Ở nước ngoài SV thường được học tập tại các phòng Lab, GV giới thiệu các website tham khảo cho SV sử dụng trực tiếp Riêng ở Việt Nam hình thức sử dụng Internet phục vụ giảng dạy và học tập trực tiếp tại lớp học hay phòng máy tính có nối mạng hiện nay còn hạn chế, chỉ được sử dụng đối với một số môn học liên quan đến CNTT và Internet chứ chưa được phổ biến đối với các môn học khác Do đó, chủ yếu là GV thiết kế các bài giảng điện tử; giáo án điện tử có liên kết với các website để minh họa, trình chiếu trên lớp; mô tả các thí nghiệm, thực hành, …

Ngoài ra cũng có thể tổ chức thi qua mạng (Online) dưới nhiều hình thức: thi trắc nghiệm, thi viết, vấn đáp Với hình thức thi trắc nghiệm, giáo viên đưa ra các câu hỏi của từng chủ đề môn học vào cơ sở dữ liệu "Ngân hàng câu hỏi", từ đó máy tính sẽ tự động trộn đề thi theo các yêu cầu của giáo viên về chủ đề thi, mức độ khó của câu hỏi Đối với học viên, thi trắc nghiệm đảm bảo tính công bằng, vì đây là đề thi ngẫu nhiên và có thể bao quát hết kiến thức cần trang bị cho họ.4

b.Ứng dụng Internet trong giao tiếp

Internet còn giúp con người khắc phục được các khoảng cách về không gian và thời gian trong việc giao tiếp, góp phần hình thành và phát triển các kỹ năng tự học và kỹ năng giao tiếp, cũng như các kỹ năng nghề nghiệp khác trong tương lai Giao tiếp qua mạng giúp người ta học hỏi được nhiều kinh nghiệm ở khắp mọi nơi, tất cả những điều này sẽ có ích hơn rất nhiều so với những gì họ

4

Tạp chí họat động khoa học: http://www.tchdkh.org.vn

Trang 24

20

được học trong sách vở “Giá trị học tập sẽ tăng lên khi đọc một cuốn sách hoặc thông tin nào đó mà tác giả có để lại thông tin liên lạc, như địa chỉ e-mail, người đọc sẽ dễ dàng trao đổi với tác giả để đặt những câu hỏi, yêu cầu tác giả cung cấp thêm thông tin hoặc kiểm nghiệm những thông tin mà người đọc nghi ngờ ».5

Việc giao tiếp qua Internet có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình học tập của SV vì họ chỉ có thể đạt được kết quả học tập tốt nhất khi biết tương tác với mọi người một cách hiệu quả Với khả năng kết nối liên lạc toàn cầu, Internet giúp cho SV trao đổi học tập thuận tiện với các SV khác, các GV và cả các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới với bốn công cụ giao tiếp cơ bản là e-mail, listserv, newsgroup, chat rooms.6

- E-mail (thư điện tử): là dịch vụ gởi và nhận thư điện tử, được lưu dưới dạng các tệp văn bản trong máy tính và được chuyển đi qua đường Internet Chúng ta có thể gởi và nhận thư từ các bạn học, các GV và những người khác thông qua các địa chỉ e-mail E-mail khiến cho không còn khoảng cách giữa mọi người, vì nó được chuyển qua đường Internet dưới dạng các tín hiệu điện tử nên tốc

độ di chuyển của e-mail gần như là tức thời Cùng một lúc cũng có thể gởi một bức thư đến cho nhiều người và có thể trao đổi thông tin với mọi người trên toàn thế giới

- Chat Rooms: là hình thức hội thoại trực tiếp trên Internet, với dịch vụ này, hai hay nhiều người có thể cùng trao đổi thông tin trực tuyến qua bàn phím máy tính Bất kì câu nào đánh trên máy của người này đều hiển thị trên màn hình của người đang cùng hội thoại Nó cho phép mọi người ở khắp nơi trên thế giới giao tiếp với những người khác ở cùng một thời điểm xác định Ngoài ra, với các chức năng giao tiếp của hình thức Forum (diễn đàn) SV có thể liên lạc với mọi người để trao đổi, thảo luận chuyên môn, nhận sự hướng dẫn của GV dễ dàng

Trong tình huống tự học và học từ xa, chức năng phục vụ giao tiếp của Internet cực kỳ quan

trọng Nó giúp sinh viên trao đổi bài học và bài thi tiện lợi bằng dịch vụ thư điện tử (E-mail), diễn đàn (Forum), hay nhóm tin (Newsgroup) trên mạng GV có thể đăng tải (post) bài giảng, tài liệu cho

SV tham khảo qua đó sinh viên có thể đưa ý kiến phản hồi hoặc thắc mắc thông qua các forum, blog,

Newby Timothy J., Stepich Donald A., Lehmen James D., Russell James D., Instructional technology for teaching and learning,

Prentice- Hall, Inc.,2000

Trang 25

21

c Sử dụng Internet để xuất bản, chia sẻ thông tin

GV và SV có thể chia sẻ thông tin với mọi người, đồng thời cũng tiếp thu được những kiến thức chia sẻ từ những người khác Chúng ta có thể công bố các tài liệu trên Internet, đây là phương pháp chia sẻ các ý tưởng, thông tin nhanh chóng, rẻ tiền

Cách dễ dàng nhất để chia sẻ thông tin trên Internet là thông qua e-mail, ngoài chức năng giao tiếp e-mail còn cho phép mọi người truyền tải các tập tin dữ liệu cho nhau nên đây là cách chia sẻ thông tin hiệu quả và an toàn

