Thị trường Tiền tệ Mỹ Cục dự trữ liên bang Fed là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ.. Fed bề ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng thống đốc đóng tại thủ đô Washington được ch
Trang 1Bài thảo luận Thị trường tiền tệ
Chủ đề thảo luận:
Mô hình TTTT ở Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc.
Mô hình TTTT ở Việt Nam Quy trình hoạt động của TTTT
ở Việt Nam Đề xuất mô hình TTTT ở Việt Nam.
Trang 2A Mô hình Thị trường tiền tệ (TTTT) ở một số nước 3
I Thị trường Tiền tệ Mỹ 3
Mô hình thị trường tiền tệ Mỹ 7
II Thị trường tiền tệ Nhật Bản 8
Mô hình thị trường tiền tệ Nhật Bản: 9
III Thị trường tiền tệ Singapore 10
Sơ đồ về hoạt động của mô hình TTTT Singapore 13
IV Thị trường tiền tệ Trung Quốc 14
Sơ đồ về hoạt động của mô hình TTTT Trung Quốc……… 16
V Thị trường tiền tệ Việt Nam 17
1 Khái niệm thị trường tiền tệ 17
2 Biểu diễn mô hình TTTT VN qua sơ đồ 19
3 Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ 20
4 Bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ Việt Nam 20
5 Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động TTTT 24
B Quy trình hoạt động của TTTT VN 25
1 Khái quát chung 25
2 Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ 25
C Đánh giá thị trường 29
1 Công cụ giao dịch, loại nghiệp vụ trên thị trường còn hạn chế 29
2 Hạn chế về thành viên tham gia thị trường 30
3 Hạn chế về lãi suất trên thị trường tiền tệ 31
D Đề xuất mô hình TTTT VN 32
1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo thuận lợi cho các giao dịch trên TTTT 32
2 Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn thị trường của NHNN 34
3 Tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn, năng lực kinh doanh của các NHTM, các tổ chức tín dụng 34
Trang 3A Mô hình Thị trường tiền tệ (TTTT) ở một số nước
I Thị trường Tiền tệ Mỹ
Cục dự trữ liên bang (Fed) là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ Bắt đầu
hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông
qua cuối năm 1913 Fed bề ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng
thống đốc đóng tại thủ đô Washington được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị trường, 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở
hữu một phần ở các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực
Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hội
đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chếdân chủ Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệthống lập pháp cũng như hành pháp Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hìnhthành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung
Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu
bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khảnăng chuyển nhượng) Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khuvực không phải là công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập,
sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương, các Ngân hàng dự trữ liênbang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số mụcđích nhất định
Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân vàrất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường
Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưuthông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực
Ủy ban thị trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ
các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực Luôn có một đại diện của ngân hàng Fed tạiQuận 2, thành phố New York (hiện tại là Timonthy Geithner) là thành viên trong Ủyban này Thành viên từ các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3năm
Cục dự trữ liên bang kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạtđộng thị trường mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, các giấy tờ cógiá như Tín phiếu Kho Bạc Hoa Kỳ, Chứng chỉ tiền gửi, Chấp phiếu Ngân hàng, Hợp
Trang 4đồng mua lại, Quỹ Liên bang, Dollar Châu Âu Những tổ chức tham gia mua bán vớiFed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers) Tất cả hoạt động thị trường củaFed ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liênbang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên banggần mới tỷ lệ mục tiêu.
