1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về bảo hiểm xã hội

58 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về bảo hiểm xã hội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 262,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhậpđối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảmhoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình

Trang 1

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

I Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX, khi nền côngnghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở cácnước Châu Âu Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đãban hành luật bảo hiểm y tế Một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ mãiđến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH

Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiếnPháp thuộc Sau cách mạng Tháng 8-1945, chính phủ nước ViệtNam dân chủ cộng hòa đã ban sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 thựchiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hưu trí Các chế độ nàyđược thực hiện đối với những người làm việc trong các cơ quan từ

cơ sở đến trung ương

Sau hòa bình lập lại, ngày 27/12/1961, nhà nước ban hành Nghịđịnh 128/CP của chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế

độ BHXH đối với công nhân viên chức” nhưng bộc lộ nhiều hạnchế Do đó ngày 18/09/1985, chính phủ ban hành nghị định236/HDBHNT về việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ bảo

Trang 2

hiểm xã hội đối với người lao động Nội dung chủ yếu của nghị địnhnày là điều chỉnh mức đóng và hưởng.

Tuy nhiên, chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạnchế không phù hợp với cơ chế mới Ngày 22/06/1993 chính phủ đãban hành nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH

áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dâu bước đổi mới củaBHXH Việt Nam

Tuy vậy, chỉ khi bộ luật lao động được thông qua ngày15/06/1994 về BHXH theo nghị định 12/CP của chính phủ và nghịđịnh 45/CP cho các đối tượng BHXH là công nhân viên chức và lựclượng vũ trang, BHXH Việt Nam mới thực sự đổi mới nội dung,

phương thức hoạt động cũng như tổ chức quản lý

II Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội.

1 Khái niệm:

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhậpđối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảmhoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và

sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngườilao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

2 Bản chất:

Trang 3

- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xãhội, nhát là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chếthị trường Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoànthiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXHkhông vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.

- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sởquan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bênBHXH và bên được BHXH

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mấtviệc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ýmuốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp… Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra khônghoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản… Đồng thời nhữngbiến cố đó có thể xảy ra trong và ngoài quá trình lao động

- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khigặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ mộtnguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bêntham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từphía nhà nước

Trang 4

- Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thunhập, mất việc làm Cụ thể:

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bịmất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ

+ Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật

+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư

và đáp ứng nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em

III Đối tượng của bảo hiểm xã hội.

Mặc dù ra đời cách đây đã lâu nhưng đối tượng của BHXH vẫn

có nhiều quan điểm chưa thống nhất Đôi khi vẫn có sự nhầm lẫngiữa đối tượng BHXH và đối tượng tham gia BHXH

BHXH là một hệ thống nhằm đảm bảo khoản thu nhập bị giảmhoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng laođộng, mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, giàyếu… Vì vậy đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người laođộng bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả nănglao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH

Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và sử dụng laođộng Tuy vậy tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi

Trang 5

nước mà đối tượng có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngườilao động nào đó.

Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH đều thực hiệnđối với các viên chức nhà nước, những người làm công hưởnglương Việt Nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biếtrằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả người lao động

Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoàingười lao động còn có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH,dưới sự bảo trợ của nhà nước Người sử dụng lao động đóng gópvào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho người laođộng mà họ sử dụng Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp củangười lao động và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản

lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với ngườilao động Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trưng riêng củaBHXH Nó quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXHmột cách ổn định và bền vững

IV Chức năng và tính chất của bảo hiểm xã hội.

1 Chức năng: BHXH có những chức năng chủ yếu sau:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao độngtham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khảnăng lao động hoặc mất việc làm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp

Trang 6

này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng mất khả năng lao động sẽđến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo cácđiều kiện quy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả nănglao động tạm thời làm giảm thu nhập hoặc mất thu nhập, người laođộng cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuôcvào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phảiđúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyếtđịnh nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa nhữngngười tham gia BHXH Tham gia BHXH không chỉ có người laođộng mà cả người sử dụng lao động Các bên tham gia đều phảiđóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một sốngười lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập Sốlượng những người này thường chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng số nhữngngười tha gia đóng góp Như vậy theo quy luật số đông bù số ít,BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiềungang Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao vàthu nhập thấp, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc vớinhững người ốm đau phải nghỉ việc… Thực hiện chức năng này cónghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