Một cách sử dụng Internet phục vụ giảng dạy hiện đại của GV hiện nay là biên soạn các bài giảng điện tử, giáo án điện tử rồi đăng tải trên các website cá nhân của giáo viên hoặc website của khoa/bộ môn, trường để sinh viên truy cập, xem và chuẩn bị bài trước khi đến lớp

Ở nhiều nơi, đặc biệt là các nước tiên tiến, các GV và thậm chí cả học sinh, SV cũng có các trang web cá nhân của mình hoặc qua blog, facebook Thông qua các hình thức này, chúng ta có thể đăng tải và chia sẻ thông tin với mọi người Học tập bằng cách chia sẻ thông tin là một cách học tập hiện đại giúp chúng ta mở rộng và củng cố kiến thức có hiệu quả Càng chia sẻ được nhiều thông tin với mọi người chúng ta càng có cơ hội nhận được nhiều thông tin và những kiến thức quý báu Ứng dụng này thường được sử dụng trong tình huống tự học và học từ xa

1.2.1.5 Một số kỹ năng giúp sử dụng Internet hiệu quả trong giảng dạy, học tập

a Kỹ năng sử dụng máy vi tính

Để sử dụng Internet trước hết người dùng phải biết cách sử dụng máy vi tính vì máy tính chính là phương tiện để có thể truy cập Internet Từ các thao tác sử dụng máy vi tính đơn giản, biết duyệt web và sử dụng những thao tác cơ bản như copy, cắt dán, download, lưu trữ,… các thông tin tìm được đến phân biệt được các loại file dữ liệu và các phần mềm hỗ trợ đọc tương ứng

Ngoài ra còn có một số thủ thuật 7 giúp tiết kiệm thời gian và đạt hiệu quả cao khi sử dụng Internet như: Lưu lại những gì đã nhập trong Internet Explorer khi khai báo các thông tin làm thành viên của một trang web hay đăng kí sở hữu một hộp thư miễn phí trên mạng; Xóa bỏ những e-mail gởi nhầm địa chỉ; Cách mở nhanh Word, Excel, Outlook Express,… khi đang lướt web với trình duyệt Internet Explorer; Download đồng thời nhiều phần mềm trong khi vẫn lướt web; Trao đổi qua

7

Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam://www.vcci.com.vn

Trang 26

22

mạng cục bộ với các bạn đồng nghiệp; Cách nén và giải nén dữ liệu; Kết nối máy tính vào mạng dễ dàng với các phần mềm tiện ích như Network Setup Wizard; Sao chép ảnh từ một trang web và dán

nó vào một ứng dụng khác; In các trang web kèm theo địa chỉ; V.v…

Ngoài ra GV và SV cần được biết các phần mềm thiết kế web để có thể tự xuất bản thông tin theo ý của mình, phục vụ giao tiếp và chia sẻ thông tin

b Kỹ năng tra cứu tìm kiếm thông tin trên Internet

Trong quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu, việc tìm kiếm và tham khảo tài liệu là rất quan trọng Với nguồn tài nguyên mở trên Internet, thông tin vốn đa dạng, phong phú, do đó GV và

SV cần có các kỹ năng tra cứu thông tin:

- Biết cách sử dụng các công cụ tìm kiếm: Các công cụ tìm kiếm là các website tìm kiếm thông dụng trong và ngoài nước như: Google, Yahoo, Altavista, Panvietnam, Vinaseek,…

Trong đó trang tìm kiếm Google 8 là công cụ tìm kiếm phổ biến trên Internet và được nhiều người sử dụng nhất hiện nay Biết tìm kiếm các tài liệu điện tử trong các website cung cấp tài liệu điện tử hay thư viện điện tử

- Biết các thủ thuật tìm kiếm thông tin trên Internet: Nhập đúng từ khoá; Sử dụng toán tử logic; Sử dụng tham biến đặc biệt; Tìm kiếm chuyên biệt; Sử dụng nhiều website tìm kiếm

- Biết các bước để tra cứu thông tin có hiệu quả, với 7 giai đọan theo như trong tài liệu hướng dẫn “Tim kiếm thông tin trên Internet” do Vũ Thị Nha, Trung tâm phát triển thông tin Việt nam biên soạn: phân tích yêu cầu tìm, diễn đạt lệnh tìm kiếm, phân tích nhóm yêu cầu thông tin, chọn công cụ tìm kiếm phù hợp, tìm lời khuyên từ một người, thử lại nếu chưa thành công, đánh giá kết quả tìm

c Kỹ năng ngoại ngữ để đọc tài liệu nước ngoài và giao tiếp trên Internet

Nhu cầu học tập ngày càng cao, môi trường học tập ngày càng mở rộng, đây là một điều tất yếu gắn liền với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập của thế giới ngày nay SV nào có khả năng sử dụng nguồn tri thức bên ngoài, đặc biệt qua Internet càng nhiều thì càng thành công hơn trong học tập và cuộc sống Do đó chúng ta cần phải biết tận dụng nguồn tài nguyên quý giá này, bên cạnh các tài liệu trong nước bằng tiếng Việt vốn còn hạn chế, SV còn phải tìm hiểu thêm ở các tài liệu nước ngoài và trao đổi với mọi người trong cộng đồng Internet

8

Phạm Ngọc Châu, Sử dụng Internet nhanh chóng và hiệu quả, NXB Giao thông Vận tải, 2007

Trang 27

23

Chính vì vậy kỹ năng ngoại ngữ rất cần thiết để sinh viên đọc tài liệu và trao đổi với mọi người Chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, và hầu hết các thông tin đều được viết bằng tiếng Anh “Có tới hơn 1 tỷ trang Web sử dụng tiếng Anh Thật kinh ngạc khi chỉ cần học một ngôn ngữ là

có thể khai thác hầu hết kho tri thức ấy.” (Lợi ích của việc học tiếng Anh,

http://www.chothongtin.vn/thong-tin-giao-dc-ao-to/i-sng/93-li-ich-ca-vic-hc-ting-anh.html)