Hàng hóa trên TTTT
Những hàng hóa chủ yếu trên thị trường tiền tệ Mỹ: Tín phiếu Kho Bạc Hoa
Kỳ, Chứng chỉ tiền gửi, Chấp phiếu Ngân hàng, Hợp đồng mua lại, Quỹ Liên bang,
Dollar Châu Âu
Điều hành TTTT
Fed có ba công cụ chính để duy trì kiểm soát việc cung tiền và tín dụng trongnền kinh tế
Nghiệp vụ thị trường mở
Thỏa thuận mua lại
Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp Để đảm bảonhững thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trườngcủa Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với nhữngnhà giao dịch ưu tiền Các mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảmbảo của Fed Trong ngày giao dịch, Fed sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch
và nhận thế chấp (là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v ).Khi hết hạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại Fed hoàn lại chứng khoán và nhậnlại tiền cùng lãi Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đêm) tới
65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày
Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn,chúng tăng nguồn cung tiền tệ Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giaodịch sẽ đáo hạn, tác động dài hạn là dự trữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giaodịch (lãi suất một ngày của tỷ lệ 4,5%/năm là 0,0121%) Fed tiến hành giao dịch nàyhàng ngày trong 2004-2005, ngoài ra giao dịch thu hút vốn cũng tiến hành nhằm tạmthời giảm nguồn cung tiền tệ
Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), Fed sẽ vay tiền từ các ngườigiao dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ Khi giao dịch đáohạn, Fed sẽ hoàn trả tiền và các khoản lãi
Trang 5Giao dịch mua đứt
Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua đứt Trong giao dịchnày, Cục dự trữ liên bang mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp giấy bạc mới vàotài khoản của người giao dịch đặt tại Fed Bởi hoạt động này là mua đứt nên tăng cungtiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thông thường là12-18 tháng
Từ những năm 1980, Cục dự trữ liên bang cũng bán quyền mua trái phiếuchính phủ ở mức lãi suất cao Việc bán quyền mua này giảm nguồn cung tiền tệ bởicác nhà giao dịch ưu tiên sẽ bị khấu trừ tài khoản dự trữ của họ đặt tại Fed, do đó màquá trình tạo ra tiền lưu thông bị hạn chế
Tỷ lệ chiết khấu
Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định
hướng "lãi suất quỹ vốn tại Fed" Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho
khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang Tỷ lệ này do thị trườngquyết định chứ Fed không ép buộc Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con
số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệthông qua hoạt động của nó trên thị trường
Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các ngân hàngthương mại phải trả khi vay tiền từ Fed Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọncách vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệchiết khấu của Fed Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tínhcông khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản vàmức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay
Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với "lãi
suất quỹ vốn tại Fed" Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản
vay của những khách hàng tin cậy nhất
Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp,
do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán Ngược lại, lãisuất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn
Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ởmức 0,25% hoặc 0,5% Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế Tháng 11 năm 2002, lãisuất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát Ngày
25/03/2003, "lãi suất quỹ vốn tại FED" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng
Trang 607 năm 1958 – 0,68% Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầunâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006.
Có thể, Fed cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thayđổi tỷ lệ cho vay dài hạn, tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các định chế tàichính tư nhân
