1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử việt nam Thời Bắc thuộc • (thuộc) Nam Việt: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, đại bộ phận tương đương Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tương đương nam bộ Quý Châu hiện nay39. • (thuộc) Giao Chỉ bộ: Bắc thuộc

29 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời Bắc thuộc • (thuộc) Nam Việt: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, đại bộ phận tương đương Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tương đương nam bộ Quý Châu hiện nay39. • (thuộc) Giao Chỉ bộ: Bắc thuộc thời Hán, bộ Giao Chỉ gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. • (thuộc) Giao Châu: Bắc thuộc từ thời Đông Ngô đến thời Đường, Giao Châu bao gồm cả Quảng Đông. • Vạn Xuân: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời nhà Tiền Lý (542–602). • An Nam đô hộ phủ: Bắc thuộc thời Đường (618–866). • Tĩnh Hải quân: tiếp tục trong thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới hết thời nhà Ngô (866–967). Thời phong kiến độc lập • Đại Cồ Việt: thời Nhà Đinh – Nhà Tiền Lê và đầu thời Nhà Lý, từ 968–1054. • Đại Việt: thời Nhà Lý – Nhà Trần, từ 1054–1400. • Đại Ngu: thời Nhà Hồ, từ 1400–1407. • Đại Việt: thời Nhà Hậu LêNhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn, từ 1428–1804. • Việt Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1804–1839. • Đại Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1839–1945. Thời Pháp thuộc • (thuộc) Liên bang Đông Dương: nhập chung với Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan từ 1887 đến 1945. Giai đoạn từ 1945 đến nay • Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 – tháng 8 năm 1945 dưới thời chính

Trang 1

Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ 700 năm trước công nguyên.

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thờiđại đồ đá cũ thuộc nền văn hóaTràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổsông Hồng – Văn minh sông Hồng và sông Mã này đã khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự nước lụt của các sông, đào kênh để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã

Truyền thuyết kể rằng từ năm 2879 TCN, nhà nước Xích Quỷ của người Việt đã hình thành, cùng thời với truyền thuyết về Tam Hoàng Ngũ Đế tại Trung Quốc Tuy nhiên, đây chỉ là truyền thuyết dân gian, các nghiên cứu khảo cổ hiện chưa tìm được bằng chứng nào cho thấy nhà nước này từng tồn tại

Đến thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ 8 TCN đã xuất hiện nhà nước đầu tiên của người

Việt trên miền Bắc Việt Nam ngày nay Theo sử sách, đó là Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng Thời kỳ Vua Hùng được nhiều người ghi nhận là quốc gia có tổ chức đầu tiên của người Việt Nam, bắt đầu với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác.[1]

Một phần của loạt bài về

Các nền văn hóa cổ Việt Nam

Hậu kỳ Thời đại đồ đá cũ

Văn hóa Tràng An (23.000 TCN - 1000 TCN)

Văn hóa Sơn Vi (20.000 - 12.000 TCN)

Văn hóa Soi Nhụ (18.000 - 7.000 TCN)

Thời đại đồ đá mới

Văn hóa Hòa Bình (12.000 - 10.000 TCN)

Văn hóa Bắc Sơn (10.000 - 8.000 TCN)

Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 - 6.000 TCN)

Văn hóa Cái Bèo (7.000 - 5.000 TCN)

Văn hóa Đa Bút (6.000 - 5.000 TCN)

Thời đại đồ đồng đá

Trang 2

Văn hóa Hạ Long (3.000 - 1.500 TCN)

Văn hóa Phùng Nguyên (2.000 - 1.500 TCN)

Văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2.000 - 1.000 TCN)

Trung kỳ thời đại đồ đồng

Văn hóa Đồng Đậu (1.500 - 1.000 TCN)

Hậu kỳ thời đại đồ đồng

Văn hóa Gò Mun (1.000 - 600 TCN)

Thời kỳ đồ sắt

Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 TCN - 200)

Văn hóa Đông Sơn (800 TCN - 200 TCN)

Văn hóa Đồng Nai (500 TCN - 0) Văn hóa Óc Eo (1 - 630)

Đông Nam Á thời tiền sử

Những nền văn minh đầu tiên

Văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Sa Huỳnh

Văn hóa Óc Eo

Văn hóa Mã Lai

Văn hóa Java

Văn hóa Môn - Khmer

Các vương quốc đầu đầu tiên

Văn Lang (TK 7 TCN - 258TCN)

Âu Lạc (258TCN-208TCN)

Lâm Ấp (192 - 605)

Trang 3

Phù Nam (1 - 630)

Chân Lạp (550 - 717)

Dvaravati (TK 6 - TK 11) Malayu (TK 4 - TK 7)

Langkasuka (TK 4 - TK 7) Pan Pan (TK 4 - TK 7)

Sailendra (732 - giữa TK 9) Medang (giữa TK 9 - 1049) Pyu (TK 3 - TK 9)

Majapahit (1293 - 1527)

Srivijaya (TK 8 - TK 13)

Melaka (1402 - 1511)

Giao lưu về văn hóa - tôn giáo

Phật giáo đại thừa

Phật giáo tiểu thừa

Hindu giáo

Hồi giáo

Công giáo

Ảnh hưởng của Ấn Độ

Ảnh hưởng của Trung Hoa

Thực dân hóa từ Châu Âu

Thuộc địa Hà Lan

Thuộc địa Bồ Đào Nha

Thuộc địa Anh

Thuộc địa Tây Ban Nha

Trang 4

 2.1.1Truyền thuyết về nước Xích Quỷ

 2.1.2Nước Văn Lang (Thế kỷ VII–258 TCN hoặc 218 TCN)

Trang 5

o 5.1Thời kỳ Pháp thuộc (1858–1945)

o 5.2Thời kỳ Nhật thuộc (1940–1945)

o 5.3Thời kỳ cộng hòa (1945–nay)

 5.3.1Tuyên bố độc lập

 5.3.2Chiến tranh Đông Dương (1946–1954)

 5.3.3Chiến tranh Việt Nam (1955–1975)

 5.3.4Thời kỳ đầu sau thống nhất (1976–1986)

 5.3.5Thời kỳ đổi mới (1986–nay)

 5.3.6Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN

 6Tên nước qua các thời kỳ

o 6.3Thời phong kiến độc lập

o 6.5Giai đoạn từ 1945 đến nay

 7Dân số qua các thời kỳ

 8Các cuộc chiến tranh trong lịch sử Việt Nam

Bài chi tiết: Việt Nam thời tiền sử, văn hóa Tràng An, văn hóa Ngườm, và văn hóa Soi Nhụ

Lịch sử Việt Nam thời tiền sử (trước thời Hồng Bàng) chỉ được ghi nhận, dự đoán thông qua các di tích khảo cổ Các truyền thuyết, dã sử đều có sau giai đoạn này

Thời đại đồ đá

Bài chi tiết: Văn hóa Sơn Vi, Văn hóa Hòa Bình, và Văn hóa Bắc Sơn

Khu vực nay là Việt Nam đã có người ở từ thời kỳ đồ đá cũ Các nhà khảo cổ đã tìm ra các dấu vết người thượng cổ cư ngụ tại hang Thẩm Hoi, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), núi Đọ (Thanh Hóa),Thung Lang (Ninh Bình) và Nga Sơn, Thanh Hóa cách đây hàng trăm nghìn năm Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và Việt Nam khi đó nối liền với bán đảo Malaysia,

đảo Java, Sumatra và Kalimantan của Indonesia, với khí hậu ẩm và mát hơn bây giờ Người Việt

cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ một mặt, tạo nên những công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, nạo, bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ (mảnh tước)

Trang 6

Những di tích ở núi Đọ được coi là bằng chứng cổ xưa nhất về sự có mặt của con người tại vùng đất Việt, khi tổ chức xã hội loài người chưa hình thành.

