LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài:Sự thông minh nằm trong phương pháp, một câu hỏi không chỉ có duy nhất mộtđáp án đúng: hiện nay có rất nhiều phương pháp đào tạo luật khác nhau trên
Trang 1Chương 3 - Những kinh nghiệm có thể tiếp thu và ứng dụng ở Việt Nam 183.1 Những kinh nghiệm và ứng dụng trong đào tạo luật nói chung ở Việt Nam 183.2 Ý kiến cá nhân về đào tạo luật và luật sư của nước ta 20
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài:
Sự thông minh nằm trong phương pháp, một câu hỏi không chỉ có duy nhất mộtđáp án đúng: hiện nay có rất nhiều phương pháp đào tạo luật khác nhau trên thế giới
mà chúng ta có thể tham khảo ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản …Việcđào tạo luật ở những nước này rất nghiêm chỉnh và khắt khe, mang tính thực tiễn cao,khi muốn thi vào trường luật bạn phải có một bằng đại học khác hầu hết là chuyênngành quản trị kinh doanh, kế toán, tài chính ngân hàng Điều này chứng tỏ họ yêu cầuđầu vào rất cao khi sinh viên đã có một nền tảng kiến thức về mọi mặt vững chắc, điềunày dễ dàng cho sinh viên nắm bắt liên hệ thực tế và giải quyết các tình huống thực tếhiệu quả Không chỉ là đệ nhất cường quốc về kinh tế, Hoa Kỳ còn là một trong nhữngnước có trình độ pháp luật tiên tiến nhất Là một đại diện tiêu biểu cho dòng họ phápluật Common law – một dòng họ pháp luật lớn trên thế giới- Hợp chúng quốc Hoa Kỳkhông chỉ là quốc gia có số lượng luật sư lớn nhất (khoảng 1 triệu luật sư), mà còn làmột trung tâm đào tạo luật hàng đầu Trong khi đó, Việt Nam là một nước thuộc dòng
họ pháp luật Xã hội chủ nghĩa, công tác đào tạo luật chứa đựng rất nhiều hạn chế và bấtcập (cả nước ta chỉ có khoảng 6000 luật sư) Chính vì thế, cần thiết phải nghiên cứuviệc đào tạo nghề luật của họ, để học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng vào nước ta
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài viết là vấn đề đào tạo luật mà cụ thể là đào tạoluật ở Hoa Kỳ và Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Các quy định và thực tế của việc đào tạo luật ở 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Bài viết góp phần vào lý luận một cách có hệ thống việc tìm hiểu nghiên cứu,làm rõ sự khác biệt giữa đào tạo luật tại Việt Nam và đào tạo luật tại Hoa Kỳ
Trang 3Từ việc so sánh giữa đào tạo luật ở Việt Nam và Hoa Kỳ có thể rút ra được kinhnghiệm, đưa ra giải pháp nhằm xây dựng và hoàn chỉnh mô hình đào tạo luật tại ViệtNam hiện nay.
Trang 4Chương 1 - Sơ lược lịch sử phát triển nền luật học của Việt Nam và Hoa Kỳ
1.1 Lịch sử phát triển nền luật học Việt Nam
Nền luật học Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc, khởi đầu dưới thời Pháp thuộc khi xuất hiện trường đào tạo chuyên môn về luật pháp ở Hà Nội, đó là Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration) được thành lập theo Nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn quyền Đông Dương.1
Trong thời gian gần 38 năm hiện hữu từ 1917 đến 1955 nền luật học thời Pháp thuộc đã du nhập vào Việt Nam những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp phương Đông vốn tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến từ nhà Lý đến nhà Nguyễn
Có thể nói Trường Luật và Pháp chính đã đặt viên đá đầu tiên cho một nền luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu bao gồm các hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật (Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật Xã hội Chủ nghĩa của khối Liên-Xô cũ
Mục đích của Trường Luật và Pháp chính là hoàn thiện kiến thức phổ thông và khả năng nghề nghiệp cho những người bản xứ muốn được thu dụng vào ngạch hành chính Pháp hay ngạch quan lại Việt Nam Trình độ của những người tốt nghiệp trường này chưa đạt bậc cao đẳng
Khi số lượng người có bằng trung học phổ thông ngày càng gia tăng, thì TrườngLuật và Pháp chính được thay thế bằng Trường Cao học Đông Dương (Ecole des Hautes Etudes Indochinoises) để tuyển vào những sinh viên có bằng Tú tài toàn phần cho chương trình đào tạo 4 năm Dù trình độ của trường này có cao hơn so với trường
1 Toàn quyền Đông Dương (tiếng Pháp: Gouverneur-général de l'Indochine Française), còn gọi
là Toàn quyền Đông Pháp, là chức vụ đứng đầu trong Liên bang Đông Dương
Trang 5trước đó, nhưng Trường Cao học Đông Dương vẫn chưa phải là một Đại học Luật khoatheo đúng nghĩa mà nước Pháp thời bấy giờ đã có.
Chương trình luật bậc đại học của Pháp chỉ chính thức giảng dạy đầy đủ tại ViệtNam khi Trường Cao đẳng Luật khoa (Ecole Supérieure de Droit) được thành lập theo Sắc lệnh ngày 11/9/1931 Tuy nhiên, do tình hình suy thoái của cuộc đại khủng hoảng2
kinh tế toàn cầu lúc đó, nên mãi 2 năm sau Trường Cao đẳng Luật khoa mới chính thứckhai giảng vào ngày 15/2/1933 với 101 sinh viên và 3 giáo sư
Chương trình đào tạo bậc Cử nhân của Trường Cao đẳng Luật khoa kéo dài trong 3 năm học liên tục Kể từ năm 1935 trường mở thêm chương trình đào tạo năm thứ tư dành cho những sinh viên muốn thi lấy Chứng chỉ Luật học Đông Dương (Certificat d’Etudes Juridiques Indochinoises)
Năm 1941, Trường Cao đẳng Luật khoa được nâng cấp thành Đại học Luật khoaĐông Dương (Faculté de Droit de l’Indochine) để đào tạo thêm sinh viên bậc Tiến sĩ luật với hai chương trình Cao học Tư pháp và Cao học Kinh tế, và tiếp tục hoạt động cho đến khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9/3/1945 thì tạm ngưng
Sau khi quân đội Nhật rời khỏi Đông Dương trường vẫn chưa hoạt động trở lại ngay vì ảnh hưởng của thời cuộc lúc đó, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trên toàn quốc Đến tháng 1/1947 Đại học Luật khoa Đông Dương được tái lập tại Sài Gòn, thay vì Hà Nội do hoàn cảnh chiến tranh Dù vậy, từ tháng 5/1948 một Trung tâm Luật học đã được mở tại Hà Nội để chuẩn bị cho sự tái lập hoạt động bình thường của Đại học Luật khoa Đông Dương ở Hà Nội vào tháng 1/1949 với sự tham gia giảng huấn của các giáo sư từ Pháp sang
Như vậy, từ năm 1947 đã xuất hiện một trung tâm mới của nền luật học Việt Nam là Sài Gòn, tiếp sau Hà Nội, mặc dù miền đất phía Nam này là nơi nghề luật sư xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam từ năm 1867
2 Đại khủng hoảng là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và
lấn sang đầu thập kỷ 1940
Trang 6Sự hình thành trung tâm luật học ở Sài Gòn đã tạo tiền đề và nền tảng cho sự bàn giao chương trình đào tạo luật học theo trường phái Pháp từ chính quyền thuộc địa sang cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiếp sau sự thất trận của quân đội Pháp ở Đông Dương và việc ký kết Hiệp định Genève chia cắt đất nước vào năm 1954.
Sau thời điểm bàn giao nói trên vào ngày 11/5/1955, nền luật học ở miền Nam Việt Nam chính thức thoát khỏi sự chi phối nặng nề của người Pháp và phát triển mạnh mẽ với công cuộc Việt hóa chương trình đào tạo và tăng cường các môn học về luật đối chiếu nhằm bảo đảm các sinh viên tốt nghiệp vừa thông thạo luật pháp Việt Nam vừa
am hiểu luật pháp các nước
Những trung tâm mới của nền luật học ở miền Nam Việt Nam cũng được chính quyền miền Nam thời đó chú trọng phát triển, đầu tiên tại Huế vào năm 1957 với việc thành lập Đại học Luật khoa Huế, và tiếp theo tại Cần Thơ vào năm 1966 với việc thành lập Đại học Luật khoa Cần Thơ
Thành phần ban giảng huấn hầu hết là các giáo sư Thạc sĩ3 và Tiến sĩ luật khoa tốt nghiệp từ các nước Pháp, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ, cùng các chuyên gia xuất sắc từ những lĩnh vực hành nghề luật pháp, như luật sư, thẩm phán và công tố viên Chương trình giảng dạy đã đặc biệt chú trọng đến các môn như cổ luật và pháp chế sử Việt Nam nhằm nghiên cứu các định chế tư pháp và công pháp trong lịch sử dân tộc qua cácthời đại, luật đối chiếu nhằm nghiên cứu các định chế pháp lý tương tự ở những quốc gia tiên tiến khác, kinh tế học và tài chính chuyên sâu nhằm trang bị kiến thức hỗ trợ cho sinh viên luật
Điều đáng lưu ý là ngay từ buổi đầu hình thành nền luật học ở miền Nam, các giáo sư và giới chuyên gia pháp lý đã chú tâm gầy dựng nên các Học thuyết Pháp lý (Doctrines Juridiques) riêng cho Việt Nam dựa trên nền tảng án lệ mà các tòa án Việt
trong ngành luật, chỉ trao cho những giáo sư luật chuyên tâm vào công việc giảng huấn tại các đại học luật, thông qua một kỳ thi tuyển quốc gia vô cùng khó khăn và chặt chẽ vốn chỉ dành riêng cho những thí sinh đã có bằng cấp Tiến sĩ luật
Trang 7Nam lúc đó phát triển thông qua việc xét xử những vụ án và vụ kiện phát sinh trên lãnhthổ Việt Nam ở những thời kỳ khác nhau
Công cụ xây dựng nên những học thuyết pháp lý đó chính là các tạp chí luật họcchuyên ngành được ấn hành để cập nhật hóa sự phát triển của pháp luật và giới thiệu những công trình nghiên cứu của các giáo sư và chuyên gia pháp lý, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến Luật học Kinh tế Tạp chí của Đại học Luật khoa Sài Gòn, xuấtbản lần đầu tiên vào năm 1955 và lần cuối cùng vào tháng 4/1975
Bên cạnh những học thuyết pháp lý áp dụng riêng cho nền luật pháp Việt Nam lúc ấy, các giáo sư luật học tại miền Nam cũng đóng góp đáng kể cho kho tàng luật họcthế giới trong lĩnh vực luật dân sự và luật thuơng mại Nhiều học thuyết pháp lý do họ
đề xuất vẫn tiếp tục được giới luật học ở các nước thuộc hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) dẫn chiếu và phân tích trong các công trình nghiên cứu luật pháp ngày nay
Sau năm 1975,Việt Nam thống nhất 2 miền Nam Bắc,xây dựng nhà nước Xã hộichủ nghĩa.Việc đào tạo luật đã có sự thay đổi theo hướng pháp luật Xã hội chủ nghĩa Ngày 10 tháng 11 năm 1979 theo Quyết định số 405/CP của Hội đồng Chính phủ4,đại học pháp lý Hà Nội được thành lập,là cơ sở đào tạo đại học luật đầu tiên của chế độ mới Ngày 6 tháng 7 năm 1993, Bộ Tư pháp đã quyết định đổi tên trường thành TrườngĐại học Luật Hà Nội
Ngày 25 tháng 12 năm 1987,Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập.Trường là cơ sở đào tạo Luật lớn nhất phía Nam, được hình thành trên cơ sở hội nhập cơ sở hai (miền nam) của Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật Truờng Đại học Tổng hợp TP.HCM, đều là những đơn vị đã có lịch sử trên hai mươi năm xây dựng và phát triển
Học viện Tư pháp được thành lập theo Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg ngày 25 tháng 2 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ Trường có nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ
4Hội đồng Chính phủ: Theo Hiến pháp 1959 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1960, tương tự như Chính phủ hiện nay.