Quy định về tỷ lệ dự trữ
Cục dự trữ liên bang ấn định tỷ lệ dự trữ - phần trăm số tiền ký gửi tại ngân
hàng mà ngân hàng phải giữ lại hoặc gửi tại Fed để sẵn sàng chi trả các nhu cầu rúttiền Quy định này trực tiếp giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng vì khoản dựtrữ này phải luôn được duy trì Trong trường hợp khoản dự trữ này tụt xuống, ngânhàng phải tiến hành vay lẫn nhau hoặc vay của Fed để đảm bảo tỷ lệ dự trữ
Ngoài ra trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi, ngoài ba công cụ truyềnthống nêu trên, Fed đã tạo thêm 7 công cụ mới, đó là:
Đấu thầu cho vay kì hạn
Cho vay chứng khoán kỳ hạn
Tín dụng cho các trung gian tài chính hàng đầu
Cho vay dựa trên thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản
Quỹ thương phiếu
Công cụ quỹ dành cho các Nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ
Cho vay dựa trên chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản
Trang 7Mô hình thị trường tiền tệ Mỹ
(các NH Dự trữ liên bang)
Trang 8II Thị trường tiền tệ Nhật Bản
Có thể nói thể nói thị trường tiền tệ liên ngân hàng và thị trường mở chiếm vịtrí rất quan trọng trong thị trường tiền tệ Nhật Bản Trong đó thị trường mở ngàycàng phát triển về quy mô và số lượng Năm 1985, thị trường liên ngân hàng chiếm68% thị trường tiền tệ so với 32% của thị trường mở thì đến năm 1989, thị trường tiền
tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn 54% so với 46% của thị trường liên ngân hàng
Hàng hóa
Từ những năm 1970, các loại giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền
tệ phát triển mạnh mẽ và đa dạng bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu tài trợ( mộtloại chứng khoán Chính phủ phát hành không định kỳ), kỳ phiếu công ty và phiếuchấp nhận ngân hàng
Về quy mô, thị trường Nhật Bản phấn đấu theo kịp Mỹ và các nước Châu Âu,năm 1985 số dư nợ trên thị trường bằng 10% tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, đếnnăm 1989 còn là 20% thì đến năm 2009 nợ công của Nhật đã tăng gấp 200% tổng sảnphẩm quốc nội, mức tăng cao nhất trong số các nước phát triển, khiến các nhà đầu tưnắm giữ trái phiếu chính phủ Nhật Bản đang tỏ ra rất lo lắng Tuy nhiên, nhiều quanchức Quỹ tiền tệ Quốc tế khẳng định mặc dù nợ công của chính phủ Nhật đang ở mứccao, song đây không phải vấn đề nghiêm trọng của nước này trong ngắn hạn vì tiếtkiệm tư nhân vẫn rất nhiều và các nhà đầu tư đang tiếp tục mua trái phiếu chính phủ
Trên thị trường tiền tệ, các công cụ nợ của lĩnh vực tư nhân như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu…phát triển hơn so với tín phiếu kho bạc, tín phiếu tài trợ
và các chứng khoán chính phủ khác bởi vì ngân sách Nhà nước Nhật Bản ít thâm hụt ( so với Mỹ)
Điều hành TTTT
Ngân hàng trung ương Nhật Bản hiện nay chủ yếu sử dụng cho vay trực tiếp vàchiết khấu lại (được áp dụng chủ yếu với tín phiếu kho bạc và tín phiếu tài trợ, nhưngchưa phát triển lắm vì còn vướng mắc về cơ chế và chế độ thuế hiện nay) Để hỗ trợdoanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, ngân hàng trung ương thường hạ lãi suất
Trang 9Sở giao dịch chứng khoán Nhật Bản Thành viên khác của TTTT
Bộ tài chính Nhật Bản
NHTW Nhật Bản( BOJ )
chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại, tạo điều kiện để ngânhàng thương mại cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp Tại Nhật, lãi suất ngân hàngtrung ương chiết khấu và tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại được hạ xuống còn0,3% Dựa trên lãi suất được ngân hàng trung ương cấp vốn từ 0% đến 0,3%, ngânhàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay từ 3-4% mà không cần phải có sự canthiệp của chính phủ hay hỗ trợ từ ngân sách
Mô hình thị trường tiền tệ Nhật Bản:
Trang 10III Thị trường tiền tệ Singapore
Hệ thống ngân hàng Singapore
Điều kiện kinh tế xã hội:
Với lợi thế địa lý chiến lược đường biển quốc tế, Singapore nằm ở vị trí giao điểmgiữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nơi hội tụ của các nhà buôn với tên gọi “đôthị biển”, nhưng điều kiện tự nhiên có nhiều bất lợi như diện tích nhỏ chỉ khoảng 640km2, dân số khoảng 3,1 triệu người, hầu như không có tài nguyên phong phú Là mộtquốc gia trẻ đa sắc tộc được hình thành từ nền tảng người nhập cư từ Trung Quốc,Malaysia, Ấn Độ, và châu Au, Singapore đã từng là thuộc địa của Anh với việc thihành chính sách tự do thương mại dựa trên cơ bản nguyên tắc pháp luật hình thành nềnếp pháp luật trong kinh doanh Được trao trả năm 1971, đến nay Singapore trở thànhtrung tâm buôn bán, dịch vụ mậu dịch, tạo nên thu nhập chính của đất nước này(chiếm 84% GDP) vào những năm 60, đồng thời ngày nay trở thành trung tâm tàichính ngân hàng và thị trường tài chính quốc tế phát triển rất mạnh mẽ
Hệ thống ngân hàng ở Singapore hiện nay
Cơ quan tiền tệ Singapore gọi tắt là MAS
Năm 1968, Singapore thành lập thị trường USD châu Á, thu nguồn đôla ở khu
vực đồng thời cho các nước vay rộng rãi Do lãi suất tiền gửi cao, đáng tin cậy, lại
có thủ tục gửi tiền vào và lấy ra dễ dàng nên nguồn tiền từ nước ngoài dồn dập gửi vào Hiện nay có hơn 130 ngân hàng nước ngoài đặt chi nhánh tại Singapore, hơn
500 công ty đa quốc gia và rất nhiều công ty tài chính khác như công ty chứng khoánmới thành lập, công ty giao dịch tiền tệ, công ty tài chính … đưa Singapore trở thành
1 trung tâm giao dịch tiền tệ quan trọng
Hệ thống ngân hàng Singapore bao gồm Ủy ban tiền tệ Singapore, ngân hàngthương mại, ngân hàng thương mại dịch vụ, ngân hàng tiết kiệm bưu điện, công ty tàichính…Trong đó Ủy ban tiền tệ Singapore do Bộ tài chính Singapore thành lập từnăm 1971 để giám sát các tổ chức tài chính và thực thi chính sách tiền tệ Ủy ban tiền
Trang 11tệ Singapore chịu trách nhiệm đối với tất cả các chức năng ngân hàng trung ương Cácđịnh chế tài chính còn lại hoạt động đẩy mạnh việc lôi cuốn các tổ chức tài chínhnước ngoài, để phát triển ngân hàng thương mại theo hướng ngân hàng hiện đại, chútrọng đổi mới công nghệ và đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu cầu dịch chuyển vốntrên thị trường
So với các nước trong khối ASEAN thì Singapore có thị trường tài chính phát triển nhất, năm 1975 ở Singapore lãi suất tiền vay và tiền gửi trong nước đã
được tự do hóa Năm 1978, việc kiểm soát hối đoái cũng đã được nới lỏng, đem lạiviệc tự do hóa tài chính đầy đủ… nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng Singaporehuy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng hiệuquả các nguồn vốn tiền tệ đã huy động được, đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình côngnghiệp hóa và hiện đại hóa
Thứ hai là thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động
một cách nhịp nhàng MAS đã đảm bảo với các định chế tài chính rằng các định chế
Trang 12này có thể tiếp cận nguồn thanh khoản đô la Singapore và đô la Mỹ MAS đã duy trìđược thanh khoản ở mức độ cao hơn trong hệ thống ngân hàng bằng “Thể thứcthường trực” để cho phép tất cả các ngân hàng được tiếp cận Hệ thống thanh toán điện
tử của MAS
Thứ ba là triển khai các biện pháp để duy trì lòng tin của các nhà đầu tư,
trên cương vị Singapore là một trung tâm tài chính quốc tế Ngày 16/10/2008, Chínhphủ Singapore đã cho công bố kế hoạch bảo đảm cho các khoản tiền gửi của cá nhân
và các khách hàng phi ngân hàng được cấp phép hoạt động tại Singapore Kế hoạchnày nhằm mục đích đảm bảo duy trì một sân chơi quốc tế bình đẳng cho mọi ngânhàng ở Singapore và thể hiện niềm tin của Chính phủ vào tính lành mạnh và an toàncủa hệ thống tài chính, đồng thời tạo ra tác dụng duy trì lòng tin của các nhà đầu tư
và những người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng của quốc gia này
MAS cũng rất chú trọng đến công tác thông tin tuyên truyền, nghiên cứu vàgiáo dục đào tạo Quỹ phát triển lĩnh vực tài chính đã dành ra 10 triệu đô la cho cácchương trình giáo dục tài chính trong vòng 3 năm tới Đặc biệt, MAS rất quan tâmđến việc đề nghị công chúng đóng góp ý kiến để làm sao cho công tác giáo dục tàichính này đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 13Sơ đồ về hoạt động của mô hình tttt Singapore
Sau đó NHTW sẽ giám sát và quản lí các nhtm và tổ chức tài chính, đưa ra các chính sách tiền tệ phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kì.
