TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lƣợc bảo tồn Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhìn chung các Khu bảo tồn (KBT) đều đƣợc thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người dân địa phương chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn đƣợc thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và đƣợc tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong BQL
Các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks 2005, cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc [9]
Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A 1987, khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào [9]
Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Nỗ lực của các cơ quan, chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lƣợng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân đƣợc giao đất nông nghiệp, đất thổ cƣ, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, không đƣợc chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tƣ và tăng sức sản xuất của đất
Trong chiến lƣợc Quốc gia của Philippines về bảo tồn đa dạng sinh học chỉ ra rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học" [9]
Bink Man W.1988 trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về làng Ban Pong tỉnh S Risaket (Thái Lan) chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản nhƣ: củi đun và hoa quả trong rừng Đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển
Năm 1980, Conklin, H.C trong tập ATLAT, cung cấp một mô tả chi tiết về các mối tương quan giữa rừng, lương thực và nước, giữa những người xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nước và những người canh tác nương rẫy Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng động dân cƣ vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, chƣa có các nghiên cứu định lƣợng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR.
Ở Việt Nam
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 22.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta Bên cạnh đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 164 khu rừng đặc dụng được thành lập(có 30 Vườn quốc gia và 134 Khu bảo tồn thiên nhiên) với diện tích 2.265.753,88 ha Trong đó diện tích có rừng 1.941.452,85 ha; diện tích chƣa có rừng 257.291,03 ha; diện tích mặt nước biển 67.010,00 ha
Trước hết để công tác bảo tồn đạt hiệu quả thì các quy định phải được thể chế hóa Trong đó bao gồm luật và các văn bản dưới luật Đó là các điều khoản đƣợc ghi trong uật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991, uật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ đƣợc xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Thông tƣ số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN và PTNT về hướng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP Gần đây nhất, Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006 (Quyết định số 34/2011/QĐ- TTg ngày 24/6/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006) về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 Trong đó, quản lý rừng đặc dụng đƣợc quy định rất cụ thể
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương
Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác nhƣ: tre nứa, nấm, cây dƣợc liệu, động vật hoang dã và đƣợc xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi [5],
Qua kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự, đã đƣa ra kết luận: Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tƣ
Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999), đã nghiên cứu các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản Nghiên cứu này đã chỉ ra: quản lý rừng cộng đồng ở đây đƣợc hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản Đây là một mô hình, một hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng đã cho hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng
Một số địa phương ở Sơn a và ai Châu, thuộc vùng hoạt động của dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam - Cộng hoà iên bang Đức), đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ƣớc quản lý bảo vệ rừng thôn bản Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng [2]
Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002), đã tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương ở 3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tiến hành tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền sở hữu và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý này Trong 5 mô hình quản lý rừng cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương (hình thức quản lý của các đồng bào dân tộc thiểu số như Mường, Thái) và được chính quyền địa phương chấp thuận: Họ tự đề ra các quy định, quản lý, sử dụng lâm sản cũng nhƣ các hoạt động xây dựng và phát triển rừng Hình thức quản lý ở Thuỷ Yên Thượng (cộng đồng ở đây là người dân tộc kinh) được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) với sự hỗ trợ của dự án quốc tế
Trong hội thảo “Mạng lưới lâm nghiệp Châu Á” (Asia Forest Network) tháng 9/2003 tại Cao Bằng, Việt Nam Các nước thành viên đã thảo luận về các bước lập kế hoạch và xây dựng quy ước quản lý rừng cộng đồng (đánh giá tài nguyên có sự tham gia, các chương trình quản lý tài nguyên rừng dựa trên cơ sở cộng đồng, thu nhập qua quản lý rừng cộng đồng, chương trình đánh giá và giám sát, các chính sách về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng…) các nước thành viên tham dự đi đến thống nhất các hoạt động thảo luận và đi đến thoả thuận hợp tác trong các lĩnh vực quản lý rừng cộng đồng Đây là một thành công của hội thảo và là bước ngoặt cho công tác quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng của các quốc gia trong khu vực
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện nhƣ hiện nay
Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông thuộc tỉnh Hòa Bình là khu vực còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất của tỉnh Hòa Bình Hiện nay chất lƣợng và trữ lƣợng rừng tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông đã giảm sút Mặc dù đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt nhƣng rừng ở đây luôn chịu nhiều nguy cơ tác động của con người Để làm tốt công tác này cần phải khuyến khích được sự tham gia của người dân trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng Hiện đã có một số nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn phát triển một số loài thực vật nói riêng và phát triển rừng nói chung nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đi sâu về sự tham gia của người dân trong công tác này tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông
Các nghiên cứu về tác động qua lại giữa con người và TNR cả trên Thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua, đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Một số công trình nghiên cứu đã phân tích phương pháp lý luận và thực tiễn để nghiên cứu mối quan hệ giữa rừng và TNR Tuy nhiên, các nghiên cứu chƣa xây dựng đƣợc hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số để đánh giá mức độ tác động của các dân tộc, loại hộ gia đình khác nhau nên các giải pháp còn chung chung, chưa tập trung vào giải quyết những khó khăn thực tế của người dân
Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu và hoàn thiện làm cơ sở đƣa ra đƣợc các giải pháp hữu ích là cấp thiết.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể
+ Xác định đƣợc các hình thức và mức độ tác động bất lợi của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên động vật rừng trong khu bảo tồn
+ Phân tích đƣợc các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tác động bất lợi của cộng đồng địa phương vào tài nguyên động vật rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ uông
+ Đề xuất đƣợc các giải pháp giảm thiểu tự tác động bất lợi của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên động vật rừng trong KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học: Bổ sung các dẫn liệu khoa học về sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên Động vật rừng
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cho địa phương tham khảo, hoạch định các chính sách bảo tồn và quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Đối tƣợng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu
2.3.1 ối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là Cộng đồng người dân địa phương và công tác QLBVR ở KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông tỉnh Hòa Bình
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại xã Ngọc Sơn của KBT Ngọc Sơn – Ngổ uông, tỉnh Hòa Bình
Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông và những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên Động vật rừng.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tác động của người dân đến tài nguyên động vật
- Đánh giá sự tham gia của người dân vào công tác bảo tồn
- Nghiên cứu hiện trạng công tác quản lý BVR tại KBT
- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn động vật hoang dã tại KBT.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc thực hiện dựa trên lý luận về tiếp cận hệ thống, quan điểm sinh thái - nhân văn, quan điểm bảo tồn - phát triển và tiếp cận có sự tham gia
2.5.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Hệ thống đƣợc hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi sự vật, hiện tƣợng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như: sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng TNR tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông, tỉnh Hòa Bình Sự tác động của người dân địa phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong KBTTN, hệ thống quản lý TNR, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Những tác động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
2.5.1.2 Quan điểm sinh thái - nhân văn
Các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình (HGĐ) đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế - xã hội Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhƣng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR là quan hệ có xu hướng nghịch Sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội
Các yếu tố vật lý sinh học, đƣợc chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát đƣợc nhƣ khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát đƣợc hoặc hạn chế đƣợc nhƣ xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị trường Những yếu tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR
Các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến TNR.Tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng Bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của người dân
2.5.1.3 Quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ đƣợc giảm bớt và tài nguyên đƣợc bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn đƣợc vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế
- xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên:
Cách tiếp cận phát triển kinh tế
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu nhƣ họ có thể đƣợc tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và đƣợc chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể đƣợc bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận tham gia quy hoạch
2.5.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia đƣợc định nghĩa nhƣ là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các nguyện vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngƣợc lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các nguyện vọng đƣợc nêu ra
Năm 1996, Hosley đƣa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động; tham gia bị động; tham gia qua hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng Trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.5.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp
- Các tài liệu và các nguồn cung cấp:
+ Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
+ Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã về quản lý rừng tại KBT;
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có tọa độ địa lý:
+ Vĩ độ Bắc: Từ 20 0 21 ’ - 22 0 36 ’ + Kinh độ Đông Từ 105 0 09 ’ - 105 0 13 ’
- Phía Bắc: Giáp với xã Pù Pin, Noong Luông huyện Mai Châu
- Phía Tây Nam: Giáp với các xã ũng Cao, Cổ ũng, Hạ Trung, ƣơng Nội, huyện Bá Thước và các xã Thạch Tượng, Thạch Lâm huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá
- Phía Đông Bắc: giáp với các xã ũng Vân, Quyết Chiến, Do Nhân, Lỗ Sơn, Gia Mô huyện Tân Lạc và các xã Phú ương, Chí Đạo, Định Cư, Hương Nhượng huyện Lạc Sơn và Vườn Quốc gia Cúc Phương
Hai huyện Lạc Sơn và Tân ạc là huyện miền núi có địa hình hiểm trở, phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao (đầu dãy Trường Sơn), thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam, độ dốc lớn (30 0 - 45 0 ), 7 xã vùng dự án thuộc vùng cao, là các xã vùng 3 (xã đặc biệt khó khăn), có độ cao trung bình 300 - 1.000 m, nơi cao nhất 1.200 m, cách thành phố Hoà Bình 80 km, cách Thủ đô Hà Nội 150 km
Khu bảo tồn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa Có 2 mùa rõ rệt:
- ƣợng mƣa bình quân hàng năm từ 1.800 - 2.500 mm, năm thấp nhất 1.250 mm
+ Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10 lƣợng mƣa bình quân 1.500 mm, chiếm 84% lƣợng mƣa cả năm
+ Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa bình quân 150mm, chiếm 16% lƣợng mƣa cả năm
- Nhiệt độ không khí bình quân từ 22 0 C - 24 0 C, tháng 6 nóng nhất Nhiệt độ cao tuyệt đối 39 0 C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 3 0 C - 5 0 C vào tháng 12 và tháng 1 năm sau
- Độ ẩm không khí trung bình 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 - 86%, thấp nhất vào tháng 4, 5 Các tháng khô có sương mù nên độ ẩn không khí khí khá cao
- Về gió: Hướng gió chủ yếu là hướng gió Đông Bắc tập trung vào tháng
11 đến tháng 3 năm sau các tháng còn lại là gió Nam, gió Tây Nam thường xuyên xuất hiện vào tháng 6, 7 khô nóng, ít ảnh hưởng của bão Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12, tháng 1 năm sau và có ảnh hưởng đến con người, cây trồng, vật nuôi
Khu vực thuộc lưu vực sông Bưởi, tuy nhiên do địa hình núi đá vôi nên hầu hết không có nước chảy trên bề mặt, nước chảy ngầm dưới mặt đất
Bảng 3.1 Biểu tổng hợp số lƣợng ao, hồ trong khu Bảo tồn
Bắc Sơn 05 03 Xóm: Mý, Hày Trên, Hò Trên
Nam Sơn 07 02 13 Xóm: Xôm, Chiến, Dồ, Tớn, Trong Ngổ Luông 01 01 02 Luông Trên, Chẳm I, II
Ngọc Lâu 22 01 03 Chiềng I, II, Đèn, Hầu III
Tự Do 63 04 Kháy, Khướng, Sát Hạ, Mu, Mòn,
Ngọc Sơn 05 0 0 Khú, Rộc, Điện
3.1.4 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội
3.1.4.1 Dân số, dân tộc và lao động
Dân cƣ sống trong 7 xã với tổng số 2.568 hộ, 13.409 nhân khẩu, số lao động là: 5792
Huyện Tân Lạc có 1092 hộ 5320 nhân khẩu, số lao động là 1877
Huyện Lạc Sơn có 1476 hộ 8179 nhân khẩu, số lao động là 3915
Trong 7 xã của khu Bảo tồn là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Mường chiếm 98% Họ có tập quán cánh tác lúa nước, làm nương rẫy và chăn nuôi Nhiều công trình thuỷ lợi đƣợc đƣợc nhân dân tự tạo để cung cấp nước cho sản xuất và đời sống
Bình quân mỗi hộ có 5 người, mật độ dân số trung bình 57 người/km 2 Tổng số lao động là 5792 chiếm 43,2% tổng số dân
3.1.4.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập
Là nghề chính của nhân dân trong vùng Lúa và hoa mầu( ngô, sắn…) vẫn là cây trồng chủ yếu Năng suất cây trồng không cao do trình độ thâm canh còn hạn chế nên các xã thuộc khu bảo tồn đều thuộc diện đặc biệt khó khăn 3.1.4.2.2 Đời sống và thu nhập
Dân cƣ sống trong 7 xã với tổng số 2.568 hộ
3 xã Huyện Tân Lạc 1.092 hộ tỉ lệ nghèo chiếm 44,9 %
Cụ thể xã Ngổ Luông chiếm 47,1%, xã Bắc Sơn chiếm 47,2%, xã Nam Sơn chiếm 40,5%
4 xã Huyện Lạc Sơn có 1.476 hộ tỉ lệ nghèo chiếm 42,2%
Cụ thể xã Tự Do chiếm 46,7%, xã Ngọc Sơn chiếm 43%, xã Ngọc Lâu chiếm 43,5%, xã Tân Mỹ chiếm 40,8%
Thu nhập lương thực bình quân các xã như sau:
+ Huyện Tân Lạc: 476kg/người/năm
+ Huyện Lạc Sơn: 450kg/người/năm
3.1.4.3 Cơ sở hạ tầng hiện có
Tất cả các xã trong khu bảo tồn đều là các xã trong vùng đặc biệt khó khăn, tuy đã có đường giao thông đến trung tâm xã nhưng chất lượng đường rất xấu, việc đi lại giữa các xã và khu vực rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa Rất nhiều xóm chỉ có thể đến trung tâm xã bằng đường đi bộ
Các xã nằm trong vùng núi đá vôi nên nguồn nước rất thiếu Tuy đều đã có hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp nhƣng chất lƣợng các công trình đang bị xuống cấp Việc đấu tư cho thuỷ lợi, xây dựng thêm hồ chứa nước là những đòi hỏi cấp bách tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Mỗi xã đều có một trạm y tế tại trung tâm xã, ở các thôn bản có y tế thôn bản Trạm y tế là nhà cấp IV, phòng khám và giường bệnh chưa đủ tiêu chuẩn Trang thiết bị, thuốc chữa bệnh thiếu, trình độ cán bộ y tế chƣa cao
Hệ thống giáo dục ở các xã đã có từ mầm non đến trung học cơ sở Tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 94,5% Tuy nhiên cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục còn thấp Sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở chỉ một số ít học sinh con các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả mới đƣợc gửi xuống thị trấn học tiếp trung học phổ thông
Các xã đều có điện lưới quốc gia đến trung tâm, một số xã có điện đến tận xóm, số còn lại chƣa đến đƣợc thôn, xóm.
Thuận lợi, khó khăn
Tỉnh Uỷ có Nghị quyết về phát triển kinh tế lâm nghiệp
Tiềm năng đất đai, lao động còn nhiều, khí hậu, thời tiết phù hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi
Có các dự án trong nước và nước ngoài đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội thông quan khu BTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông b Khó khăn Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Diện tích đất lâm nghiệp, nhiều nhƣng không có vốn đầu tƣ để phát triển nghề rừng, thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp Diện tích đất trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp quá ít không tự cân đối lương thực và nhu cầu chi tiêu phục vụ cuộc sống hàng ngày
Về văn hoá xã hội:
+ Các xã đều rất xa trung tâm huyện, bản sắc dân tộc Mường được giữ gìn, trình độ dân trí chưa cao Số người mù chữ còn nhiều Số trẻ em trong độ tuổi đi học nhƣng không đến lớp còn cao ( huyện Tân Lạc: 109 em, chiếm 0,7%; huyện Lạc Sơn 620 em chiếm 2% Số em theo học các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chiếm từ 5 đến 10%
+ Số người mắc bệnh biếu cổ, sốt rét còn cao, số người chưa được sử dụng nước sạch còn chiếm tỷ lệ lớn Cụ thể là:
* Số người mắc bệnh biếu cổ: 586 người( huyện Tân Lạc: 386 người chiếm 0,5% dân số; huyện Lạc Sơn: 200 người chiếm 1,5% dân số)
* Số người mắc bệnh sốt rét: 2710 người (huyện Tân Lạc 2320 người chiếm 3% dân số, huyện Lạc Sơn: 390 người chiếm 3% dân số)
* Số người chưa được dùng nước sạch hợp vệ sinh: 23.326 hộ (huyện Tân Lạc: 8.814 hộ chiếm 55% số hộ, huyện Lạc Sơn: 14.512 hộ chiếm 59% số hộ)
Về cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng:
Còn ít chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân dân, một số công trình đã xuống cấp cần đƣợc tu sửa.
Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình
3.3.1 Diện tích các loại rừng
Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực nghiên cứu là 15.890,63 ha Trong đó 82 % là diện tích đất âm nghiệp, và 15 % là diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn 4 % tổng diện tích là đất chƣa sử dụng, chủ yếu đất trống đồi núi trọc Ở khu vực có 6 loại hình sử dụng đất khác nhau, bao gồm: canh tác lúa nước ở các thung lũng; canh tác cây màu/lương thực ở các khu đồi các sườn núi; chăn nuôi; trồng rừng trên diện tích đất rừng đã được giao; quản lý rừng cộng đồng, và làm vườn Chiến lược phát triển sinh kế và sản xuất ở mỗi xã có khác nhau do sự khác biệt về văn hóa (Người Thái và người Mường) và điều kiện đất đai ở mỗi xã
Bảng 3.3.1 cho thấy diện tích đất Lâm nghiệp trong vùng rất lớn, bằng 16.733 ha, chiếm 87 % tổng diện tích đất tự nhiên Qua đó cho thấy tiềm năng của hoạt động sản xuất Lâm nghiệp là rất lớn trong chiến lƣợc phát triển kinh tế vùng tuy nhiên diện tích đất Lâm nghiệp lại không khai thác phát triển kinh tế Lâm nghiệp đƣợc là do chủ yếu diện tích đất đó nằm trên núi đá Tổng diện tích đất Nông nghiệp của 07 xã là 1.176,4 ha, chiếm 6,1%, tổng diện tích tự nhiên Nhƣ vậy, đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ ít, phân bố không đồng đều, xã có nhiều đất nông nghiệp nhất là Ngọc Sơn (huyện Lạc Sơn) 318,4 ha, xã có ít nhất là Tân Mỹ (huyện Tân Lạc) chỉ có 11,5 ha Đất sản xuất cây công nghiệp ( cam, quýt, ổi…) chiếm tỷ lệ rất thấp 0,34%,phân bố không tập trung, chƣa đƣợc quy hoạch, một số diện tích trồng cam mang tính tự phát
Bảng 3.2 Các loại đất đai trong khu vực
(ha) Đất NN Đất LN Đất cây
CN Đất khác Ghi chú
2 xóm trong KBT Ngọc Sơn 3.298,0 318,4 2.774,3 15 190,3
Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông tỉnh Hòa Bình đƣợc đánh giá là khu có hệ động vật rất đa dạng, tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây cùng với kết quả khảo sát cập nhật đã ghi nhận tại Khu BTTN Ngọc Sơn –
Ngổ Luông tỉnh Hòa Bình có 455 loài động vật có xương sống, trong đó lớp Thú có 93 loài chiếm 20,4% so với tổng số loài, lớp Chim có 253 loài bằng 55,6% tổng số loài, lớp Bò sát có 48 loài chiếm 10,5% tổng số loài, lớp Ếch nhái có 34 loài chiếm 7,5% số loài, Cá 27 loài chiếm 5,9% (Bảng 4.2)
Bảng 3.3 Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Nguồn: Dự án Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2008, Dự án, 6/2014 Nhìn vào bảng này có thể thấy rằng số lượng loài động vật có xương sống tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông của tỉnh Hòa Bình là 455 loài trong đó có nhiều loài quý hiếm đang bị đe dọa
- Nhiều nhất là chim với 14 bộ, 48 họ 253 loài trong đó có khoảng 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32 và IUCN năm 2014
- Tiếp theo là thú với 8 bộ, 29 họ, 93 loài trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ của IUCN 2014 (từ cấp VU trở lên)
- Ghi nhận 5 bộ cá, 12 họ, 27 loài
- Ghi nhận 2 bộ Bò sát, 15 họ, 48 loài trong đó có gần 20 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32 năm 2007 cũng nhƣ sách đỏ của thế giới (
Từ cấp VU trở lên)
- Ghi nhận 1 bộ Ếch nhái, 4 họ, 34 loài trong đó có 5 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và IUCN
Từ các số liệu trên cho thấy tài nguyên động vật rừng ở KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông là một trong những KBT có tính đa dạng sinh học cao ở vung Tây Bắc nói chung và khu vực tỉnh Hòa Bình nói riêng Có nhiều loài quý hiếm đƣợc ghi trong danh lục đỏ của IUCN 2014 Tuy nhiên hiện nay các loài này đang có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng
Chương4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tác động của cộng đồng địa phương tới tài nguyên động vật tại KBT
Theo báo cáo tổng kết hàng năm từ 2012 đến hết năm 2014 cho thấy các CĐĐP vẫn tác động rất lớn tới TNR và tài nguyên ĐVHD, đặc biệt là các CĐĐP sống gần rừng Tuy nhiên, các vụ vi phạm và mức độ thiệt hại TNR có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Bình quân mỗi năm có 67 vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng Đặc biệt năm 2012 nhiều vụ vi phạm nhất có tới 87 vụ vi phạm, Từ năm 2012 sang năm 2013 có xu hướng giảm từ 87 vụ xuống còn 59 vụ Các vụ vi phạm có xu hướng giảm dần năm 2014 chỉ còn
54 vụ Theo kết quả thống kê đƣợc thì trong 3 năm gần đây trong tổng số các vụ vi phạm đều có 1 vụ vi phạm liên quan đến ĐVHD Kết quả đƣợc thể hiện trong hình 4.1
Các vụ vi phạm phần lớn là khai thác, chặt phá rừng trái phép, khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép, bẫy bắt động vật rừng… Tuy nhiên đây mới chỉ là những vụ việc mà cán bộ kiểm lâm đã phát hiện và xử lý Rất nhiều sự việc vi phạm khác chƣa đƣợc phát hiện hoặc vi phạm một cách rõ ràng nhƣng chƣa thể xử lý
Hình 4.1 Các vụ vi phạm luật và vi phạm liên quan đến ĐVHD ở giai đoạn 2012 - 2014
Thông qua quá trình phỏng vấn cán bộ kiểm lâm cùng với việc đi thực địa tôi xác định được các tác động của người dân đến tài nguyên động vật tại khu vực nghiên cứu là: Khai thác gỗ, củi; Khai thác lâm sản ngoài gỗ; Săn bắt, bẫy ĐVHD; lấn chiến đất rừng làm đất nông nghiệp…
Hàng năm hoạt động khai thác gỗ vẫn diễn ra Người dân thường khai thác để làm nhà và làm các vật dụng trong gia đình như bàn ghế, tủ, giường ngủ Nếu nhƣ chỉ dừng lại ở hoạt động khai thác gỗ chỉ để phục vụ cho gia đình thì tài nguyên rừng hiện nay chắc chắn còn phong phú hơn Tuy nhiên, do cuộc sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn cùng với đó là giá trị kinh tế lớn của một số loài cây nhƣ: Trai lý, Nghiến nên hoạt động buôn bán gỗ trái phép vẫn diễn ra tương đối nhiều Phương tiện khai thác gỗ chủ yếu hiện nay là dùng cƣa máy Khi chặt hạ cây gỗ lớn sẽ kéo theo nhiều cây nhỏ khác đổ theo làm giảm độ che phủ sinh cảnh sống của động vật, rồi việc chặt cây dựng lán trại, sử dụng cƣa xăng sẽ gây ra những tiếng ồn lớn, song song với việc khai thác gỗ là các hoạt động bẫy bắt động vật để làm thực phẩm cho hoạt động trong rừng Bởi thế việc khai thác gỗ sẽ làm ảnh hưởng rất lớn tới các loài ĐVHD, phá vỡ tầng tán rừng làm cho sinh cảnh của các loại ĐVHD bị thu hẹp và gây nhiễu loạn nơi sống của chúng, làm mất đi sự yên tĩnh trong tự nhiên Ngoài ra thợ khai thác gỗ thường dựng trại ở các khu vực gần nguồn nước buộc các loài động vật rừng phải di chuyển vùng sống do không tìm được nơi yên tĩnh, có nước, có thức ăn để sinh tồn
Trước đây, khi chưa thành lập KBTTN, đời sống của người dân trong khu vực chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng, chủ yếu là việc khai thác gỗ và các tài nguyên khác từ rừng để bán và sử dụng làm nhà, đóng đồ gia dụng, làm củi đun Kể từ khi KBT đƣợc thành lập nhằm bảo tồn tài nguyên rừng, cùng với sự bảo vệ tương đối nghiêm ngặt và kiểm soát gắt gao của các lực lượng chức năng, tình trạng khai thác gỗ đã giảm so với nhiều năm về trước
Tuy nhiên, hiện nay khai thác gỗ trái phép vẫn còn xảy ra, hàng năm lực lƣợng kiểm lâm bắt và tịch thu hàng chục vụ xe chở gỗ trái phép
Theo kết quả điều tra, 100% số người được hỏi khẳng định hiện nay tình trạng người dân trong các thôn nghiên cứu chặt gỗ, phá rừng vẫn xảy ra nhưng đã giảm so với nhiều năm về trước chủ yếu là do dân ở nơi khác đến Người dân cho rằng hiện tượng này có xu hướng giảm chủ yếu do sự kiểm soát tương đối chặt chẽ của lực lượng Kiểm lâm
Với gần 100% người dân là dân tộc Mường nhiên liệu đốt chính là củi nên việc khai thác củi từ rừng cũng là truyền thống của người dân địa phương từ nhiều năm nay.Trung bình mỗi ngày, một hộ gia đình tiêu thụ khoảng 10kg củi Nhƣ vậy, một tháng lƣợng củi tiêu thụ của một gia đình là 300kg Thời kỳ mùa đông, ngoài sử dụng củi phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi, một khối lượng củi đáng kể dùng để sưởi ấm Việc khai thác củi không chỉ suy giảm tài nguyên rừng mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài động vật hoang dã
Hình 4.2 Khai thác gỗ trái phép
4.1.2 Khai thác lâm sản ngo i gỗ
Tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao, trong đó một số loài là đối tƣợng bị săn lùng khai thác nhƣ: để bán Đây là kết quả tất yếu của việc sử dụng không bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, mặc dù nguồn tài nguyên này có thể tái tạo đƣợc Tham gia vào việc khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ không chỉ có người dân sống trong khu bảo tồn mà còn cả các khu vực xung quanh Do có giá trị kinh tế khá cao nhƣ mật ong rừng giá khoảng 1.100.000/chai 650 ml
Hàng năm, khai thác mật ong từ rừng tự nhiên đƣợc khoảng trên 50 lít Mặc dù mật Ong tự nhiên có giá trị kinh cao, nhƣng việc khai thác mật Ong quá mức sẽ làm cạn kệt Mặt khác việc sử dụng lửa để đốt rất nguy hiểm đối với tài nguyên rừng, nếu sơ ý để quên không dập tắt lửa có thể gây ra cháy rừng trầm trọng
Chính việc khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ một cách quá mức đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng đến các loài động vật hoang dã trong khu vực nhƣ làm thay đổi sinh cảnh sống, các hoạt động và di chuyển của con người trong rừng gây sợ hãi, tác động đến đời sống và tập tính của các loài ĐVHD, khiến chúng phải di chuyển đến sống ở những môi trường sống không thuận lợi điều nảy làm ảnh hưởng đến đến khả năng sinh sản và nguồn thức ăn của loài, hoạt động đốt ong trong rừng và các sinh hoạt khác có thể gây cháy rừng nghiêm trọng, phá hủy sinh cảnh sống của các loài ĐVHD
Những năm gần đây, một phần do công tác kiểm tra, kiểm soát đƣợc tăng cường, mặt khác nguồn lâm sản ngoài gỗ cũng đã suy giảm, việc tìm kiếm các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị ngày càng trở nên khó khăn Thêm vào đó, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về việc bảo vệ nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, bảo vệ ĐDSH của KBT cũng giúp người dân thấy được một phần trách nhiệm, quyền lợi trong việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên quý mà thiên nhiên đã ban tặng Đồng thời cũng giúp họ thấy đƣợc những hậu quả sẽ phải gánh chịu không chỉ trước mắt mà cả trong tương lai, không chỉ thế hệ hiện tại mà cả thế hệ con cháu mai sau
Săn bắt là hoạt động truyền thống của người dân tại đây Hoạt động này diễn ra quanh năm, tuy nhiên diễn ra mạnh nhất trong mùa đông, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau Từ khi nhà nước quyết định thu súng tình trạng săn bắt động vật hoang dã đã giảm đáng kể Mặt khác, số lƣợng động vật hoang dã cũng không còn nhiều Tuy nhiên một số người dân vẫn còn giữ súng săn trái phép và hoạt động săn bắn lén lút mà các lực lƣợng chức năng chƣa thể xử lý đƣợc
Việc săn bắt động vật hoang dã bằng bẫy thòng, bằng lưới, bằng súng săn vẫn còn tồn tại trong nhiều xóm Săn bắt động vật hoang dã, không chỉ làm suy giảm số lƣợng cá thể các loài mà còn có thể tiêu diệt cả một loài động vật, nhất là những loài động vật nguy cấp số lƣợng cá thể còn rất ít
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn động vật hoang dã
Kể từ khi đƣợc thành lập đến nay công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên rừng luôn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông Nhận thức đƣợc việc tham gia công tác bảo tồn của quần chúng nhân dân cũng hết sức quan trọng nên KBT đã tổ chức cho người dân trực tiếp tham gia vào các hoạt động bảo tồn thông qua chương trình khoán bảo vệ rừng của nhà nước Từ đó có sự tham gia tích của cộng đồng địa phương như tổ tuần tra bảo vệ rừng, ban tự quản Lực lượng này đóng góp tích cực vào các hoạt động trong công tác bảo tồn nhƣ: tuần tra bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn các hoạt động xâm hại đến các loài động thực vật và các tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái rừng biển và môi trường
4.2.1 Tham gia t tuần tra ảo vệ rừng Để mở rộng chương trình người dân địa phương bảo vệ tài nguyên rừng và các loài động vật Tại mỗi xã thuộc khu bảo tồn thành lập một tổ tuần tra bảo vệ rừng Thành viên của tổ gồm: Phó chủ tịch xã phụ trách nông lâm nghiệp làm tổ trưởng, kiểm lâm địa bàn làm công tác tham mưu cho tổ trưởng, toàn bộ công an viên, dân quân tự vệ của xã
Hình 4.5 Tổ tuần tra kết hợp với lực lƣợng kiểm lâm đi tuần tra rừng
Nhiệm vụ chính là: Kết hợp với lực lƣợng kiểm lâm ngăn chặn các hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về tài nguyên động thực vật rừng, lâm sản ngoài gỗ; Tổ chức tuần tra, truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, khai thác, tàng trữ, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép trên địa bàn Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, chế độ, chính sách về quản lý bảo vệ và phát triển rừng Vận động nhân dân bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; huấn luyện nghiệp vụ cho các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng
4.2.2 Tham gia ban tự quản Để quản lý tốt tài nguyên rừng cũng nhƣ tài nguyên động vật tại một số xã trong KBT đã thành lập cácn ban tự quản rừng Tại KBT gồm 4 ban tự quản trong đó tại khu vực tôi nghiên cứu là xã Ngọc Sơn có 2 ban tự quản, còn lại 1 ban ở xã Ngổ Luông, 1 ban ở xóm Đèn của xã Ngọc Lâu Mỗi ban tự quản của xóm gồm 7 – 10 người Nhiệm vụ chính của ban tự quản là quản lý khu rừng cộng đồng của xóm
4.2.3 Tham gia ban ph ng chá chữa chá rừng
Tât cả các xóm trong KBT đều có một ban phòng cháy chữa cháy, mỗi ban từ 7 - 10 thành viên Nhiệm vụ của các ban này là bảo vệ phòng cháy, chữa cháy rừng tại xóm, và trong KBT khi đƣợc huy động để bảo vệ tài nguyên cho các loài động thực vật
Một tổ chức cộng đồng bắt nguồn từ tất các các tầng lớp của cộng động nhƣ vậy sẽ đảm bảo tốt việc thực hiện các truyền đạt về thông điệp bảo tồn và bảo vệ môi trường, và vận động nhân dân tham gia tích cực vào các hoạt động bảo tồn và bảo vệ môi trường, cũng như hỗ trợ việc thực thi của các dự án bảo tồn từ bên ngoài
4.2.4 ánh giá sự tham gia của người dân trong ảo t n t i ngu ên động v t Để quản lý rừng đƣợc hiệu quả cần có sự tham gia của cộng đồng Tại khu vực nghiên cứu cộng đồng dân cƣ đã phối hợp với lực lƣợng chức năng để tuần tra bảo vệ rừng Chính sự tham gia của người dân đã góp phần lớn trong công tác tuyên truyền BVR; giảm đáng kể các vụ săn bắt động vật rừng, khai thác trở gỗ trái phép.
Công tác QLBVR tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông
Qua tìm hiểu tổ chức bộ máy của Ban quản lý KBTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông gồm 21 cán bộ công nhân viên chức gồm các phòng ban:
- Phòng pháp chế - Phòng kỹ thuật
- Phòng kế toán - Tổ cơ động
Có 4 Trạm BVR, mỗi trạm có từ 2 đến 3 đồng chí Trong đó trạm số 2 ở xã Quyết chiến; trạm số 3 ở xã Ngổ uông của huyện Tân ạc; trạm số 6 ở xã Tân mỹ và Trạm BVR ở xã Tự Do thuộc huyện ạc Sơn
Trình độ học vấn của KBT: Kỹ sư 11 người, Cao đẳng 1 người, Trung cấp 9 người.Hoạt động của ban quản lý như sau:
Xác định đây là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và phải đối mặt với nhiều thách thức, KBT đã thành lập:
+ Các Trạm BVR, đội cơ động và PCCCR tại BQ
+ Ban chỉ đạo PCCCR của BQL
+ Các ban tự quản âm nghiệp tại các xóm trong KBT ( gồm 7 ban tự quản) + Thành lập tổ liên nghành theo Quyết số 39 của Thủ tướng Chính Phủ ngày 9/3/2009 Ban hành quy chế phối hợp giữa lực lƣợng Kiểm âm và lục lƣợng dân quân tự vệ trong công tác bảo vệ rừng
+) Phối hợp với các đơn vị Kiểm lâm sở tại, chính quyền xã, các ban ngành như Công an, Quân đội và nhân dân địa phương trong công tác PCCCR.