Trang 8thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên và các chức danh
tư pháp khác
Hiện nay,đã có rất nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước,tăng khả năng đào tạo
cử nhân luật,nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.Việc đào tạo được dựa trên khung chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo.Một số cơ sở đã áp dụng hình thức học tín chỉ vào chương trình đào tạo
1.2 Lịch sử phát triển nền luật học Hoa Kỳ
Trong thời kỳ thuộc địa ở Mỹ (1607-1776), không có các trường luật để đào tạo những người quan tâm đến chuyên ngành luật Một số người trẻ tuổi đã đến Anh để theo học luật và tham gia vào các hội quán của Hội luật gia Anh Những hội quán này không phải là các trường luật chính thức, nhưng chúng là một phần của văn hóa pháp
lý Anh quốc và giúp cho các sinh viên gần gũi hơn với luật pháp Anh Những người mong muốn theo nghề luật trong thời kỳ này thường làm thư ký hoặc người học việc cho một luật sư danh tiếng
Sau cuộc Cách mạng Mỹ (1775- 1783), số luật sư tăng lên nhanh chóng do cả việc giáo dục pháp lý và quyền hành nghề luật sư không bị giới hạn chặt chẽ Phương pháp học việc tiếp tục là cách thức phổ biến nhất để được đào tạo pháp luật nhưng các trường luật cũng đã bắt đầu xuất hiện Những trường luật đầu tiên bắt nguồn từ những văn phòng luật chuyên về đào tạo thư ký và người học việc Trường sớm nhất như vậy
là Trường Litchfield ở Connecticut, được thành lập năm 1784 Trường này dạy theo phương pháp bài giảng chủ yếu tập trung vào luật thương mại Cuối cùng, một số trường đại cương đã bắt đầu đưa môn luật thành một phần trong chương trình giảng dạy chung, và trong năm 1817 một trường luật độc lập đã được thành lập ở trong trường Đại học Harvard
Trong nửa cuối thế kỷ XIX, số trường luật tăng mạnh, từ 15 trường năm 1850 đến 102 trường năm 1900 Các trường luật vào thời gian đó và những trường luật ngày
Trang 9nay có hai điểm khác biệt quan trọng Thứ nhất, các trường luật vào thời gian đó khôngthường xuyên yêu cầu phải học qua đại cương Thứ hai, chương trình giảng dạy tiêu chuẩn của trường luật vào năm 1850 có thể được hoàn thành trong một năm Vào thời gian sau này của những năm 1800, nhiều trường luật đã xây dựng các chương trình hai năm.
Năm 1870 đã bắt đầu có những thay đổi quan trọng ở trường Đại học Harvard
có tác động lâu dài đối với đào tạo pháp luật Đại học Harvard đã xây dựng những yêu cầu đầu vào / tuyển chọn khắt khe hơn; các sinh viên không có bằng đại cương sẽ phải thi đầu vào Khóa học của trường luật tăng lên thành hai năm vào năm 1871 và thành
ba năm vào năm 1876 Tương tự như vậy, các sinh viên bắt buộc phải vượt qua những
kỳ thi cuối của năm thứ nhất trước khi tiếp tục theo học các khóa học của năm thứ hai
Tuy nhiên, thay đổi lâu dài nhất là việc bắt đầu áp dụng phương pháp giảng dạy theo tình huống / vụ án Phương pháp này thay thế các bài giảng và sách giáo khoa bằng các tuyển tập tình huống (tập hợp báo cáo các vụ án trên thực tế) được thiết kế để giải thích những nguyên tắc luật pháp, chúng có ý nghĩa gì, và chúng được phát triển như thế nào Các giáo viên sử dụng phương pháp Xô-crát5 để hướng dẫn sinh viên khám phá những khái niệm pháp luật trong các vụ án Các trường khác cuối cùng cũng
áp dụng phương pháp của Đại học Harvard, và phương pháp giảng dạy theo tình huống/ vụ án vẫn là phương pháp giảng dạy được thừa nhận ở nhiều trường luật ngày nay
Do nhu cầu về các luật sư tăng lên trong những năm cuối thập niên 1800 nên số trường luật mới được thành lập cũng tăng lên tương ứng Việc mở một trường luật cũng không quá tốn kém, và số trường học ban đêm sử dụng các luật sư và thẩm phán làm cán bộ giảng dạy bán thời gian bắt đầu xuất hiện Các tiêu chuẩn khi đó thường lỏng lẻo và chương trình giảng dạy dường như chú trọng đến tập quán địa phương Đóng góp quan trọng của những trường này là ở chỗ chúng giúp cho việc đào tạo trở nên dễ dàng hơn đối với các sinh viên nghèo, nhập cư và thuộc tầng lớp lao động
5 Sokrates hay Socrates (tiếng Hy Lạp: Σωκράτης Sōkrátēs) là một triết gia Hy Lạp cổ đại, người
được mệnh danh là bậc thầy về truy vấn
Trang 10Trong thế kỷ XX, số người muốn nghiên cứu luật đã tăng lên mạnh mẽ Cho đếnnhững năm 1960, số người nộp đơn vào các trường luật đã tăng đến mức gần như tất cảcác trường đều trở nên kén sinh viên hơn Đồng thời, để thích ứng với sức ép và tranh chấp xã hội, nhiều trường luật đã bắt đầu tích cực tuyển dụng những người nộp đơn là phụ nữ và thuộc các nhóm thiểu số.
Cũng đến những năm 1960, chương trình giảng dạy ở một số trường luật đã mở rộng sang những mối quan tâm xã hội như luật các quyền công dân và các vấn đề về
“luật và sự nghèo khổ” Các khóa học về luật quốc tế cũng được đưa vào chương trình giảng dạy
Một chiều hướng gần đây hơn ở các trường luật là chú trọng vào việc sử dụng máy tính cho mọi công việc từ chỉ dẫn đăng ký lớp học đến mẫu đăng ký tiếp xúc với tòa án và các dịch vụ dành cho sinh viên Một điều đáng chú ý khác là ngày càng có nhiều trường luật đưa ra các khóa học hoặc chương trình đặc biệt về luật sở hữu trí tuệ, một lĩnh vực chuyên môn hóa đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây Cuối cùng, việc các luật sư sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nghề luật Giờ đây, trên các đài truyền hình ở khắp đất nước, mọi người có thể nhìnthấy các luật sư tiến hành kháng án để thu hút những khách hàng mới Hơn nữa, các trung tâm tư vấn pháp luật, được thành lập do việc sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều,
đã phát triển nhanh chóng
Trang 11Chương 2- So sánh việc đào tạo luật ở Hoa Kỳ và Việt Nam dưới góc độ so sánh
2.1 Chất lượng đầu vào
Việc đào tạo luật ở Hoa Kỳ là đào tạo sau đại học, sinh viên luật là những người
đã tốt nghiệp đại học – có bằng cử nhân một môn khoa học bất kì Các khoa luật ở Hoa
Kỳ tuyển sinh viên đầu vào rất khắt khe, thường lựa chọn những sinh viên thật sự xuấtsắc
Những người trúng tuyển sẽ theo học 3 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D ( jurist doctor ) - văn bằng luật cơ bản ở Hoa Kỳ, sau đó sẽ trải qua thời gian thực tập
-Độ tuổi trung bình cho sinh viên khoa luật tốt nghiệp ở Hoa Kỳ là 29, độ tuổi cho conngười hoàn thiện về nhân cách và giữ vững lập trường lời nói và hành động
Ở nước ta, hầu như chất lượng đầu vào của các trường luật còn thấp Sau khihoàn thành 12 năm học phổ thông, các học sinh sẽ trải qua một kì thi tuyển sinh vàotrường đào tạo luật, với mức điểm vừa phải Nếu trúng tuyển, sinh viên sẽ học 4 năm ởtrường đại học hoặc cao đẳng để lấy bằng cử nhân luật Sau đó có thể hành nghề
Công tác đào tạo luật ở Hoa Kỳ tuyển chọn đầu vào vô cùng gắt gao, hứa hẹn sẽcho ra những thế hệ nhân tài, vì đây là một nghề được xem trọng nhất trong xã hội Hoa
Kỳ – một xã hội phát triển về mọi mặt và luôn lấy luật làm nền tảng Qua đó, có thểthấy rằng đào tạo luật Việt Nam, đầu vào mở rộng hơn rất nhiều, đặc biệt về trình độ,
vì đào tạo luật của Hoa Kỳ đòi hỏi sau đại học, khi mà người học đã chín chắn vàtrưởng thành về mọi mặt Còn tại Việt Nam, bất cứ ai đã tốt nghiệp bậc phổ thông đều
có thể học luật
2.2 Chương trình đào tạo
Trang 12Hoa Kỳ là nhà nước liên bang nên ngoài hệ thống pháp luật liên bang còn có 50
hệ thống pháp luật của bang và quận Columbia Về phạm vi đào tạo, trường học củamột số bang chỉ đào tạo luật của bang, có trường lại đào tạo cả luật liên bang, thậm chínhững sinh viên tốt nghiệp ở đó ra còn có thể hành nghề ở những nơi chấp nhậnCommon Law
Chất lượng giữa các trường đào tạo luật cũng có sự khác biệt, thể hiện cụ thể bởicác trường hàng đầu với sự đào tạo bài bản, chất lượng, khoa học với cơ sở vật chất tốt,lực lượng giảng viên có năng lực chuyên môn và khả năng giảng dạy hiệu quả nhưHavard, Columbia,
Bên cạnh đó có sự cạnh tranh rất gay gắt về chất luợng cả trong việc tuyển dụng
và đào tạo sinh viên của các trường đào tạo luật tại Hoa Kỳ, nhằm đem lại danh tiếngcho trường mình Họ mời các tác giả, những người nổi tiếng trong lĩnh vực pháp luật
về trường nghiên cứu, giảng dạy nhằm thu hút sinh viên và các nguồn tài trợ
Việt Nam là nhà nước đơn nhất, chỉ có duy nhất một hệ thống pháp luật nên chỉ
có thể nhất quán một chương trình đào tạo luật Trong năm nhất, sinh viên phải họcnhững môn học đại cương bắt buộc, những môn học mang tính chất bao quát, địnhhình về ngành luật, những môn học này cung cấp cho sinh viên những kiến thức, kháiniệm cơ bản về ngành luật nhằm phục vụ cho việc học các môn chuyên ngành sau này.Những năm sau bắt đầu học vào chuyên ngành, đây là những môn học mang tính chấtchuyên ngành về các lĩnh vực khác nhau của pháp luật
Việt Nam có hai cơ sở đào tạo luật chính: Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật
TP Hồ Chí Minh Một số cơ sở đào tạo sử dụng chương trình do hai trường đại họctrên xây dựng, có cơ sở sử dụng nguyên bản, cũng có cơ sở có một số cải biên để thểhiện nét đặc trưng riêng của trường mình, nhưng nhìn chung là chưa được thực hiệnthống nhất, không có sự khác biệt lớn; thậm chí có cơ sở đào tạo mở ngành đào tạo luậtkinh doanh và luật thương mại quốc tế, nhưng chương trình thì lại lấy nguyên xi của
Trang 13các cơ sở đào tạo khác để giảng dạy cho người học mà không có sự giải thích thuyếtphục.
Hiện nay, chúng ta mới chỉ có duy nhất Học viện Tư pháp là đào tạo nghề luật
sư Tuy ở nơi này hay nơi khác vẫn còn có những ý kiến đánh giá khác nhau về vấn đềchất lượng đào tạo nghề luật sư tại đây Nhưng nói cho khách quan, thì hiện nay và có
lẽ cả sau này, Học viện Tư pháp vẫn sẽ là cơ sở đào tạo nghề luật sư được tin cậy, bởi
“bề dày đào tạo”của trường Vẫn biết rằng, khi Tổ chức Luật sư toàn quốc được thànhlập, Trường đào tạo nghề luật sư có thể ra đời, nhưng Học viện Tư pháp vẫn có thể là
sự “ưu tiên lựa” chọn của các học viên khi quyết định theo học nghề luật sư Trong thờigian vừa qua, Học viện Tư pháp đã rất nỗ lực trong việc xây dưng chương trình, biênsoạn giáo trình và đổi mới nội dung bài giảng đối với các khóa đào tạo luật sư Có thểnói những nỗ lực tự thân của lãnh đạo và giáo viên Nhà trường trong việc xây dựng nộidung chương trình đào tạo đều nhằm hướng tới đích xây dựng “thương hiệu và côngnghệ đào tạo cho riêng mình”
Nhìn chung, chương trình đào tạo luật ở Việt Nam còn nhiều hạn chế về sốlượng cũng như chất lượng, chưa có nhiều cơ sở đào tạo luật, có những nơi đào tạothiếu bài bản, thiếu khoa học chỉ nhằm mục đích thu hút sinh viên để tăng doanh thu.Thêm vào đó, chương trình đào tạo luật tại Việt Nam chưa nhận được sự quan tâm, đầu
tư chính đáng từ nhà nước và xã hội như ở Hoa Kỳ
2.3 Phương pháp đào tạo
Phương pháp giảng dạy pháp luật của Hoa Kỳ rất phù hợp với tình hình phứctạp và luôn luôn thay đổi của xã hội Hoa Kỳ Nếu như việc đào tạo luật ở nhiều nướckhác, trong đó có Việt Nam, thường dạy cho sinh viên những vấn đề cơ bản về luật vàtìm luật ở đâu (học thuộc lòng) để giải quyết các vụ việc cụ thể, thì hệ thống giáo dụcluật ở Hoa Kỳ không trực tiếp truyền đạt những kiến thức thuộc lòng về nội dung củacác đạo luật, các án lệ mà lại nhằm vào việc đào tạo ra những luật sư có khả năng thắng