- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đãthuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoànhảo.- Sau đó ông đi sâu miê
Trang 1CÁC GIAI ĐOẠN VĂN HỌC VIỆT NAM I.VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:
1.Các tác phẩm, đoạn trích:
-Chuyện người con gái Nam Xương.
-Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh.
- Gía trị nhân đạo.
II.VĂN HỌC HIỆN ĐẠI:
-Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
-Những ngôi sao xa xôi
3.SAU 1975 ĐẾN NAY: Hòa bình, Xây dựng, phát triển và hội nhập.
-Ánh trăng.
-Viếng lăng Bác.
-Mùa xuân nho nhỏ.
-Nói với con.
GỒM CÁC CHỦ ĐỀ
I ĐẤT NƯỚC_ CON NGƯỜI
1.Người Lính: Chống Pháp-Chống Mỹ.
2.Tuổi Trẻ Việt Nam (thế hệ trẻ)
-Trong kháng chiến; Phương Định, Người lái xe.
-Trong lao động: anh thanh niên ,cô kĩ sư….
3.Con người lao động mới: Lặng lẽ Sapa, đoàn thuyền đánh cá.
4 Tình yêu quê hương đất nước.(Niềm tự hào)
Trang 2-Trong kháng chiến:
Ông Sáu ,ông Hai,anh thanh niên, Phương Định.
Đồng chí, bài thơ về tiểu đội xe không kính.
+Bà cháu: Bếp lửa, tiếng gà trưa.
+Phụ tử:Nói với con, chiếc lược ngà.
+ Viếng lăng Bác(khổ cuối)
+Mùa xuân nho nhỏ.
-Mùa thu (sang thu)
-Mùa xuân(Khổ 1 Mùa xuân nho nhỏ-Cảnh ngày xuân) -Hình tượng ánh trăng:
+Đoàn thuyền đánh cá.
+Đồng chí.
+Ánh trăng
PHẦN VĂN HỌC
Trang 3CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
Nguyễn Dữ
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Nguyễn Dữ người huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
- Ông là học trò giỏi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “dông bão nổ trăm miền”, xã hội
là cái “vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”, nên sau khi đỗhương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn Đó là hình thức bày tỏthái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặpthời
2 Tác phẩm:
a “Truyền kì mạn lục”:
- Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền
- Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời )
- Gồm 20 truyện, đề tài phong phú
- Nhân vật:
+ Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộcsống yên bình , hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiếnnghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất
+ Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bấtmãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ đượccốt cách thanh cao
4 Bố cục: 3 phần:
- Phần 1: Từ đầu đến…”lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”:Cuộc hôn nhân giữaTrương Sinh và Vũ Nương, những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương
- Phần 2: Tiếp đến …”nhưng việc trót đã qua rồi!” : Nỗi oan của Vũ Nương
- Phần 3: Còn lại : Vũ Nương được giải oan
II Đọc – hiểu văn bản:
1 Nhân vật Vũ Nương:
a Vẻ đẹp phẩm chất:
Trang 4- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đãthuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoànhảo.
- Sau đó ông đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong cácmối quan hệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau
* Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa
vợ chồng:
- Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàngluôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàngluôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui.Nàng là một người vợ hiền thục, khônkhéo, nết na đúng mực!
- Hạnh phúc êm ấm tưởng bền lâu, không ngờ đất nước xảy ra binh biến, TrươngSinh phải đầu quân ra trận ở biên ải xa xôi Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rótchén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “ Chàng đichuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉxin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Ước mong của nàng thậtbình dị, lời lẽ dịu dàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xemthường mọi công danh phù phiếm Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao
mà chồng sẽ phải chịu đựng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặccuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chínquá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.”.Qua lời nói dịudàng,nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ,lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình,thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồng baybổng” Đúng là lời nói, cách nói của một người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng Trái tim
ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòngngười đi xa, thật đáng trân trọng biết bao!
- Khi xa chồng, Vũ Nương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữtrọn tấm lòng thủy chung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêutường hoa chưa hề bén gót” Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướmlượn đầy vườn,mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngănđược” Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêmngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy củaVũNương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạnlạcxưa nay:
"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"
(Chinh phụ ngâm)
-> Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của
Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.
- Khi hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn.Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh,phân trần Nàng đã viện đến cả thân phận và tấm lòng của mình để thuyết phục chồng
“Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu cách biệt ba năm giữ gìn mộttiết ” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng,trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Nương
Trang 5- Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sungsướng nàng vẫnkhông nguôi nỗi thương nhớ chồng con.
Vừa gặp lại Phan Lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã ứa nước mắt xót thương Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàngvẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng Rõràng trong trái tim ngườ iphụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương vàlòng vị tha
* Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thương con.
- Trong ba năm chồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm chavừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ
- Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo.Chồng xa nhà, nàng đã thaychồng phụng dưỡng mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật vàlấy những lời khôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con Đến khi bàmất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng hệt như với cha mẹ đẻ củamình Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già
ấy đã trăng trối những lời yêu thương, độngviên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xétlòng lành, ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyếtchẳng phụ lòng con như con đã chẳng phụ mẹ"
- Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút Sau khi xa chồng đầy tuần,nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nàonàng chểnh mảng việc con cái Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là chaĐản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm giác thiếuvắng tình cảm của người cha
=> Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy
“vốn con kẻ khó” còn Trương Sinh lại là “nhà giàu” đến độ khi muốn Sinh có thể xin
mẹ trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương về Sự cách bức giàu nghèo ấy khiến Vũ Nươngsinh mặc cảm và cũng là cái thế khiến Trương Sinh có thể đối xử thô bạo, gia trưởngvới nàng
* Là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa:
- Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân của chế độ phụquyền phong kiến mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến, của cuộc nội chiếnhuynh đệ tương tàn Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồngkéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mìnhVũ Nương với mẹ già vàđứa con còn chưa ra đời Suốt ba năm, nàng phải gánh vác trọng trách gia đình, thaychồng phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, phải sống trong nỗi nhớ chồng triềnmiên theo năm tháng
- Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầm trở thành nguyênnhân gây bất hạnh Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đa nghi của Trương Sinhnảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương
Trang 6* Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái chết.
- Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan và đối xử bất công,tàn nhẫn
- Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinh đã nghi oan cho vợ, mắng nhiếc,đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàngxóm
- Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị,bôi bẩn bởi chínhngười chồng mà mình yêu thương
- Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan ức, thoát khỏi cuộcđời đầy đau khổ, oan nghiệt
* Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Nương.
- Lược thuật lại kết thúc tác phẩm
- Phân tích:
+ Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơ ước của tác giả về mộtkết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khao một cuộc sống công bằng vớicái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác
+ Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tính chất bi kịch của tácphẩm Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sự hiển linh trong thoángchốc, là ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi Sau giây phút đó nàng vẫn phải về chốn làng mâycung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôi ngả Hạnh phúc lớn nhất đời ngườiđàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên con cuối cùng vẫn không đạt được Sự trở
về trong thoáng chốc và lời từ biệt của nàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhângian đầy oan nghiệt, khổ đau này không có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế
mà “Thiếp chẳng thể trở lại chốn nhân gian được nữa”
=> Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bấtcông phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người.
=> Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ.
Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cần khai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Dữ.
? Câu hỏi: Theo em, những lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?
=> Gợi ý:
- Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hết là lời nói ngây thơcủa con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông của người chồng đa nghi vũ phu Lờicon trẻ thì ngây thơ vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vin theo để hắthủi, ruồng rẫy cho hả dạ ( Trực tiếp )
- Nhưng nói cho cùng Trương Sinh phũ phàng với vợ là do bản tính anh ta vốnvậy và còn vì đằng sau anh ta có sự hậu thuẫn của cả mọt chế độ nam quyền trọng namkhinh nữ Lễ giáo phong kiến hà khắc cho người đàn ôngquyền hành vô độ với giađình mình đặc biệt là với người phụ nữ cho nên không phảingẫu nhiên Hồ XuânHương đã so sánh phụ nữ với chiếc bánh trôi nước “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” bởi lẽtrong xã hội nam quyền ấy thì đàn ông quả thực là thượng đế có thể "nặn" ra hình dáng
Trang 7cuộc đời của người phụ nữ TrươngSinh đã là một tội nhân bức tử Vũ Nương nhưngcuối cùng y vẫn vô can ngay cả khi nỗi oan khiên cuả Vũ Nương đã được làm sáng tỏ.( Gián tiếp )
- Ngoài ra cũng còn phải tính đến nhân tố khác cấu thành bi kịch Vũ Nương đó làchiến tranh phong kiến, chính chiến tranh phong kiến đã gây nên cảnh sinh li và sau đógóp phần tạo nên cảnh tử biệt Nếu không có cảnh chiến tranh loạn li thì sẽ không xảy
ra tình huống chia cách để rồi dẫn đến bi kịch oan khuất trên.(Gián tiếp )
- Liên hệ với thời điểm ra đời của tác phẩm là thế kỉ XVI khi chiến tranh phinghĩa giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Lê - Trịnh kéo dài liên miên gây nênbao thảm cảnh sẽ thấy ý nghĩa hiện thực và hàm ý tố cáo của tác phẩm rất sâu sắc
2 Các chi tiết kì ảo:
a Những chi tiết kì ảo:
- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa
- Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến vàgặp, trò chuyện với
Vũ Nương; được trở về dương thế
- Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến HoàngGiang
b Ý nghĩa:
- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong phú
- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thếgiới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát đượcphục hồi danh dự
- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân
ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ đượcminh oan
- Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảmcủa người phụ nữtrong xã hội phong kiến
3 Ý nghĩa chi tiết cái bóng:
- Trương Sinh hồ đồ, đa nghi
- Vũ Nương yêu thương chồng con
III Tổng kết:
1 Nội dung:
Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyệnngười con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt củangười phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyềnthống của họ
2 Nghệ thuật:
Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật xây dựng truyện, miêu tảnhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình
Trang 8BÀI THAM KHẢO
Suy nghĩ của em về thân phận người phụ nữa qua nhân vật Vũ Nương ở Chuyện
người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
I Mở bài
Người phụ nữ là đề tài quen thuộc được thể hiện trong vãn học thời trung đại
Viết về họ, Hồ Xuân Hương đã rất thành công với bài thơ "Bánh trôi nước", đại thi
hào Nguyền Du với kiệt tác "Truyện Kiều" và Nguyễn Dữ - học trò của Nguyền Bỉnh
Khiêm với "Chuyện người con gái Nam xương" - thiên thứ 16 của "Truyền kì mạn
lục" Qua nhân vật Vũ Nương, câu chuyện đem đến bao suy tư, trăn trở cho người đọc
về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy bất công
II Thân Bài
1 Khái quát (Dẫn dắt vào bài)
Chuyện người con gái Nam Xương xoay quanh về cuộc đời và số phận của Vũ
Nương, một người con gái nhan sắc, đức hạnh Nàng được gả cho Trương Sinh, con
nhà hào phú ít học lại hay ghen Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì Trương Sinh phải
đi lính Chàng đi rồi, Vũ Nương ở nhà một mình sinh và nuôi con, chăm sóc và lo ma
chay cho mẹ chồng chu đáo Nàng luôn một lòng chung thuỷ đợi Trương Sinh trở về
Đêm đêm, nàng thường chỉ tay trên vách nói bóng của mình là cha của bé Trớ trêu
thay, giặc tan Trương Sinh trở về, niềm vui chưa được bao lâu, tin lời con nhỏ, nghi
ngờ vợ thất tiết, nhục mạ, đánh đuổi nàng đi Phẫn uất vì mối oan nói không nên lời,
Vũ Nương nhảy sông Hoàng Giang tự vẫn Qua câu chuyện, ta thấy rằng phụ nữ là nạn
nhân của chế độ phong kiến bất công, chế độ nam, nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa
Cuộc đời họ là chuỗi dài những khổ đau và bất hạnh
2 Phân tích:
a, Người phụ nữ nạn nhân của chế độ nam quyền
Số phận của Vũ Nương cùng là số phận của biết bao phụ nữ trong xã hội phong
kiến Nàng phải chịu bao hủ tục, lề giáo khắt khe, ngặt nghèo Biết nàng "tính tình
thuỳ mị, tư dung lại tốt đẹp" nên Trương Sinh mến vì dung hạnh mới xin mẹ trăm lạng
vàng cưới về Đày là cuộc hôn nhân không bình đẳng, nói đúng hơn là mua bán, bởi lẽ
nó không có tình yêu, không có sự rung động, không có sự đồng thuận từ hai trái tim
Sự sắp đật của con nhà giàu, lắm tiền nhiều của, muốn gì được nấy, sắp đật cho con
nhà nghèo khó "cha, mẹ đật đâu con ngồi đó" không thể tự mình quyết định hạnh phúc
của mình Dù là Vũ Nương luôn giữ khuôn phép thì cuộc sống vợ chồng vẫn có nguy
cơ tan vờ và cũng là cái thế để Trương Sinh phô trương tính tình độc đoán, gia trưởng,
đối xử với vợ vũ phu, thô bạo
- Trương Sinh vốn ít học, lại có tính đa nghi và hay ghen, do vậy sự nghi kị, ngờ
vực làm mầm mong của sự bất hòa đã ủ sẵn trong gia đình Để rồi, sau ba năm xa
cách, khi trở về tưởng Trương Sinh sẽ mang lại hanh phúc cho gia đình thì cũng lại là
lúc tại họa ập xuống cuộc đời Vũ Nương Chỉ vì lời nói ngây thơ của bé Đản: “Ô hay!
