1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về tranh sơn dầu

41 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về tranh sơn dầu
Trường học Trường Đại Học Mỹ Thuật Việt Nam
Chuyên ngành Lịch sử mỹ thuật, Hội hoạ
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phaàn Mụỷ ẹaàu1- Tính cấp thiết của đề tài: 1.1- Sơ dầu đợc xem là chất liệu chủ đạo trong nghiên cứu hội hoạ.Việc nghiên cứu chất liệu này từ lâu đã là một đề tài, quá trình phát triểnc

Trang 1

Phaàn Mụỷ ẹaàu

1- Tính cấp thiết của đề tài:

1.1- Sơ dầu đợc xem là chất liệu chủ đạo trong nghiên cứu hội hoạ.Việc nghiên cứu chất liệu này từ lâu đã là một đề tài, quá trình phát triểncủa lịch sự mỹ thuật phần lớn đi cùng với chất liệu này, những khuynh h -ớng, những phong cách cá nhân cũng làm tăng thêm vẻ đẹp của bảngmầu sơn dầu, nhng cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong việc đánh giáthẩm định các giá trị thẩm mỹ của chất liệu này, đôi khi cũng có những ýkiến trái ngợc nhau về một vấn đề nh: Sơn dầu là gì? Vẽ nh thế nào mới

là tranh sơn dầu? Những tính năng kỹ thuật khi sử dụng chất liệunày?

1.2- Trong bối cảnh hiện nay với sự bùng nổ mạnh mẽ của thôngtin, của những phát kiến khoa học, của những chất liệu trong sáng tác hộihạo thì sơn dầu vẫn có một ngôn ngữ biểu đạt cực kỳ phong phú trongmột khả năng phổ biến và tiện dụng tới mức giản dị, việc nghiên cứu, tìmhiểu, khám phá về chất liệu này là vô cùng cần thiết

2- Mục đích nghiên cứu của đề tài:

2.1- Hệ thống hoá t liệu, vài nét lịch sử chất liệu và kết quả khámphá, phát triển chất liệu sơn dầu đợc hoàn thiện

2.2- Trên cơ sở đó luận văn đi sâu vào phân tích những khả năngvô cùng của chất liệu và tìm hiểu bản chất, bút pháp, phong cách, ý t ởngtạo hình của các tác giả

2.3- Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu và vận dụng nhữngvấn đề trọng tâm của đề tài đi vào thực tiễn sáng tác hội hoạ và côngtác giảng dạy

3- Đối tợng nghiên cứu và những vấn đề giải quyết trong luận văn:

3.1- Đối tợng nghiên cứu chính của luận văn là những đặc tính củachất liệu sơ dầu, những thành tựu của chất liệu này đối với hội hoạ ViệtNam hiện đại, kỹ thuật sử dụng và hiệu quả trong sáng tác Luận văn cótham khảo các bài nghiên cứu, phê bình nghệ thuật, lịch sử mỹ thuật củacác tác giả trong và ngoài nớc

3.2- Các quá trình học tập, nghiên cứu cơ bản trong nhà trờng quacác bộ môn nh: Lịch sử mỹ thuật, Hình hoạ

Trang 2

3.3- Những vấn đề cơ bản mà luận văn cần đi sâu giải quyết:

 Xác định giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ của chất liệu sơdầu, những thành tựu của chất liệu này với t cách nó là một chấtliệu có ngôn ngữ biểu đạt riêng

 Góp phần định hớng, duy trì và phát triển những giá trị đó trong

xu thế đổi mới hiện nay, làm giàu thêm ngôn ngữ của chất liệu

và cảm thụ thẩm mỹ cho cả ngời sáng tạo và công chúng cảmthụ

 Nghiên cứu

 Khảo sát

 Mô tả và phân tích

 So sánh và đối chiếu

 Tổng hợp (Thống kê - Chụp phiên bài)

 Đánh giá, rút ra những bài học, những kinh nghiệm

sáng tác trong truyền thống và hiện tại

5- Kết luận và những đóng góp của luận văn:

5.1- Luận văn cố gắng tập hợp đầy đủ những t liệu và những đánhgiá kết quả nghiên cứu về đề tài đã nêu

5.2- Góp phần làm phong phú thêm vốn hiểu biết chung về sự tác

động của thời đại, của phong cách cá nhân, của các khuynh h ớng tronglĩnh vực sáng tạo nghệ thuật

5.3- Cuối cùng luận văn có thể dùng làm tài liệu cho những ng ờiquan tâm đến đề tài này

Trang 3

Đồng thời những phát minh sáng chế của các bộ môn khoa học khác

đợc các nghệ sĩ tiếp nhận Điều đó có lý do của sự hoàn thiện chấtliệu mới là sơn dầu

Lúc đầu ngời ta cho sự phát minh ra sơn dầu là của anh emnhà hoạ sĩ Uy-be-rơ (Hubert) và Giăng-Van-Êch (Jean Van Eyck) ở

xứ Phơ-La-măng (Flamand), nhng từ thời cổ đại ngời Hy lạp và Aicập đã tìm cách trộn màu với dầu để vẽ tranh Nhng chất liệu này cónhợc điểm là chất dầu khô, khi vẽ muốn sửa chữa chỗ nào phải đợirất lâu mới tiếp tục đợc Đã thế sơn lại chảy, không thể vẽ dầy vàkhó giữ đợc nét vẽ theo nh ý muốn Theo Xe-ni-nô, Xê-ni-ni (hoạgia ý thế kỷ 14) thì sơn dầu của ngời Đức có cải tiến đôi chút, nhngkhông nói rõ cách chế hoá Tài liệu “Truyền thống kỹ thuật hội hoạ”cho biết vào thế kỷ 14 ở áctoa và Noocmăngđi đã có những bứctranh trang trí vẽ bằng sơn dầu