Kỹ năng ngoại ngữ cần có khi sử dụng Internet phục vụ học tập của sinh viên bao gồm: khả năng về từ vựng, ngữ pháp để đọc hiểu các văn bản; khả năng dịch thuật; khả năng viết thư, trao đổi ngắn bằng e-mail, v.v…

d Kỹ năng xử lí thông tin trên Internet

Việc học của học sinh, SV ngày nay đã có nhiều thay đổi, thói quen học tập một cách thụ động được thay bằng cách học chủ động tìm tòi, khám phá Bên cạnh các tài liệu học tập truyền thống như sách, báo, tranh ảnh,… người học còn có thể chỉ trong vài giây tìm được hàng ngàn thông tin về vấn đề cần tìm hiểu trên Internet Tuy nhiên, với lượng thông tin khổng lồ này nếu người học không biết xử lý, chọn lựa và sử dụng một cách khoa học, hợp lí thì sẽ không mang lại hiệu quả trong học tập

Để khai thác thông tin từ Internet một cách hiệu quả, người học cần có kỹ năng đọc hiểu, đánh giá, xử lý và tổng hợp thông tin Các kỹ năng này gắn liền với các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, phê phán,… nhằm khám phá ra những cái mới ở những mức độ khác nhau đối với người học, từ đó tiến tới phát hiện ra những đặc điểm và các mối quan hệ ẩn chứa trong các sự vật khách quan, các dữ kiện, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng

xã hội 9 Từ đó SV có thể đánh giá chất lượng các webiste về mặt nội dung (tính chính xác, cập nhật,

rõ ràng); thiết kế (giao diện, nghe nhìn); các đường link (tính tiện lợi); …

e Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu

Việc khai thác, sử dụng Internet của sinh viên hiện nay chủ yếu diễn ra ở bên ngoài lớp học, được thực hiện độc lập bởi sinh viên, không có sự theo dõi, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Vì nó gắn liền với quá trình tự tìm tòi mở rộng vốn kiến thức nên khai thác, sử dụng Internet cũng gắn liền với hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Chính vì vậy, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu là một yêu cầu quan trọng giúp sinh viên khai thác Internet có hiệu quả

9

TS Nguyễn Gia Cầu, Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với tài liệu học tập, Tạp chí giáo dục số 177 kì 2 -11/2007

Trang 28

24

1.2.2 Quá trình dạy học

1.2.2.1 Định nghĩa quá trình dạy học

“Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chủ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học.”10

Trong quá trình dạy học có các thành tố tham gia, góp phần tạo nên hiệu quả giáo dục nhất là

ở bậc cao đẳng, đại học Đây chính là nơi cung cấp kiến thức chuyên ngành và đào tạo nghề cho thế

hệ trẻ Các thành tố bao gồm: thành tố phi vật chất và thành tố mang tính vật chất, bao gồm mục tiêu đào tạo, phương pháp dạy và phương pháp học, đánh giá kết quả dạy họ, môi trường xã hội và môi trường giáo Ngoài ra còn co các thành tố như người dạy, người học, phương tiện hổ trợ cho việc giảng dạy

1.2.2.2 Nội dung dạy học

Nội dung dạy học là hệ thống các tri thức, những kĩ năng hoạt động, kinh nghiệm hooạt động sáng tạo và nhựng tiêu chuẩn về thái độ đối với tự nhiên, xã hội và cộng đồng phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển trí tuệ người học Nội dung dạy học đưa vào trường học giảng dạy phải được lựa chọn một cách có ý thức, phải đảm bảo tính mục đích và tính phương pháp, tinh giản nội dung để có điều kiện thực hiện các phương pháp dạy học, bố trí môn học tự chọn và môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo

Ngày nay khi lượng thông tin ngày càng nhiều thì mục đích giáo dục cũng thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, có những phương pháp dạy tương ứng vừa đáp ứng được mục đích vừa phù hợp với nội dung giảng dạy

1.2.2.3 Các qui luật cơ bản và nguyên tắc trong quá trình dạy học

Chúng ta cần quan tâm đến các qui luật trong quá trình dạy học như sau

a Qui luật về sự thống nhất biện chứng giữa Dạy và Học11.:

Đây là qui luật chính yếu của QTDH, đảm bảo kết quả của quá trình dạy và học theo mục tiêu trong một xã hội phát triển Hai quá trình này đi song song, ảnh hưởng lẫn nhau Chất luợng của quá

Trang 29

25

trình dạy thể hiện ở chất luợng của quá trình học và nguợc lại, muốn nâng cao chất luợng học thì phải cải tiến quá trình dạy Cách học của HS phụ thuộc rất nhiều vào phuơng pháp dạy của GV’

b Sự thống nhất biện chứng giữa QTDH và phát triển trí tuệ

Năng lực trí tuệ là một trong những tố chất mà con nguời thường huớng tới để tiếp thu trí thức của nhân loại QTDH giúp cho nguời học phát triển dần năng lực trí tuệ từ thấp đến cao Trí tuệ của

SV có thể hiểu đuợc các vấn đề phức tạp hơn, nghe nhiều hơn, tự đọc nhiều hơn Vì thế nếu sự phát triển trí tuệ của nguời học càng mạnh thì QTDH sẽ ngày càng có chất luợng, bởi vì các hoạt động dạy sẽ dễ dàng thể hiện sự chỉ đạo của mình hơn

c Qui luật về sự thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung, phương pháp