Ông cũng là cha tôi ư? Mà ông lại biêt nói chứ không giống như cha tôi trước kia ”,
làm cho Trương Sinh ngờ vực, hiểu lầm vợ hư hỏng Dù Vũ Nương có tha thiết giải
bày, có hết lời phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, dù họ hàng làng xóm có hết
lòng khuyên can và biện hộ cho nàng thì Trương Sinh cũng không hề đếm xỉa tới, mà
chỉ một mực nghi oan cho vợ Rồi từ chỗ “la um lên cho hả giận”, Trương Sinh đã
mắng nhiếc, đuổi vợ đi Phải chăng, xã hội phong kiến với chế độ nam quyền độc
đoán, với thói “trọng nam khinh nữ” bám chặt vào huyết quản đã dung túng, cho phép
người đàn ông được quyền coi thường, rẻ rúng và đối xử thô bạo với người phụ nữ?
Thương nhớ chồng là thế, lại bị chồng ruồng rẫy, gạt bỏ Giữ gìn khuôn phép, rất mực
pp GO ô € ỶD 4») n <# no 1 ENG 21/07/18 ^ lft09AM □ ^
Trang 9thủy chung lại bị coi là thất tiết, chịu tiếng nhuốc nhơ Nàng không hiểu vì sao bị đối
xử bất công, bị mắng nhiếc và đuổi đi, không có quyền được tự bảo vệ ngay cả khi có
họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho Hanh phúc gia đình, thú vui nghi gianghi thất, niềm khao khát của cả đời nàng đã tan vỡ, tình yêu không còn “bình rơi trâmgãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”, cả nỗi đau khổ chờ chồngđến hóa đá trước đây,cũng không còn có thể có lại được nữa Thất vọng đến tột cùng,cuộc hôn nhân đã không có cách nào hàn gắn nổi, Vũ Nương đành mượn sông HoàngGiang rửa sạch nỗi oan nhục, giãi bày tấm lòng trong trắng của mình Lời than củanàng như lời nguyền xin thần sông chứng giãm nỗi oan khuất và đức hạnh của nàng:
“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng
chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ ngu
mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chống dối con, dưới xin làm cho cá tôm, trên xin làm cơ cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.
-> Qua tác phẩm, ta thấy Vũ Nương đã nhiều lần gắng gượng để vượt lên số
phận nhưng cuộc đời nàng không thoát khỏi là nạn nhân cùa chê độ nam quyên độcđoán, chà đạp và ức hiêp con người
-> Cái chết của Vũ Nương thực chất là do bị chồng bức tử - một cái chết đầy oan
ức Vậy mà, Trương Sinh thấy nàng tự tận chỉ một chút động lòng mà không hề ânhận, day dứt Ngay cả khi, đứa con trỏ ta) vào bóng chàng trên vách nói là cha, chànghiểu rõ nỗi oan của vợ thì cũng coi là việc đã qua rồi Như thế, chuyện danh dự,chuyện sinh mệnh của người phụ nữ bị tùy tiện định đoạt bời người chồng, người đànông mà không có hành lang đạo lí, không được dư luận xã hội bảo vệ, chở che Nỗioan của Vù Nương đã vượt ra ngoài phạm vi gia đình, là một trong muôn vàn oankhuất của cái xã hội vùi dập thân phận con người, nhất là người phụ nữ sống trong xãhội đầy rẫy những oan trái, bất công, quyền sông của con người không được đảm bảo,người phụ nữ với thân phận “bèo dạt mây trôi” có thể gặp bao nhiêu tai họa giángxuông bât kì lúc nào, vì những nguyên cớ vu vơ không thể tưởng tượng Rõ ràng, xãhội phong kiên đã sinh ra bao Trương Sinh với đầu óc gia trưởng, độc đoán, là nguyênnhân sâu xa cùa những đau khổ mà người phụ nữ phải chịu
b Người phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa:
Không chỉ là nạn nhân của chế độ nam quyền độc đoán, người phụ nữ còn là nạnnhân của chiến tranh phong kiến Cả cuộc đời Vũ Nương, chỉ vui thú nghi gia nghithất vậy mà về làm vợ Trương Sinh, cuộc sông vợ chông “sum họp chưa thỏa tìnhchăn gôi,chia phôi vì động việc lửa binh” Buổi Trương Sinh ra đi, mẹ già bịn rịn, vợtrẻ đương bụng mang dạ chửa chưa khuyến luyến sự thể rồi sẽ ra sao đã khiến mọingười có mặt ở đó đêu phải ứa hai hàm lệ: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dámmong được đeo ân hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ,chỉ xin ngày về mang theo được haichữ bình yên, thế là đủ rồi Chi e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồngcòn lẩn lút, quân triều còn gian lao,rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì,khiến thiếp ôm nỗi quan hoài,mẹ già triền miên lo lắng.”
Những câu văn biền ngẫu, sóng đôi như trái tim người vợ trẻ phập phồng lo sợcho người chồng phải đi lính thú Chiến tranh xa cách, mẹ già cũng vì thương nhớ con
mà sinh bệnh rồi qua đời Con thơ đươc sinh ra không biết mặt cha, vợ trẻ nhớ chồngchỉ còn biết trỏ vào bóng mình trên vách, bảo là cha cua bé Chính chiến tranh làmcho gia đình li tán, vợ chồng xa cách dẫn đến hiểu lầm Cũng chính cái mối nghi ngờkhông thể gỡ ra ấy của Trương Sinh đã trở thành nguyên nhân gây bất hạnh cho cuộcđời Vũ Nương Nếu không có chiến tranh, Trương Sinh không bị bắt đi lính,thì đâu bé
Trang 10Đản không chịu nhận cha, thì đâu Vũ Nương phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cáichết thương tâm Rõ ràng, chiến tranh phong kiến đã gây ra cảnh sinh li và cũng gópphần dẫn đến cảnh từ biệt, làm tan nát bao nhiêu gia đình
=> Có thể nói,sống trong xã hội phong kiến bất công, Vũ Nương cũng như baongười phụ nữ khác - người con gái bình dân trong “Bánh trôi nước”, Thúy Kiều, ĐạmTiên trong “Truyện Kiều” đều phải song long đong, trôi dạt, phải tìm đến cái chết giảinỗi oan ức, phải thoát khỏi cuộc đời đầy khổ đâu ở chốn nhân gian Đại thi hàoNguyễn Du đã khái quát về cuộc đời, thân phận người phụ nữ bằng tiếng kêu đầy ai
oán:
“ Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"'.
c Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ:
- Viết về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương, của người phụ nữ trong xãhội phong kiến, tác giả Nguyễn Dữ đã tố cáo, lên án xã hội bất công, vô nhân đạo, chàđạp lên quyền sống của con người Đây cũng là tiếng kêu thương đầy nước mắt, là sựxót xa thương cảm của tác giả trước nôi oan khiên mà người phụ nữ phải gánh chịu
III Kết bài:
Qua “Chuyện người con gái Nam Xương”, ta xót xa thương cảm cho người phụ
nữ bất hạnh trong xã hội xưa bao nhiêu, ta càng căm giận cái xã hội thối nát, bất công
đã đẩy người phụ nữ vào vòng oan trái bấy nhiêu Đọc tác phẩm, ta lại càng thêm nângniu, trân trọng cái tài, cái tâm của người con huvện Thanh Miện, Hải Dương dành chonhững thân phận bọt bèo trong xã hội phong kiến đương thời
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (Hồi thứ mười bốn – Trích) I.Tìm hiểu chung:
Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh.Dâng “Trung hưng
sách” bàn kế khôi phục nhà Lê Sau đó, được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu
tập những kẻ lưu vong lập nghĩa binh chống lại Tây Sơn Trên đường đi, ông bị bệnhmất tại Bắc Ninh.Nhiều tài liệu nói, ông viết 7 hồi đầu của tác phẩm
+Ngô Thì Du (1772-1840) anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưngkhông đỗ đạt Dưới triều Tây Sơn, ông sống ẩn ở Hà Nam.Thời nhà Nguyễn ông làmquan đến năm 1827 thì về nghỉ Ông là tác giả của 7 hồi tiếp theo
- Ba hồi cuối có thể do 1 người khác viết đầu thời Nguyễn
2 Tác phẩm:
- "Chí" là thể văn ghi chép sự vật, sự việc.
- Trong văn học Việt Nam thời trung đại, "Hoàng lê nhất thống chí" là một tác
phẩm văn xuôi chữ Hán có quy mô lớn nhất và đạt được những thành công xuất sắc cả
về nội dung cũng như nghệ thuật
- Với nội dung viết về những sự kiện lịch sử diễn ra trong khoảng ba mươi nămcuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX (cuối Lê đầu Nguyễn),tác phẩm chịu ảnh hưởng lối
Trang 11viết tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc cũng như quan niệm văn sử bất phân - nétđặc thù của văn học trung đại Việt Nam.
- Nếu xét về tính chân thực lịch sử, tác phẩm có thể được xếp vào loại kí sự lịch
sử Nhưng xét về hình thức kết cấu, nghệ thuật khắc họa nhân vật, cách miêu tả, tự
sự thì tác phẩm lại mang đậm chất tiểu thuyết Có lẽ vì thế mà "Hoàng Lê nhất thống
chí" được xếp vào loại tiểu thuyết lịch sử.
- Tác phẩm gồm có tất cả 17 hồi, trên đây trích phần lớn hồi thứ mười bốn, viết
về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh
*Câu hỏi 1, sách giáo khoa, trang 72: Tìm đại ý và bố cục đoạn trích:
+Đoạn 1:(từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân
(1788)): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ
lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc
+Đoạn 2 (tiếp đến “rồi kéo vào thành”) : Cuộc hành quân thần tốc và chiến
thắng lẫy lừng của vua Quang Trung
+Đoạn 3: Đoạn còn lại : Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đátcủa vua tôi Lê Chiêu Thống
3 Tóm tắt hồi thứ 14:
- Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng
sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làmyên lòng người.Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấyniên hiệu là Quang Trung Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.-Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệtbinh.Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo Đúng tối 30 tết lập tứclên đường
-Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống Ngày
03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn NgọcHồi Quân Thanh đại bại Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn Tôn Sĩ Nghị hoảnghốt cuống cuồng chạy mất mật Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuốngnước nhiều không kể xiết Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đấtBắc
II Đọc - hiểu văn bản:
Câu hỏi 2, sgk,trang 72: Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận hình ảnh người
anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ như thế nào? Theo em, nguồn cảmhứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộcnày?
1 Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:
a Con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán:
* Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn thể hiện là con người hành động vớitính cách mạnh mẽ, quyết đoán Ông luôn xông xáo, giải quyết nhanh gọn và có chủđích Điều đó thể hiện qua từng thái độ, từng hành động của nhân vật:
Trang 12- Nhận được tin giặc chiếm Thăng Long thì “giận lắm”,”định thân chinh cầm
quân đi ngay”.
- Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm rất nhiều việc lớn:
+ Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu”,”giữ lấy lòng người” + Tự mình “đốc suất đạo binh” ra Bắc.
+ Tìm gặp người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp để hỏi kế sách
+ Tuyển mộ quân sĩ và “mở cuộc duyệt binh lớn” ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ.
b Con người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc:
- Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc, thế tương quan giữa ta vàđịch Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An:
+ Nguyễn Huệ đã khẳng định chủ quyền của dân tộc(“đất nào sao ấy, đều đã
phân biệt rõ ràng”) và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân
Thanh, nêu bật dã tâm của chúng(“bụng dạ ắt khác…cướp bóc nước ta, giết hại nhân
dân, vơ vét của cải”)
+ Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta
+ Kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực, ra kỉ luật nghiêm
=> Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ phong phú, sâu xa,
nó tác động, kích thích lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người: Thể hiện qua cách xử trí vừa có
lí vừa có tình với các tướng sĩ tại Tam Điệp.Ông rất hiểu tướng sĩ, hiểu tường tậnnăng lực của bề tôi, khen chê đúng người đúng việc
c Con người có ý chí quết thắng và tầm nhìn xa trông rộng:
- Mới khởi binh, chưa lấy được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã tuyên bố
chắc nịch “phương lược tiến đánh đã có sẵn”, “Chẳng qua mươi ngay có thể đuổi
được người Thanh”.