Nhng chắc chắn là phải đợi đến đầu thế kỷ 15 vào khoảng năm

1410 ở xứ Phơ-La-măng anh em hoạ sĩ Uy-be-rơ và Giăng-Van-Êchmới tìm ra chất dầu thích hợp để hoàn thiện sơn dầu Theo phỏng

đoàn của Mô-rô Vô-chi-ê (Moreau Vauthier), anh em Van-Êch đãtìm ra dầu quang nhờn chế hể phách và mastic, cũng có thể là mộtchất nhựa Sandaraque có pha thêm chất Siccatif lấy ở kẽm Sun phatrắng (Couperose blanche) hoặc ở xơng đốt thành tro Chất dầu doanh em Van-Êch tìm ra hơn hẳn trớc, màu không bị biến chất, để tạonhững hoạ sắc mới Hoạ sĩ sử dụng vẽ tranh một hơi và thuận tiệnchứ không phải đợi nh trớc đây Đây là một đóng góp rất lớn, là bớcngoặt quyết định thắng thế trong kỹ thuật, mày nghiền với dầu đểhoạ sĩ sử dụng thuận tiện trong nghiên cứu, sáng tác và sơn dầu đãthực sự giữ vai trò quan trọng trong hội hoạ

Trang 4

Nh thế trớc thế kỷ 15 sử dụng sơn dầu còn nhiều bất tiện Việcdùng dầu thờng chỉ ở phạm vi quang phủ hoặc trộn màu với dầu cònthô sơ, các màu ít pha trộn với nhau bởi sự tác động qua lại giữamàu với dầu có nhiều chỗ cha thích hợp Việc anh em Van-Êch làmcho sơn dầu hoàn thiện và những sáng tác của họ làm bằng cứ đãkhẳng định từ đó trở đi sơn dầu thực sự là chất liệu chính, đa hộihoạ châu Âu tiến xa hơn trớc rất nhiều Kỹ thuật chế sơn dầu tyuy đ-

ợc giữ bí mật nhng rồi cũng nhanh chóng đợc lan truyền bởi nhữngkhát vọng và mong muốn của nhiều danh hoạ

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 các hoạ sĩ chủ yếu tự mình tạo rasơn dầu Những màu bền chắc chủ yếu lấy từ khoáng chất Biết rõtính chất của nguyên liệu, nên các hoạ sĩ rất thận trọng lựa chọn bộtmàu để nghiền sơn cho bảo đảm Công việc chế màu đợc làm tại x-ởng hoạ, theo những kinh nghiệm và cách thức đã đợc thử thách củacác danh hoạ đi trớc ở Ăngver ngời ta còn giữ lại những phiến cẩmthạch, chày, cối đá và chiếc rơng đựng những nguyên liệu chế màucủa Pol Rubenx Đến thế kỷ 18, công nghiệp phát triển, có nhữnghàng sơn dầu đựng vào ống thiếc và đóng hộp Hoạ sĩ mua về dùngrất tiện Tuy vậy cũng có những trờng hợp dầu không đợc tinh khiết,hoặc bột màu có pha hoá chất hoặc trục trặc máy móc nghiền không

kỹ và sơn dầu có thể không tốt

Sau khi chế đợc sơn dầu, Van-Êch dùng sáng tác ngay, mở đầumột giai đoạn mới trong lịch sử hội hoa Tranh “Ng ỡng mộ conchiên thần bí” của Van-Êch (1386-1441) đợc ví là tác phẩm đầu tayquan trọng, làm cho các hoạ sĩ bấy giờ thán phục

Sơn dầu từ Phơ-La-măng lan truyền nhanh sáng ý, nhờ sự tíchcực của Antônellô đờ Mexinee Sau đó sơn dầu ngày càng lan rộng ởchâu Âu Nghệ thuật sơn dầu ra đời gắn liền với ý t ởng thẩm mỹmới của chủ nghĩa nhân văn, thời kỳ đang lên của chủ nghĩa t bản.Vai trò tích cực của cá nhân đợc khẳng định Trong xã hội có nhiềuchuyển biến lớn, với những vấn đề phức tạp Những xung đột trongcuộc sống luôn xảy ra Sơn dầu ra đời thích ứng ngay với nhu cầucủa thời đại Bởi vậy sơn dầu đã đề cập nhiều đề tài phức tạp của

Trang 5

hiện thực Sơn dầu bắt đúng thời đại và phát triển rất rực rõ vớinhiều tác phẩm tuyệt tác của nhiều danh hoạ xuất chúng.

Khi nói tới sơn dầu tức là nghiền bột mầu với dầu Công việcnày xa kia đều làm bằng tay, sau này mới dùng đến máy móc.Nghiền tay tốt, vì làm ít một, dần dần và lâu, nên nghiền đ ợc kỹ,chất sơn nhuyễn và mịn hơn Làm máy nhanh, nhng cần tránh để khinghiền xong dầu quá nhiều vì chất dầu càng mài càng chảy ra X akia ngời dùng dầu gai, sau này dầu cù túc (oeillette) hơn Dầu cù túc

có chậm khô hơn dầu gai, nhng có lợi để lâu không bị sẫm mầu nhdầu gai Cho nên muốn nghiền tơi càng không nên dùng dầu gai.Mầu sơn đã mài xong khi vẽ muốn cho trơn bút thì pha thêm dầu oảihơng (lavande aspic) hoặc tinh dầu thông Nhng hai chất này phasơn để lâu thờng làm mặt sơn tối lại, nên gần đây ngời ta a tinh dầuhôi hơn Dùng tinh dầu hội có lợi bởi khi khô nó bốc hơi hết, tránh

đợc cái hại đen mầu Còn muốn cho sơn chóng khô thì trộn thêmdầu mau khô

Dùng dầu trong (Vernis à pheindre) để pha loãng sơn mà vẽcũng tốt Chú ý phân biệt thứ mầu này với dầu kính để sửa chữa(Vernis à retoucher) gọi là dầu rút Dầu trong là một loại dầu gồm

có các tinh chất dầu hôi cộng thêm với những chất tàn trong dầukhác Tác dụng của nó là làm cho mầu lòng, nuột và óng hơn, lạicũng bền hơn, dùng nó để vẽ tráng (glacis) rất tốt Một u điểm khác

là vì nó ít chất dầu mau khô, nên dùng pha sơn, sơn vẽ không mau

se quá, dễ điều khiển, rất tiện khi cần giữ chất sơn đ ợc mềm mại dễvờn, giữ đợc lâu

2 Thế nào là tranh sơn dầu?

Sơn dầu có khả năng diễn tả hiện thực vô cùng phong phú,phản ánh đợc nhiều mặt phức tạp đa diện, đa chiều của thiên nhiên,cuộc sống Sơn dầu ngày càng đợc nhiều hoạ sĩ sử dụng với nhiềuphơng pháp khác nhau với những phơng thức thể hiện luôn đổi mới.Sơn dầu có thể chất óng mợt, đặc quện, trong sâu, bền chắc Lúc ớtthì mợt màng tiện trong sử dụng, giữ đợc hiệu quả của cảm xúctruyền qua nét bút hoặc bay, dao vẽ Lúc khô thì quánh rắn, bềnchắc và không thay đổi hiệu quả Sơn dầu không những khoẻ đẹp về

Trang 6

chất mà còn rất phong phú về màu, có thể tạo ra nhiều hoà sắc khácnhau Sơn dầu có khả năng miêu tả bất cứ một sự vật, sắc thái nàotrong thiên nhiên, cuộc sống và rất cơ động Nó có thể dùng vẽ trựctiếp trớc đối tợng trong mọi hoàn cảnh, mọi thời gian, không gian, tảngời, cảnhh vật, ma nắng, hoàng hôn, bình minh mà các chất liệukhác ít có khả năng làm đợc Hoạ sĩ vẽ sơn dầu tài năng mức nào,rung cảm trớc đối tợng thế nào, toán lên ở màu sắc, bút pháp, phongcách đều đợc giữ nguyên vẹn nh thế Phơng pháp miêu tả của sơndầu chủ yếu là bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng Nó có đầy đủ khảnăng diễn tả sinh động con ngời, sự vật trong cuộc sống muôn mình,muôn vẻ với tất cả hình sắc, ánh sáng thực của nó Màu sắc của sơndầu rất dồi dào, sự pha trộn cung cấp cho hoạ sĩ có thể dễ dàng gửigắm cảm xúc một cách trực tiếp, đạt một hiệu quả cao khi sáng tác.Sắc độ thì uyển chuyển, khi tớt khi khô cũng không thay đổi khácnên sơn dầu giữ đợc hoàn toàn sự trong trẻo của cảm hứng Nó làchất liệu lý tởng đạt trình độ tinh tế, ý nhị về thể chất hiện thực vàhơn hẳn những chất liệu, thể loại trớc đó Phải nói đó là bớc chuyểnquan trọng nâng cao nghệ thuật vẽ tranh trên thế giới.

3 Thế nào là hoạ sĩ vẽ tranh sơn dầu?

Sơn dầu không ngừng phát triển từ thời kỳ phục hng cho đếnnay nên phơng pháp vẽ cũng có nhiều bớc tìm tòi quan trọng vớinhiều hình thức diễn tả của nhiều khuynh hớng, trờng phái nghệthuật Sơn dầu kế tiếp từ thế kỷ này sang thế kỷ khác cùng với sựphát triển của nhiều ngành khoa học, nó đợc bổ sung và tiến lên trênnhững chặng đờng mới, hiện thực mới Sơn dầu ngày càng đợc cảitiến, khả năng tăng mãi và ngày càng phong phú Mỗi thời đại đều

có những tác phẩm mang tầm vóc t tởng làm đậm nét thời đại đó.Nhiều danh hoạ đã sáng tác những tác phẩm hấp dẫn ngời xem bằnghình, sắc, bố cục, bút pháp, phong cảnh của mình, truyền cảm thẩm

mỹ, những nội dung tốt đẹp về thời đại của họ Làn môi nàg côn-đô nổi tiếng của Lê-ô-na-đôđờ Vinxi (1542-1529) làm mọi ng ờingỡ ngàng, kinh ngạc và kính phục vì chỗ chuyển tiếp từ phần môi

La-giô-đỏ ra vành môi lan qua phần da mặt ánh sáng xuyên qua, chất gỗ,chất đá, chất nớc nh sánh đặc nh thạch trong suốt, cái trạng thái

Trang 7

khô, nhão, rắn, mềm, lỏng sệt, khí hay hơi nớc, chất sừng của sợitóc và cảm giá mềm ấm của làn da ngời thiếu nữ đều có thể thểhiện lên trực tiếp và cụ thể nhờ sơn dầu.

Sơn dầu tiện dùng với mọi ngời Vẽ sơn dầu, hiểu theo nghĩa

kỹ thuật, thì đơn giản hơn sơn mài, lụa hay khắc gỗ nhiều Do đó,quá trình gia công chất liệu có nhiều chất phóng túng của nghệ sĩ, ít

vẻ thủ công mỹ nghệ Màu sơn do có khả năng pha trộn khá tự do,

vẽ đậm hay nhạt, dày tới vài xăng ti mét hay vẽ loãng nh thuốc nớc,

đều đợc cả Nó có thể kết hợp với hầu hết các loại màu khác nh pe-ra hay bột màu, với tranh cắt dán ghép ảnh một cách khá tự

tem-do Hiện nay các kỹ thuật hỗn hợp màu sơn dầu với các màu khácrất đợc yêu chuộng

Có một ngôn ngữ biểu đạt cực kì phong phú một khả năng phổbiến và tiện dụng tới mức giản dị, đó là cái mạnh của chất liệu sơndầu Từ tranh của em bé mới tập vẽ tới các tranh tuyệt diệu nhất treo

ở các bảo tàng uy tín nhất đều có thể là sơn dầu Khi vào tới ViệtNam sơn dầu đã đạt đợc trình độ đó

Nàng Monalisa (La-giô-côn-đô) Leonardo Da vinci

Sơn dầu

Mầu sắc của các bậc thầy nghệ thuật tạo hình Vơ-ni-giơ phục hng nhTichian, Gioc-giô-nê một phần nhờ vào sự tinh vi của sắc độ màu dầu Bêncạnh sắc độ tinh vi là sự nô đày và chiều sâu của màu Chiều sâu đó càng đợc

Trang 8

tăng cờng nhờ lớp dầu phủ làn cuối khi vẽ tranh Đặc biệt lối vẽ mỏng, lênmầu từng lớp của các hoạ sĩ cổ điển làm cho màu trở nên sâu hun hút, gợi sựvô cùng Điều đó có thể chứng thực ở tranh của Rem bơ răng Tranh của ôngnhìn vào nh từ ánh sáng bớc vào bóng râm rồi vào trong nhà đầy bóng tối, mới

đầu loá tởng là tối sầm lại, không thấy gì nhng quen mắt rồi ta lại phát hiện

ra các khoảng tối đó hết điều này đến điều kia, hết cái này đến cái khác Sựtranh tối tranh sáng soi rọi các đồ vật, đó là nhờ chiều sâu của màu dầu Mộtthành tích chói lọi của màu dầu chỗ mạnh tuyệt đối của nó so với các chấtliệu khác, là khả năng tả chất đã đợc Ru-ben-xơ đa lên tột đỉnh, màu sắclàm cho các đồ vật, cây cỏ, các chất ông mô tả nh sờ thấy đợc, cảm thấysức nặng có có một cảm giác về xúc giác trực tiếp đói với ng ời xem: xatanh mát lạnh, nhung êm, gấm mịn, quả nho nh mọng nớc, cái lá có ánhsáng xuyên qua, chất gỗ, chất đá, chất nớc nh sánh đặc nh thạch trongsuốt, cái trạng thái khô, nhão, rắn, mềm, lỏng sệt, khí hay hơi nớc, chấtsừng của sợi tóc và cảm giác mềm ấm của làm da ngời thiếu nữ đều

có thể thể hiện lên trực tiếp và cụ thể nhờ sơn dầu

Do đặc tính hoá học nên màu dầu ớt thì có thể pha vào nhau, quệnvào nhau và tuỳ theo tỷ lệ pha mà có các màu khác nhau, khó l ợng trớc

đợc hết Do đó đối với mỗi hoạ sĩ, do sự sử dụng cụ thể mà bảng màu đó

có thể mở ra vô cùng, có những nét kỳ lạ, riêng biệt Sự phong phú củabảng màu sơn dầu là cơ sở vật chất để các hoạ sĩ ấn tợng làm cuộc "Cáchmạng" về màu sắc trong hội hoạ vào cuối thế kỷ 19 Tranh t ơi tắn, rực rỡlên, ngập ánh nắng và không khí có hơi nớc Các hoạ sĩ Pháp đã triệt đểkhai thác độ rực của màu, vẻ óng ánh của bề mặt có sự tan chảy vào nhaucủa các màu, cũng nh chiều sâu của chúng Đặc biệt là Ma-nê, Mo-nê,Rơ-noa đã tạo nên một sự tuơi mát lạ lùng của ngời và cảnh vật trongtranh bởi lối vẽ trực tiếp ngoài trời bằng nhát bút to trát màu đầy Ta t -ởng hít thở đợc cái không khí dịu mát và thấy hơi sơng ấm trên làn dakhi xem các tranh phong cảnh của các danh hoạ ấn t ợng Để giữ lạinhững cảm xúc trực tiếp trớc đối tợng, khi ngồi trớc mẫu hay trớc một lọhoa, một phong cảnh không gì thuận lợi bằng sơn dầu

Sơn dầu tiện dùng đối với mọi ngời Vẽ sơn dầu,hiểu theo nghĩa

kỹ thuật, thì đơn giản hơn sơn mài, lụa hay khắc gỗ nhiều Do đó, quátrình gia công chất liệu có nhiều chất phóng túng của nghệ sĩ, ít vẽ thủcông mỹ nghệ Màu sơn do có khả năng pha trộn khá tự do, vẽ đậmhay nhạt, dày tới vài xăng-ti-mét hay vẽ loãng nh thuốc nớc, đều đợccả, Nó có thể kết hợp với hầu hết các loại mày khác nh tem-pe-ra hay bột

Trang 9

màu, với tranh cắt dán ghép ảnh một cách khá tự do Hiện naycác kỹ thuật hỗn hợp màu sơn dầu với các màu khác rất đ ợc yêuchuộng.

Có một ngôn ngữ biểu đạt cực kì phong phú trong một khả năngphổ biến và tiện dụng tới mức giản dị, đó là cái mạnh của chất liệu sơdầu Từ tranh của em bé mới tập vẽ tới các tranh tuyệt diệu nhất treo ởcác bảo tàng uy tín nhất đều có thể là sơn dầu, Khi vào tới Việt Nam, sơndầu đã đạt đợc trình độ đó

Trang 10

Chơng II

Những thành tựu của chất liệu sơn dầu

đối với hội hoạ Việt Nam hiện đại

đến loại hình nghệ thuật này, bởi lẽ giao lu mỹ thuật còn hẹp Mặtkhác nghệ thuật tạo hình dân tộc trải qua những thời kỳ vinh quang,

đến đây vẫn còn bao bọc trong quan niệm “truyền thống” của khuvực á đông Những hạn chế của nề nếp phong kiến tiểu nông dẫn tới

“khớc từ” những văn hoá nghệ thuật Âu tây xa lạ Những hình thức

“truyền thống” ăn sâu trong tiềm thức, chậm chí trở thành trì trệ,công thức, sáo mòn Vào những năm 1930, khi đã tiếp cận và họctập hội hoạ hiện đại ở trờng mỹ thuật Đông dơng Một số hoạ sĩ cònchuộng màu “nớc vối” và “khói bếp” để có cái gọi truyền thống “cổkính” và cho thế mới có “tính dân tộc”

Văn hoá nghệ thuật Tây âu dần dần đi vào nớc ta và phá vỡnhững hạn chế của hình thức cũ Các loại hình nghệ thuật mới Việt Nam

ra đời Đặc biệt là hội hoạ màu dầu Các nghệ nhân ở nớc ta từ xa đã sửdụng dầu sơn để tô những tợng nhỏ ở các chùa theo lối quang dầu Nhng

vẽ tranh sơn dầu theo lối hội hoạ Tây âu thì cha thấy

Cho đến cuối thế kỷ 18 tranh sơn dầu mới có ở Việt Nam.Những tranh này có lẽ do các cố đạo đa vào bằng con đờng truyền

đạo, là các phiên bản hội hoạ sơn dầu vẽ các đề tài kinh thánh Gần

đây ngời ta tìm đợc vài bức tranh sơn dầu, vẽ chân dung ngời ViệtNam do ngời Pháp vẽ vào cuối thế kỷ 18 theo lối hội hoạ Tây Âu,những cảnh sinh hoạt của Việt Nam ở cuối thế kỷ 18 nh tranh “trênsông Hội An” hoặc “Cảnh hát tuồng ở đài trong” những tranh đóvẫn không phải của ngời Việt Nam vẽ Trong thời gian này, chất liệu

Trang 11

sơn dầu đóng hộp có thể đã du nhập vào ta nhng cũng rất ít, và cũngcha thấy ai dùng để sáng tác tranh hội hoạ Ngoài một ng ời ViệtNam duy nhất sang Pháp học vẽ và trở về n ớc vào những năm cuốithế kỷ 19: Hoạ sĩ Lê Văn Miến Với hai tác phẩm sơn dầu còn lại:

“Bình văn” và “Chân dung cụ Tú Mèn” (1898) cho đến mùa đôngnăm 1925 trờng cao đẳng mỹ thuật Đông Dơng đợc thành lập, bắt

đầu một thời kỳ mới trong lịch sử mỹ thuật cận đại Việt Nam nóichung và hội hoạ màu dầu Việt Nam nói riêng

Trờng mỹ thuật Đông Dơng thành lập, do ngời Pháp dạy theogiáo trình mỹ thuật Pari Hội hoạ Âu tây đợc các hoạ sĩ Việt Namtiếp thu và phát triển Từ năm 1931 khoá tốt nghiệp đầu tiên ra tr -ờng, rồi lần lợt những khoá tiếp theo, đã xuất hiện dần những câybút hội hoạ sơn dầu Việt Nam Từ đó về sau phong trào học tập vẽtranh bằng chất liệu sơn dầu theo lối hội hoạ mới trở nên phổbiến

Nội dung của khuynh hớng “Thực tế nên thơ” ở Việt Nam từnăm 1925-1945 là thiên nhiên, con ngời, phong cảnh cùng với sinhhoạt, phong tục, tập quán của đất nớc – tóm lại là rất cả vẻ đẹp tinhthần, vật chất của xã hội Việt Nam đơng thời – qua tâm hồn, tìnhcảm của ngời hoạ sĩ

Trong cái thế giới mà ngời ta gọi là “Trở về thực tại nên thơ”

ấy, t tởng và xúc cảm của hoạ sĩ bao giờ cũng nảy sinh từ hình ảnh

cụ thể của đối tợng, thông qua nhận thức riêng của tác giả và đợcthể hiện bằng một kỹ thuật thích đáng

Hình-sắc-ánh sáng, công cụ để biểu đạt là những từ ngữ, tiếngnói làm rung động lòng ngời, chúng có thể xuất phát từ một bữacơm của nông dân, một buổi làm đồng, hay một cảnh chiều về trênthôn trang lặng lẽ

Trên những bố cục với cơ cấu đầy nhị điệu, những hình ảnh đ

-ợc xếp đặt theo một trật tự nào đó, diễn ra các quang cảnh sinh hoạt

đời sống của nhân dân đơng thời cuốn theo cả không khí và hơi thởthời đại Những dáng động cùng với khối nổi của con ngời, sự sôngrung tinh, run rẩy, rì rào trên một khuân mặt, tác động của ánh sáng,tất cả đợc thể hiện bằng hình và sắc trên khung vải với một nghệ

Trang 12

thuật đầy ma lực, đã làm nổi rõ một xã hội ba chiều của xã hội ViệtNam thủa ấy.

Lê Phô - sinh viên khoá 1 trờng cao đẳng mỹ thuật Đông

D-ơng, ở những năm 1940, ngời ta còn thấy bức tranh sơn dầu của ông

vẽ một thanh niên mặc áo dài trắng đứng trong hiên nhìn ra v ờn câytrong bầu không khí trong trẻo, tơi bát của một buổi sáng mùa thu,với lối thể hiện nghiêm trang, giản dị mà ang trọng, chứng tỏ ông đã

đạt một trình độ khá tinh vi về kỹ thuật sơn dầu

Lơng Xuân Nhị là một hoạ sĩ nổi tiếng về nghệ thuật trauchuốt, mợt mà nhất một thời Sơn dầu của ông thể hiện những thânhình mảnh mai, yểu điệu của những ngời phụ nữ trung lu Hà Nội vớicác màu nhẹ và min đạt hiệu quả nhanh theo phệt bút chìm trịnhtrọng Ngoài ra ông còn vẽ rất nhiều phong cảnh đồng ruộng nên thơvới con mắt tài hoa, tao nhã của ngời tri thức thành thị Ông thuộcloại hoạ sĩ mà ngời Pháp thờng gọi là: “peintre-charmant” Hoạ sĩ cócái đẹp thú vị, thoả hơng thơm

Sự chịu ảnh hởng hội hoạ Pháp hiện đại là điều khó tránh khỏitrong nghệ thuật ở một nớc thuộc địa Pháp ảnh hởng ấy ở cả haimặt tích cực và tiêu cực rõ nhất trong bớc đi ban đầu Song những

ảnh hởng tiêu cực của các trờng phái hiện đại cũng nhanh chóngphai mờ, các hoạ sĩ Việt Nam tiếp nhận các tinh tuý của hội hoạchâu Âu đúc rút qua 5 thế kỷ, để xây dựng nền hội hoạ sơn dầu mới,dân tộc, hiện đại

Phơng pháp tạo hình của hội hoa châu Âu là những bài họcmới Những phép tắc dựng hình hoạ dựa trên tỷ lệ, giải phẫu, xa gần,lấy thiên nhiên, con ngời, cuộc sống thực làm mẫu cho việc xâydựng hình tợng nghệ thuật Mầu sắc, hình khối, ánh sáng, khônggian đợc nhìn nhận trên cơ sở khoa học Cách làm tranh cũng kháccách làm của các phờng thợ theo lối nghệ nhân truyền nghề Chỉtrong một thời gian ngắn (khoảng 10 năm) các hoạ sĩ Việt Nam đãdần dần trút bỏ những hình thức của việc học, những cái vay mợn,những ảnh hởng quá lộ liễu Với bản lĩnh sáng tạo, các hoạ sĩ ViệtNam đã hớng vào xây dựng nền hội hoạ mới của dân tộc “Ng ời hoạ

sĩ đã làm ló ra một nền hội hoa Việt Nam mà sự sinh tồn của bản

Trang 13

chất dân tộc đợc chứng minh mạnh mẽ” (Tô Ngọc Vân – “Bây giờmới có hội hoạ Việt Nam” – Văn Nghệ, xuân 1949).

Nghệ thuật tạo hình 1930-1945 đã tạp nên những phong cáchnghệ thuật đa dạng, xuất hiện nhiều hoạ sĩ với sở trờng sử dụng chấtliệu, tìm kiếm đề tài để khẳng định mình trong nghệ thuật cận đại vàhiện đại sau này Hai khuynh hớng sáng tác chính là lãng mạn vàhiện thực đã định hình diện mạo nền nghệ thuật tạo hình cận đại vớinhững đại diện tiêu biểu

Với khuynh hớng lãng mạn và bảng màu ấn tợng, hoạ sĩ Tô NgọcVân (1906-1954) xuất hiện trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam nh một ngôisao sáng long lanh bền chặt Ông là một hoạ sĩ tài ba, có công đầu tiêntrong chất liệu sơn dầu, một chất liệu phong phú khó điều khiển Hy sinhtrong kháng chiến chống Pháp, tác phẩm của Tô Ngọc Vân để lại không

nhiều Ngay từ đầu những năm 40, với những tranh nh "Thuyền trên sông

Hơng" (mầu dầu - 1935) "Thiếu nữ bên hoa huệ" (mầu dầu - 1943)

"Thiếu nữ bên hoa sen" (mầu dầu - 1944) Tô Ngọc vân đã có một

phong cách sơn dầu riêng Sơn dầu của hoạ sĩ nuột nà, xốp, gợi cảm ởchất màu nhiều hơn ở đờng nét và khối hình Màu đợc dùng để tạo khôngkhí và tạo khối

Thiếu nữ bên hoa huệ

(Dầu dầu - 1943)

Tô Ngọc Vân

Trang 14

ở "Thiếu nữ bên hoa huệ" trong một bố cục thóng có vẻ bố trí, côgái mặ áo trắng ở t thế có vẻ hơi làm dáng, sắp đặt, nhng nhờ hoà sắcnhuần nhuyễn, nét tình cảm chân thực nên tranh và ng ời trong tranh đều

có không có vẻ gợng gạo, ngợc lại tự nhiên một cách đáng yêu Kỹthuật sơn dầu đợc ông sử dụng chủ động với cách nhìn, cách nghĩ, cáchcảm xúc của ngời Việt Nam với con ngời và cảnh sắc thiên nhiên đất n-

ớc Với sức làm việc phi thờng Tô Ngọc Vân đã vẽ hàng trăm bức sơndầu đủ loại đề tài: Vịnh Hạ Long biển xanh lộ soi bóng núi, thuyềnsông Hơng chậm rãi trên dòng nớc lặng lờ, sự sãi áo vàng đi khất thực ởPhompenh, mây núi Ba Vì buổi tra, buổi sớm, nông dân cày cấy trênruộng nớc đỏ nh son bên luỹ tre rợp màu lục đậm Tuy nhien ng ời làm

ta nhớnhiều nhất vẫn là những tác phẩm ông vẽ các phụ nữ Ng ời xemngây ngất trớc hoà sắc dờn dợn lam nâu, ánh lên cái áo sa tanh sẫm biếclàm nổi đờng cong lợn nhịp nhàng trên hình mền mại tròn lẳn, trơn ớtcủa ngời thiếu phụ Nhịp điệu màu sắc ánh sáng đồng nhất trên hình thểkích thích sự ham sống sung mãn thể hiện bằng những lớp son dẻoquánh, tơi mát và thấm đợm nh nhung, nh gấm Hội hoạ sâu dầu ViệtNam phát triển đợc chủ yếu là nhờ công của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân

Hai thiếu nữ và em bé (Dầu dầu - 1944) Tô Ngọc Vân

Trang 15

Việt Bắc Lu Văn Sìn (Dầu dầu - 1988)

Em Thuý (Dầu dầu - 1943)

Trần Văn Cẩn

Cô Liên

(Sơn mài) Huỳnh Văn Gấm

Trần Văn Cẩn thuộc vào số ít hoạ sĩ nớc ta có một đời hoạt

động nghệ thuật khá đều đặn, liên tục, sáng tác nhiều và có nhiềutác phẩm tốt ở cả sơn mài lẫn sơn dầu Tác phẩm “Em Thuý” của

ông, về mặt sử dụng chất liệu có thể coi là tiêu biểu Một bức sơnmài, lụa hay gỗ không tạo nên chất và sắc độ tinh tế để chất đầy dathịt, tóc, chất thuỷ tinh thể của đôi mắt, chất vải của áo, quần, chất

Trang 16

trong của không khí nh “Em Thuý” đã có So “Em Thuý” với “CôLiên” bằng sơn mài, một bức chân dung hiếm hoi và khá thành công

về sơn mài của Huỳnh Văn Gấm ta thấy rõ u thế tả chất, tả khối, ánhsáng và không gian của sơn dầu

Các cô gái của Tô Ngọc Vân, thiếu nữ yêu kiều với chất áocrếp mòng mềm của Mai Trung Thứ, ở hơi sơng trong tranh của LuVăn Sìn hay ánh sáng phản quang, khúc xạ trong hơi n ớc theo kiểu

ấn tợng chủ nghĩa ở “Thuyền trên sông Hơng” của Tô Ngọc Vân, dùchỉ là một vài thí dụ tản mạn, giới hạn ở phòng tranh nhỏ cũng đủcho thấy sự trởng thành của chất liệu này Với tất cả những u điểm

về sự phong phú, đa dạng và tiện dụng, sơn dầu phục vụ đắc lực nhấtcho xu hớng hiện thực trong sáng tác Nó nh cây đàn dơng dầm rấtphổ biến, nhng đạt đến trình độ điêu luyện cũng vô cùng vất vả, khókhăn bởi ngôn ngữ của nó phong phú vô cùng

Những năm 1920-1930 ở Pháp đang thịnh hành lối sáng tácsơn dầu mảng phẳng, kết hợp với phép biến dạng hình thể và sửdụng các màu ẩn dụ theo phong cách tợng trng của Gauguin.Nguyễn T Nghiêm và Huỳnh Văn Gấm lúc đó mói học năm thứ batrờng cao đẳng mỹ thuật Đông Dơng và bắt đầu đợc nhà trờng cho

vẽ sơn dầu Hai ông còn cha biết cách hồ vải vẽ, vải gai lại không

có, thầy giáo bảo đi mua bao tải để thay thế, đồng thời chỉ cách hồ.Vì ít kinh nghiệm, hai ông quét keo quá đặc khi khô nứt nẻ, phải hồlại mấy lần bằng nớc keo loãng, bút thì thiếu, bao tải thì gồ ghề, hai

ông phải dùng bay trát màu thanh quen lối diễn đạt bằng mảng lớn

Và cái “mới” đã đến trong sự cố gắng xoay xoả giải quyết các khókhăn Huỳnh Văn Gấm và Nguyên T Nghiêm thờng gạt màu bằngbay, thỉnh thoảng mới điểm xuyết bằng bút Những lớp sơn dày, dẻoquánh đợc trát ào ạt trên nền vải đến chỗ nào thì sự phong phú về hìnhthể, đậm nhạt và màu sắc lại nh cùng một lúc hiện ra

Nếu ta đặt tranh “Cô đầm lai” sáng tác năm 1943 của HuỳnhVăn Gấm bên cạnh tranh “Bà chúa coi lăng Tự Đức” bầy năm 1944tại triển lãm riêng tại Hà Nội của hoạ sĩ danh tiếng Pháp thời đó, thìcái mới, cái cũ đã cách xa nhau một trời một vực Điều thú vị là hainhân vật trong tranh vô hình chung nh là đại diện cho hai lối vẽ: cái

Trang 17

trẻ trung hiện đại đầy sức sống thanh xuân với cái già nua, vangbóng một thời vàng son rực rỡ Cái đẹp trong tranh Huỳnh Văn Gấm

là cái động đang di tới, bức tranh hoàn thành ở các lớp sơn phủ dởdang, khơi gợi mà không diễn tả “Cô đầm lai” hiện lên tranh vớinhững mảng lớn Khuôn mặt cũng chỉ là mảng trắng ngà hơi tái, chỗửng hồng, chỗ phớt xanh Mắt, mũi, miêng gần nh không có hình.Tranh cho ta cảm giác cô mẫu xinh đẹp, diện rất mốt của ông chỉ làhiện thân của cái Duyên dáng

Táo bạo hơn nữa, Nguyên T Nghiêm vẽ tranh sơn doanhnghiệpầu “Bác gác Văn Miếu” một cách cực kỳ giản lợc Toàn thânngời mẫu từ cái khăn trên đầu, mặt mũi, chân tay, quần áo, đều cùngmột màu trắng Để phân biệt các bộ phận cùng màu đó, Nguyễn TNghiêm đã dùng cách trát khác nhau, chỗ dày, chỗ mỏng kết hợp với

sự chuyển độ nóng lạnh, làm biến đổi tinh vi sắc thái của màu Có lẽ đó

là bức tranh “Mô - đéc” nhất của Nguyễn T Nghiêm đã làm chấn động

d luận trong giới hoạ về cái mới lạ và táo bạo

Tinh hoa nghệ thuật thế giới đợc sàng lọc và đồng hoá quacách nhìn, cách nghĩ và cảm xúc về thể hiện thực của ngời hoạ sĩViệt Nam truyền đạt vào tranh sơn dầu Các hoạ sĩ sơn dầu xuất sắc nh :Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Huỳnh Văn Gấm, Nguyễn T Nghiêm,Nguyễn Đỗ Cung, Mai Trung Thứ, Lơng Xuân Nhị đã xuất hiện trớccách mạng tháng Tám, những tranh của các hoạ sĩ đó có phong cáchriêng, đồng thời lại toát lên một phẩm chất chung của thẩm mỹ dân tộc