Mối quan hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp không chỉ là qui luật chi phối QTDH mà

là qui luật cho mọi lĩnh vực Nắm được tam giác quan hệ này người giáo viên sẽ ý thức được từng hoạt động của mình trong giáo án, bài giảng, tài liệu học tập, cho việc chuẩn bị phương tiện dạy học phù hợp

b Các nguyên tắc dạy học

Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong QTDH; đảm bảo sự thống nhất giữa lí thuyết và thực tiễn, đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng; giữa tính vững chác của tri thức, kĩ năng và tính mềm dẻo của tư duy trong QTDH; giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong QTDH; đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò

tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo, của người học trong QTDH

Trường Đại học trong thời đại hiện nay đòi hỏi những tiêu chí sau đây cho phương pháp dạy

và học ở Đại học: 1 Việc dạy cách học, học cách học để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là nội dung bao quát của việc dạy và học ở ĐH; 2 Lấy người học làm trung tâm hoặc hướng vào người học (learner centered) để phát huy tính chủ động của người học và 3 ICT (công nghệ thông tin và truyền thông) có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức

Trang 30

26

1.2.3 Hoạt động học tập

1.2.3.1 Khái niệm hoạt động học tập

Hoạt động học tập là quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống Chủ thể của hoạt động học tập là người học Chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách Trong hoạt động học tập người học còn chịu sự tác động (chỉ dẫn, giảng dạy) của giáo viên, tuy nhiên chính họ là người quyết định chất lượng học tập của mình

Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng tương ứng Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương trình học để sử dụng chúng trong những tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống Hoạt động học tập có mục đích tiếp thu nền văn hóa nhân loại để chuyển hóa thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động thông minh, năng động và sáng tạo

1.2.3.2 Một số đặc điểm về hoạt động học tập của sinh viên đại học

Hoạt động học tập là một trong những hoạt động cơ bản của SV, bao gồm hoạt động học tập; hoạt động nghiên cứu khoa học; hoạt động học nghề; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động mang tính chất văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao; hoạt động giao lưu Học tập nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như các phương thức của hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ giữ vị trí quan trọng ở sinh viên12

Cách dạy, cách học ở đây khác với phổ thông, SV phải thích ứng được với phương pháp mới, phải biết lĩnh hội tri thức của các chuyên ngành khoa học, nắm được nguyên tắc, cách thức, chuẩn mực nghề nghiệp để làm một chuyên gia sau này SV phải biết đi đến sự hiểu biết, coi trọng sự khám phá trong học thuật, học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp, học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động, học phương pháp nghiên cứu, phải có các thao tác tư duy sáng tạo như khả năng đánh giá, phân tích, phán đoán, nhận xét, phê phán, tổng hợp,

… để xử lý vấn đề

Cách học đại học hiện nay đòi hỏi khả năng phân tích, đánh giá phù hợp người trưởng thành

có nhu câu, tự giác học Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ

12

Vũ thị Nho, Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999

Trang 31

27

học tập của họ đối với chất lượng, thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của sinh viên

1.2.4 Nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường”13

Nhiệm vụ NCKH là nhiệm vụ không thể thiếu được đối với GV và SV Đại học hiện nay, cũng

là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH

1.2.5 Khái niệm, đặc điểm ĐH, trường ĐH và trường ĐH KH XH&NV:

1.2.5.1 Đại học, trường ĐH, trường ĐH KHXH&NV Đại học thể hiện trình độ đào tạo thuộc bậc giáo dục ĐH được thực hiện từ 4 đến 6 năm học

theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc TH chuyên nghiệp, từ 1-2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành Học vấn ĐH có tính chuyên nghiệp cao gồm kiến thức KH cơ bản, cơ sở, chuyên ngành, kỹ năng hoạt động nghề nghiệp,

NCKH, Người tốt nghiệp ĐH được cấp bằng cử nhân, kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, dược sĩ (Từ điển GDH, 2001, t.71)

Trường Đại học là cơ sở giáo dục thuộc bậc đại học, đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, có

thể đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ khi được thủ tướng chính phủ giao Xét trên phạm vi chuyên môn, trường Đại học là nơi đào tạo các lĩnh vực khoa học cơ bản (ĐH tổng hợp), hoặc chuyên ngành theo các khối ngành khoa học tự nhiên, KHKT và KH xã hội cho tầng lớp sinh viên đang theo học….Xét

về cơ sở tài chánh có 4 loại hình: ĐH công lập, ĐH bán công, ĐH dân lập và ĐH tư thục (Từ điển GDH, 2001, t.439)

Trường Đại học KHXH&NV là trường Đại học đào tạo các ngành ngoại ngữ, các ngành KH

XHNV cơ bản và ứng dụng: Đông Phương Học, Ngữ Văn Anh, Ngữ Văn Đức, Ngữ Văn Nga, Ngữ Văn Pháp, Ngữ Văn Trung Quốc, Công Tác Xã Hội, Văn Hóa Học, Địa Lý, Lịch Sử, Văn Học Và

13

http:www.vocw.edu.vn/…/latest/

Trang 32

28

Ngôn Ngữ, Báo Chí - Truyền Thông, Thư Viện - Thông Tin Học, Việt Nam Học, Xã Hội Học, Đô Thị Học, Triết Học, Giáo Dục,…

1.2.5.2 SV và GV Đại học 14

Sinh viên là người học của một cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học Sinh viên đại học chủ yếu ở

độ tuổi từ 19-25, là lứa tuổi đã trưởng thành về mặt xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách SV ngành KHXH&NV là những SV đang được đào tạo tại các ngành KHXH&NV tại các trường ĐH và cao đẳng

Giảng viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục ĐH và sau ĐH,

dưới giáo sư, phó giáo sư và GV chính hoặc là tên gọi chung chỉ những người làm công tác giảng dạy ở các trường ĐH, cao đẳng