Phân tích di truyền thuần túy do một số nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng các dân tộc ở Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ các nhóm dân cư tiền sử sống ở khu vực phía nam sông Dương Tử của Trung Quốc.[2] Họ cho rằng ngoại trừ người Chăm nói tiếng

Austronesian và người Mảng nói tiếng Austroasiatic, tất cả các dân tộc khác ở Việt Nam hiện nay và người Hán ở miền Nam Trung Quốc đều có chung tổ tiên là 1 nhóm dân cư tiền sử sống cách đây ít nhất 30.000 năm, ở vùng mà ngày nay là miền Nam Trung Quốc, sau đó 1 nhóm trong số này di cư xuống phía Nam, tới vùng mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam[3]

Vào thời kỳ mà các nhà nghiên cứu gọi là Văn hóa Sơn Vi, những nhóm cư dân nguyên thủy tại đây đã sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt - ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng cách đây 11-23 nghìn năm, cuối thế Canh

Tân (Late Pleistocene).

Cách đây 15.000 – 18.000 năm trước, đây là thời kỳ nước biển xuống thấp Đồng bằng Bắc

Bộ bấy giờ kéo dài ra mãi đến tận đảo Hải Nam và các khu vực khác Về mặt địa chất học thời

kỳ khoảng 15 nghìn năm trước Công nguyên (cách đây khoảng 18 nghìn năm) là thời kỳ cuối của kỷ băng hà, nước biển dâng cao dần đến khoảng năm 8.000 năm trước đây thì đột ngột dâng cao khoảng 130m (tính từ tâm của kỷ băng hà là khu vực Bắc Mỹ) Nước biển ở lại suốt thời kỳ này cho đến và rút đi vào khoảng 5.500 năm trước đây Ứng với thời kỳ này cùng với các

di chỉ khảo cổ cho thấy nước biển đã ngập toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay đếntận Vĩnh Phúc trong suốt gần 3.000 năm

Do chính đặc trưng về địa chất nên vùng đồng bằng sông Hồng, vịnh Bắc bộ không có điều kiện khai quật nền đất cổ đại có ở khoảng 8000 năm trước Công nguyên (trước khi có đại hồng thủy)

để xác nhận dấu vết của các nền văn minh khác nếu có Trang sử Việt có một khoảng trống không xác định được từ khoảng năm trước 5.500 năm - 18.000 năm trước

Sau thời kỳ văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, thuộc thời kỳ đồ đá mới Văn hóa Hòa Bình được ghi nhận là cái nôi của nền văn minh lúa nước, xuất thân từ Đông Nam Á có niên đại trễ được tìm thấy vào khoảng 15000 năm trước đây Do đặc trưng địa chất về hồng thủynên có thể một phần sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hòa Bình có thể đã chưa bao giờ được nhận ra và tìm thấy Các nhà khảo cổ đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt

ở cuối thời kỳ đồ đá mới và đầu thời đại đồ đồng (vào khoảng hơn 5700 năm trước Công nguyên).[4]

Thời đại đồ đồng đá

Bài chi tiết: Văn hóa Phùng Nguyên

Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại

đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm [cần dẫn nguồn] Phùng Nguyên là tên một làng

ở xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này

Thời đại đồ đồng

Bài chi tiết: Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun

Văn hóa Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Thời đại đồ sắt

Bài chi tiết: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh, và Văn hóa Óc Eo

Đến khoảng năm 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổibật với các trống đồng Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen

Trang 7

Thời kỳ cổ đại (2879–111 TCN)

Truyền thuyết về nước Xích Quỷ

Bài chi tiết: Xích Quỷ

Theo một số sách cổ sử[5], các tộc người Việt cổ (Bách Việt) sinh sống ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam sông Trường Giang của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt Nam Truyền thuyết kể rằng nhà nước Xích

Quỷ của các tộc người Việt đã được hình thành từ năm 2879 TCN tại vùng Hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay)

Hiện không có chứng cứ khảo cổ để khẳng định sự tồn tại của nước Xích Quỷ, nó chỉ mang tính huyền thoại giống như thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa Nếu thực sự tồn tại một liên minh của các bộ tộc người Việt cổ (Xích Quỷ) trong thời kỳ này thì có thể nói đây chỉ là một

kiểu liên minh các bộ tộc lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Sơn Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam[6] Các nhóm tộc Việt này có nhiều điểm khác nhau về ngôn ngữ, tập quán và địa bàn cư trú, quan

hệ giữa các tộc này chủ yếu là trao đổi buôn bán chứ không có một nhà nước thống nhất.Đến thời Xuân Thu–Chiến Quốc (thế kỷ VIII TCN đến thế kỷ III TCN), do các sức ép từ các vương quốc Sở, Tần ở miền Bắc Trung Quốc và làn sóng người Hoa Hạ chạy tị nạn chiến tranh

từ miền Bắc xuống nên dần dần các tộc người Việt cổ bị mất lãnh thổ, một số bộ tộc Việt bị đồnghóa vào người Hoa Hạ Đỉnh điểm là vào thời Tần Thủy Hoàng, lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía nam Quảng Đông[7]

Những biến động trong thời kỳ này cũng dẫn tới sự tan rã của liên minh của các tộc người Việt;

từ thế kỷ VIII TCN trở đi từ các bộ tộc Việt cư trú tại các khu vực khác nhau ở miền nam sông Dương Tử đã hình thành nên các nhà nước khác nhau ở từng khu vực cũng như thời kỳ

như: Nước Việt, Văn Lang, Việt Thường, Nam Việt, Âu Lạc, Quỳ Việt, Mân Việt, Đông Việt, Các bộ tộc này từng bước bị các vương triều của người Hoa Hạ ở miền Bắc sông Dương

Tử đánh bại thôn tính, hoặc là tự nội chiến với nhau dẫn tới suy yếu Đến thời kỳ đế chế

Hán khoảng thế kỷ I TCN, tất cả các nhà nước Việt đều bị thôn tính[8]

Nước Văn Lang (Thế kỷ VII–258 TCN hoặc 218 TCN)

Bài chi tiết: Văn Lang

Lãnh thổ nước Văn Lang năm 500 TCN

Đến thế kỷ 8 TCN, các nhà nước độc lập của các tộc người Việt dần được hình thành khắp vùngphía Nam sông Dương Tử[8]

Các tài liệu nghiên cứu hiện đại[9] cũng như các bằng chứng khảo cổ học}[10] phần lớn đều đồng ý

theo ghi chép của Việt sử lược về một vương quốc Văn Lang của người Lạc Việt có niên đại thành lập vào thế kỷ VII TCN cùng thời Chu Trang Vương (696 TCN – 682 TCN) ở Trung Quốc Vương quốc này tồn tại ở khu vực mà ngày nay là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ cũng như ba tỉnh Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh Nhà nước này có thể đã giao lưu buôn bán với các bộ

Trang 8

tộc Việt khác, có thể là cả với nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn ở khu vực hạ lưu

sông Trường Giang (Trung Quốc) ngày nay

Bộ máy nhà nước Văn Lang đã bước đầu phỏng theo thể chế quân chủ Ở trung ương do vua Hùng đứng đầu, có các Lạc hầu và Lạc tướng giúp việc Ở địa phương chia thành 15 bộ (là 15

bộ lạc của vùng đồng bằng Bắc Bộ trước khi nhà nước ra đời) do Lạc tướng cai quản Dưới bộ

là các làng do Bồ chính cai quản

Nhà Thục (257–208 hoặc 179 TCN)

Bài chi tiết: Âu Lạc

Đến thế kỷ III TCN, Thục Phán, thủ lĩnh của bộ tộc Âu Việt – một trong những bộ tộc của Bách Việt ở phía Bắc Văn Lang, đã đánh bại Hùng Vương thứ 18 lập nên nhà nước Âu Lạc Nhà nước liên minh Âu Việt – Lạc Việt đã đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần Nhà nước định đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay Ông tự xưng là An Dương Vương

Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà (một viên tướng cũ của nhà Tần) thôn tính năm 208 TCN (hoặc 179 TCN)

Thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN–938)

Bắc thuộc lần 1 (179 TCN–40)

Nhà Triệu cai trị (179 – 111 TCN)

Xem thêm: Vấn đề chính thống của nhà Triệu

Xem thêm: Nhà Triệu và Nam Việt

Bắc thuộc là một vấn đề còn có hai quan điểm khác nhau từ xưa đến nay của lịch sử Việt Nam, phần lớn các quan điểm sử học thời phong kiến đều cho rằng nhà Triệu là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, vì vậy thời Bắc thuộc bắt đầu từ năm 111 TCN khi nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt Quan điểm thứ hai được xuất hiện từ thế kỷ 18 khi sử gia Ngô Thì Sĩ phủ nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam vì Triệu Đà vốn là người Hoa ở phương Bắc, là tướng theo lệnh Tần Thủy Hoàng mà đánh xuống phương Nam Quan điểm này được tiếp nối bởi sử gia Đào Duy Anh trong thế kỷ 20, các sách lịch sử trong nền giáo dục tại Việt Nam hiện nay đều theo quan điểm này Theo quan điểm thứ hai này thì thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 179 TCN khi nhà Triệu đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương

hiện

Kháng chiến của Việt Nam

Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu thời Chiến Quốc, nay là tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc)được nhà Tần bổ nhiệm là Huyện lệnh huyện Long Xuyên, sau được Nhâm Ngao tự ý bổ nhiệm làm Quận úy quận Nam Hải (thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay)

Nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210 TCN), Triệu Đà đã tách ra cát

cứ quận Nam Hải, sau đó đem quân thôn tính sáp nhập vương quốc Âu Lạc và quận Quế Lâm lân cận rồi thành lập một nước riêng, quốc hiệu Nam Việt với kinh đô đặt tại Phiên

Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông) vào năm 207 TCN

Nước Nam Việt trong thời nhà Triệu bao gồm khu vực hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay Nam Việt được chia thành 4 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Giao Chỉ và Cửu Chân Biên giới phía bắc là hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh, biên giới phía nam là dãy Hoành Sơn

Trang 9

Sau khi nhà Hán được thành lập và thống nhất toàn Trung Quốc, Triệu Đà xưng là Hoàng đế của nước Nam Việt để tỏ ý ngang hàng với nhà Tây Hán Trong khoảng thời gian 68 năm (179 TCN – 111 TCN), miền Bắc Việt Nam hiện nay là một phần của nước Nam Việt, nước này có vua là người Trung Hoa và vị vua này không công nhận sự cai trị của nhà Hán.

Năm 111 TCN, đội quân của Hán Vũ Đế xâm chiếm nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào

đế chế Hán Người Trung Quốc muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Đông Nam Á[11] Trong thế kỷ 1, các tướng Lạc Việt vẫn còn được giữ chức, nhưng Trung Quốc bắt đầu chính sách đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải

tổ luật hôn nhân để biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn

Trưng không đủ sức chống cự lại quân do Mã Viện chỉ huy Hai Bà Trưng đã tự vẫn trên

dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết

Bắc thuộc lần 2 (43–544)

Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp khác như Đông Ngô, nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương lần lượt thay nhau đô hộ Việt Nam, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại sự cai trị của ngoại bang, tuy nhiên tất cả đều không thành công cho mục tiêu giành độc lập

Các cuộc nổi dậy tiêu biểu như khởi nghĩa anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh vào thời thuộc Đông Ngô Cuộc nổi dậy của anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến từ thời bắc thuộc Lưu Tống, Nam Tề từ năm 468 đến 485

Nhà Tiền Lý (544–602)

Năm 541, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, đã đánh đuổi được thứ sử Tiêu Tư nhà Lương, sau 3 lần đánh bại quân Lương những năm kế tiếp, Lý Bí tự xưng đế tức là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân vào năm 544 Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánh đuổi được quân Lương vào năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân Ông tự xưng là Triệu Việt Vương, đến năm 571, một người cháu của Lý Nam Đế

là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm

20 năm nữa cho đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602

Từ sau loạn An Sử (756–763), nhà Đường suy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địaphương do các phiên trấn cát cứ, không kiểm soát nổi phía nam An Nam đô hộ phủ bị các nướcláng giềng Nam Chiếu, Chăm Pa, Sailendra vào cướp phá và giết hại người bản địa rất nhiều, riêng Nam Chiếu đã giết và bắt đến 15 vạn người, quân Đường bị đánh bại nhiều lần Tới năm