Trang 14IV Thị trường tiền tệ Trung Quốc
Bộ phận cấu thành TTTT Trung Quốc
Thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Ở nước này thị trường tiền tệ Liên Ngân hang chiếm vị trí chủ đạo Hệ
thống ngân hàng của Trung Quốc hiện nay bao gồm ngân hàng thương nghiệp
quốc hữu, ngân hàng thương nghiệp của các thành phần khác, ngân hàng thươngnghiệp ở các thành thị và ngân hàng TW Trong hệ thống ngân hàng này, có 4 ngânhàng lớn có vốn khá lớn và chiếm vị trí quan trọng trên TTTT: Ngân hàng côngthương, Ngân hàng nông nghiệp, Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng xây dựng Vốnkinh doanh của 4 ngân hàng hiện nay rất lớn, mỗi ngân hàng có nguồn vốn khôngdưới 1000 tỷ NDT, hơn nữa các ngân hàng này đều thiết lập các quỹ dự phòng tiềnvay và tiền gửi với lượng tiền tương đối đầy đủ, sẵn sàng chi trả cho khách hàng khicần thiết
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Chính quyền Bắc Kinh đã cho phép 13 ngân hàng nội địa và nước ngoài giao
dịch đồng nhân dân tệ với vai trò kiến tạo thị trường tiền tệ Trung Quốc dự định
sẽ thiết lập hệ thống trao đổi đồng nhân dân tệ vào đầu năm nay, cho phép đồng nội tệthay đổi giá trị linh hoạt hơn nữa so với các ngoại tệ Chính phủ Trung Quốc tuyên bốrằng việc đưa vào thị trường các ngân hàng "kiến tạo thị trường" - cho phép trao đổiđồng nhân dân tệ ở mức giá bán và mua được niêm yết - sẽ giới hạn phạm vi can thiệpcủa nhà nước vào thị trường tiền tệ Trung Quốc đã thay đổi chính sách tỷ giá hối đoáivào mùa hè năm ngoái, tăng giá đồng nhân dân tệ lên 2,1% và xoá bỏ quy định "neochặt" giá trị đồng nhân dân tệ với đồng USD
Ngoài các hoạt động giao dịch ngoại tệ liên ngân hang trong nước, các ngânhang TRung quốc cung đã vươn ra thị trường hối đoái quốc tê, nhằm đáp ứng nhu cầucho khách hàng và nhu cầu quản lý dự trữ ngoại tệ Thị trường hối đoái tại Trung
Trang 15Quốc không ngừng được củng cố và hoàn thiện, mặc dù chưa hoàn chỉnh nhưng cũng
đã đóng vai trò lớn trong hoạt động của thị trường tiền tệ Trung Quốc
Bước vào thế kỷ 21, dự trữ ngoại hối Trung Quốc bắt đầu tăng nhanh Tháng 2
năm 2006, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và trở thành nước có dự trữ ngoại hối đứng đầu thế giới, Tháng 10 năm 2006, dự trữ ngoại hối
Trung Quốc đạt hơn 1000 tỷ USD, năm 2007 đạt 1530 tỷ USD, năm 2008 đạt 1950 tỷ
USD Từ quý IV năm 2008, dự trữ ngoại hối Trung Quốc bắt đầu tăng chậm
hơn, có tháng còn tăng trưởng âm, nhưng từ quý II năm 2009 đến nay, dự trữ ngoại hối lại xuất hiện dấu hiệu tăng trưởng nhanh.
Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn.
TRUNG QUỐC: PHÁT TRIỂN TT TRÁI PHIẾU CHẬM MÀ CHẮC
Không những cho các công ty trong nước bán cổ phần cho nước ngoài để hútvốn, chính quyền Trung Quốc còn cho vốn lưu thông theo chiều ngược lại: để cáchãng nước ngoài vào huy động vốn trong nước Song tất cả đều có chung một chủtrương: chậm mà chắc
Chính phủ nước này đã cho phép Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngânhàng thế giới (WB), Công ty Tài chính quốc tế (IFC) và Ngân hàng hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JBIC) phát hành trái phiếu bằng đồng nhân dân tệ (NDT) trị giá 480
triệu USD Sự kiện lớn nhất, khi Ngân hàng xây dựng Trung Quốc (China
Construction Bank - CCB) phát hành cổ phiếu lần đầu ở thị trường toàn cầu - đượcgiới chuyên môn gọi là cơn "địa chấn" cổ phiếu lớn nhất thế giới.Mục tiêu ban đầucủa CCB là thu về 8,15 tỷ USD từ 26 tỷ cổ phiếu, nhưng tại phiên giao dịch, các nhàđầu tư quốc tế đã đăng ký mua với tổng giá trị đến 521,8 tỷ USD Đây được xem nhưcuộc phát hành cổ phiếu lần thứ nhất lớn nhất thế giới trong năm 2005
Trang 16Thị trường tín dụng.