Phần cơ sở lý luận cho ta cái nhìn tổng quát về Internet, về GDĐH và khả năng ứng dụng Internet vào lãnh vực GD ĐH là rất thực tế, hợp lý nhưng cũng đòi hỏi những hiểu biết nhất định làm nền tảng cho việc ứng dụng Internet hiệu quả

14

Bùi Hiền, Từ điển Giáo dục học, NXB từ điển Bách khóa, 2001

Trang 33

29

CHƯƠNG II:

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG

GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHXH&NV TP HCM

2.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV TP HCM 15

2.1.1 Tổng quan về trường ĐH KHXH& NV TP.HCM

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH&NV) có lịch sử trên 50 năm với tiền thân là Trường Đại học Văn khoa, thuộc Viện Đại học Sài Gòn, thành lập năm 1957 Tháng 4/1977 Trường Đại học Văn khoa hợp nhất với Trường Đại học Khoa học thành Trường Đại học Tổng hợp TPHCM Ngày 30/3/1996, ĐH KHXH&NV được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM và là một trong những trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG TP.HCM) Trường ĐH KHXH&NV có vai trò quan trọng trong nền giáo dục đại học của Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực KHXH&NV, là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học

có chất lượng cao ở địa bàn các tỉnh phía Nam và đang phấn đấu vươn lên ngang tầm với các trường đại học trong khu vực và thế giới

Trường hiện có 22 Khoa và Bộ môn, gồm các khoa: Triết học; Văn học và Ngôn ngữ; Lịch sử; Địa lý; Việt Nam học; Đông Phương học; Xã hội học; Giáo dục; Thư viện - Thông tin; Ngữ văn Anh; Ngữ văn Pháp; Ngữ văn Nga; Ngữ văn Trung Quốc; Ngữ văn Đức; Văn hoá học; Báo chí - Truyền thông; Nhân học, Quan hệ quốc tế; và các bộ môn (trực thuộc trường): Công tác xã hội; Tâm

lý học; Đô thị học; Giáo dục thể chất

Trường qui tụ một đội ngũ gồm trên 630 cán bộ công nhân viên; trong đó có 450 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu gồm: 28 Giáo sư và Phó Giáo sư; 93 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ; 282 Thạc sĩ, được đào tạo trong nước và nước ngoài như: Nga, Ba Lan, Bulgarie, Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Áo, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore v.v

Qui mô đào tạo của trường là trên 31.000 sinh viên, học viên thuộc các loại hình đào tạo khác nhau; trong đó 12.000 sinh viên chính qui và 1.500 học viên sau đại học Trường có mối quan hệ hợp

15

http://www.hcmussh.edu.vn/ussh/USSH/ViewIntroduction.aspx?p0=0&p1=1

Trang 34

30

tác với trên 150 trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ,… của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Hàng năm, hàng ngàn lượt giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên, học viên sau đại học đã đến ĐH KHXH&NV để nghiên cứu, giảng dạy và học tập, hàng trăm lượt giảng viên, sinh viên của trường sang các nước bạn học tập, nghiên cứu, giảng dạy

2.1.2 Sơ lược về giảng dạy, học tập và NCKH tại trường ĐH KHXH& NV TP.HCM

Học tập và nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sinh viên Trường

ĐHKHXH&NV Sinh viên các hệ đào tạo của Trường được học tập thông qua nhiều hình thức khác nhau:

- Nghe giảng, thảo luận chuyên đề (seminar) trên lớp

- Đọc sách, nghiên cứu tại các thư viện

- Tham dự các buổi thuyết trình chuyên đề (ngoại khoá)

- Tham gia các câu lạc bộ sinh hoạt học thuật, học theo nhóm

- Đi du khảo, khảo sát thực tế, thu nhập tư liệu viết báo cáo

- Tham gia các hội thảo khoa học, các chương trình nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên hoặc các chương trình NCKH do Trường hoặc các cơ quan khoa học trong nước hoặc quốc tế tổ chức tại Việt Nam hoặc nước ngoài

- Trao đổi học thuật, du học theo hình thức học bổng toàn phần, bán phần hoặc theo các chương trình trao đổi sinh viên, giao lưu,…

Ngoài học tập, nghiên cứu khoa học, các sinh viên của Trường còn tham gia các hoạt động văn – thể – mỹ và hoạt động xã hội, cộng đồng nhằm phát huy các khả năng của mình cũng như tăng cường những kiến thức về xã hội, kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm và tương trợ cộng đồng

Về giảng dạy, đội ngũ GV của trường ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Nhiều giảng viên đã tu nghiệp và thỉnh giảng tại các trường đại học trên thế giới Một Giáo sư của Trường đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước, nhiều giảng viên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, và trao tặng nhiều Huân chương, Huy chương, Huy hiệu cao quí khác Hàng năm, trường còn mời hàng trăm các giáo sư, nhà khoa học đầu ngành trong nước và nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu tại trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Các GV sử

Trang 35

2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN

CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV TP HCM 2.2.1 Nhận thức của SV và GV về tầm quan trọng của Internet trong giảng dạy, học tập

và NCKH

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH, việc quan trọng đầu tiên là tìm hiểu xem nhận thức, sự hiểu biết và thái độ của SV và GV như thế nào đối với việc sử dụng Internet Nhận thức và thái độ tích cực đối với sử dụng Internet thường sẽ là động cơ giúp họ thường xuyên sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH và tìm cách lkhắc phục những khó khăn trong quá trình sử dụng

Trước tiên chúng tôi tìm hiểu sự đánh giá của SV và GV ở trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM

về mức độ quan trọng của việc sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và NCKH, bằng cách đưa

ra câu hỏi (câu 6, bảng hỏi SV, phụ lục 1, câu 7, bảng hỏi GV, phụ lục 2) để SV và GV cho điểm tương ứng với 5 mức độ quan trọng (1: hoàn toàn không quan trọng, 2: không quan trọng lắm, 3: tương đối quan trọng, 4: quan trọng, 5: rất quan trọng) Kết quả với tần số, phần trăm và tính theo trị

số trung bình được thể hiện ở bảng 2.2.1a và 2.2.1b

Trang 36

Bảng tính trị số trung bình về mức độ quan trọng của Internet do SV đánh giá cho chúng tôi

kết quả là 4.44 (Độ lệch chuẩn là 691) (xem phần phụ lục kết quả SPSS) Cùng với trị số trung bình

này và qua kết quả ở bảng trên, ta thấy, số lượng SV cho rằng Internet quan trọng và rất quan trọng

là khá cao, 90.8% trong tổng số SV được khảo sát

Ngoài ra, những SV có năng lực càng giỏi, càng có nhận thức cao về tầm quan trọng của Internet thể hiện ở các bảng so sánh 2.2.1.a 2 dưới đây:

Bảng 2.2.1a 2: Tương quan giữa năng lực học và nhận thức của SV trường ĐH KHXH&NV TP.HCM về tầm quan trọng của Internet

Số lượng

Phần trăm

Số lượng

Phần trăm

Trang 37

Bảng 2.2.1b Đánh giá của giảng viên ĐHKHXH&NV Tp.HCM về mức độ quan trọng của việc sử

dụng Internet trong giảng dạy và NCKH

Mức độ quan trọng của Internet

trong giảng dạy và NCKH

Qua bảng trên, ta thấy, tổng tỉ lệ phần trăm số lượng GV cho rằng Internet quan trọng và rất

quan trọng trong giảng dạy và NCKH là khá cao: 91% Ngoài ra, bảng tính trị số trung bình về mức

độ quan trọng của Internet do GV đánh giá cho chúng tôi kết quả là 4.34 (Độ lệch chuẩn là 699)

(xem phụ lục kết quả SPSS)

Kết quả của 2 bảng trên cho thấy công cụ Internet được phần lớn GV và SV khẳng định là có

ý nghĩa quan trọng và rất quan trọng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu, giúp nâng cao chất

lượng dạy và học, đáp ứng nhu cầu trau dồi kiến thức và kỹ năng của SV tại trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM

Cụ thể hơn, để tìm hiểu sâu về sự đánh giá của SV và GV về tầm quan trọng của từng yếu tố đặc trưng của Internet đối với việc dạy, học và nghiên cứu ở trường đại học, chúng tôi đã đưa ra các yếu tố ở câu 7, và câu 8 trong các bảng hỏi (xem phụ lục và 2) SV và GV được yêu cầu đưa ra mức

độ đồng ý về những lợi ích hay ưu điểm cụ thể mà Internet đem lại cho họ Câu hỏi cũng có 5 mức

độ (1: hoàn toàn không đồng ý, 2: không đồng ý lắm, 3: tương đối đồng ý, 4: đồng ý và 5: hoàn toàn đồng ý) Kết quả tính theo trị số trung bình được thể hiện ở bảng 2.2.1c và 2.2.1d

Trang 38

Kết quả phỏng vấn sâu còn cho thấy nhiều bạn sinh viên hiện nay nhận ra việc sử dụng

Internet giúp họ phát triển nhiều kỹ năng, nhất là kỹ năng thông tin, kỹ năng sử dụng máy vi tính và

cả kỹ năng đọc ngoại ngữ mà rất cần thiết cho nghề nghiệp tương lai của họ Bạn Vũ Bá Thế (SV lớp

Nhận thức về lợi ích cụ thể của Internet trong học tập và NCKH

Internet giúp cho sinh viên hình thành

Internet giúp trao đổi, giao tiếp, mở

Trang 39

35

QLGD 07) cho biết “Việc tìm tài liệu trên Internet giúp em tăng cường khả năng tìm kiếm, chọn lọc,

xử lý thông tin và khả năng sử dụng máy vi tính vì có một số trang tài liệu tải về phải có liên kết, phải tải phần mềm về đọc, em phải mày mò tìm cách và nhờ vậy biết thêm….”, bạn Tăng Thị Thùy,

SV QLGD 06 nhận xét tương tự “Đầu tiên là giúp em phát triển kỹ năng sử dụng máy vi tính thành thạo hơn, khả năng tư duy khi tìm kiếm thông tin tài liệu, khả năng biết sử dụng từ khóa tìm kiếm ngày một hiệu quả hơn, và còn cải thiện được khả năng tiếng Anh của mình khi truy cập những trang bằng tiếng Anh” Bạn Lê Nguyễn Vương Trung, lớp XHH 08 bổ sung “Kỹ năng mà em thu lượm được là kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh khá hơn, thao tác sử dụng máy vi tính nhanh hơn, cách tìm kiếm và cập nhật thông tin cũng nhanh hơn” Đối với SV khối ngoại ngữ, như bạn Nguyễn Ngọc Hà

(Đông Phương Hàn 06) còn thêm kỹ năng liên quan đến ngoại ngữ bên cạnh kỹ năng liên quan đến

tin học “Internet hỗ trợ giúp em tra cứu từ trên mạng, giúp phát triển kỹ năng dịch bài, kỹ năng down tài liệu và chuyển đổi tập tin…”

Như vậy, ta thấy, một mặt việc sử dụng Internet đòi hỏi các kỹ năng về vi tính, ngoại ngữ, thông tin, nhưng khi đã có những kỹ năng cơ bản này rồi thì khi sử dụng, sẽ càng có cơ hội phát triển những kỹ năng này cao hơn Quả thật, Internet một phần giúp SV phát triển kỹ năng học suốt đời, giải quyết vấn đề, làm việc độc lập, xử lý thông tin, giao tiếp hợp tác, sử dụng CNTT để tích lũy kiến thức cập nhật là những kỹ năng rất cần thiết cho SV trong thời đại hiện nay