Mặc dầu đi sau hội hoạ Châu Âu, nhng hội hoạ sơn dầu Việt Namnhanh chóng hình thành và phát triển, là lực lợng mạnh của hội hoạ hiện

đại nớc ta, nhập cuộc vào thế giới Các tác phẩm sơn dầu Việt Nam tr ớccách mạng mà bảo tàng mỹ thuật Việt Nam su tập đợc và trng bày vàonăm 1980 đã chứng minh đậm nét sự hình thành và phát triển của hộihoạ sơn dầu Việt Nam Những tác động tích cực của hội hoạ sơn dầu thếgiới và phơng pháp tạo hình mới đợc các hoạ sĩ Việt Nam tiếp thu có

Trang 18

sáng tạo, đợc thẩm mỹ dân tộc đồng hoá và cắm mốc vào thực hiện đấtnớc, tạo nên tranh sơn dầu có bản sắc dân tộc, với một loạt tác giả, tácphẩm Hội hoạ sơn dầu Việt Nam thực sự phát triển và nhập cuộc thếgiới.

2- Tranh sơn dầu Việt Nam phát triển trên những nhân tố mới:

Dới đờng lối văn nghệ của Đảng, nghệ thuật tạo hình Việt Namhiện đại luôn luôn bám sát cuộc cách mạng để sáng tác Những vốn liếngghi đợc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng n htrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là nguồn vốn quý cho sángtác trong những năm hoà bình

Cũng nh sơn mài trong những năm kháng chiến chống Pháp, sơndầu không có điều kiện thuận lợi để phát triển Ta cha sản xuất đợc sơndầu, sự thiếu thốn vật chất và điều kiện làm việc đã làm cho chất liệu nàyhầu nh bị bỏ rơi Suốt những năm kháng chiến chỉ còn lại một bức sơndầu phong cảnh của hoạ sĩ Diệp Minh Châu hiện tr ng bày ở Viện bảotàng Mỹ thuật

Từ sau hoà bình, chất liệu sơn dầu đợc chú ý nhiều hơn Song nếusơn mài và lụa trải qua một giai đoạn đột ngột và nảy nở đẹp đẽ vàonhững năm 1958-1962 có tiếng vang ra cả nớc ngoài, thì sơn dầu không

có cái may mắn đó Trong khi sơn mài và lụa có một loạt các tác phẩm

thành công, thì sơn dầu chỉ có thể kể tới: "Giặc đốt làng tôi" của Nguyễn Sáng; "Mùa gặt" của Dơng Bích Liên và "Một buổi cày" của Lu Công nhân Chỉ so sánh hai bức tranh của Nguyễn Sáng là "Kết nạp Đảng ở

Điện Biên Phủ" (Sơn mài) và bức "Giặc đốt làng tôi" (Sơn dầu) cùng một

chủ đề là lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu, chúng ta cũng thấy rõ uthế của sơn dầu trong việc sử dụng bút pháp tả thực

Trang 19

Giặc đốt làng tôi Nguyễn Sáng (Dầu dầu - 1959)

Cũng nh "Một buổi cày" ánh nắng ban mai hắt lên từ d ới chân

trời những vầng sáng chạy suốt chiều ngang của tranh và hắt xuốngmặt nớc Những ánh vàng lộng lẫu làm cho bùn n ớc vừa sục lêncũng trở nên đẹp đẽ Sơn dầu đợc sử dụng ở một gam màu tơi sáng,

làm tăng thêm chủ đề chính của tranh Trong bức sơn dầu "Mùa

gặt" của Dơng Bích Liên hầu nh chỉ làm bằng màu vàng giàu sắc đỏ

của lúa, diễn tả đợc không gian mênh mông, thì bức "Hành quân đêm"

có bút pháp hiện đại với nhát bút khoẻ, màu nâu vàng chắc nịch

Nữ dân quân miền biển

(Sơn dầu - 1960)

Trần Văn Cẩn

Trang 20

mỗi nhân vật trên tranh đợc bộc lộ với các biến chuyển tinh vi nh: "Nữ dân quân miền biển" của Trần Văn Cẩn hay bức sơn dầu "Đàn bầu" của Sĩ Tốt,

"Gia đình bộ đội" của Đặng Thị Khuê v.v Sự biểu đạt tâm lý các nhân vật

tinh vi nh vậy, bằng chính nhân vật đó chứ không phải tợng trng, mô phỏng,

là điều sơn dầu có thể làm khá thuận tiện

Sự chú trọng vào các chất liệu dân tộc nh lụa, sơn mài, khắc gỗ vàtâm lý cho rằng tác phẩm sơn dầu khó đạt tới đỉnh cao của sự thành côngvì thế giới đã dùng quá giỏi, ta khó trở nên độc đáo hay v ơn tới đợc, đãlàm cho sơn dầu tiếp tục bị sao nhãng Tuy vậy ta vẫn thấy ngày càngnhiều tranh sơn dầu và có nhiều hoạ sĩ chuyên vẽ tranh sơn dầu Đặc biệtlớp hoạ sĩ trẻ sau này cũng thiên về sơn dầu nhiều hơn, vì tiếng nóiphong phú, khoẻ mạnh của nó và vì sơn mài trở nên hiếm hoi, khó khăn

Ngày đăng: 14/08/2023, 07:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w