Tổng giá trị các khoản vay mới tại Trung Quốc tháng 1/2010 cao hơn ca 3tháng trước cộng lại bởi các ngân hàng cố gắng đẩy mạnh cho vay trước khi các nhàhoạch định chính sách hạn chế tín dụng để ngăn áp lực lạm phát Theo tính toán củacác chuyên gia Bloomberg, tổng giá trị các khoản vay mới tại Trung Quốc trong tháng1/2010 lên tới 1,38 nghìn tỷ nhân dân tệ tương đương 201 tỷ USD Chỉ số giá tiêudùng tháng 1/2010 được cho là tăng mạnh nhất từ năm 2008, xuất khẩu tăng tốc Mộtthập niên về trước, hệ thống ngân hàng Trung Quốc vật vã dưới gánh nặng nợ khóđòi Theo báo cáo của Ngân hàng trung ương nước này, năm 1999 nợ xấu chiếm gần40% tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng Sang năm 2000, số liệu chính thức chobiết tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng thương mại lớn giảm xuống mức 29%, đến cuối năm
2007 chính quyền công bố nợ xấu đã xuống dưới mức 7% Chính vì nỗi lo nợ khó
đòi này mà Trung Quốc bắt đầu thực hiện những biện pháp dần hạn chế tăng trưởng tín dụng nhằm ngăn chặn áp lực lạm phát và rủi ro tăng trưởng quá nóng
Mô hình TTTT Trung Quốc
Trang 17V Thị trường tiền tệ Việt Nam
1 Khái niệm thị trường tiền tệ
Theo điều 9, luật sửa đổi của luật ngân hàng Nhà nước (2003) định nghĩa: “Thị trườngtiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn các giấy tờ có giá, bao gồm tínphiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ
có giá khác”
2 Phân loại thị trường tiền tệ
Phân loại theo phương thức tổ chức thị trường
Thị trường tiền tệ sơ cấp: là nơi chuyên phát hành các loại trái phiếu mới của
ngân hàng, công ty tài chính, kho bạc Thị trường tiền tệ sơ cấp thật sự là nơi tìm vốncủa người phát hành trái phiếu và cung ứng vốn của người mua trái phiếu
Phương thức phát hành:
- Phát hành trực tiếp
- Phát hành qua hoạt động đấu thầu
Thị trường tiền tệ thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi mua đi bán lại các
chứng khoán có giá trị đã phát hành ở thị trường sơ cấp Có nghĩa là ở thị trường sơcấp người ta tạo ra hàng hóa còn thị trường thứ cấp là lưu thông, buôn bán hànghóa,tạo ra tính lỏng cho hàng hóa hơn,có thể nói thị trường sơ cấp giống như nơi sảnxuất và bán buôn còn thị trương thứ cấp là nơi bán lẻ, cả hai thị trường có mối quan
hệ chặt chẽ,cùng hỗ trợ và làm cho thị trường tiền tệ phát triển
Hình thức giao dịch: mua bán hẳn và mua bán kỳ hạn
Phân loại theo đối tượng tham gia
Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng –Interbank): Thị trường này dưới sự điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết
Trang 18vốn trong hệ thống NHTM đồng thời tạo điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò làngười cho vay cuối cùng.
Thị trường các công nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳphiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay bao gồm cả thị trườngphát hành và thị trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thịtrường tiền tệ
Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phươngtiện thanh tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trườngtiền tệ Thị trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đápứng những nhu cầu về thương mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt làtạo điều kiện can thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiềnquốc gia Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot),hợp đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn(Option)… nhờ đó đáp ứng được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức
và làm cho thị trường ngoại hối trở nên nhộn nhịp hơn