- Biết trước kẻ thù “lớn gấp mười nước mình”, bị thua một trận “ắt lấy làm thẹn
mà lo mưu báo thù” khiến việc binh đao không bao giờ dứt nên Nguyễn Huệ còn tính
sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian “yên ổn mà nuôi dưỡng lực
lượng”, làm cho nước giàu quân mạnh.
d Con người có tài dụng binh như thần:
- Cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy:Ngày 25 tháng Chạp xuất quân từ Phú Xuân(Huế),ngày 29 đã tới Nghệ An, vượtkhoảng 350km qua núi, qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừaduyệt binh, chỉ trong vòng một ngày Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp(cách khoảng
150km) Và đêm 30 tháng Chạp đã “lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long Mà
tất cả đều là đi bộ Có sách còn nói vua Quang Trung sử dụng cả biện pháp dùng võngkhiêng, cứ hai người khiêng thì một người được nằm nghỉ, luân phiên nhau suốt đêmngày Từ Tam Điệp ra Thăng Long (khoảng hơn 150km), vừa hành quân, vừa đánhgiặc mà vua Quang Trung định kế hoạch chỉ trong vòng 7 ngày, mồng 7 tháng Giêng
sẽ vào ăn Tết ở Thăng Long Trên thực tế, đã thực hiện kế hoạch sớm hai ngày: trưamồng 5 đã vào Thăng Long
- Hành quân xa liên tục như vậy, thường quân đội sẽ mệt mỏi,rã rời, nhưng nghĩa
binh Tây Sơn “cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề”,”từ quân đến tướng, hết thảy cả năm đạo
quân đều vâng mệnh lệnh, một lòng một chí quyết chiến quyết thắng” Đó là nhờ tài
năng quân sự lỗi lạc ở người cầm quân: hơn một vạn quân mới tuyển đặt ở trung quân,còn quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng ra thì bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu
- Tổ chức các trận đánh hợp lí, ít hao tổn binh lực:
+ Trận Hà Hồi …không cần đánh
Trang 13+ Trận Ngọc Hồi…được thành.
e Hình ảnh vị anh hùng lẫm liệt trong chiến trận:
- Là một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: thân chinh cầm quân ra trận, vừa hoạchđịnh chiến lược, sách lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ, bài binh bố trận, vừa tự mìnhthống lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trận tiền
- Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm quân sĩ nức lòng, tạo niềm tin quyết chiếnquyết thắng, đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía, rơi vào cảnh đại bại nhanhchóng
- Ngòi bút trần thuật như thần làm hình ảnh vị vua xung trận giữa làn đạn, cưỡivoi tả đột hữu xung, áo bào đỏ đã sạm đen khói súng thực là lẫm liệt
2 Chân dung bọn cướp nước và bán nước:
- Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân dung của kẻ thù xâm lược
Kéo quân vào Thăng Long rất dễ dàng, như "đi trên đất bằng", quân Thanh đã quá chủ
quan, cho là vô sự, không đề phòng gì Lính thì rời doanh trại để đi kiếm củi, buôn bán
ở chợ;tướng thì suốt ngày lo yến tiệc, cờ bạc Vì vậy, khi bị quân Tây Sơn tiến côngbất ngờ đúng vào thời điểm Tết Âm lịch, quân Thanh ở các thành đã không kịp trở
tay, "rụng rời sợ hãi",chống không nổi "bỏ chạy toán loạn,giày xéo lên nhau mà
chết","thây chất đầy đồng, máu chảy thành suối" đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc
nghẽn không chảy được nữa Nhục nhã nhất là hình ảnh Tôn Sĩ Nghị "sợ mất mật, ngựa
không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng bắc mà chạy"
- Số phận những kẻ bán nước là Lê Chiêu Thống và những kẻ bề tôi của hắncũng không kém phần thảm hại Vì mưu lợi ích riêng của dòng họ, vua Lê Chiêu
Thống đã làm cái trò bỉ ổi "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ", cúi đầu chịu
đựng nỗi nhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin Để rồi khi quân Thanh tan rã, cả bọn vội vã
chạy bán sống, bán chết, chịu đói, chịu nhục, chỉ biết "nhìn nhau than thở, oán giận
chảy nước mắt".
=> Có thể thấy rõ chất hiện thực trong bức tranh miêu tả của các tác giả Dù lànhững kẻ tôi trung với nhà Lê, và trong cách miêu tả cảnh khốn quẫn của vua LêChiêu Thống, các tác giả vẫn thể hiện sự ngậm ngùi,thương cảm, nhưng quan
điểm tôn trọng lịch sử và ý thức dân tộc của những trí thức đã giúp họ phản ánh
đúng diễn biến lịch sử, làm nổi bật hành động "cõng rắn cắn gà nhà" của ông vua phản
nước Lê Chiêu Thống cũng như tô đậm chiến công lẫy lừng của người anh hùng áo vảiNguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn.Đó chính là một trong những yếu tố tạo nên giátrị tác phẩm
Câu hỏi 4, sách giáo khoa, trang 72: Ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc
tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống) có gìkhác biệt? Hãy giải thích vì sao có sự khác biệt đó
=> Trả lời:
- Tất cả đều tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại khác nhau:+ Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả, ngòi bút miêu tả khách quannhưng vẫn hả hê sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.+ Đoạn văn dưới nhịp điệu chậm hơn, miêu tả tỉ mỉ giọt nước mắt của người thổhào, nước mắt tủi hổ của vua tôi nhà Lê… Âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót
- Vì các tác giả đều là những cựu thần của nhà Lê, nên không thể không có sựthương xót, ngậm ngùi cho tình cảnh của vua tôi Lê Chiêu Thống.Đấy là điều tạo nên
sự khác biệt trong thái độ và cách miêu tả hai cuộc tháo chạy
III Tổng kết:
Trang 141 Nội dung:
- Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng lê
nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ
qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh
và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống
- Hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ được khắc họa khá đậm nét, có tínhcách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt, có tài dụng binh như thần, là người có tổchức và là linh hồn của những chiến công vĩ đại
- Một sự mâu thuẫn: Nhan đề mang ý nghĩa ca ngợi nhà Lê, nhưng nội dung tácphẩm lại vạch rõ sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà Lê, và ca ngợi người anhhùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ
IV Bài tập vận dụng:
1 Theo cách tổng phân hợp viết đoạn văn (7-10 câu) phân tích hình ảnh ngườianh hùng áo vải – Quang Trung trong hồi thứ 14 của HLNTC
2 Lời dụ của vua Quang Trung với quân lính ở Nghệ An trước khi tiến quân ra
Bắc có những ý trùng hợp với bài “Sông núi nước Nam” và “Bình Ngô đại cáo” Hãy
chỉ ra những sự gặp gỡ ấy và tìm hiểu ý nghĩa của việc đó
BÀI THAM KHẢO
Nguyễn Huệ - người anh hùng áo vải ở đất Tây Sơn là niềm tự hào của dân tộcViệt Nam Người anh hùng áo vải ấy với thiên tài quân sự của mình đã đánh tan bamươi vạn quân Thanh xâm lược, khiến cho lũ bán nước cầu vinh ê chề nhục nhã Cóthể nói hồi thứ mười bốn trong tác phẩm "Hoàng Lê nhất thống chí” của nhóm Ngô giavăn phái đã phản ánh khá đầy đủ chân dung người anh hùng Nguyễn Huệ Càng đọcchúng ta càng khâm phục tài năng xuất chúng của người anh hùng áo vải đất Tây Sơnấy
Chân dung người anh hùng Nguyễn Huệ, trước hết được miêu tả gián tiếp qua lờingười con gái hầu hạ trong cung vua, tâu với bà Hoàng Thái Hậu Mặc dù vẫn xemNguyễn Huệ là “giặc", gọi Nguyễn Huệ bằng “hắn" nhưng người cung nhân ấy cũngkhông giấu được sự thán phục của mình trước tài năng xuất chúng của Nguyễn Huệ.Đây là một đoạn trong lời tâu của cung nhân: Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lãoluyện dũng mãnh và có tài cầm quân Xem hắn ra Bắc vào Nam ẩn hiện như quỷ thầnkhông ai có thể lường hết Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm nhưgiết con lợn " Trong khi nói những lời ấy, chắc người cung nhân đã chọn lời lẽ vừaphải, thích hợp chưa dám bộc lộ hết ý nghĩ của mình về Nguyễn Huệ, nhưng mộtngười vốn xem Nguyễn Huệ là "giặc" thán phục đến như thế đủ biết Nguyễn Huệ tàinăng đến mức nào
Ngay những người thuộc nhóm Ngô gia văn phái vốn theo "chính thống”, phầnnào bị quan điểm "chính thống" chi phối, trước thiên tài của Nguyễn Huệ vẫn phải cangợi Nguyễn Huệ một cách trung thực, khách quan Qua việc miêu tả trực tiếp cuộc
Trang 15hành quân thần tốc, tác giả đã cho mọi người thấy tài năng quân sự xuất chúng củangười anh hùng áo vải Tây Sơn
Được tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, Nguyễn Huệ giận lắm, định cầmquân đi ngay Nhưng Nguyễn Huệ đã biết nghe theo lời khuyên của mọi người, chođắp đàn ở núi Bân tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi, lên ngôi hoàng đế lấyniên hiệu Quang Trung Lễ xong mới hạ lệnh xuất quân Điều này chứng tỏ mặc dù tàinăng hơn người nhưng Nguyễn Huệ rất biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác.Riêng phẩm chất ấy của ông cũng đáng để chúng ta kính nể, học tập Việc NguyễnHuệ tự mình đốc xuất đại binh tiến ra Thăng Long vào đúng thời điểm Tết Nguyên đáncũng chứng tỏ phần nào tài năng quân sự của ông Bởi vì đó là thời điểm kẻ thù ít đềphòng nhất, dễ lơ là cảnh giác nhất Nguyễn Huệ rất hiểu sức mạnh tinh thần, ôngkhông chỉ có tài cầm quân mà còn có tài hùng biện Trong lời dụ của mình, ông đãkhích lệ được lòng yêu nước, căm thù giặc, truyền thống chống ngoại xâm cho tướngsĩ: Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện ở Thăng Long các ngươi đã biết chưa? Người phương Bắc không phải giống nòi nước ta, bụng dạ ắt khác Từ đời nhà Hánđến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cảingười mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi Đời Hán có Trưng NữVương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo,đời Minh có Lê Thái Tổ, các Ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo nên đãthuận lòng người, dấy nghĩa quân đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng
về phương Bắc” Lời dụ của Quang Trung có sức thuyết phục không kém "Hịch tướngsĩ” của Trần Quốc Tuấn Một điều mà các tác giả "Hoàng Lê nhất thống chí” hết sứckhâm phục Nguyễn Huệ là tài dùng người Tiêu biểu là việc cử Ngô Thời Nhậm ở lạilàm việc với các tướng Sở và Lân Sự việc diễn ra đúng như dự đoán của Nguyễn Huệ.Ngô Thời Nhậm đã phát huy vai trò của mình “Biết nín nhịn để tránh mũi nhọn", "bêntrong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng" Nguyễn Huệcòn dự đoán chính xác những sự việc sắp xảy ra Ông là một người đầy tự tin: "Lầnnày ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, chẳng qua mườingày có thể đuổi được người Thanh Nhưng ông cũng luôn luôn đề phòng hậu hoạ:
"Quân Thanh thua trận ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế việc binh đaokhông bao giờ dứt" Và ông đã dự định chọn người “khéo lời lẽ” để “dẹp việc binhdao” đó cũng là Ngô Thời Nhậm Qua cách nghĩ của vua Quang Trung, ta thấy ôngkhông chỉ nhìn xa trông rộng mà còn hết lòng vì dân Ông không muốn dân phải luônluôn chịu cảnh binh đao xương rơi máu chảy Trong khi tiến quân ông cũng chọn cáchtránh cho quân sĩ đỡ phải tổn thất: ''Vua truyền lấy sáu chục tấm ván, cử ghép liền batấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín Quân Thanh nổ súng bắn rachẳng trúng người nào cả Đó là cái giỏi, cũng là cái tâm của người cầm quân
Đoạn thuật lại việc Quang Trung đại phá quân Thanh trong hồi mười bốn
“Hoàng Lê nhất thống chí” của nhóm Ngô gia văn phái hết sức sinh động Qua đó,người đọc có thể hình dung được chân dung của nguời anh hùng áo vải Quang Trungkhông chỉ là nhà quân sự thiên tài “xuất quỷ, nhập thần" mà còn là một vị tướng giàulòng yêu nước, có ý thức dân tộc hết sức sâu sắc Ông là hình ảnh đối lập với nhữngtên vua bán nước, hèn nhát Quang Trung mãi mãi được mọi người kính phục, yêumến
TRUYỀN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Trang 16I GIỚI THIỆU TÁC GIẢ:
- Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều biến động thăng trầm: sớm mồ côi cha mẹ, phiêubạt mười năm trên đất Bắc rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh, từ 1802 bất đắc dĩ ra làmquan dưới triều Nguyễn Năm 1813-1814 được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.Năm 1820 được cử làm chánh sứ sang Trung Quổc lần 2 nhưng chưa kịp đi thì bị bệnhmất tại Huế
Là người hiểu biết sâu rộng, có vốn sổng phong phú, có trái tim nhân hậu, cảmthông sâu sắc
-> Là một thiên tài văn học, nhà nhân đạo chủ nghĩa, danh nhân văn hóa thế giới
2 Sự nghiệp:
- Thơ chữ Hán (gồm 2043 bài: Thanh Hiên Thi Tập, Bắc Hành tạp lục, Namtrung tập ngâm
- Thơ chữ Nôm: Văn Chiêu Hồn, truyện Kiều
II GIỚI THIỆU TÁC PHẨM:
1 Nguồn gốc: Dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân (Trung Quốc)
- Giá trị nhân đạo:
+ Thương cảm trước số phận bi kịch của con người
+ Lên án, tố cáo thế lực xấu xa, tàn bạo
+ Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính củacon người
b V
ề nghệ thuât:
+ Ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt đỉnh cao rực rỡ
+ Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc; nghệ thuật dẫn chuyện, nghệthuật miêu tả thièn nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lý con người
CHỊ EM THÚY KIỀU
Trang 17(Trích "Truyện Kiều", Nguyễn Du)
I Tầm hiểu chung:
1 Vi trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh
của Kiều Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắcThúy Vân và Thúy Kiều
2 Kểt c ấ u ( bố cục) đoan trích:
Câu hỏi l, sgk, trang 83: Hãy tìm hiểu kết cấu của đoạn trích và nhận xét kết cấu
ẩy có liên quan như thế nào với trình tự miêu tả nhân vật cùa tác giả.