866, nhà Đường kiểm soát trở lại và đổi gọi là Tĩnh Hải quân

Trang 10

Cuối thế kỷ IX, nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại Trung Quốc Tại Việt Nam, năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt

là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt

Ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam

Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán Tuy vậy, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Trung Quốc, nhưng người Việt Namvẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có của mình sau một nghìn năm đô

hộ.[12]

Người Việt cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á, mặc dù lúc

đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân gian địa phương[13]

Thời kỳ tự chủ (905–938)

Họ Khúc (905–923 hoặc 930)

Năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà

Đường suy yếu, đặt nền móng cho nền độc lập của Việt Nam

Thời kỳ quân chủ (939–1945)

Xem thêm: Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

Bản đồ hoạt hình về sự thay đổi lãnh thổ của Việt Nam, 1009–1945

Trang 11

Bản đồ thay đổi lãnh thổ Việt Nam từ 1009 đến 1945.

Tên gọi Việt Nam

Tiểu quốc Adham (TK 18 - TK 19)

Vương quốc Xơ Đăng (1888 - 1890)

Trang 12

 t

Thời kỳ độc lập (939–1407)

Mô hình tháp bằng đất nung thời Lý

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, lập nên nhà Đinh (968–980) và đặt tên nước là Đại Cồ Việt.Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên nhà Tiền Lê (980–1009)

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên nhà Lý (1009–1225) Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên thành Đại Việt

Việt Nam giai đoạn này trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Ngô (939–965), nhà Đinh (968–980), nhà Tiền Lê (980–1009), nhà Lý (1009–1225), nhà Trần (1226–1400) và nhà Hồ (1400–1407)

Trong thời kỳ này, các vương triều phương Bắc ở Trung Hoa, Mông Cổ mang quân sang xâm lược, nhưng đều bị Việt Nam đẩy lùi: Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đẩy lui hai lần quân nhà Tống (năm 981 và 1076), nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ năm 1258 và kế tiếp là nhà

Nguyên vào năm 1285 và 1288 Đầu thế kỷ XV, nhà Minh xâm chiếm được Đại Việt và cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị Lê Lợi nổi lên đánh đuổi năm 1428 và thành lập nhà Hậu Lê Năm

1789, nhà Thanh sang xâm lược cũng bị Nguyễn Huệ đánh bại Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, phong kiến Việt Nam đã bắt đầu suy yếu

Từ thế kỷ X tới thế kỷ XIV, các triều đại Đại Việt xây dựng nhà nước trên cơ sở Phật giáo cùng với những ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Quốc Tới cuối thế kỷ XIV, ảnh hưởng của Phật giáo dần thu hẹp và ảnh hưởng của Nho giáo tăng lên, sự phát triển nhà nước Nho giáo theo môhình kiểu Trung Hoa, sang đến thế kỷ XV thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyền tương tự nước láng giềng Trung Hoa, cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương và nghệ thuật đều theo kiểu Trung Hoa

Cùng với việc thu nhận mô hình chính trị, tổ chức xã hội của Trung Hoa, các triều đại Việt Nam

từ thế kỷ X trở đi từng bước mở rộng vùng ảnh hưởng ra ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng

Từ triều Lý, thông qua các cuộc hôn nhân, quân sự và tấn phong thủ lĩnh các bộ tộc miền núi, các vương triều Lý, Trần, Lê đã lần lượt sáp nhập và đưa các sắc tộc khác ở vùng Tây

Bắc, Đông Bắc vào quốc gia Đại Việt Cùng với người Việt, các bộ tộc miền núi đã cùng chung sức với người Việt trong các công cuộc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước

Việt Nam trong thời phong kiến phát triển vẫn dựa vào nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước để cung cấp lương thực, từng triều đại đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào kênh dẫn nước cũng như giao thông đi lại, khai hoang các vùng đất đồng bằng ven biển để tăng diện tích trồng trọt Các hoạt động thương mại, ngoại thương cũng đã được hình thành Ngoài hai quốc gia láng giềng Trung Quốc và Chăm Pa, vào thời nhà Lý, nhà Trần đã có buôn bán thêm với các

Trang 13

vương quốc trong vùng Đông Nam Á tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thời Hậu Lê có buôn bán thêm với châu Âu, Nhật Bản tại các trung tâm như Thăng Long và Hội An.

Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ (竹林大士出山图)

Bắc thuộc lần 4 (1407–1427)

Năm 1407, quân Minh sang xâm lược Đại Ngu với cớ đánh đuổi nhà Hồ khôi phục nhà

Trần (Phù Trần diệt Hồ) Quân Minh nhanh chóng đánh bại quân Đại Ngu, giai đoạn này gọi là Bắc thuộc lần 4

Các lực lượng của Nhà Hậu Trần đã nổi dậy từ 1407–1413 để chống lại quân Minh nhưng cũng

bị đánh dẹp

Một thủ lĩnh Giao Chỉ là Lê Lợi khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của Nhà Minh Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi năm 1427, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra Nhà Hậu Lê

Thời kỳ trung hưng (1428–1527)

Đại Việt sử ký toàn thư - bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay

Năm 1427, Lê Lợi sau khi đánh bại quân Minh lập ra Nhà Hậu Lê, giai đoạn này còn được gọi

là Nhà Lê sơ Thời kỳ nhà Lê Sơ, nước Đại Việt phát triển mạnh về kinh tế và quân sự Nhưng đến đầu những năm 1500, nhà Lê suy yếu do những vị vua kém cỏi và những cuộc nội loạn trong nước

Việt Nam giai đoạn này trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Mạc (1527–1592), nhà Lê trung hưng (1533–1789), chúa Trịnh (1545–1787), chúa Nguyễn (1558–1777) và nhà Tây Sơn (1778–1802)

Trịnh – Nguyễn phân tranh

Trang 14

Sông Gianh, biên giới giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong gần 200 năm.

Bến sông Hội An cuối thế kỷ XVIII

Sự mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê trung hưng là Trịnh Kiểm và Nguyễn

Hoàng (trấn thủ xứ Thuận Hóa và Quảng Nam) đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ Trong khi Trịnh Kiểm tìm cớ giết Nguyễn Uông (con cả của Nguyễn Kim) thì

Nguyễn Hoàng chạy vào Thuận Hóa lập cát cứ, hai chính quyền riêng biệt là Đàng

Ngoài và Đàng Trong với sông Gianh (Quảng Bình) làm biên giới Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở Đàng Ngoài được gọi là các chúa Trịnh, các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầm quyền ở Đàng Trong được gọi là các chúa Nguyễn, các vua Lê chỉ có danh vị hoàng đế của Đại Việt trên danh nghĩa

Thời kỳ Đại Việt chia thành hai lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong cũng là thời kỳ hoạt động ngoại thương sôi động, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tham gia vào hệ thống giao thương toàn cầu bởi các thương nhân châu Âu, Nhật Bản, Trung Hoa đến Đại Việt buôn bán Người Hà Lan, Anh, Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà Nội), người Bồ Đào Nha, Anh, Nhật Bản đặt các thương điếm tại Faifo (Hội An) Các mặt hàng chính được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, gốm sứ Tuy nhiên, sang đến thế kỷ XVIII thì hoạt động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài[14]

Cùng với sự giao thương buôn bán với các nước phương Tây và Nhật Bản, đạo Công giáo cũngbắt đầu được truyền vào Đại Việt qua các giáo sĩ phương Tây theo các tàu buôn vào giảng đạo

ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong Nền tảng vững chắc của Công giáo tại Việt Nam được các thừa sai Dòng Tên xây dựng vào thế kỉ 17.[15]

Mở rộng lãnh thổ về phương Nam

Bài chi tiết: Nam tiến

Ngày đăng: 28/07/2021, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w