1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nợ xấu ở các nhthương mại việt nam nghiên cứu tại nhtmcổ phần công thương việt nam với nhtmcổ phần ngoại thương việt nam

31 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề nợ xấu ở các NHTM Việt Nam nghiên cứu tại NHTM CP Côn Thương Việt Nam với NHTM CP Ngoại Thương Việt Nam
Người hướng dẫn P. Ts. Nguyễn Văn A
Trường học Đại Học Ngân Hàng Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại Đề án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ XẤU (4)
    • 1.1. Khái quát chung về tín dụng (4)
      • 1.1.1. Định nghĩa về tín dụng (4)
      • 1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng và doanh nghiệp (4)
      • 1.1.3. Các hình thức tín dụng (6)
    • 1.2. Nợ xấu của các NHTM (7)
      • 1.2.1. Các quan điểm về nợ xấu của NHTM (7)
      • 1.2.2. Nguyên nhân phát sinh nợ xấu (11)
      • 1.2.3. Ảnh hưởng của nợ xấu (15)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỢ XẤU Ở CÁC NHTM VIỆT NAM (18)
    • 2.1. Thực trạng nợ xấu ở các NHTM Việt Nam (18)
      • 2.1.2. So sánh vấn đề nợ xấu của NHTMCP Công Thương Việt (25)
  • CHƯƠNG III: KẾT LUẬN (30)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (31)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ XẤU

Khái quát chung về tín dụng

1.1.1 Định nghĩa về tín dụng

Tín dụng, xuất phát từ chữ Latinh "creditium" có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, được hiểu trong kinh tế là mối quan hệ giao dịch giữa hai bên Trong đó, một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, và bên nhận cam kết hoàn trả theo thời hạn và lãi suất đã thỏa thuận.

Quan hệ tín dụng đã xuất hiện từ lâu và phát triển song song với sự tiến bộ của kinh tế hàng hóa Nó không chỉ thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường.

Quan hệ tín dụng là mối quan hệ vay mượn, trong đó các bên sử dụng nguồn vốn tài sản của nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng.

Quan hệ tín dụng khác với quan hệ mua bán hay viện trợ, cho nhận:

 Mua bán là sự chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu để nhận được giá trị. Giá cả phản ánh giá trị của đối tượng được mua bán.

 Quan hệ cho nhận là sự chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu cũng như sử dụng đối tượng cho nhận từ chủ thể này sang chủ thể khác.

Trong quan hệ tín dụng, người sử dụng vốn cần có ý thức bảo toàn nguồn vốn của người cho vay, đồng thời tuân thủ nguyên tắc hoàn trả Họ cũng phải nỗ lực tối đa để bảo vệ và phát triển nguồn vốn mà mình đang sử dụng.

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng và doanh nghiệp Đối với ngân hàng

Hoạt động tín dụng là phần quan trọng trong nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, chiếm 60%-70% tổng tài sản có trong bảng tổng kết tài sản Đây là tỷ lệ điển hình cho các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Văn hóa ngân hàng tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển, tuy nhiên, người dân vẫn còn hạn chế kiến thức về ngân hàng Trong bối cảnh này, hoạt động tín dụng vẫn là nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng.

85 - 90% tài sản của các ngân hàng thương mại (NHTM) nằm trong khoản mục tín dụng, cho thấy tín dụng là hoạt động chủ chốt mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng Để có vốn, ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và nhận tiền gửi thanh toán từ doanh nghiệp Huy động tiền gửi và cho vay là hai nghiệp vụ cơ bản nhất trong hoạt động ngân hàng Khi cho vay, ngân hàng sẽ tính toán các chi phí để xác định lãi suất cho vay phù hợp.

Lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí hoạt động ngân hàng + lợi nhuận kỳ vọng + chi phí bù đắp rủi ro

Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay với lãi suất đảm bảo bù đắp chi phí huy động và hoạt động, đồng thời mang lại lợi nhuận cho mình Đối với doanh nghiệp, hoạt động tín dụng rất đa dạng, bao gồm mua chịu hàng hóa và giao hàng trước với thanh toán sau, cả hai đều là hình thức quan hệ tín dụng Trong đó, quan hệ tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các mối quan hệ tín dụng tại doanh nghiệp.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trở nên thiết yếu và không thể tách rời.

Các doanh nghiệp, dù là nhà nước hay tư nhân, lớn hay nhỏ, không thể chỉ dựa vào vốn tự có để phát triển sản xuất Vốn tự có chỉ đủ cho hoạt động kinh doanh nhỏ hoặc đầu tư ban đầu Để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao và phát triển nền kinh tế, doanh nghiệp cần một nguồn vốn lớn hơn nhiều so với vốn tự có ban đầu.

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho doanh nghiệp, khi hơn 2/3 nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đến từ các khoản vay ngân hàng Những khoản tín dụng này như "dầu nhớt" giúp guồng máy doanh nghiệp hoạt động trơn tru, đảm bảo quá trình sản xuất và kinh doanh diễn ra liên tục.

1.1.3 Các hình thức tín dụng

1.1.3.1 Phân loại theo thời gian

 Tín dụng ngắn hạn : là các khoản tín dụng có thời hạn dưới 1 năm.

 Tín dụng trung hạn : là các khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.

 Tín dụng dài hạn : là các khoản tín dụng có thời hạn từ 5 tới 10 năm hoặc dài hơn tùy ý định của ngân hàng.

1.1.3.2 Phân loại theo mục đích sử dụng

Tín dụng bổ sung vốn lưu động

Tín dụng bổ sung vốn lưu động là các khoản vay ngắn hạn mà ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp, nhằm tăng cường nguồn vốn lưu động và đầu tư vào tài sản lưu động để hỗ trợ chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Tín dụng đầu tư vào tài sản cố định là các khoản vay ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp để đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà xưởng và máy móc thiết bị Những khoản vay này thường có thời gian thu hồi vốn dài, do đó, doanh nghiệp thường sử dụng các khoản vay trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu đầu tư.

Tín dụng tài trợ thiếu hụt tài chính tạm thời là các khoản vay ngắn hạn mà doanh nghiệp sử dụng để thanh toán tiền hàng, tiền lương và thực hiện nghĩa vụ thuế khi nguồn thu chưa về Khoản tín dụng này giúp doanh nghiệp giải quyết tình trạng thiếu tiền mặt, đảm bảo hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn Doanh nghiệp thường hoàn trả các khoản vay này ngay khi nhận được nguồn thu của mình.

Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu

Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu chủ yếu được thực hiện thông qua việc doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng (L/C) trả chậm, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch thương mại quốc tế.

Nợ xấu của các NHTM

1.2.1 Các quan điểm về nợ xấu của NHTM

Nợ xấu được hiểu khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của từng quốc gia và các chủ thể trong nền kinh tế Từ góc nhìn của các ngân hàng thương mại (NHTM), nợ xấu là những khoản cho vay không còn khả năng sinh lời hoặc không còn hoạt động, thường xảy ra khi người vay ngừng thanh toán và dẫn đến tình trạng vỡ nợ.

 Theo quan điểm của Ngân hàng TW Châu Âu (ECB)

 Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như:

 Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ.

 Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không có tài sản để thanh toán nợ.

 Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.

Khách hàng có thể gặp tình trạng nợ nần khi ngừng hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc khi kinh doanh thua lỗ, dẫn đến việc tài sản còn lại không đủ để trả nợ.

Nợ xấu là những khoản cho vay mà ngân hàng khó có thể thu hồi đầy đủ, thường do không có tài sản thế chấp hoặc tài sản không đủ giá trị Điều này dẫn đến việc ngân hàng không thể thu hồi số nợ, vì người vay có thể gặp khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận từ kinh doanh, không liên lạc với ngân hàng để thanh toán, hoặc tình hình tài chính cho thấy phần lớn số nợ sẽ không được hoàn trả Các khoản nợ này bao gồm nhiều loại hình khác nhau.

Những khoản nợ mà người mắc nợ đã đồng ý thanh toán trước đây nhưng không thể hoàn tất, hoặc những khoản nợ có tài sản được chuyển giao để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ để chi trả toàn bộ nợ.

 Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thỏa thuận.

Khi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ hoặc không được chấp nhận về mặt pháp lý, người mắc nợ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng đầy đủ.

 Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.

Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố:

Theo quan điểm của ECB, nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) khoản vay không thể thu hồi và (ii) khoản vay có thể thu hồi nhưng giá trị thu hồi không đầy đủ Do đó, việc đánh giá nợ xấu của ngân hàng chủ yếu dựa vào kết quả thu hồi nợ.

 Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Định nghĩa về nợ xấu được IMF đưa ra như sau:

Một khoản cho vay được xem là nợ xấu khi các khoản thanh toán lãi và/hoặc gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đã được tái cơ cấu hoặc gia hạn nợ sau 90 ngày Ngoài ra, những khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ đầy đủ cũng được coi là nợ xấu.