=> Trả lời:
Đoạn "Chị em Thúy Kiều" có kết cấu:
Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều
Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân
Mười hai câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều
Bốn câu cuối: khái quát chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều
Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả:
+ Bốn câu đầu khái quát được vẻ đẹp chung ( mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười
phân vẹn mười) và vẻ đẹp riêng ( moi người một vé ) cùa từng người Sau đó, tác giả
mới đi sâu gợi tả vé đẹp cùa từng nhân vật
+ Bốn tiếp khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, máitóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quýphái của người thiếu nữ
Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên
vẻ đẹp cùa bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo
+ Mười hai câu thơ tiếp khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình Kiều làmột tuyệt thế giai nhân "nghiêng nước nghiêng thành" Kiều "sắc sảo" về trí tuệ và
"mặn mà" về tâm hồn vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: "Làn thu thúy nét xuânsơn" Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa(vẽ)
+ Bốn câu cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp đức hạnh, trẻ trung củahai chị em Thúy Kiều
Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lí, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹpchung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều
II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
1 Chân dung Thúy Vân, Thúv Kiều:
a Giới thiệu khái quát nhân vât:
Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giới
thiệu cô điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:
“Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.”
Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mangtính chât lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa (đẹp một cách hoàn thiện):
Mai cốt cách tuyết tinh thân Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
+ Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh
tao, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều:“Mai cốt cách, tuyết tinh
thần ” Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết => Đó là
vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lần tâm hồn, cả dung nhan và đức hạnh
+ Hai chị em đều tuyệt đẹp, không tì vết “mười phân vẹn mười ”, song mỗi người
Trang 18lại mang nét đẹp riêng khác nhau “moi người một vẻ ”.
-> Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt
chiêm ngưỡng sắc đẹp cùa từng người.
b Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân:
Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp
của Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang quí phái
Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ân dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài ”,
“hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da ”
-> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang,thùy mị: khuôn mặt đây đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm;lông mày sắc nét như màyngài; miệng cười tươi thăm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà
là những lời đoan trang, thùy mị Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịnmàng hơn tuyết
-> Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên - một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êmđềm với xung quanh Cùng là hương sắc của tạo hóa, báu vật của nhân gian -> Dự báo
vê một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ
c Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều:
* Sắc:
- Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ phápnghệ thuật đòn bẩy Tả kỹ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để khẳng địnhKiều hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà” Từ “càng” đứng trước 2 từ lý liên tiếp
“Sắc sảo” “mặn mà” làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâmhồn
- Vẻ đẹp của Kiều khiển “hoa ghen", "liễu hờn”, nước phải nghiêng, thành phải đô.
Thi nhân không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đổ kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự
ngưỡng mộ, mê say trước vé đẹp ẩy “Nghiêng nước nghiêng thành " là cách nói sáng tạo điển cố để cực tả giai nhân Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến
rủ làm mê mẩn lòng người, vẻ đẹp ấy như tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý - tài vàtình rất đặc biệt của nàng
* Tài:
- Trí tuệ thông minh tuyệt đối
- Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng:
-> Cuôc đời của nàng sẽ găp nhiều éo le, đau khổ
d Nhân xét chung về cuôc sống hai chi em Thúy Kiều.
Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chì nhan sắc tuyệt
vời mà còn đức hạnh khuôn phép Dù đã đến tuổi “Cài trâm, búi tóc" nhưng hai chị em
vẫn giữ gìn nề nếp, gia phong :
Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
2 Cảm hứng nhân văn cùa Nguyễn Du qua đoan trích:
Trang 19Ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị,phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh;qua đó, dự cảm về kiếp
người tài hoa bạc mệnh Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng
nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sác của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút
Nguyễn Du
Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp hai chị em Thúy Kiều – Thúy Vân trong trích đoạn” chị em Thúy Kiều”( Truyện Kiều- Nguyễn Du) Hướng dẫn dàn ý:
Mở bài: - Giới thiệu tác giả: Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc,
danh nhân văn hóa thế giới, là nhà chủ nghĩa nhân đạo, là bậc thầy ngôn ngữ dân tộc.
- Giới thiệu đoạn trích
BÀI THAM KHẢO
Văn bản “ Chị em Thuý Kiều” trong thi phẩm vĩ đại “ Đoạn trường tân thanh”của thi hào Nguyễn Du là những vần thơ tuyệt bút, là bức tranh con người được vẽbằng ngôn ngữ Tiếng Việt đạt đến mức hoàn chỉnh Chỉ 24 câu thơ lục bát Tố Như đãmiêu tả tài, sắc, đức hạnh của chị em Thuý Kiều, Thuý Vân - hai tuyệt thế giai nhân -bằng tất cả tấm lòng và sự nâng niu, trân trọng
Nói đoạn thơ là bức tranh, bởi lẽ ngôn từ trong văn bản không chỉ tác động đếncảm xúc, mà nó còn gợi nên hình ảnh sống động về con người một cách rõ nét Gấptrang sách lại, người đọc hình dung được Thuý Kiều, Thuý Vân từ dáng vẻ bên ngoàiđến tâm hồn bên trong
Trong họa pháp cổ, chuẩn mực của nghệ thuật cốt ở cái tình Cho nên nhà họa sĩthường chú trọng đến cái thần của tác phẩm Khi vẽ ông nhất định chú ý đến đôi mắt,
vẽ mùa thu nhất thiết phải có lá vàng Để diễn tả sức sống của mùa xuân, trong mộtcuộc thi lớn nhà họa sĩ Trung Quốc Bạch An vẽ con ngựa lao nhanh về phía trước,xung quanh tràn đầy những hoa là hoa Không tả nhiều nhưng gợi cho người xem biếtbao cảm xúc thẩm mĩ
Nguyễn Du tả Thúy Kiều, Thúy Vân trên cơ sở họa pháp cổ nhưng được soichiếu và trình diễn đạt đến độ vi diệu Chất liệu của nó không phải màu sắc và âmthanh mà bằng ngôn từ Qua tay của Nguyễn Du ta có cảm giác các con chữ vừa đi vừakhiêu vũ
Bốn câu thơ đầu là lời giới thiệu, khái quát chung về hai cô gái đầu lòng của nhi Viên ngoại họ Vương
Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn người
Hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, kết hợp với phép ẩn dụ: “cốt cách” thanhcao như mai, “tinh thần" trong trắng như tuyết cho thấy sự nâng niu, quý trọng của nhàthơ với các nhân vật Họ đẹp một cách lộng lẫy, đẹp “ mười phân vẹn mười”, Thật khó
để nói được vẻ đẹp riêng của hai ả tố nga nhà họ Vương Nếu quan niệm đoạn trích làmột bức tranh, thì đây là phần nền cùa hai bức chân dung chị em Thuý Kiều, chưa tả
Trang 20nhưng hai nàng hiện lên thật nổi bật Đó lả cái tài đặc biệt cùa Nguyễn Du: giới thiệunhưng mang yếu tố tả, kể như vẽ Trong cái phông nền ấy đại thi hào lần lượt cho cácnhân vật cùa mình xuất hiện hết sức tự nhiên, đầy thần thái.
Sau lời giới thiệu chung, là bức chân dung của Thuý Vân :
Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Vẫn bút pháp ước lệ kết hợp với hệ thống từ ngữ chọn lọc, Thuý Vân hiện lên
với những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhất của tinh hoa đất trời: Hoa,trăng, ngọc, mây, tuyết Đó là sự quy tụ của vẻ đẹp trời đất, cùa thiên nhiên Đó cũng
là chuẩn của vẻ đẹp con người cần hướng đến trong thi pháp văn học trung đại Mỗicâu thơ, là một nét vẻ tái họa bức chân dung giai nhân Cử chi, dáng đi đứng rất trangtrọng, quý phái Cách xử sự rất đúng mực, đoan trang Đây là vẻ đẹp toàn bích cùa mộtthiếu nữ trong sáng, dịu hiển, không vướng một chút bụi trần
Tác giả miêu tả khuôn mặt của Thuý Vân đầy đặn, sáng trong như khuôn trăngtròn vành vạnh Tiếng nói trong như ngọc Miệng cười tươi như hoa Tóc mềm bóngmượt đến nỗi “mây thua” Da trắng làm cho tuyết phải “ nhường” Rõ ràng, ở nàngVân là cái đẹp phúc hậu, đoan trang, cái đẹp chinh phục được xung quanh
Nhưng nhà họa sĩ hình như không dụng công nhiều trong miêu tả Thuý Vân Bútlực của ông chủ yếu khắc họa cho nhân vật Thuý Kiều Tưởng Vân lả một trang quốcsác thiên hương không ai sánh kịp nữa, nào ngờ đâu, sau đó Thuý Kiều xuất hiện thìThuý Vân chỉ làm nền tôn thêm vẻ đẹp của Kiều Bằng cách tạo dựng tinh huống theokiểu đòn bẫy, Nguyền Du chứng tỏ mình là bậc thầy trong việc miêu tả nhân vật ThuýVân đã đẹp đến mức thiên nhiên cũng nhường bước nhưng Kiều còn hơn Thế thì vẻđẹp đó như thế nào? Nhà thơ tiếp tục giới thiệu:
Kiểu càng sác sảo mặn mà,
So bể tài sắc lợi là phẩn hơn.
Làn thu thuỳ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Nếu vẻ đẹp cùa Vân là thuần phác, dịu hiển, đằm thắm, thỉ Kiều hiện lên với sựsắc sảo, mặn mà hiếm có Vẻ đẹp này rất đài các, kiêu sa Nó không thuộc về đời
thường, chỉ để dành chiêm ngưỡng, ngước nhìn mà thôi Khi miêu tả Thuý Kiều, theo
tôi tác giả đã đặc tả đôi mắt Người ta thường nói : đôi mát là cửa sổ của tâm hồn là
vì nói đến đôi mắt là nói đến thế giới quan, nhãn sinh quan của con người Mắt đẹp là
tự thân mang vẻ đẹp cùa tâm hồn Cái thần của bức chân dung Thúy Kiều nằm ở chỗnảy Người đọc truyện Kiều tinh ý sẽ thấy dược, Nguyễn Du không chú ý tả vẻ đẹp
hỉnh thức của Thuý Kiều Ông chỉ dùng hai hỉnh ảnh có giá trị biểu trưng : lản thu
thuỷ, nét xuân sơn Mắt nàng Kiều xanh trong như nước mùa thu, lông màv thanh tú
như nét núi mùa xuân Thế là đủ cho một tuyệt sắc.Trong nhân tướng học Trung Hoa,
phàm ai có đôí mắt vậy thì rất đa đoan và nặng tình Chính “làn thu thủy” ấy đã dựcảm cho số phận nghiệt ngã của nàng Kiều trong suốt 15 năm trời lưu lạc sau này.Mắt đẹp xanh trong như nước hồ thu, lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân.Môi hồng má thắm làm cho hoa ghen nước da trắng xinh làm cho liễu phải "hờn" Vẫnlấy vẻ đẹp thiên nhiên (thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu) làm chuẩn mực cho cái đẹp giainhân, đó là bút pháp ước lệ trong thơ cổ Tuy nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tài hoaquá, nét vẽ nào cũng có thần rất đẹp, một vẻ đẹp nhân văn
Trang 21Kiều "thông minh vốn sẵn tính trời" nghĩa là thông minh bẩm sinh, cho nên cácmôn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm chỉ là các thú tao nhã nhưng nàng rất sành điệu,điêu luyện: "lầu bậc", "ăn đứt" hơn hẳn thiên hạ:
"Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trưong."
Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức "lầu bậc" Cây đàn mà nàng chơi là cây đàn
hồ cầm; tiếng đàn cùa nàng thật hay "ăn đứt "bất cứ nghệ sĩ nào Kiều còn biết sángtác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một "thiên bạc mệnh "nghe buồn thê
thiết "não nhân", làm cho lòng người sầu não, đau khổ Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà,
phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, họa hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân - tạo nên một hệ thống ngôn ngữ
cực tả tài sắc và hé lộ dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:
"Một vừa hai phải ai ơi!
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen."
Bốn câu cuối đoạn nói về đức hạnh hai ả tố nga: Tuy là khách hồng quần đẹpthế, tài thế, lại "phong lưu rất mực", đã tới tuần "cập kê "nhưng " hai ả tố nga" đã vàđang sống một cuộc đời nền nếp, gia giáo:
"Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai."
Câu thơ "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" là một câu thơ độc đáo về thanhđiệu, về sử dụng phụ âm "x" (xuân xanh xấp xỉ), phụ âm "t" (tới tuần), phụ âm"c-k"(cập kê) tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui.,êm ấm của thiếu
nữ phòng khuê
Đoạn thơ nói về Chị em Thúy Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹpnhất trong Truyện Kiều được nhiều người yêu thích và thuộc Ngôn ngữ thơ tinhluyện, giàu cảm xúc Nét vẽ hàm súc, gợi cảm, nét vẽ nào cũng có thần Các bịên pháp
tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được thi hào vận dụng thần tình tạo nên những vần thơước lệ mà trữ tình, đầy chất thơ Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấmlòng quý mến trân trọng Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du
mà ta cảm nhận được
CẢNH NGÀY XUÂN Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
I Tìm hiểu chung:
1 Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu “Truyện Kiều” Sau khi giới
thiệu gia cảnh và tài sắc chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du trình bày bối cảnh Thúy Kiềugặp nấm mồ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng Đó là cảnh ngày xuân trong tiết Thanh
minh,chị em Kiều đi chơi xuân Cảnh ngày xuân cứ hiện dần ra theo trình tự cuộc “bộ
hành chơi xuân” của chị em Thúy Kiều.
2 Bố cục đoạn trích:
Trang 22- Bốn câu đầu: Khung cảnh mùa xuân
- Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh
- Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về
II Đọc – hiểu văn bản:
1 Khung cảnh mùa xuân:
- Hai câu thơ đầu vừa gợi tả thời gian, vừa gợi tả không gian mùa xuân:
+ Câu thơ thứ nhất “Ngày xuân con én đưa thoi” vừa tả không gian: ngày xuân,
chim én bay đi bay lại,chao liệng như thoi đưa; vừa gợi thời gian: ngày xuân trôinhanh quá, tựa như những cánh én vụt bay trên bầu trời
+ Câu thơ thứ hai “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” vừa gợi thời gian:
chín chục ngày xuân mà nay đã ngoài sáu mươi ngày (tức là đã qua tháng giêng, thánghai và đã bước sang tháng ba); vừa gợi không gian: ngày xuân với ánh sáng đẹp, tronglành (thiều quang)
- Hai câu thơ sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân với hai sắc màu xanh vàtrắng:
+ Chữ “tận” mở ra một không gian bát ngát, thảm cỏ non trải rộng đến tận chân
trời làm nền cho bức tranh xuân
+ Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Không giannhư thoáng đạt hơn, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết hơn Chỉ bằng một từ "điểm",nhà thơ đã tạo nên 1 bức tranh sinh động hơn, cảnh vật có hồn hơn, chứ không tĩnh tại,chết đứng.Cách thay đổi trật tự từ trong câu thơ làm cho màu trắng hoa lê càng thêmsống động và nổi bật trên cái nền màu xanh bất tận của đất trời cuối xuân
=> Mùa xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòatới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi,
tràn trề sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa).
=> Bằng một vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã phác họa nên 1 bức tranh xuânsinh động, tươi tắn và hấp dẫn lòng người
2 Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:
- Trong tiết Thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: đi tảo mộ ( lễ) và
đi chơi xuân ở chốn đồng quê (hội)
- Tác giả sử dụng một loạt các từ hai âm tiết ( cả từ ghép và từ láy) để gợi lênkhông khí lễ hội thật tưng bừng, rộn rã:
+ Các danh từ: “yến anh”,”chị em”,”tài tử”,”giai nhân”,”ngựa xe”,”áo
quần”… -> Gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến hội.
+ Các động từ: “sắm sửa”,”dập dìu”,… -> Gợi tả sự rộn ràng, náo nhiệt của
ngày hội
+ Các tính từ: “gần xa”,”nô nức”… -> Tâm trạng của người đi hội.
- Cách nói ẩn dụ: “Gần xa nô nức yến anh” gợi lên hình ảnh những nam thanh
nữ tú, những tài tử giai nhân, từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én,chim oanh bay ríu rít
- Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã gợi lên một tập tục,một nét đẹp truyền thống của văn hóa lễ hội xa xưa Các trang tài tử giai nhân vuixuân mở hội nhưng không quên những người đã mất:
Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
c Cảnh chị em Kiều du xuân trở về:
Trang 23- Cuộc vui rồi cũng đến hồi kết thúc Sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Thúy Kiều
ra về khi trời đã xế chiều và hội đã tan
- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, mộtnhịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng vềtây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh Tuy nhiên, không khí nhộn nhịp,rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lặng dần
- Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,”nao nao”… không chỉ biểu đạt sắc thái
cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về
một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện “Nao
nao dòng nước uốn quanh” báo trước ngay sau lúc này, Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm
Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng
IV Luyện tập:
Câu hỏi : Phân tích, so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc:
“Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa” ( Cỏ thơm liền với trời xanh –
Trên cành lê có mấy bông hoa) với cảnh mùa xuân trong câu thơ Kiều của Nguyễn
Du: “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
Tham khảo câu trả lời sau:
Với bút pháp gợi tả, câu thơ cổ Trung Quốc đã vẽ lên được vẻ đẹp riêng của mùa
xuân, có hương vị, màu sắc, đường nét Đó là hương thơm của cỏ non (phương thảo).
Đó là màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cả chân trời, mặt đất
đều “một màu xanh xanh” (liên thiên bích) Đó còn là đường nét của cành lê thanh nhẹ điểm vài bông hoa (sổ điểm hoa) Cảnh đẹp mà dường như tĩnh tại.
Hai câu thơ trong “Truyện Kiều”: “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng
điểm một vài bông hoa” là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân Gam màu làm nền cho bức
tranh xuân là thảm cỏ non trải rộng tới chân trời Trên nền màu xanh non ấy điểmxuyết một vài bông hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm một vàibông hoa mà không nói tới màu sắc của hoa lê Nguyễn Du chỉ thêm một
chữ “trắng” cho cành lê mà bức tranh mùa xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn
Du, chữ “trắng” trở thành điểm nhấn, làm nổi bật thần sắc của hoa lê Mùa xuân của
cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu Tất
cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một
vài bông hoa)
BÀI THAM KHẢO 1
Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trước mắt chúng ta Có phải không, saubức chân dung giai nhân là bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết Thanh minh vàcảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thúy Kiều? Đoạn thơ Cảnh ngày xuângồm có 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều tiêu biểu cho bút pháp nghệthuật tả cảnh và tả tình của thi hào Nguyễn Du Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui
Trang 24xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạnthơ này.
Bốn câu thơ đầu, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình,nên thơ Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua hay lại như "đưathoi" Cánh én mùa xuân thân mật biết hao Hai chữ ''đưa thoi" rất gợi hình, gợi cảm.Cánh én như con thoi vút qua, vút lại, chao liệng; thời gian đang trôi nhanh, mùa xuânđang trôi nhanh Câu thành ngữ - tục ngữ: "Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như ngựachạy, như nước chảy qua cầu" đã nhập vào hồn thơ Tố Như tự bao giờ ?
Sau cánh én "đưa thoi" là ánh xuân, là "thiều quang” của mùa xuân khi "chínchục đã ngoài sáu mươi" Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi
sĩ xưa nay thật là hay và ý vị Nào là "xuân hướng lão" (ức Trai), nào cảnh mưa bụi,tiếng chim kêu trong Đường thi Nào là cánh bướm rối rít bay trong thư Trần NhânTông Còn là "xuân hồng" (Xuân Diệu), "mùa xuân chín" (Hàn Mặc Tử), v.v VớiNguyễn Du là mùa xuân đã bước sang tháng ba, "Thiều quang chín chục đã ngoài sáumươi" Hai chữ "thiều quang" gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khíxuân, cái mênh mông bao la của đất trời "Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên"(Nguyên tiêu - Hồ Chí Minh)
Còn là sắc "xanh" mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng như tấmthảm "tận chân trời" Là sắc "trắng" tinh khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác, chỉmới hé lộ, khoe sắc khoe hương "một vài bông hoa":
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Vần cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: "Phương thảoliên thiên bích , Lê chi sổ điểm hoa” Hai chữ "trắng điểm" là nhãn tự, cách chấm pháđiểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏhoa; hút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền xanh của cỏ non là một vàibông lê "trắng điểm" Giữa diện và điểm, giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùaxuân là những cánh én ''đưa thoi", là màu hồng của ánh thiều quang, là "khát vọng mùaxuân" ngây ngất, say đắm lòng người:
Nhìn hoa đang hé tưng bừng, Khao khát mùa xuân yên vui lụi đến.
(Ca khúc Khát Vọng mùa xuân Mô-da)
Cảnh mùa xuân là bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du đểlại cho đời, điểm tô cho cuộc sống mỗi chúng ta Phải chăng, thi sĩ Chế Lan Viên đãhọc tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân đẹp này:
Tháng giêng hai xanh mướt cỏ đồi, Tháng giêng hai vút trời bay cánh én
(Ý nghĩ mùa xuân)
Tám câu thơ tiếp theo là cảnh trẩy hội mùa xuân: "Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"trong tiết tháng ba Điệp ngữ: "lễ là hội là " gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứliên tiếp diễn ra đã bao đời nay: "Tháng giêng là tháng ăn chơi - Tháng hai cờ bạc,tháng ba hội hè"(Ca dao) Cảnh trẩy hội đông vui, lưng bừng, náo nhiệt Trên các nẻođường "gần xa" những dòng người cuồn cuộn trẩy hội Có biết bao "yến anh" trẩy hộitrong niềm vui "nô nức", hồ hởi, giục giã Có biết bao tài tử, giai nhân "dập dìu" vaisánh vai, chân nối chân nhịp bước Dòng người trẩy hội tấp nập ngựa xe cuồn cuộn
"như nước", áo quần đẹp đẽ, tươi thắm sắc màu, nghìn nghịt, đông vui trên các nẻođường "như nêm" Các từ ngữ: "nô nức", "dập dìu", các ẩn dụ so sánh (như nước, như
Trang 25nêm) đã gợi tả lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt đang diễn ra khắp mọi miền quêđất nước Trẻ trung và xinh đẹp, sang trọng và phong lưu:
Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Trong đám tài tử, giai nhân "gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều Câu thơ "Chị em sắmsửa bộ hành chơi xuân" mới đọc qua tưởng như chỉ là một thông báo Nhưng sâu xahơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm: chờ trông mong đợi, ngày lễ tảo mộ, ngày hội đạp thanhđến để du xuân trong những bộ quần áo đẹp đã chuẩn bị, đã "sắm sửa" Có biết bao
"bóng hồng" xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy? Ai đã từng đi hội chùa Hương,hội Lim, hội Yên Tử mới cảm thấy cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng, tươi trẻ trong hộiđạp thanh mà Nguyễn Du đã nói đến
Thơ là nghệ thuật của ngôn từ Các từ ghép: "yến/anh", "chị/em", "tài / tử",
"giai / nhân", "ngựa / xe", "áo /quần" (danh từ); "gần / xa" , "nô / nức", 'sắm /sửa",
"dập / dìu" (tính từ, động từ) được thi hào sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống lại cáikhông khí lễ hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của phương Đông,của Trung Hoa, của Việt Nam chúng ta, và nếp sống "phong lưu" của chị em Kiều
Ngổn ngang /gò đông kéo lên, Thoi vàng vó rắc/tro tiền giấy bay.
Đời sống lâm linh, phong lục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn
Du nói đến với nhiều cảm thông, san sẻ Cõi âm và cõi dương, người đang sống và kẻ
đã khuất, hiện tại và quá khứ đồng hiện trên những gò đống "ngổn ngang" trong lễ tảo
mộ Cái tâm thánh thiện, niềm tin phác thực dân gian đầy ắp nghĩa tình Các tài tử, giainhân, và 3 chị em Kiều không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắmbao niềm tin, bao ao ước về tương lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân về Cóthể sau hai trăm năm, ý nghĩ của mỗi chúng ta có ít nhiều đổi thay trước cảnh "Thoivàng vó rắc, tro tiền giấy bay", nhưng giá trị nhân bản của vần thơ Nguyễn Du vẫn làm
ta xúc động!