Trang 7

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sảnxuất nâng cao năng suất lao động xã hội Khi khỏe mạnh tham gialao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trảlương hoặc tiền cồn Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi

về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thếcuộc sống của họ và gia đình luôn được đảm bảo ổn định và có chỗdựa Do đó người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với côngviệc, với nơi làm việc Từ đó họ rất tích cực lao động sản xuất nângcao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này biều hiệnnhư một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao săngsuất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng laođộng, giữa người lao động và xã hội Trong thực tế lao động sảnxuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâuthuẫn nội tại, khách quan về tiền công, tiền lương, thời gian laođộng… Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa

và giải quyết Đặc biệt cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH màmình có lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn

bó lợi ích được với nhau Đối với nhà nước và xã hội, chi choBHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫngiải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia

Trang 8

đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế chính trị và xãhội phát triển an toàn hơn.

2 Tính chất của bảo hiểm xã hội.

- Tính khách quan tất yếu trong đời sống xã hội.Trong quátrình lao động sản xuất, người lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi

ro Khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khănvì: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợpđồng lao động luôn phải đặt ra vấn đề thay thế… Sản xuất càng pháttriển, những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đốivới người sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, đã đếnmối quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng Để giải quyết vấn đềnày, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH Vì vậyBHXH ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống xã hộicủa mỗi nước

- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theothời gian và không gian Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nộidung cơ bản của BHXH Từ thời điểm hình thành và triển khai, đếnmức đóng góp của các bên tham gia để hình thành qũ BHXH Từnhững rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đếnmức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động…

Trang 9

- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời cònmang tính dịch vụ.

+ Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ quỹ BHXH muốnđược hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp củacác bên tham gia và bải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mụcđích Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựatrên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp người lao động tham giaBHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao độngtheo các điều kiện của BHXH Thực chất phần đóng góp của mỗingười lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rấtlớn khi gặp rủi ro Đối với người sử dụng lao động, việc tham giađóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động màmình sử dụng Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải

bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bịmất hoặc giảm khả năng lao động Với nhà nước BHXH góp phầnlàm giảm gánh nặng cho ngân sách, đông thời quỹ BHXH còn lànguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

+ BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống đảm bảo xãhội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ Xét về lâu dài, mọingười lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH Vàngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao

Trang 10

động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động.Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khinền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất

xã hội hóa vủa BHXH ngày càng cao

V Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội.

BHXH ở hầu hết các nước trên thế giới đều dựa trên cácnguyên tắc sau:

- Nguyên tắc số đông bù số ít: Đây là nguyên tắc bất di bấtdịch và bất kỳ loại hình bảo hiểm hiểm nào cũng phải tuân theo bởi

lẽ để đảm bảo tính an toàn cho nguồn quỹ chi trả, phải có số đôngngười tham gia đóng góp Nguồn quỹ này sẽ được sử dụng để chi trảcho một ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro trong laođộng và trong cuộc sống

- Nguyên tắc bắt buộc kết hợp với nguyên tắc tự nguyện: theonguyên tắc này phần lớn các đối tượng tham gia đều phải thực hiệndưới hính thức bắt buộc nhằm đảm bảo cho chính sách được duy trìbền vững Song do nguyên tắc số đông bù số ít chi phối, vì vậy cầnphải kết hợp với hình thức tự nguyện Sự kết hợp này không chỉ đáp

Trang 11

ứng được mục đích của người tham gia (nhất là những người có thunhập cao) mà còn góp phần làm tăng trưởng nguồn quỹ.

- Nguyên tắc xác định mức hưởng tối thiểu trong các chế độBHXH: Mức hưởng này phải được kết cấu vào tiền lương tối thiểutrong các cơ quan doanh nghiệp Có như vậy mới hình thành đượcnguồn quỹ đóng góp BHXH Cơ sở để xác định mức hưởng tối thiểutrong các chế độ BHXH là nhu cầu tối thiểu đảm bảo tái sản xuấtsức lao động và phù hợp với giá trị tiền lương, tiền công trên thịtrường lao động Nếu xác định không chính xác sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời cònảnh hưởng đến việc tạo nguồn quỹ bảo hiểm, giá thành sản phẩ, hợpđồng lao động…

- Nguyên tắc công bằng trong BHXH: Đây là nguyên tắc rấtquan trọng, song cũng rất phức tạp trong chính sách BHXH BHXH

là một loại quan hệ lao động, song lại được thực hiện cả trong vàngoài quá trình lao động Trong những khoảng cách về thời gian đó

có rất nhiều diễn biến xảy ra đối với cuộc đời của một người laođộng Chẳng hạn cùng tỷ lệ đóng góp như nhau nhưng có doanhnghiệp đóng nhiều, có doanh nghiệp đóng ít do kết quả sản xuất chiphối Hoặc cũng có người lao động đóng nhiều do thu nhập vao và

có người đóng ít do thu nhập thấp… Vì vậy nguyên tắc này phải

Trang 12

được giải quyết một cách thỏa đáng kể cả trong quá trình đóng gópcũng như mức hưởng.

- Nguyên tắc thống nhất và liên tục: Đây cũng là một trongnhững nguyên tắc rất quan trọng, Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽdẫn đến phá vỡ quan hệ trong BHXH Bởi vì trong cơ chế thịtrường, việc di chuyển lao động là điều không tránh khỏi, về mặtquan hệ lao động có sự biến động rất lớn Nhưng BHXH lại luônphải duy trì và thực hiện trong suốt quãng đời của người lao động.Nếu để khuyến khích ổn định đội ngũ lao động, đặc biệt là lao độnglành nghề có trình độ kỹ thuật cao thì chính sách BHXH phải thiết

kế như thế nào để người lao động ổn định làm việc ở một doanhnghiệp nào đó sẽ có lợi khi xét các mức hưởng BHXH

VI Mối quan hệ giữa BHXH với phát triển và tăng cường kinh tế.

BHXH là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, do đó nó thực

sự phát triển và phát huy tác dụng trong cơ chế thị trường Điều đóđược minh chứng qua lịch sử phát triển BHXH ở các nước có nềnkinh tế thị trường ở trình độ cao Cho đến nay, theo thông báo của

Tổ chức lao động quốc tế có khoảng 170 nước ký vào công ước

Trang 13

Giơnevơ - công ước BHXH cho người lao động Tuy mức độ thựhiện ở các nước có khác nhau nhưng đều thống nhất mục tiêu,phương pháp tiến hành, đều nhất quán vai trò quan trọng củaBHXH, đều thống nhất nhận định tác động của BHXH đến nền kinh

- BHXH góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho ngườilao động, phục hồi năng lực làm việc và khả năng sang tạo củangười lao động Điều đó có tác động trực tiếp tới việc tăng năngsuốt lao động cá nhân, năng suất lao động xã hội, làm tăng tổng giátrị sản xuât (GO), tổng thu nhập quốc gia (GNI), tổng sản phẩmtrong nước (GDP) cho nền kinh tế Trên cơ sở đó tăng thu nhập chongười lao động nhằm ổn định đời sống của bản thân và gia đình họ.Các chế độ BHXH đồng bộ với cơ cấu đa dạng hóa hợp đồng sẽ tạothêm thuận lợi cho người lao động có khả năng di chuyển sức lao

Trang 14

động khi cần thiết nhằm duy trì và phát triển công ăn việc làm, hạnchế thất nghiệp và làm cho nền kinh tế phát triển.

- BHXH đã tạo nguồn vốn đáng kể để đầu tư cho các chươngtrình phát triển và tăng trưởng kinh tế xã hội Thông qua thị trườngtài chính, phần quỹ BHXH chưa sử dụng đến sẽ được đầu tư vào sảnxuất kinh doanh để sinh lợi Thường là đầu tư ngắn hạn và dài hạnvào các lĩnh vực nhuwL xây dựng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, nhà

ở ít tiền… cho phù hợp với phương hướng, chính sách phân phối lạithu nhập Quỹ BHXH còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng gópphần thực hiện chính sách tiết kiệm quốc gia Đối tượng BHXHcàng được mở rộng thì tác dụng này của BHXH càng lớn

- BHXH đóng vai trò là người bảo vệ, che chắn cho người sửdụng lao động, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh,dịch vụ được ổn định và liên tục phát triển Bởi vì người sử dụng laođộng khi đóng BHXH cho người lao động sẽ tránh được những thiệthại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn trong cùng một thờigian khi người lao động của mình gặp rủi ro, từ đó giúp họ giảmphần tiền lương, tiền công trong thời gian người lao động gặp rủi rophải nghỉ việc Đông thời BHXH góp phần giảm bớt tình trạng tranhchấp và kiến tạo sự gần gũi trong quan hệ chủ - thợ làm cho ngườilao động yên tâm và có trách nhiệm hơn trong sản xuất Đồng thời

Trang 15

BHXH còn giúp người lao động ổn định cuộc sống, duy trì và sangtạo sức lao động, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

- Trong cơ chế thị trường, khía cạnh kinh tế của BHXH có tácđộng tất lớn đến thị trường lao động Bởi vì xét về bản chất BHXHcũng là một quan hệ lao động trong thị trường lao động và có quan

hệ chắt chẽ với các chính sách về lao động, tiền lương… Nếu chínhsách BHXH được ban hành và được thực hiện nghiêm túc thì cácchính sách về lao động, tiền lương sẽ được thực hiện đầy đủ và cótác dụng đến nhiều vấn đề trong nền kinh tế, đặc biệt góp phần ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động trở lại rất lớn đếnBHXH:

- Trước hết một nước có mức tăng trưởng kinh tế cao có nghĩa

là tăng GNI và GDP trên cơ sở phát triển sản xuất sản phẩm vật chất

và sản phẩm dịch vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì thunhập bình quân đầu người cang lớn, và như vậy thu nhập của ngườilao động cũng tăng Từ đó khả năng đóng góp vào quỹ BHXH cànglớn bởi vì sự đóng góp của người lao động và người sử dụng laođộng phụ thuộc chủ yếu và thu nhập Mặt khác, tăng trưởng kinh tếlàm cho ngân sách nhà nước dồi dào, từ đó sự hỗ trợ của nhà nướccho quỹ BHXH cũng ngày một tăng

Trang 16

- Tăng trưởng kinh tế đạt đến tiềm năng thì việc làm của ngườilao động đạt mức thỏa mãn cao nhất Song theo kinh nghiệm củacác nước, kinh tế phát triển theo chu kỳ có lúc hưng thịnh, có lúcsuy thoái Khi nền kinh tế suy thoái thì thất nghiệp sẽ tăng nhanh từ

đó làm cho mức trợ cấp BHTN cũng ngày một tăng Chế độ trợ cấpthất nghiệp không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về antoàn xã hội Nó giúp cho người thất nghiệp giảm bớt khó khăn, yêntâm sản xuất, làm giảm các tệ nạn xã hội và tình trạng nghèo đói.Thực tế cho thấy khi nền kinh tế tăng trưởng thì tỷ lệ thất nghiệpgiảm xuống và ngược lại Điều này đặt ra vấn đề cần phải giải quyếttrong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thất nghiệp vàBHXH

- Tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập được nâng cao, làmcho mức sống của người dân tăng lên, do đó thể lực của người laođộng cũng khá hơn đãn đến tuổi thọ tăng Điều này làm cho chi phí

y tế giảm, từ đó tiết kiệm được các khoảng chi từ quỹ BHXH

- Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy khi nền kinh tế tăngtrưởng với tốc độ cao thì tốc độ tăng trưởng dân số giảm xuống Do

đó phần chi trả cho chế độ trợ cấp thai sản của người lao động nữtrong BHXH cũng giảm xuống Bên cạnh đó quỹ BHXH luôn chịu

Trang 17

ảnh hưởng của yếu tố lạm phát Nền kinh tế tăng trưởng sẽ hạn chếđược lạm phát, do đó quỹ BHXH sẽ được bảo toàn.