Ngoài ra, cũng qua phỏng vấn sâu, nhiều SV cho biết thêm, nhờ các loại tài liệu điện tử tải về

từ trên mạng để đọc thêm, SV đỡ bớt tiền mua sách, và đỡ mất công đi mượn sách Đặc biệt, đa số

SV đều cho biết họ rất thích tham khảo tài liệu trước khi đến lớp, muốn tải được bài khi vắng buổi học để tiết kiệm thời gian, công sức và cập nhật thông tin tốt, và nhất là mong muốn có thêm cơ hội giao tiếp với GV qua diễn đàn để nêu thắc mắc trong khi học, hoặc để hiểu biết sâu hơn, ngoài giờ trên lớp, nhất là thời gian gần thi, ôn tập Và đặc biệt SV mong muốn GV hương dẫn cách tìm thông tin trên mạng hoặc giới thiệu các websites đáng tin cậy để tham khảo, nhằm tiết kiệm thời gian

Ý kiến của GV về các lợi ích cụ thể của Internet trong giảng dạy và NCKH được thể hiện ở bảng 2.2.1d như sau:

Trang 40

36

Bảng 2.2.1d Mức độ đồng ý của GV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về lợi ích của Internet trong

giảng dạy và NCKH qua một số yếu tố cụ thể

Kết quả ở bảng trên cho thấy, những lợi ích cụ thể mà Internet đem lại được GV đánh giá với mức độ đồng ý cũng khá cao, hầu hết ở mức độ trên 4 trong 5 mức độ, thể hiện sự thống nhất giữa

GV và SV trong việc đánh giá này Các lợi ích được đưa ra rất thực tế, giúp truy cập thông tin nhanh chóng tiện lợi; dễ dàng trao đổi với GV/SV; giúp GV và SV chủ động nâng cao trình độ, phát triển

kỹ năng tự học, … Đối với GV còn thêm lợi ích được mô tả thêm trong câu hỏi mở là giúp GV tự nâng cấp, điều chỉnh, bổ sung, cập nhật thông tin, linh hoạt, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy… phát triển kỹ năng sử dụng máy vi tính, kỹ năng học tập suốt đời và công khai thông tin, tránh tiêu cưc,…

TS Hoàng Mai Khanh, phó trưởng khoa Giáo dục, qua phỏng vấn sâu, đã nhấn mạnh tầm

quan trọng của Internet trong việc giảng dạy và NCKH, nhất là với việc đọc tạp chí khoa học và tạp chí chuyên ngành bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh trên mạng

Thêm vào đó, phần lớn GV cũng rất hứng thú với việc sử dụng Internet với 35% GV được khảo sát thừa nhận rất thích và 45.5 % thừa nhận thích sử dụng Internet trong giảng dạy và NCKH, thể hiện ở bảng 2.2.1e như sau:

Nhận thức về lợi ích cụ thể của Internet trong

Giúp GV trao đổi giao tiếp với đồng nghiệp dễ dàng 4.11 3

Giúp GV phát triển kỹ năng nghề nghiệp, nghiên cứu,

Giúp GV trao đổi với SV thuận tiện 4.05 4

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Bằng, Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học Đại học – chuyên nghiệp, Hà nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học Đại học – chuyên nghiệp
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Hà nội
Năm: 1995
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu Hội nghi Giáo dục Đại học, tập 1, Hà nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghi Giáo dục Đại học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2001
3. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Từ điển Giáo dục học, NXB từ điển Bách khoa, Hà nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB từ điển Bách khoa
Năm: 2001
4. Phạm Ngọc Châu, Sử dụng Internet nhanh chóng và hiệu quả, NXB Giao thông vận tải, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Internet nhanh chóng và hiệu quả
Tác giả: Phạm Ngọc Châu
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2007
5. Nguyễn Đào – Quý Châu, Những kỹ năng và lời khuyên thực tế để cải tiến phương pháp giảng dạy, NXB Lao động – Xã hội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng và lời khuyên thực tế để cải tiến phương pháp giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Đào, Quý Châu
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2007
6. Đỗ Mạnh Cường, Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
7. Đỗ Mạnh Cường, Một số vấn đề phát triển công nghệ Multimedia trong dạy học, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 7 – tháng 7/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển công nghệ Multimedia trong dạy học
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: Tạp chí Phát triển giáo dục
Năm: 2004
12. Thanh Hà, Công bố giáo trình bài giảng: ai được lợi ?„ Tuổi trẻ 7/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố giáo trình bài giảng: ai được lợi
Tác giả: Thanh Hà
Nhà XB: Tuổi trẻ
Năm: 2005
13. Th.S Đặng Thị Thanh Mai – Th.S Nông Thị Hà, Tăng cường khả năng tự học của sinh viên qua hướng dẫn sinh viên cách học, Tạp chí Giáo dục số 177 kì 2 – 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường khả năng tự học của sinh viên qua hướng dẫn sinh viên cách học
Tác giả: Th.S Đặng Thị Thanh Mai, Th.S Nông Thị Hà
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Ánh Hồng (chủ nhiệm), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Sự đáp ứng của sinh viên ngành KHXH&NV đối với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay, Báo cáo đề tài NCKH cấp bộ, TP.HCM, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Sự đáp ứng của sinh viên ngành KHXH&NV đối với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ánh Hồng
Nhà XB: Báo cáo đề tài NCKH cấp bộ
Năm: 2005
15. Hoàng Hồng, Sử dụng Internet an toàn và hiệu quả, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Internet an toàn và hiệu quả
Tác giả: Hoàng Hồng
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Thanh Hồng, Hình thành kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet trong dạy học môn Giáo Dục Học ở trường ĐHSP Hà Nội, Tạp chí Giáo dục số 228 (kỳ 2-12, 2009) 17. Lưu Xuân Mới, Công nghệ dạy học với việc đổi mới Phương pháp dạy học Đại học , Hà Nội,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet trong dạy học môn Giáo Dục Học ở trường ĐHSP Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hồng
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2009
18. Lưu Xuân Mới, Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên đại học, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 9 – tháng 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên đại học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: Tạp chí Phát triển giáo dục
Năm: 2003
19. Nhóm PV Giáo dục, Nguyên nhân giảng đường đọc chép“ Tuổi trẻ, 26/11/2005 20. Tom Sheldon, Bách khoa toàn thư mạng, NXB Thống kê, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân giảng đường đọc chép"“ Tuổi trẻ, 26/11/2005 20. Tom Sheldon, "Bách khoa toàn thư mạng
Nhà XB: NXB Thống kê
21. Bùi Hoài Sơn, Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội
Tác giả: Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2006
22. Bùi Ngọc Sơn. Phương pháp trợ giúp Giáo viên đưa tài liệu giảng dạy lên mạng. Tạp chí Giáo dục, số 115, Tháng 6/ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trợ giúp Giáo viên đưa tài liệu giảng dạy lên mạng
Tác giả: Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2005
23. Ngô Tử Thành, E-learning và mô hình giáo viên, học sinh trong thời đại viễn thông tin học, Tạp chí Giáo dục, số 72 – tháng 11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-learning và mô hình giáo viên, học sinh trong thời đại viễn thông tin học
Tác giả: Ngô Tử Thành
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2003
25. Th.S Đặng Thị Thu Thủy, Khai thác sử dụng Internet góp phần tích cực hóa hoạt động học tập môn Toán của học sinh ở trường trung học cơ sở, Tạp chí Giáo dục số 171 kì 1 – 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác sử dụng Internet góp phần tích cực hóa hoạt động học tập môn Toán của học sinh ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Th.S Đặng Thị Thu Thủy
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2007
26. Lê Hải Yến, Nghe nhìn & công nghệ thông tin với Dạy và học ngày nay, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 2.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghe nhìn & công nghệ thông tin với Dạy và học ngày nay
Tác giả: Lê Hải Yến
Nhà XB: Tạp chí Dạy và học ngày nay
Năm: 2006
27. Lê Hải Yến, Xây dựng “thư viện điện tử” hỗ trợ học từ xa, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 12.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng “thư viện điện tử” hỗ trợ học từ xa
Tác giả: Lê Hải Yến
Nhà XB: Tạp chí Dạy và học ngày nay
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 - Sơ đồ hệ thống Internet - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Hình 1 Sơ đồ hệ thống Internet (Trang 16)
Bảng 2.2.1a1 Đánh giá của SV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về mức độ quan trọng của việc sử dụng - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.1a1 Đánh giá của SV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về mức độ quan trọng của việc sử dụng (Trang 36)
Bảng 2.2.1c Mức độ đồng ý của SV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về lợi ích của Internet trong học - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.1c Mức độ đồng ý của SV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về lợi ích của Internet trong học (Trang 38)
Bảng 2.2.1d Mức độ đồng ý của GV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về lợi ích của Internet trong - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.1d Mức độ đồng ý của GV ĐH KHXH&NV Tp.HCM về lợi ích của Internet trong (Trang 40)
Sơ đồ 2.2.2b: Hình thức sử dụng Intenet để giải trí của SV trường ĐH KHXH&NV TP.HCM - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Sơ đồ 2.2.2b Hình thức sử dụng Intenet để giải trí của SV trường ĐH KHXH&NV TP.HCM (Trang 46)
Bảng 2.2.3.1d1 Mức độ hỗ trợ hướng dẫn cụ thể việc sử dụng Internet của GV đối với SV trường - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.3.1d1 Mức độ hỗ trợ hướng dẫn cụ thể việc sử dụng Internet của GV đối với SV trường (Trang 54)
Bảng 2.2.3.1e Mức độ hỗ trợ hướng dẫn SV sử dụng Internet của GV trường ĐH KHXH&NV - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.3.1e Mức độ hỗ trợ hướng dẫn SV sử dụng Internet của GV trường ĐH KHXH&NV (Trang 55)
Bảng 2.2.4.1 b: Tương quan giữa độ tuổi và số giờ sử dụng Internet/tuần của GV - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.4.1 b: Tương quan giữa độ tuổi và số giờ sử dụng Internet/tuần của GV (Trang 62)
Bảng 2.2.4.2 a 3 Khó khăn của GV về việc sử dụng Internet - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.4.2 a 3 Khó khăn của GV về việc sử dụng Internet (Trang 65)
Hình 2 Giao diên website khoa Giáo dục, thuộc website của trường - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Hình 2 Giao diên website khoa Giáo dục, thuộc website của trường (Trang 71)
Hình 2 Giao diên website khoa Văn hóa học - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Hình 2 Giao diên website khoa Văn hóa học (Trang 72)
Bảng 2.2.5.1a Nguyện vọng của SV Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bảng 2.2.5.1a Nguyện vọng của SV Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM (Trang 73)
1.4. Hình thức (về trình bày, bố cục, đa phương tiện)  2.1 Số lượng thông tin Internet - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
1.4. Hình thức (về trình bày, bố cục, đa phương tiện) 2.1 Số lượng thông tin Internet (Trang 100)
Hình 2: Phòng Tra cứu - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Hình 2 Phòng Tra cứu (Trang 121)
Hình 1: Phòng Tra cứu - Thực trạng sử dụng internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Hình 1 Phòng Tra cứu (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w