Sáu câu thơ cuối đoạn ghi lại cảnh chị em Kiều đi tảo mộ đang dần bước trở vềnhà Mặt trời đã "tà tà" gác núi Ngày hội, ngày vui đã trôi qua nhanh:
Tà tà, bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tuy ra về.
Hội tan sao chẳng buồn? Ngày tàn sao chẳng buồn? Nhịp thơ chậm rãi Nhịpsống như ngừng trôi Tâm tình thì "thơ thẩn", cử chỉ thì "dan tay", nhịp chân thì "bướcdần" Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: "lần xem” đối với mọi cảnh vật Tất cả đềunhỏ bé Khe suối chỉ là "ngọn tiểu khê" Phong cảnh "thanh thanh" Dòng nước thì
"nao nao" uốn quanh Dịp cầu thì "nho nhỏ" bắc ngang ở cuối ghềnh Cả một khônggian êm đềm, vắng lặng Tâm tình của chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương.Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đốn, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ "lần xem" gần xa:
Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Các từ láy tượng hình: "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" gợi lên sự nhạt nhòacủa cảnh vật và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn Nỗi niềmman mác bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn của giai nhân đa tình, đa cảm.Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng rấtsống động, gần gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào Không còn xa lạnữa, vì ngọn tiểu khê ấy, nhịp cầu nho nhỏ ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hươngđất nước mình Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất lànhững vần thơ lả cảnh ngụ tình tuyệt tác
Trang 26Thi sĩ Xuân Diệu từng viết: "Hỡi xuân hồng, ta muôn cắn vào ngươi" Trong
“Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng không nén nổi cảm xúc của mình mà phải thốt lên:
"Mùa xuân của tôi Cái mùa xuân thần thánh của tôi Đẹp quá đi, mùa xuân ơi, mùa
xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến" Và chúng ta muốn nói thêm:
Đẹp quá đi mùa xuân của đất nước thân yêu! Vui quá đi, trẻ đẹp quá đi cảnh mùaxuân, cảnh trẩy hội xuân trong Truyện Kiều Mùa xuân đem đến cho ta bao ước vọng,sắc xuân, tình xuân như nở hoa, ướp hương trong lòng ta
BÀI THAM KHẢO 2
Một cuộc du xuân – đây là sự kiện mở màn cho cuộc đời thiếu nữ phong lưu vàxuân sắc của Thúy Kiều Cuộc du xuân mở đầu cho phần thứ nhất trong hệ thống babiến cố thông thường của cốt truyện cổ điển: “Gặp gỡ – Tai biến – Đòan tụ” Chúng ta
sẽ bắt gặp ở đoạn thơ này một bức tranh thiên nhiên sáng tươi xinh đẹp và hội đạpthanh tưng bừng náo nhiệt Nhưng cũng chính ở phần “Gặp gỡ” mà thông thường sẽchưa có bóng dáng của tai họa – lại đã xuất hiện một nấm mồ, một cuộc đời và một nétcảm xưa có màu sắc bi kịch về số phận của hồng nhan
Một bức tranh thiên nhiên và một khung cảnh lễ hội
Mặc đầu câu thơ thứ hai trong đoạn có thể đưa đến một liên tưởng, một ấn tượngnào đó về thời gian tuổi thọ nhưng chủ yếu toàn bộ sáu câu thơ đầu tiên là một bứctranh thiên nhiên rực rỡ ánh sáng và màu sắc trong trẻo của bầu trời “thanh minh”, củahình ảnh đàn chim én bay qua bay lại linh hoạt, nhịp nhàng, của nội cỏ mênh môngmột màu tươi sáng pha hòa giữa màu xanh lá cây và màu xanh cỏ non và của một cành
lê thanh tú “trắng điểm một vài bông hoa”…
Con người trong tiết thanh minh đi sửa sang phần mộ và tìm đến những bónghình của quá khứ – đó là lễ nghi truyền thống Nguyễn Du đã chứng tỏ tài nâng bậcthầy về ngôn ngữ ngay ở câu thơ tự sự ngắn gọn về một sinh hoạt thông thường: Lễ làtảo mộ, hội là đạp thanh Nghi lễ vào hội hè có thể có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ,nhưng đó vẫn là hai hình thức sinh hoạt văn hóa có khác biệt: Hội đạp thanh là cuộcvui chơi trên dặm cỏ xanh của lứa tuổi xuân xanh… Hội đạp thanh là một cuộc sốnghiện tại và có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau… Trong tiết thanh minh, cóhồi ức và tưởng niệm quá khứ( lễ là tảo mộ) nhưng cũng có khát khao và hoài vọngnhìn về phía trước của cuộc đời (“hội là đạp thanh”)
Sau câu thơ mở đầu là một bức tranh “đượm vẻ thiên nhiên” diễm lệ và tươisáng, vẫn chỉ là ngòi bút phác họa, chấm phá nhưng chủ yếu nhà thơ đã sử dụng từ ngữdân tộc (trong đó có những câu thơ có thể gọi là “thuần Nôm”), đã lựa chọn nhữngđường nét, những hình ảnh, những màu sắc đưa vào một tổng thể cấu trúc hội họa hàihòa giữa bức phông màu thiên thanh và những cánh chim én đậm màu sắc, sắc nét,giữa cành lê trong trắng trên nền cỏ mùa xuân tươi xinh
Tiếp theo hình tượng thiên nhiên là ngôn ngữ tự sự về cảnh lễ hội Một hệ thốngdanh từ và động từ kép: gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân… nô nức, sắm sửa,dập dìu, ngổn ngang biểu hiện những hoạt động nhộn nhịp, náo nhiệt, tươi vui của mọi
Trang 27người và đây lại là một dòng những con người trẻ tuổi “nam thanh nữ tú” với ngựa xe,trang phục đông đúc, chen chúc… Lễ viếng thăm phần mộ tưng bừng, náo nhiệt, xen
kẽ ngày hội ngộ của tuổi thanh xuân đã hoàn chỉnh bức tranh mùa xuân khi cỏ cây hoa
lá vẫn đang độ tươi xanh rực rỡ, khi không trung và ánh sáng đã trở nên trong trẻo và
ấm áp hơn
Dường như ánh sáng mùa xuân, niềm vui lễ hội đang bao trùm tất cả nhân gian(trong đó có ba chị em họ Vương) Thông qua sinh hoạt du xuân của chị em ThúyKiều, Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa và mộtcung cách sống của gia đình viên ngoại họ Vựơng
2.Một nấm mồ vô chủ và một kiếp hồng nhan
Thời gian đã chuyển qua, bóng dương chênh chếch xế chiều “Tà tà bóng ngả vềtây” Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật, dường như con người cũngchìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả Trong văn học trung đại, chiều tà thườnggợi” lên ý niệm nhớ nhung, hoài niệm hoặc tàn tạ thê lương Cuộc du xuân ngoạn cảnh
đã xong, đã chấm dứt lễ hội tưng bừng náo nhiệt… Tâm hồn con người dường nhưcũng “chuyển điệu” theo sự thay đổi của thời gian và tàn cuộc thanh minh để mangchút bâng khuâng thơ thẩn trên dặm đường về… Thời gian và tâm trạng đó báo hiệu
sự biến đổi trong không gian, ở dây chỉ có ba hình ảnh để tả phong cảnh: một dòngsuối nhỏ, chiếc cầu nhỏ và một nấm mồ nhỏ… Cũng vẫn chỉ là ngòi bút phác hoạ quasáu câu thơ Đối lập với” cảnh đông đúc ổn ào của lễ hội ở trên là một không gian côtịch với dòng suối nhỏ uốn khúc ,nao nao” nhẹ nhàng, dòng suối bé nhỏ tội nghiệp đếnmức chỉ cần một “nhịp cầu nho nhỏ” bắc ngang là đủ để con người đi qua… Miêu tảdòng suối hay là miêu tả nỗi niềm nao nao xao động của lòng người ? Giữa cảnh vật
và lòng người dường như không có đường viền… Cũng như vậy, Nguyễn Du dùngnhững trạng từ kép: “sè sè, ràu ràu…” nấm đất thấp bé gợi hình ảnh một số phận nhỏnhoi Và riêng ngọn cỏ ở đây không hề mang một màu “xanh tận chân trời” như trên,
mà lại chen màu vàng úa và “ràu ràu” héo hon, ủ rũ… Những từ ngữ “thanh thanh, naonao…” biểu đạt sắc thái cảnh vật nhưng đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng của conngười
Một khung cảnh hoàng hôn báo hiệu ngày tàn đối lập với thiên nhiên trong tiếtthanh minh tươi sáng, một nấm mồ cô quạnh thê lương đối lập với lễ tảo mộ đông đúcnáo nhiệt… Một bức tranh đối lập khiến con người đa cảm phải thốt lên một câu hỏingạc nhiên (Rằng: “Sao trong tiết thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế này)Khung cảnh hoang vắng thê lương ấy minh chứng một câu chuyện thương tâm về mộtcon người, một cuộc đời và một kết thúc đã bị cuộc đời lãng quên…
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH (Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
I Tìm hiểu chung:
1 Vị trí đoạn trích:
Trang 28- Nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc” Sau khi biết mình bị lừa vào chốn
lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn Tứ Bà sợ mất vốn, bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ
Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục,sẽ gả cho người tử tế; rồiđưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới Sau đoạn này làviệc Kiều bị Sở Khanh lừa và phải chấp nhận làm gái lầu xanh Đoạn trích nằm giữahai biến cố đau xót Đây là những biến cố giúp ta hiểu những bàng hoàng tê tái và sự
lo âu về tương lại của nàng Kiều
2 Bố cục đoạn trích:
- Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều
- Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều
- Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật
II Đọc – hiểu văn bản:
1 Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều.
- Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian,thời gian
- Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:
+ Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên
điều đó
+ Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:
_ Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt
_ Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần” -> Thời gian chiều tối, gợi buồn _ Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối
tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm
=>Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát” -> gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người Đối
diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn
- Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
+ Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya” Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”.
+ Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của
Kiều
=> Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình.Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi
2 Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.
*Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiềuchuyển từ buồn sang nhớ Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ Nỗi nhớ ấy được Nguyễn
Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật
- Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải
hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh
thành” cho cha mẹ Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều
nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.
+ Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh
trăng Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.“Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng
tượng ra người mình yêu
Trang 29+ Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về
mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai
chờ”.
+ Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”:
_ Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng
sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời._ Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bịnhững kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố,biết bao giờ mới gột rửađược?
-> Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm
- Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ:
+ Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:
_ Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm,lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần
_ Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổithay
_ Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bêncạnh để phụng dưỡng
-> Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”,
“cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai,gốc Tử”để nói lên tâm trạng
nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ
=> Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt quanhững định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu
Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưngnàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ.Qua đó chứng tỏ Kiều làcon người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng
3 Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.
- Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành
điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều Cảnh vật thiênnhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:
+ Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trìnhlưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ
+ Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏngmanh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu
+ Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương,
vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ
+ Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu
quanh ghế ngồi”gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông
bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều
=> Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa
xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn
nhiều bề trong tâm trạng Kiều Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh Cảnh đượcmiêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn
từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểmcủa cảm xúc trong lòng Kiều Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi,
bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng,yếu đuối nhất,
vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục
Trang 30BÀI THAM KHẢO 1
Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi làchuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tảcảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng Trong quan niệm của ông, hai yếu tốtình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động Bằngbút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một cách xuấtsắc Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi,
là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ
Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí: Phần đầu tác giả giớithiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn buồntủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều vànhững dự cảm về những bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều
Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao la đến rợnngợp Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên làvầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vôtận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi củanàng lúc này:
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắtKiều Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: vừa chánngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm, đènkhuya Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: nửa tình nửa cảnh như chiatấm lòng Bức tranh thiên nhiên không khách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranhtâm cảnh của Kiều những ngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích
Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về vớinhững người thân của mình Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du miêu tảrất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật Nỗi nhớ thương đượcchia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ Nhưng nỗinhớ với chàng Kim được nói đến trước vì đây là nồi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất.Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên
từ đó:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Trang 31Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.
Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảymáu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kimđang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng Mới ngày nàonàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻphụ bạc, lỗi hẹn với chàng Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằngvặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗingả Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ vơ của mình và tựdằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Kiều nuối tiếc mối tình đầu trong trắng củamình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽkhông bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàngKim Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiềutrong suốt mười lăm năm lưu lạc
Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ Mặc dầu nàng đã liều đem tấc
có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù tội, nhưng nghĩ về cha
mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnhcha mẹ già tựa cửa trông con Nàng lo lắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là ngườichăm sóc cha mẹ Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựacửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặngcũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phậnlàm con của mình Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâm trạng đó càngchứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo
Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuổì cùng nàng Kiều lại quay về với cảnhngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại của chính mình Mỗi cảnh vậtqua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm trí nàng một nét buồn Và nàngKiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình Nỗi buồn sâu sắc của Kiềuđược ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệpngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Mỗi cảnh vật hiện ra quacon mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc Mỗi cặp câu gợi ramột nỗi buồn Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóngmột cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại Hình như Kiều mong cánhbuồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng,xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ,mỗi lúc mỗi xa Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xôđẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của mình Rồi màu xanhxanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh mang trong khônggian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành một nỗi kinh hoàng khi ầm ầmtiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy nhưsóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực
Trang 32Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình kết hợp với nghệ thuật điệpngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng với việc sử dụngnhiều từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đãkhắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ởlầu Ngưng Bích.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng làmột bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo Thiên nhiên ở đây liên tụcthay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Duđều phản ánh một mức độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều Qua đó, cho thấyNguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấmlòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tàisắc mà bạc mệnh
BÀI THAM KHẢO 2
Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng khẳng định: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,tiếng ta còn, nước ta còn”, còn nhà thơ Chế Lan Viên lắng sâu và tinh tế khi cất lên lờithơ: “Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn” Bao thế kỉ qua, Truyện Kiều đãtrở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với mỗi người dân Việt Nam Những trangthơ có sức cuốn hút diệu kì, vương vấn mãi tâm hồn ta, mang đến cho ta niềm cảmthương sâu sắc với “tấm gương oan khổ” Thúy Kiều, đem lại cho ta những khoái cảmthẩm mĩ đặc biệt trước những lời thơ như hoa, như gấm:
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Tám câu thơ trích trong đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích Đây là những vần thơ cósức ám ảnh nhất của đoạn trích, diễn tả thành công “nỗi lòng tê tái” của Kiều trongnhững ngày đầu tiên của kiếp đoạn trường
Hai tiếng “buồn trông” được lặp lại bốn lần trong đoạn trích, vừa như gói trọntâm thế của Kiều “trước lầu Ngưng Bích”, vừa tạo nhịp điệu đều đều, buồn thương chođoạn thơ Ở nơi “khoá xuân”, Kiều chỉ biết lấy thiên nhiên làm điểm tựa, và từ điểmtựa đó nàng nhận thức về số kiếp của mình Tầm nhìn của nàng trước hết hướng ra xa,
vì nơi xa đó là nhà nàng, là nơi có những người thân yêu nhất:
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Không gian xa rộng, quạnh hiu nơi cửa bể như càng làm nổi rõ hơn thân phậnnhỏ bé, cô đơn của Kiều Không gian ấy cộng hưởng cùng thời gian “chiều hôm” -thời khắc gợi nhớ, gợi buồn - khiến như thấm sâu hơn vào tâm hồn người con gái nơi
xứ lạ nỗi niềm xót xa Giữa khung cảnh ấy, trái tim cô đơn, tâm hồn trống vắng cầnlắm một hơi ấm, một sự hiện diện của sự sống:
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?
“Thuyền” chính là hình ảnh biểu tượng cho sự sống con người Nhưng đó là sựhiện hữu mờ mờ, như có như không, được diễn tả qua hai từ “thấp thoáng”, “xa xa”
Sự xuất hiện mờ ảo của cánh buồm không làm cho khung cảnh thêm thân mật, ấm áp
Trang 33mà càng gợi sầu, gợi cảm giác cô liêu cho con người Không tìm thấy sự sẻ chia từ nơicửa biển xa xăm, Kiều hướng tầm mắt về “ngọn nước” gần mình hơn:
Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Giữa dòng nước, cánh hoa trôi man mác như gợi nhắc thân phận cảnh bèo trôi dạtcủa người trong cảnh Câu hỏi tu từ như xoáy vào tâm hồn người đọc Thân phận cánhhoa hay chính là những trăn trở, xót xa cho số kiếp mỏng manh, phiêu bạt của Kiều?Hai tiếng “về đâu” cuối câu thơ với thanh không càng tạo cảm giác xa vắng, vô định,như tương hợp với tâm thế hiện thời của Kiều Tìm đến với thiên nhiên đó mong saovơi bớt mối sầu chất chứa trong lòng nhưng càng nhìn cảnh, tâm trạng lại càng rối bời.Dường như nước gợi lên sự lạnh lẽo, bất định, chảy trôi nên Kiều tìm về với bờ cỏxanh, với mặt đất:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Nhưng cỏ cũng mang tâm trạng buồn thương của người: “rầu rầu” Đâu còn là
“cỏ non” xanh tận chân trời trong tiết thanh minh khi Kiều còn sống những ngày tháng
“Êm đềm trướng rủ màn che” Cảnh nơi xứ lạ như thấu cảm nỗi niềm của Kiều nênnhuốm màu tâm tư của kiếp người phiêu bạt Nỗi “rầu rầu” ấy tràn ngập, lan toả khắpkhông gian
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Cái nhìn bao quát từ “chân mây” xa xăm đến “mặt đất” gần gũi, tất cả đều “mộtmàu xanh xanh” Nó khác lắm cái sắc xanh tràn ngập nhựa sống của tiết trời mùaxuân:Cỏ non xanh tận chân trời và cũng không giống màu áo xanh tinh khôi của chàngKim trong ngày đầu gặp gỡ:
Tuyết in sắt ngựa câu giòn.
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Màu xanh của không gian nơi lầu Ngưng Bích là màu xanh gợi buồn Nỗi buồncủa người pha vào cảnh vật, mang theo bao tái tê Không gian trở nên rợn ngợp, côliêu Sự vắng lặng bao trùm cảnh vật càng tô đậm tiếng lòng thổn thức của người trongcảnh Kiều cảm thấy cần một tiếng vọng của sự sống con người nhưng đáp lại nàng chỉ
có những thanh âm hào hùng của thiên nhiên:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Gió thổi, nước trôi tất cả đều gợi sự chảy trôi, như thân phận “Bên trời góc bể
bơ vơ” của nàng Kiều Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm như tiếng gào thét của lòngngười trong cảnh ngộ bẽ bàng, tê tái Tầm nhìn của Kiều hướng từ xa về gần, từ caođến thấp, mong mỏi kiếm tìm một sự đáp vọng Thanh âm duy nhất đáp lại nàng làtiếng sóng "ầm ầm” “kêu quanh ghế ngồi” Nó không làm cho không gian vang độnghơn mà càng khắc sâu thêm tâm trạng đau đớn lẫn dự cảm lo âu về tương lai của Kiều.Xót xa biết bao, đớn đau biết bao! Chỉ có thiên nhiên bên nàng, sẻ chia “tấm lòng’' vớinàng Đó chính là thời khắc Kiều thấm thía nhất nỗi niềm tự thương thân
Thơ ca chỉ tìm được bến neo đậu nơi lòng người khi đó là tiếng lòng tha thiết,được tạo tác bởi tài năng nghệ thuật chân chính Đoạn thơ này của Nguyễn Du đã làmđược điều đó Nó không chỉ khắc họa thành công nỗi lòng xót xa, tâm trạng bẽ bàngcủa Kiều mà còn cho ta thấy nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy của đại thi hào dântộc Âm hưởng cùa những câu thơ này đã, đang và sẽ vang đọng mãi trong tâm tríngười đọc
Trang 34LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA Trích “Truyện Lục Vân Tiên” – Nguyễn Đình Chiều
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
a Cuộc đời:
- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu
- Quê cha ở ThừaThiên – Huế, ông được sinh tại quê mẹ ở Gia Định
- Cuộc đời Nguyễn Ðình Chiểu gặp nhiều khổ đau, bất hạnh:
+ Ngay từ nhỏ, Nguyễn Ðình Chiểu đã theo cha chạy giặc Từ một cậu ấm conquan, bỗng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn, trả thù,chém giết
+ Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường Gia Định.Năm 1846, ông raHuế học, chuẩn bị thi tiếp tại quê cha, nhưng lúc sắp vào trường thi thì nhận được tin
mẹ mất, phải bỏ thi trở về Nam chịu tang mẹ (1849) Dọc đường về, Nguyễn ĐìnhChiểu bị đau mắt nặng rồi bị mù Ông bị người yêu bội ước, công danh dang dở
- Không khuất phục trước số phận oan nghiệt, Nguyễn Đình Chiểu đã ngẩng caođầu sống một cuộc sống có ích: mở trường dạy học, bốc thuốc chữ bệnh cho dân, vàtiếng thơ Đồ Chiểu cũng bắt đầu vang khắp miền Lục tỉnh:
+ Là một thầy giáo, ông đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, được nhiều thế hệhọc trò kính yêu
+ Là thầy thuốc, ông xem trọng y đức, lấy việc cứu người làm trọng
+ Là nhà thơ, Nguyễn Đình Chiểu quan tâm đến việc dùng văn chương để hướngcon người đến cái thiện, đến một lối sống cao đẹp, đúng đạo lí làm người Khi quêhương bị thực dân Pháp xâm lược, ông dùng thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấucủa nhân dân
- Nguyễn Đình Chiểu còn là tấm gương sáng ngời lòng yêu nước và tinh thần bấtkhuất chống ngoại xâm:
+ Ông là lá cờ đầu trong nền thơ ca yêu nước chống Pháp (Lên lớp 11, các em sẽđược học hai tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu viết về nội dung yêu nước
Đó là “Chạy giặc” và “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”).
+ Ngay từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược Nam Bộ (1858),Nguyễn ĐìnhChiểu đã nêu cao tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm; kiên quyết giữ vững lậptrường kháng chiến; cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc chống giặc và sáng tácthơ văn để khích lệ tinh thần chiến đầu của các nghĩa sĩ Thơ văn của Nguyễn ĐìnhChiểu có tác động tích cực đối với cuộc chiến đấu của nhân ta đương thời Bởi vậy, mà
ông được mệnh danh là “Thư sinh giết giặc bằng ngòi bút” (ý thơ Tùng Thiện
Vương)
+ Khi triều đình nhà Nguyễn bại nhược, bất lực đến mức phải dâng cả Nam Kìlục tỉnh cho giặc Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu cao khí tiết, giữ gìn lối sống trongsạch, cao cả, từ chối mọi cám dỗ của thực dân, không chịu hợp tác với kẻ thù
b Sự nghiệp văn chương:
- Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc Ông đã để lại nhiều ángvăn chương có giá trị nhằm:
Trang 35+ Truyền bá đạo lí làm người như “Truyện Lục Vân Tiên”, “Dương Từ - Hà
Mậu” …
+ Cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước như “Chạy giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc”,“Thơ điếu Trương Định”…
*Trong một bàiviết của mình, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những lời sosánh, ví von diệu vợi để tưởng nhớ tới nhà thơ, người chiến sĩ yêu nước đầy tự hào củadân tộc ta ở thế kỷ 19 – Nguyễn Đình Chiểu:
“Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, thoạt nhìn thì chưa thấy sáng, song càng nhìn thì càng thấy sáng Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ yêu nước vĩ đại của nhân dân Nam Bộ thế kỉ XIX là một trong những ngôi sao như thế!”
* “Một con người tật nguyền như vậy, nếu chỉ sống bình thường, trong sạch
cũng là quý, không ai nỡ đòi hỏi phải gánh vác việc đời Ấy mà cụ đã sống và đã làm việc với ba cương vị trí thức, luôn luôn có mặt ở phía trước, luôn luôn gương mẫu, cống hiến không kể mình, và như vậy cho đến ngày từ giã cõi đời Còn có tấm gương người mù nào đáng soi hơn cho người có đủ hai mắt”.