- Nền kinh tế tăng trưởng thì người lao động nói riêng và dânchúng nói chung càng có khả năng và điều kiện để nâng cao trình độdân trí Điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của BHXH.Bởi vì khi trình độ dân trí được nâng cao thì nhận thức của ngườidân về BHXH sẽ đầy đủ và đúng đắn hơn, họ sẽ tự nguyện và hănghái tham gia BHXH Từ phân tích trên có thể khẳng định rằng tăngtrưởng kinh tế có tác động rất lớn và trên nhiều góc độ khác nhau tớihoạt động BHXH

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ VÀ NHẬN THỨC

ĐỐI VỚI BHXH Ở VIỆT NAM

I.Thực trạng về chế độ chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

5 năm qua (2006 – 2010), BHXH Việt Nam đã phát độngnhiều phong trào thi đua, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụchính trị được giao Toàn ngành đã đổi mới trong thực hiện giảiquyết chế độ chính sách BHXH, BHYT, thi đua phục vụ ngày càngchu đáo, tận tình người tham gia và thụ hưởng các chế độ Đ ến nay,tất cả BHXH các tỉnh, thành phố và các quận, huyện, thành phố trực

Trang 18

thuộc tỉnh đã thực hiện cơ chế “một cửa” trong công tác xét duyệt

hồ sơ hưởng BHXH; tập trung bố trí cán bộ có chuyên môn, am hiểu

về chế độ, chính sách vào bộ phận trực tiếp giải quyết chế độ chínhsách cho người lao động, đồng thời phân cấp công việc này choBHXH các tỉnh thành phố xét duyệt và ra quyết định chi trả chongười hưởng BHXH Việc đổi mới này được triển khai áp dụngtrong toàn hệ thống, giúp các đơn vị sử dụng lao động khi đến giảiquyết chế độ chính sách cho người lao động chỉ cần làm việc duynhất với một đầu mối thay vì phải đi lại nhiều lần và làm việc vớinhiều phòng chức năng khác nhau trong cùng cơ quan BHXH nhưtrước đây và rút ngắn được thời gian chờ đợi của đối tượng Từ năm

2006 - 2010, BHXH Việt Nam đã giải quyết kịp thời, đúng chế độchính sách cho trên 22 triệu lượt người hưởng chế độ BHXH, gồmhưởng chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, TNLĐ, BNN và trợ cấp ốmđau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe…

Mặt khác BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thànhphố phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế, tổ chức tốt công tác khámchữa bệnh BHYT; xây dựng các quy định, quy trình giám định đểtạo thuận lợi cho người bệnh, nâng cao chất lượng phục vụ ngàycàng chu đáo, tận tình cho người tham gia và thụ hưởng

Trang 19

Mặc dù khối lượng công việc ngày càng lớn, số người hưởngBHXH, BHYT không ngừng tăng, lượng chi trả lớn và chủ yếu bằngtiền mặt, song toàn ngành luôn chủ động nguồn kinh phí, xây dựngquy trình và tổ chức các hình thức chi trả, đảm bảo kịp thời, thuậnlợi, đúng chế độ chính sách và an toàn đến từng người nhận lươnghưu và trợ cấp Với các hình thức chi trả trực tiếp, gián tiếp hoặcthông qua tổ chức ngân hàng, chi qua thẻ ATM… BHXH các tỉnh,thành phố luôn chủ động trong việc quản lý quỹ, đảm bảo an toàntiền mặt và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đối tượng và người laođộng được hưởng BHXH.

Bên cạnh việc đảm bảo tốt công tác chi trả lương hưu và trợcấp BHXH hàng tháng cho trên 2,3 triệu đối tượng, BHXH các tỉnh,thành phố đã thực hiện tốt việc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản

và dưỡng sức phục hồi sức khoẻ …cho gần 20 triệu lượt người, sốtiền chi trong 5 năm là 119.000 tỷ đồng; kịp thời thanh toán với các

cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo quyền lợi cho trên 407 triệu lượtngười đi khám và chữa bệnh BHYT với số tiền là 58.714 tỷ đồng.Thực hiện mục tiêu thi đua thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, mở rộng,tăng nhanh số người tham gia BHXH, BHYT, trong 5 năm quaBHXH Việt Nam đã không ngừng cải tiến, hoàn thiện, nâng caochất lượng bằng nhiều biện pháp hữu hiệu Số đối tượng tham gia

Trang 20

BHXH, BHYT tăng mạnh qua các năm: đến năm 2010 ước có 9,5triệu đối tượng tham gia BHXH, gấp 1,4 lần so với năm 2006 và52,5 triệu người tham gia BHYT, chiếm 65,6% dân số.

Thông qua việc thực hiện các phong trào thi đua gắn với nhiệm

vụ chuyên môn được giao, đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiêntiến, nhiều cán bộ công chức, viên chức mẫn cán với công việc, thái

độ và tác phong lao động cần cù, sáng tạo, đồng thời tạo dựng tinhthần yêu nghề, hăng say học tập, rèn luyện phẩm chất, năng lực củangười công chức BHXH

Thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chínhtrị về Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, pháthiện, bồi dưỡng, tổng kết nhân rộng điển hình tiên tiến; trong 5 năm

2011 – 2015, BHXH Việt Nam thi đua thực hiện thắng lợi, toàn diệnnhiệm vụ chính trị được giao, bằng mọi biện pháp phấn đấu tăngnhanh số người tham gia BHXH, BHYT ở mọi thành phần kinh tế.Phấn đấu đến năm 2014 thực hiện BHYT toàn dân, thực hiệnBHXH cho mọi người lao động vào những năm tiếp theo; giải quyếtđúng, đủ chế độ, chính sách, chi trả đầy đủ, kịp thời lương hưu, trợcấp BHXH cho người lao động; phối kết hợp chặt chẽ với các cơ sở

y tế đảm bảo quyền lợi về khám chữa bệnh cho người tham gia

Trang 21

BHYT theo quy định của pháp luật; triển khai thực hiện thành côngmục tiêu phát triển ngành BHXH giai đoạn 2011-2015.

II Thực trạng về thực hiện chế độ BHXH ở nước ta hiện nay.

1 Tình hình thu phí bảo hiểm của chế độ BHXH

Việt Nam bảo hiểm xã hội bao gồm ba phần chính: 1.Bảohiểm hưu trí và thừa kế; 2.Thai sản và lợi ích tai nạn lao động;3.Bảo hiểm y tế Việc thanh toán tổng số tiền lên tài khoản cho 23%tiền lương của nhân viên, trong đó dành 17% công ty và cá nhân đủkhả năng 6% Bảo hiểm được thanh toán của công ty thay mặt chonhân viên và số tiền sẽ được trừ vào tiền lương của người lao động

Vì vậy, các mức phí cơ bản là mức lương cơ bản của nhân viên(không bao gồm trợ cấp, tiền thưởng và phụ cấp làm thêm ) Các

cơ sở phí bảo hiểm của người lao động trong hầu hết các nhà máysản xuất được tính dựa trên mức lương cơ bản tối thiểu Theo Luật

an ninh xã hội Việt Nam ban hành trong năm 2007, tỷ lệ số tiền đãtrả cho người lao động sẽ được tăng 1% mỗi hai năm từ năm 2010cho đến khi đạt đến 8% Các tỷ lệ thất nghiệp bảo hiểm xã hội thuế

sẽ bị đánh thuế từ ngày 1 tháng 1 2009, và được trả ở mức 1% mộtcách riêng biệt của doanh nghiệp và nhân viên Vì vậy, bảo hiểm xãhội cao nhất cho hợp tác nước ngoài Tại Việt Nam là 18% và cá

Trang 22

nhân là 9% Nhưng các nhân viên nước ngoài có thể được miễn loạithuế

Một phần của nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngày trước đómong muốn đạt được lợi nhuận bằng cách thiết lập các nhà máy,hoàn toàn bỏ qua Luật Lao động Việt Nam và Luật An sinh Xã hộihay với sự nhiệt tình chút để tuân theo luật pháp (trả ít hoặc khôngtrả tiền đúng thời hạn) Nó luôn luôn gây ra một số rối loạn và đìnhcông, một lần báo cáo của các phương tiện truyền thông, hình phạtnặng nề từ chính phủ sẽ làm theo Đầu tư nước ngoài sẽ gặp vấn đềhơn nữa môi trường quen thuộc như vậy Do đó, các nhà đầu tưnước ngoài phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong khi việc kinhdoanh tại Việt Nam để tránh các vấn đề và khó khăn

2 Tình hình chi trả cho chế độ BHXH.

Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ

ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và hệnh nghềnghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởnglương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trườnghợp nào vi phạm chế độ

Song song với chi trả trực tiếp là hình thức chi trả gián tiếp.Trước hết phải nói đến hiệu quả của chi trả gián tiếp qua các đại lý ởcác xã, thị trấn Những địa bàn thực hiện chi trả qua đại lý hầu hết là

Trang 23

các xã vùng sâu, vùng xa, giao thông khó khăn, đối tượng sốngkhông tập trung Đại lý chi trả là người được lựa chọn trong số cán

bộ hưu trí và do UBND xã, thị trấn giới thiệu, đảm bảo có phẩmchất đạo đức, trung thực, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình vớicông việc Theo định kỳ hàng tháng, các đại lý có trách nhiệm đếnBHXH huyện nhận tiền chi trả trên cơ sở danh sách, mức trợ cấpcủa đối tượng được giao quản lý, sau đó về tổ chức chi trả trongkhoảng 3-5 ngày và thực hiện quyết toán với BHXH huyện Hiệnnay, trên địa bàn tỉnh có 47 xã thực hiện việc chi trả qua đại lý vớitổng số đối tượng là 2.983 người và số tiền chi trả hàng tháng trên 4

tỷ đồng Từ thực tiễn hoạt động của các đại lý chi trả có thể khẳngđịnh rằng đây là một hình thức chi trả hỗ trợ tích cực cho mô hìnhchi trả trực tiếp, đồng thời phát huy được các yếu tố thuận lợi chocông tác quản lý đối tượng và tổ chức chi trả các chế độ BHXH.Bên cạnh việc chi trả qua các đại lý, các đơn vị BHXH còn thựchiện hình thức chi trả gián tiếp qua tài khoản ATM Về thực chất,Ngân hàng quản lý tài khoản thẻ ATM là đại lý chi trả chính Hiệnnay hình thức này đang được lựa chọn như một giải pháp chi trảtuyệt đối an toàn, tiện lợi, nhờ đó đối tượng có thể chủ động thờigian lĩnh lương hưu và trợ cấp

Trang 24

Ngoài hai mô hình chi trả chủ yếu trên, BHXH còn chi trả cácchế độ BHXH ngắn hạn cho người lao động thông qua đơn vị sửdụng lao động Đặc biệt, từ khi thực hiện Luật BHXH, việc để lại2% chi trợ cấp ngắn hạn đã giúp các đơn vị sử dụng lao động chủđộng hơn trong việc thanh quyết toán trợ cấp BHXH ngắn hạn chongười lao động Cơ quan BHXH từ thành phố, tỉnh đến các huyện,BHXH đã thực hiện việc xét duyệt, thẩm định hồ sơ hưởng trợ cấpBHXH ngắn hạn được thực hiện đúng quy định, cấp kinh phí chi trợcấp BHXH ngắn hạn kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho người laođộng, an toàn nguồn quỹ…Từ việc vận dụng linh hoạt hai mô hìnhchi trả chế độ BHXH phù hợp với đặc điểm đã từng bước thực hiệnhiệu quả mục tiêu tăng dần tỷ lệ chi trả trực tiếp, nâng cao chấtlượng phục vụ đối tượng, góp phần chăm lo đời sống của hàng vạnngười lao động Thông qua đó khẳng định tính ưu việt của chế độchính sách BHXH của Nhà nước ta trong thực tiễn cuộc sống vàcủng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

3 Quản lý quỹ.

a Trước Nghị định 43/CP/1993

Trong giai đoạn này BHXH Việt Nam hoạt động dựa trên cácsắc lệnh của nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức

Trang 25

kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 Vì vậy việc thu, chi

và quản lý quỹ cũng phải dựa trên các văn bản này

Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tạitrên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước và được ngânsách nhà nước bảo hộ hoàn toàn Điều này có thể khẳng định bởinguồn thu chủ yếu của quỹ là từ các doanh nghiệp và nhà nước đónggóp, người lao động không phải đóng Tuy nhiên đây là thời kỳ baocấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước đượcnhà nước bao cấp hoàn toàn Vì vậy nhìn chung quỹ BHXH nằmtrong ngân sách nhà nước và được bảo hộ hoàn toàn

Theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXHcủa nước ta bao gồm 6 chế độ là: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp, huu trí, tử tuất Chính sách BHXH gắn chặtvới chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hộikhác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêucực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí Do

có nhiều cơ quan cugf tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộcông đoàn, Bộ lao động, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiếnhành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùilên cao Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực, điều nàykhiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước Khi

Trang 26

nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước theo định hướng XHCN (1986) Các đơn vị sản xuấtkinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hànhhạch toán độc lập Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung vàviệc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểmlớn Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng

kể Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận(năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận, chỉ thu được2,77%) Điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổimới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi vàquản lý quỹ nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xãhội của BHXH

Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXHcũng được thay đổi theo Theo điều lệ BHXH hiện hành, quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau:

Trang 27

- Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹlương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10%

để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất; 5% cho các chế độ tai nạn laođộng và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản

- Nguồn lao động đóng góp 5% tiền lương

- Các nguồn thu khác: các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ, lãiđầu tư vốn nhàn rỗi

Quỹ BHXH được sử dụng với 2 mục đích:

- Chi quản lý hành chính sự nghiệp

- Chi trợ cấp cho các chế độ

Hiện nay việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thốngnhât giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ lao động thươngbinh xã hội Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã đượctiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng vềBHXH cho ngân sách nhà nước cũng được giảm đi, đời sống cảungười lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảmbảo

III Nhận thức về BHXH của người Việt Nam.

1 Giai đoạn 1: Thời kỳ trước khi có Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội (trước 1961)

Trang 28

Ngay từ khi thành lập chính quyền nhân dân và suốt trong thời

kỳ kháng chiến, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, songChính phủ đã luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao độngnói chung và riêng đối với công nhân, viên chức Nhà nước Ngoàiviệc ban hành chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độphụ cấp, trợ cấp xã hội mà thực chất là các chế độ BHXH như: trợcấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp già yếu, trợ cấp cho cánhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết và xây dựng các khu

an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ… Song do hoàn cảnh đấtnước có chiến tranh, trong kháng chiến và kinh tế khó khăn nên Nhànước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện được đầy đủ các quyềnlợi về bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức, mà các chế độ chủyếu mang tính cung cấp, bình quân với tinh thần đồng cam cộngkhổ Về nội dung chưa thống nhất giữa khu vực hành chính và sảnxuất, giữa công nhân kháng chiến và công nhân sản xuất dân dụng,các khoản chi về bảo hiểm xã hội lẫn với tiền lương, chính sách đãingộ mà chưa xây dựng theo nguyên tắc hưởng theo lao động, ngoài

ra các văn bản lại chưa hoàn thiện và đồng bộ, ảnh hưởng đến việc

tổ chức thực hiện Một số vấn đề quan trọng, cấp thiết đến đời sốngcủa đông đảo công nhân viên chức như chế độ hưu trí, trợ cấp mấtsức lao động, thôi việc, chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp chưa được

Trang 29

quy định Chính vì thế, trong giai đoạn này, việc người dân khôngthể hiểu hoặc chỉ hiểu “mang máng” về vai trò của BHXH là tất yếu.

2 Giai đoạn 2: Thời kỳ thực hiện điều lệ bảo hiểm xã hội tạm thời (từ 1961 đến 12/1994):

Để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứngyêu cầu không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chứcNhà nước, các chế độ trợ cấp xã hội cần được bổ sung và sửa đổicho phù hợp với thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vàđấu tranh giải phóng miền Nam Tại Điều 32 Hiến pháp năm 1959quy định rõ: quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khigià yếu, mất sức lao động, bệnh tật Năm 1960 Hội đồng Chính phủ

có Nghị quyết trong đó đã xác định “đi đôi với việc cải tiến chế độtiền lương, cần cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể về bảohiểm xã hội và phúc lợi cho công nhân viên chức, cán bộ” Thựchiện Nghị quyết trên, các Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính,

Bộ Y tế và Tổng Công đoàn Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu xâydựng Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội trình Hội đồng Chính phủban hành Ngày 14/12/1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn,Chính phủ đã ra Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 ban hànhkèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối vớicông nhân viên chức Nhà nước

Ngày đăng: 17/08/2023, 13:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w