Nợ xấu, theo định nghĩa của IMF, được xác định dựa trên hai yếu tố chính: (i) khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ của khách hàng bị nghi ngờ Quan điểm này nhấn mạnh rằng nợ xấu không chỉ dựa vào thời gian quá hạn mà còn vào khả năng thanh toán của khách hàng, có thể là khách hàng hoàn toàn không thể trả nợ hoặc chỉ trả một phần.

So với quan điểm của ECB, IMF xem xét nợ xấu dựa vào khả năng thu hồi nợ của ngân hàng và bổ sung yếu tố thời gian quá hạn trả nợ Định nghĩa này hiện đang được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu.

 Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV)

Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu được định nghĩa là tài sản có phân loại, mức trích và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro nhằm xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

“Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”.

Các nhóm nợ được phân loại theo Điều 10 và Điều 11 trong Thông tư này Trong đó:

Phân loại theo Điều 10 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ, bao gồm Nhóm 3 với thời gian quá hạn từ 91 đến 180 ngày, Nhóm 4 từ 181 đến 360 ngày, và Nhóm 5 cho các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.

Theo Điều 11, nợ được phân loại dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng, bao gồm: Nhóm 3 là các khoản nợ mà TCTD đánh giá không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn; Nhóm 4 là các khoản nợ có khả năng tổn thất cao; và Nhóm 5 là các khoản nợ mà TCTD đánh giá không còn khả năng thu hồi, dẫn đến mất vốn.

Nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được xác định dựa trên hai yếu tố chính: thứ nhất, nợ đã quá hạn trên 90 ngày; thứ hai, khả năng trả nợ của khách hàng đang gặp vấn đề Sự lựa chọn yếu tố nào để phân loại nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam phụ thuộc vào khả năng và điều kiện của từng ngân hàng trong việc thực hiện phân loại nợ theo quy định.

10 hay Điều 11 của Thông tư 02/2013.

Theo quan điểm cá nhân, nợ xấu cần được đánh giá dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng Điều này có nghĩa là ngay cả khi khoản vay đang trong hạn hoặc mới được cấp, nhưng nếu có dấu hiệu cho thấy khả năng trả nợ của khách hàng là đáng nghi ngờ, thì khoản vay đó cũng có thể được xem là nợ xấu.

1.2.2 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu

1.2.2.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng Đây có thể coi là nhóm nguyên nhân chủ quan, vì xuất phát từ chính bản thân các ngân hàng Đó có thể là do một chính sách tín dụng kém, sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, giám sát hay các vấn đề liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng.

THỰC TRẠNG NỢ XẤU Ở CÁC NHTM VIỆT NAM

Thực trạng nợ xấu ở các NHTM Việt Nam

Vào đầu tháng 04 năm 2014, trong buổi họp báo công bố báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới, các chuyên gia nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam đã ổn định trong hai năm qua Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn tăng trưởng dưới mức kỳ vọng so với tiềm năng Một trong những nguyên nhân chính là hệ thống ngân hàng, trong đó nợ xấu được xem là "nút thắt" cản trở tăng trưởng và phục hồi kinh tế.

2.1.1 Diễn biến nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ năm 2010 đến ngày

Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã tồn tại từ nhiều năm trước, không phải chỉ mới xuất hiện gần đây Khi nền kinh tế vĩ mô gặp khó khăn và hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ, nợ xấu gia tăng nhanh chóng Theo số liệu tổng hợp, nợ xấu bắt đầu có xu hướng tăng từ năm 2007 và thu hút sự chú ý đặc biệt từ cuối năm 2011.

Năm 2010, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) chỉ ở mức 2,52%, tương đương khoảng 58.000 tỷ đồng, cho thấy tình hình tài chính vẫn trong tầm kiểm soát Trong bối cảnh này, nợ xấu chưa được coi là vấn đề nghiêm trọng gây bất ổn tài chính quốc gia, dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức 27,65% và tổng phương tiện thanh toán tăng 23% Các NHTM đã phải tự xử lý nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, phát mãi tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu nợ vay.

Năm 2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về giá trị lên 85.000 tỉ đồng, chiếm

Tình hình nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại hiện đang gặp nhiều khó khăn, với tỷ lệ nợ xấu đạt 3,3% tổng dư nợ Nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tiền tệ chặt chẽ, nợ xấu tích tụ từ trước, và tình trạng doanh nghiệp thua lỗ gia tăng Điều này dẫn đến ba hệ quả chính: tăng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, giảm lợi nhuận trên doanh thu, và gia tăng rủi ro thanh khoản Để xử lý nợ xấu, các ngân hàng đã áp dụng nhiều giải pháp như siết chặt thẩm định khách hàng vay vốn, giãn/hoãn/giảm nợ, và tuân thủ quy định cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước.

Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện

Trong giai đoạn 2008 – 2011, nợ xấu tăng trưởng nhanh chóng với tỷ lệ 51%, trong khi tín dụng chỉ tăng trung bình 26,56% Sự gia tăng này đã thu hút sự chú ý không chỉ từ các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước, mà còn từ Quốc hội và Chính phủ Tuy nhiên, thông tin về nợ xấu và mức độ nghiêm trọng của tình trạng nợ xấu vẫn còn mơ hồ và chưa rõ ràng.

Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, tính đến ngày 31/5/2012, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đạt 117.723 tỷ đồng, tương đương 4,47% Tuy nhiên, Cơ quan giám sát ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu có thể lên tới 8,6%, trong khi Fitch Ratings chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam có thể lên đến 13% trên tổng dư nợ Trước tình hình này, vào ngày 03/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ.

CP, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012.

Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, thông qua việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu và đảm bảo trích lập dự phòng rủi ro Từ đó, đề án số 254 “cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” đã được ban hành theo Quyết định 254/QĐ – TTg.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai quyết liệt đề án 254 bằng cách phân loại hệ thống ngân hàng thương mại thành ba nhóm: Nhóm 1 gồm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh và quy mô lớn, có khả năng trở thành ngân hàng trụ cột; Nhóm 2 là các ngân hàng tài chính lành mạnh nhưng quy mô nhỏ; và Nhóm 3 là các ngân hàng có tình hình tài chính khó khăn cần thực hiện tái cơ cấu.

Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tập trung vào việc củng cố thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa hoạt động tài chính, tái cơ cấu tổ chức và tăng cường quản trị hệ thống ngân hàng, nhằm tiến tới việc xử lý nợ xấu một cách toàn diện.

Năm 2013, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng Việt Nam đã tăng mạnh lên 23,73% so với năm 2012, trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia Tình trạng nợ xấu ngày càng gia tăng và vượt ngoài tầm kiểm soát của từng ngân hàng.

Năm 2013, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã triển khai nhiều giải pháp để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trong giai đoạn hai của đề án 254, NHNN tập trung vào việc lành mạnh hóa tài chính ngân hàng bằng cách tăng cường quy định về an toàn vốn, thành lập Công ty Quản lý tài sản (VAMC) để xử lý nợ xấu, và nâng cao quản trị rủi ro nhằm hoàn thiện chuẩn mực Basel II.

Lần lượt các Quyết định và Thông tư được ra đời:

Vào ngày 21/01/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN, quy định về phân loại tài sản, mức trích và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro cho các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư này hướng dẫn phân loại nợ và trích lập dự phòng theo chuẩn mực Basel II, một tiêu chuẩn được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.

Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013 quy định về việc thành lập và tổ chức Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Đồng thời, Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” được phê duyệt bởi Thủ tướng Chính phủ vào ngày 31/5/2013 theo Quyết định 843/2013/QĐ-TTg, nhấn mạnh nguyên tắc xử lý nợ xấu phải được thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ bằng nhiều biện pháp, trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế.

Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 09/09/2013, quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD (VAMC).

Năm 2014, ngành ngân hàng đã chủ động xử lý nợ xấu, với tổng nợ xấu nội bảng đạt 162,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,11% tổng dư nợ vào cuối tháng 7 Tình hình kinh tế vĩ mô khó khăn đã khiến nợ xấu tăng nhanh trong những tháng đầu năm, nhưng đến cuối tháng 12, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 3,25% Sự gia tăng nợ xấu trong nửa đầu năm, đặc biệt là tháng 6, được tác động bởi Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, yêu cầu phân loại nợ chặt chẽ hơn Tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm, nợ xấu đã giảm liên tục, cho thấy sự cải thiện trong chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu trong năm 2014

Ghi chú: Tốc độ tăng của nợ xấu so với tháng trước liền kề

(Nguồn: Theo số liệu báo cáo của các TCTD theo Thông tư 31)

Vào tháng 8/2015, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết liệt triển khai Đề án xử lý nợ xấu nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam, với mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3% vào cuối năm 2015 Để thực hiện điều này, NHNN đã ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN yêu cầu Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) lên kế hoạch mua từ 70.000 đến 100.000 tỷ đồng nợ xấu trong năm và các tổ chức tín dụng (TCTD) phải xử lý ít nhất 60% nợ xấu cần giải quyết.

2015 trước 30/6; thực hiện bán nợ cho VAMC phải đạt tối thiểu 75% trong 6 tháng đầu năm; và các TCTD phải tập trung nguồn lực xử lý nợ xấu.

Ngày đăng: 18/09/2023, 16:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w