2 Tác phẩm:
- “Truyện Lục Vân Tiên” là truyện thơ Nôm, được viết vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX “Truyện Lục Vân Tiên” là sách gối đầu giườngcủa người Nam
Bộ, là tiếng lòng của người miền Nam
- Truyện có kết cấu theo kiểu truyền thống của truyện phương Đông, theochương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời của nhân vật chính
- Nội dung của truyện là truyền dạy đạo lí làm người, cụ thể là:
+ Ca ngợi tình nghĩa giữa con người với con người trong xã hội: tình nghĩa vợchồng, tình cha con, mẹ con, tình cảm bạn bè, lòng yêu thương sẵn sàng cưu mang,đùm bọc những người gặp cơn hoạn nạn
+ Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khốn phò nguy
+ Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹptrong cuộc đời: thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà
- Đoạn trích “LụcVân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của truyện:
Vân Tiên trên đường lên Kinh Đô dự thi, chàng gặp bọn cướp Phong Lai đanghoành hành Chàng đã bẻ cây bên đường làm gậy Xông thẳng vào những kẻ trong tay
có vũ khí Chàng đã đánh tan chúng, cứu được Kiều Nguyệt Nga và cô hầu Kim Liên
II – Đọc hiểu vănbản:
1 Tính chất tự truyện của tác phẩm:
- Tác phẩm có tính chất một thiên tự truyện Đọc tác phẩm, ta thấy có nhiều chitiết trùng hợp giữa cuộc đời tác giả Nguyễn Đình Chiểu và nhân vật Lục Vân Tiên:như việc bỏ thi về chịu tang mẹ, bị mù, bị bội hôn ước, và sau này họ đều có đượccuộc hôn nhân tốt đẹp Lục Vân Tiên là nhân vật tự truyện của Nguyễn Đình Chiểu
- Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không được như Lục Vân Tiên: được gặp tiên ôngcứu cho sáng mắt để sau đó lại tiếp tục đi thi đỗ Trạng nguyên, được vua cử đi dẹpgiặc Ô Qua thắng lợi Những gì chưa làm được trong cuộc đời mình, Nguyễn ĐìnhChiểu gửi gắm vào nhân vật Lục Vân Tiên Cho nên Lục Vân Tiên cũng là nhân vật lítưởng của Đồ Chiểu, là nơi nhà thơ gửi gắm ước mơ và khát vọng của mình
2 Nhân vật LụcVân Tiên:
- Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa theo mô típ quen thuộc của truyện Nômtruyền thống: một chàng trai tài giỏi cứu một cô gái thoát khỏi tình huống hiểm nghèo,rồi từ ân nghĩa đến tình yêu… như chàng Thạch Sang đánh đại bàng, cứu công chúa
Quỳnh Nga (“Thạch Sanh”) Mô-típ này thể hiện niềm mong ước của tác giả và cũng
Trang 36làcủa nhân dân Trong thời buổi nhiễu nhương hỗn loạn này, người ta trông mong ởnhững người tài đức, dám ra tay cứu nạn giúp đời.
a Lục Vân Tiên đánh cướp:
- Lục Vân Tiên là nhân vật lí tưởng của tác phẩm (thể hiện lí tưởng thẩm mĩ củatác giả về con người trong cuộc sống đường thời…) Đây là một chàng trai vừa rờitrường học, bước vào đời lòng đầy hăm hở, muốn lập công danh, thi thố tài năng, cứungười giúp đời Trận đụng độ với bọn cướp Phong Lai hung dữ là thử thách đầu tiên,cũng là cơ hội hành động dành cho chàng
Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: "Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy, Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.
Bốn câu thơ làm hiện lên hình ảnh một chàng trai giàu lòng nghĩa hiệp, giữađường gặp chuyện bất bình thì sẵn sàng xả thân ra tay cứu giúp, không cần phải so đotính toán Vân Tiên chỉ có một mình với tay không đánh giặc, trong khi bọn cướp đông
đảo, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng: “Người đều sợ nó cò tài khôn
đương” Vậy mà chàng không hề run sợ, vẫn “bẻ cây làm gậy” xông vào đánh cướp.
Hành động mau lẹ đến thế phải của một người gan góc, quả cảm, coi việc cứu dân làtrách nhiệm của bản thân
- Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp, thật oai hùng Bọn
cướp “bốn phía bủa vây bịt bùng” nhưng Vân Tiên không chút nao núng:
Vân Tiên tả đột hữu xông, Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
-> Không tả tỉ mỉ trận chiến, chỉ bằng mấy dòng thơ ngắn gọn mà đặc sắc cùngnghệ thuật so sánh, tác giả đã làm nổibật một dũng tướng đánh nhanh, kín võ, sánhngang Triệu Tử Long thời Tam Quốctrong trận phá vòng vây quân Tào bảo vệ ấuchúa Sức mạnh của chàng là kết tinhsức mạnh của nhân dân , của điều thiện nên nó vôđịch:
Lâu la bốn phía vỡ tan, Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
-> Lời thơ chân chất, mộc mạc song hồn thơ thì chan chứa dạt dào Nó nêu bậtmột chân lý: kẻ bất nhân độc ác thì thảm bại, người anh hùng làm việc nghĩa tất yếu sẽchiến thắng Vân Tiên đã chiến thắng bởi sức mạnh của nhân nghĩa, của lẽ phải, sứcmạnh của tình yêu thương và lòng dũng cảm kiên cường Chàng chính là hiện thân củangười anh hùng thượng võ, sẵn sàng cứu khốn phò nguy, dám bênh vực kẻ yếu, tiêudiệt mọi thế lực bạo tàn
b Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga:
- Cách cư xử của Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp bộc lộ
tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài cũng rất từ tâm nhân hậu
- Thấy hai cô gái còn chưa hết sợ hãi, Vân Tiên “động lòng” thương xót, ân cần
hỏi han, an ủi họ:
Vân Tiên nghe nói động lòng
Trang 37Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
- Khi nghe trong kiệu vọng ra tiếng nói muốn được tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đingay:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Câu thơ này vừa chứa đựng sự câu nệ của lễ giáo phong kiến “nam nữ thụ thụ
bất thân”, vừa thể hiện suy nghĩ trong sáng của Vân Tiên: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” Chàng không muốn nhận những cái lạy tạ của hai cô gái và từ chối lời mời về
thăm nhà của Nguyệt Nga Sau đó, chàng không nhận chiếc trâm vàng nàng tặng màchỉ cùng nàng xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vương vấn Dườngnhư đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là bổn phận, là lẽ tự nhiên Con người trọngnghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩahiệp của các bậc anh hùng hảo hán:
Vân Tiên nghe nóiliền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.
=> Với phẩm chất cao đẹp, Lục Vân Tiên đã trở thành một hình tượng lí tưởng để Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm vào đó niềm tin và ước vọng của mình.
2 Nhân vật Kiều Nguyệt Nga: hiện lên qua ngôn ngữ đối thoại với Vân Tiên.
a Phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Kiều Nguyệt Nga được tác giả thể hiện qua lời lẽ chân thành mà nàng giãi bày với Lục Vân Tiên Đó là lời lẽ của một tiểu thu khuê các, thùy mị, nết na và có học thức:
- Cách xưng hô của nàng vừa trân trọng, vừa khiêm nhường:
Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
- Nói năng dịu dàng, mực thước:
+ Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
+ Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
- Trình bày rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cầncủa Lục Vân Tiên, vừa thể hiện niềm cảm kích chân thành đối với ân nhân cứu mạng:
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
….
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”
b Nguyệt Nga là người chịu ơn Lục Vân Tiên không chỉ cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng Đối với người con gái, điều đó còn quý hơn tính mạng:
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy, Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Nàng băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, dù hiểu rằng đền đáp bao nhiêu cũng làkhông đủ:
Gẫm câu báo đức thù công Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng người”.
Trang 38Bởi thế, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với chàng trai khảng khái, hàohiệp và sau này dám liều mình quyên sinh để giữ trọn ân nghĩa thủy chung.
=> Nhân vật Kiều Nguyệt Nga đã chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người luôn đặt ân nghĩa lên hàng đầu, coi ân nghĩa là gốc rễ của đạo đức.
III – Tổng kết:
1 Nghệ thuật:
- Nguyễn Đình Chiểu sáng tác “Truyện Lục Vân Tiên” chủ yếu để kể, truyền
miệng nên nhân vật được miêu tả thiên về lời nói, hành động hơn là ngoại hình, diễnbiến nội tâm, qua đó nhân vật tự bộc lộ tính cách, phẩm chất
- Bên cạnh đó là ngôn ngữ bình dị, mộc mạc gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,đậm màu sắc Nam Bộ Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, ít trau chuốt,uyển chuyểnnhưng lại dễ đi sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân
2 Nội dung:
Đoạn thơ trích thểhiện khát vọng hành động hành đạo giúp đời của tác giả vàkhắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật chính: Lục Vân Tiên tài ba, dũngcảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình chung thủy
Phần văn học hiện đại
ĐỒNG CHÍ Chính Hữu
I – Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Chính Hữu, tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê: Can Lộc, Hà Tĩnh
- 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
- 1947, ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiếntranh với cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô đọng
- 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học –nghệ thuật
- Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966), Ngọn đèn đứng gác….
2 Tác phẩm:
- “Đồng chí” là một trong số những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Chính
Hữu và cũng là của nền thơ kháng chiến
- Bài thơ đã đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ làm đẹp mãi cho một hồn thơchiến sĩ – hồn thơ Chính Hữu
a Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến dịch Việt Bắc
(thu đông 1947 ).Trong chiến dịch này, Chính Hữu là chính trị viên đại đội, ông cónhiều nhiệm vụ nhất là việc chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ.Sau chiến dịch, vì là rất vất vả, nên ông bị ốm nặng, phải nằm lại điều trị Đơn vị đã
cử một đồng chí ở lại để chăm sóc cho Chính Hữu và người đồng đội ấy rất tận tâmgiúp ông vượt qua những khó khăn, ngặt nghèo của bệnh tật Cảm động trước tấm lòng
của người bạn, ông đã viết bài thơ “Đồng chí” như một lời cảm ơn chân thành nhất
gửi tới người đồng đội, người bạn nông dân của mình
Trang 39- Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966) – tập thơ phần lớn viết
về người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
b Bố cục: 3 phần.
+ Bảy câu thơ đầu: Cơ sở hình thành tình đồng chí
+ Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
+ Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộcđời người chiến sĩ
c Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng chí cao cả, thiêng liêng của các anh bộ
đội Cụ Hồ -những người nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu củacuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
II – Đọc – hiểu văn bản:
* Câu hỏi 2, sgk, trang 130:
Sáu dòng đầu bài thơ đã nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những ngườilính cách mạng Cơ sở ấy là:
+ Cùng chung cảnh ngộ
+ Cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu
+ Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn
1 Cơ sở hình thành tình đồng chí:
a Hai câu đầu:
- Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên haigương mặt người chiến sĩ Họ như đang tâm sự cùng nhau Giọng điệu tự nhiên, mộc
mạc, đầy thân tình “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “nước mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất
cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du.
- Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốnthân yêu của những người chiến sĩ Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chânquê, dân dã đúng như con người vậy – những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lầnđầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính
là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí
b 5 câu thơ tiếp: Nói về quá trình hình thành tình đồng chí: Xa lạ -> Cùng chung mục đích -> Tri kỉ -> Đồng chí.
Năm câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi người xa lạ” rồi thành “đôi tri kỉ” để kết thành “đồng chí” Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm
xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng
trai ấy còn là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen
nhau” Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng
biết bao kỉ niệm: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu – Đêm rét chung chăn thành đôi tri
kỉ” “Súng bên súng” là cách nói hàm súc, giàu hình tượng, đó là những con người
cùng chung lí tưởng chiến đấu Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước,
quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ
quốc quyết sinh” Còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm,
đồng lòng của hai con người đó Và câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại
là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm
sẻ nửa – Chăn sui đắp cùng” Và như thế mới thành “đôi tri kỉ” để rồi đọng kết lại
là “Đồng chí!” “Đồng chí”– hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao! Nó diễn tả niềm
tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất củamột tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của
Trang 40những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước
mơ
=> Ở đây, trong những câu thơ này, tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị,
nhưng rất chân xác: “bên”, “sát”, “chung”,”thành” đã thể hiện được sự gắn bó tha
thiết của mối tình tri kỉ, của tình cảm đồng chí Cái tấm chăn mỏng, hẹp mà ấm nóngtình đồng đội ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính không bao giờ quên
Câu hỏi 1: Dòng thứ bảy của bài thơ có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai như thế nào trước và sau dòng thơ đó?
=> Trả lời:
- Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo, một nét độc
đáo qua ngòi bút của Chính Hữu Dòng thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệtgồm từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, tạo nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện,một lời khẳng định đồng thời như một bản lề gắn kết đoạn thơ đầu với đoạn thơ sau.Sáu câu thơ đầu là cội nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng chí; mười câu thơ tiếp theo
là biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí “Đồng chí” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết
tinh bao tình cảm đẹp: tình giai cấp, tình bạn, tình người trong chiến tranh Hai
tiếng “đồng chí” bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng.
2 Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:
a Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu, chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:
“Ruộn gnương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lunglay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.
Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: “ruộng
nương”, “gian nhà”, “giếng nước”, “gốc đa” … Họ ra đi để lại sau lưng những băn
khoăn, trăn trở, những bộn bề, lo toan của cuộc sống đời thường Hai chữ “mặc kệ” đã
diễn tả sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn người lính Vì nghĩa lớn, họ sẵnsàng ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa Song dù có dứt khoát thì vẫnnặng lòng với quê hương Gác tình tiêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp ấy thật đáng trân
trọng và tự hào Trong bài thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng trong tâm hồn
những người lính:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh vẫn cảm nhận được “Sau lưng
thềm năng lá rơi đầy”, cũng như người lính trong thơ của Chính Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng luôn hướng về quê hương “Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán
dụ mang tính chất nhân hóa diễn tả một cách tinh tế tâm hồn người chiến sĩ, tô đậm sự
gắn bó của người lính với quê nhà “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính
là tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về quê hương Quả thật, giữa người chiến
sĩ và quê hương có mỗi giao cảm vô cùng sâu sắc,đậm đà Người đọc cảm nhận từhình ảnh thơ một tình quê ăm ắp và đây cũng là nguồn động viên, an ủi, là sức mạnhtinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao, thử thách suốt một thời máu lửa,đạn bom
b Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, chia sẻ những khó khăn thiếu thốn của cuộc đời người lính:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai