1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chính sách tiền tệ năm 2009 1

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích chính sách tiền tệ năm 2009
Tác giả Nhóm 6
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 73,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù vôứi tên gọi khác nhau NHTƯ, NHNN, Hệ thống dự trữ lên bang..., nhưng tất cả chúng đều có chung một tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước, độc quyền phát hành tiền, thực

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

THẢO LUẬN TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG

Tên Đề Tài:

“PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2009”

Nhóm thực hiện : Nhóm 6

Lớp : NHH-K10

Khoa : Ngân hàng

Hà Nội, tháng 11 năm 2009

Trang 2

Phần 1 Lý thuyết chung

1 Tổng quan về chính sách tiền tệ

1.1 Vai trò của ngân hàng trung ương đối với chính sách tiền tệ

Lịch sử ra đời NHTƯ ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau Điều đó tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước Song lý do tương đối phổ biến là xuất phát từ yêu cầu can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực tiền tẹe, tìn dụng và ngân hàng Dù vôứi tên gọi khác nhau (NHTƯ, NHNN, Hệ thống dự trữ lên bang ), nhưng tất cả chúng đều có chung một tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước, độc quyền phát hành tiền, thực hiện nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ, thiết lập trật tự, bảo dảm sự hoạt động an toàn và ổn định và hiệu quả của toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi đất nước Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm, là “linh hồn” của NHTƯ trong lĩnh vực tiền tệ Điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ trong nền kinh tế thị trường mang tính chất điều tiết vĩ mô, hướng các

tổ chức tín dụng vào thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng NHTƯ thường không can thiệp và không ra lệnh trực tiếp vào các quyết địng tác nghiệp của các tổ chức tín dụng mà chủ uếy sử dụng các biện pháp tác động gián tiếp để điều chỉnh môi trường và các điều kiện kinh doanh của các tổ chức tín dụng như: khả năng thanh toán, mặt bằnh lãi suất, khối lượng tiền cung ứng, tỷ giá để thông qua đó đạt tối mục tiêu của chính sách tiền tệ

Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTƯ phải hình thành và sử dụng hệ thống công cụ của nó Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTƯ khả năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức tín dụng phải tự điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHTƯ nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Trang 3

Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) thông qua các hoat động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chính sách tiền tệ cũng có những điểm khác biệt Xét về mặt tổng thể chính sách tiền

tệ của các quốc gia trên thế giới hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:

 Đảm bảo tăng trưởng kinh tế thực tế Đây là mục tiêu quan trọng nhất, mục tiêu bao trùm để giải quyết các mục tiêu khác

 Hướng tới việc ổn định giá cả và ổn định tiền tệ

 Tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

 Cân bằng cán cân thanh toán

Chính sách tiền tệ góp phần nhiều vào việc thực hiện các mục tiêu trên lại mâu thuẫn nhau cụ thể chỉ có thể đạt được một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt giảm nhất định đối với mục tiêu khac Chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì

sẽ phải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên Vì vậy tuỳ theo việc hướng vào mục tiêu nào là chính mà người ta có thể coi chính sách tiền tệ là chính sách ổn định giá cả, chính sách tạo việc làm, chính sách cân bằng cán cân thanh toán hay chính sách tăng trưởng kinh tế

Để đạt được những mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ NHTƯ phải xác định các mục tiêu trung gian Bởi lẽ NHTƯ sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xét đoán nhanh chóng được tình hình hoạt đoọng của mình phục

vụ cho các mục tiêu cuối cùng, hơn là chờ cho đến khi thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền chu chuyển và khối lượng tiền

Xét cho cùng NHTƯ có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế

 Chính sách mở rộng tiền tệ: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư phát triển sản xuát tạo công ăn việc làm

 Chính sách thắt chặt tiền tệ: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát

2 Các công cụ chính sách tiền tệ và ưu nhược điểm của nó

Để việc nghiên cứu và phân tích thuận lợi chúng ta chia các công cụ chính sách tiền tệ thành các công cụ trực tiếp và các công cụ gián tiếp

Trang 4

2.1 Các công cụ trực tiếp

2.1.1Lãi suất tiền gửi và cho vay

NHTƯ có thể qui định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trường nhưng thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ Nếu lãi suất tiền gửi cao

sẽ thu hút được nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay., ngược lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng Khi muốn tăng khối lương cho vay, NHTƯ giảm mức lãi suất cho vay để kich thích các nhá đầu tư vay vốn, khi cần hạn chế đầu tư NHTƯ sẽ ấn định mức lãi suát cao

Tuy nhiên biện pháp này làm cho các NHTM mất tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh Mặt khác nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư Biện pháp này có ưu điểm là giúp Ngân hàng lựa chọn những dự án kinh tế tối ưu để cho vay, nhưng nó cũng làm cho tính linh hoạt của thị trường tiền tệ bị suy giảm Ngày nay biện pháp này ít được sử dụng ở các nước theo cơ chế thị trường bởi trong cơ chế thị trường lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường

2.1.2 Hạn mức tín dụng

Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể Thực chất biện pháp này cho phép NHTƯ ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh

tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm đường để đưa nó vào trong nền kinh tế Khi NHTƯ xác định hạn mức tín dụng thì căn cứ vào các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng kinh tế; biến động của chỉ số giá cả; biến động của tỷ giá; tỷ

lệ thất nghiệp trong nền kinh tế; bội chi ngân sách Hạn mức tín dụng sẽ đặc biệt phát huy tác dụng trong nền kinh tế có lạm phát Song trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng biến đổi không ngừng, biện pháp này chỉ được áp dụng một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu

Biện pháp này bộc lộ khá nhiều nhược điểm nó triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, có tính chất đánh đồng các hoạt động tốt và hoạt động yếu Trong thực tế, doanh số cho vay hoặc tồn tại dư nợ của các NHTM thông thường thấp hơn hạn mức tín dụng vì có NHTM huy động vốn tốt thì sử dụng hết hạn mức tín dụng còn những ngân hàng hoạt động yếu kém thì không sử dụng hết hạn mức này, đặc biệt khi hệ thống ngân hàng hoạt động chưa tốt thì con số thực tế cho vay của NHTM khác nhiêù so với con số dự kiến, từ đó không phát huy được vai trò quản lý của NHTƯ Biện pháp này có thể làm sai lẹch cơ cấu đầu tư trong nền kinh tế bởi với hạn mức tín dụng được NHTƯ qui địng thì các NHTM sẽ tìm đến dự án đầu tư lớn, những lĩnh vực đàu tư dễ sinh lợi nhuận gây ra khó khăn vốn trong các doanh nghiệp nhỏ

Trang 5

2 2 Các công cụ gián tiếp

2.2.1 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là khoản tiền gửi của các NHTM ở NHTƯ, mức tiền gửi này do pháp luật qui định bằng một tỷ lệ nhất định so với các khoản nợ của ngân hàng Thông qua viẹc thay đổi muúc dự trữ bắt buộc NHTƯ tác động tới việc cung cấp tiện tệ cho nền kinh tế quốc dân Nếu NHTƯ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên thì khả năng tín dụng của NHTM sẽ giảm xuống Mặt khác, để bù lại phần lãi suất đó (do quỹ tiền gửi NHTƯ không được tính lãi) các ngân hàng phải tăng lãi suất tín dụng do vậy mức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế sẽ giảm xuống Việc tăng lên hay giảm xuống quỹ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hoặc tăng lương tiền cung ứng cho nền kinh tế qua cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng Vì vậy đó là một công cụ tiềm tàng của chính sách tiền tệ Ngoài ra

dự trữ bắt buộc còn đảm bảo việc thanh toán thường xuyên của các NHTM Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và có tác dụng đâỳ quyền lực đến cung ứng tiền tệ Tuy nhiên khi dự trữ bắt buộc không được trả lại, chúng tương đương với một khoản thuế và có thể dẫn đến hiện tượng phi trung gian hoá Mặt khác bự trữ bắt buộc thiếu tính mềm dẻo bởi sẽ rất vất vả để thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc Một điểm bất lợi khác nữa của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM, gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hàng Chính vì vậy công

cụ dự trữ bắt buộc thường không được khuyến khích và ít được sử dụng

2.2.2 Lãi suất chiết khấu

Chính sách lãi suất chiết khấu là chính sách NHTƯ cho các NHTM vay dưới nhiều hình thức tái chiét khấu túc là hình thức NHTƯ tái cáp vốn cho các NHTM Khi NHTƯ nâng lãi suất chiết khấu túc là hạn chế cho vay đối với các NHTM, khả năng cho vay của các ngân hàng giảm lượng tiền gửi giảm đồng nghĩa với việc lượng tiền cung ứng giảm Ngược lại khi lãi suát tái chiết khấu giảm, các ngân hàng kinh doanh sẽ có khả năng bành trướng tín dụng do được lợi trong việc vay vốn củaNHTƯ, bởi vậy NHTM sẵn sàng hạ lãi suất khi cho các doanh nghiệp vay, kích thích đầu tư và sản lượng

Biện pháp này có ưu điểm là việc vay mượn được thực hiện trên những giấy tờ có giánên thời hạn vay mượn tương đối rõ ràng, việc hoàn trả nopự tương đối chắc chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của qui luật cung cầu thị trường nó cũng giúp NHTƯ thực hiện người vay cuối cùng nhằm tránh khỏi những cuộc sụp đổ tài chính Chiết khấu là một cách có hiệu quả đặc biệt để cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng trong quá trình xảy ra một

Trang 6

cuộc khủng hoảng ngân hàng bởi vì dự trữ lập tức được điều đến các ngân hàng nào cần thêm dự trữ hơn cả Chính sách chiết khấu có tác dụng thông báo

ý định của NHTƯ về chính sách tiền tệ trong tương lai

Việc sử dụng chính sách tiần tệ ít được khuyến cáo, vì nó có hai nhược điểm chính sau: thứ nhất, ở vào nghiệp vụ này NHTƯ ở vào thế bị động, NHTƯ có thể thay đổi lãi suất tái chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM phải đi vay; thứ hai khi NHTƯ ấn định mức lãi suất chiết khấu tại một mức đặc biệt nào đấy sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất chiết khấu và lãi suất thị trường vì lãi suất vay thay đổi, dẫn đến những thay đổi ngoài ý định trong khối lượng cho vay chiết khấu và do đó trong cung ứng tiền tệ, NHTƯ khó có thể đảo ngược những thay đổi trong lãi suất chiết khấu

2.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở

Thực chất của hoạt động này là việc NHTƯ mua và bán các giấy tờ có giá (như cổ phiếu, trái khoán, công trái ) trên thị trường tiền tệ và trong chừng mực hạn chế nhất định cả tren thị trường vốn Bằng việc bán các giấy tờ có giá cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn, NHTƯ thu hồi tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, đồng thời khả năng cho vay của các NHTM cũng giảm và già trị tín dụng tăng lên Ngược lại, bằng việc mua các giấy tờ có giá, NHTƯ cung cấp tiền cho các NHTM để cho vay, làm gia tăng lượng tiền cung ứng trên thị trường Điều quan trọng ở đây là thời hạn cuả các giấy tờ có giá Việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn chủ yếu nhằm mục đích cân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ, trong khi đó mua bán các giấy tờ

có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng thanh toán của các NHTM Đây được coi là công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ vì nó có những ưu điểm hơn hẳn so với các công cụ khác:

 Phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHTƯ trong đó NHTƯ hoàn toàn kiểm soát được khối lượng giao dịch

 Là công cụ linh hoạt giúp NHTƯ luôn luôn thay đổi được tình thế của mình khi mắc phải sai lầm

 Nghiệp vụ này có thể sử dụng được ở bất kì một mức độ nào khi có yêu cầu căn cứ vào khối lượng cacs loại giấy tờ có giá bán ra

 Nghiệp vụ thị trường mở có thể tiến nhanh chóng không gây những chậm trễ về mặt hành chính và ít tốn kém về mặt chi phí

Tuy nhiên, khi NHTƯ mua bán chứng khoán trên thị trường thì vẫn phải phụ thuộc vào người mua bán (các NHTM) Và để sử dụng được nghiệp vụ này thì phải có sự phát triển khá cao của của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt, tiền trong lưu thông phần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng, đòi hỏi thị trường tài chính phải tương đối phát triển

Trang 7

Phần 2 Phân tích chính sách tiền tệ 2009

1.Thực trạng:

Năm 2008 là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới.Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6 tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng

bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô Các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng Đến cuối năm

2008, để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặt được chuyển dần sang nới lỏng

Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất

cơ bản Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng Cơ chế điều hành tỷ giá ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bình quân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và cuối tháng 12 Đầu năm 2009 trước viễn cảnh suy thoái kinh tế sâu, NHNN đã chuyển từ chính sách tiền tệ thắt chặt áp dụng từ nửa đầu năm 2008 sang mở rộng có giới hạn, và mở rộng mạnh mẽ để kích thích tăng trưởng kinh tế

Lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn liên tục được giảm với tốc độ nhanh nhằm tăng thanh khoản cho hệ thống NHTM và kích thích các NHTM đẩy mạnh cho vay Bên cạnh đó Chính phủ đã sử dụng gói kích cầu lên tới 8 tỷ USD, trong đó có 1 tỷ USD dùng để hỗ trợ lãi suất cho hệ thống tín dụng

Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn và kịp thời của NHNN và Chính phủ trong điều hành chính sách tiền tệ Được hỗ trợ lãi suất 4%, tăng

Trang 8

trưởng tín dụng của hệ thống Ngân hàng đã gia tăng đột biến Tính đến nay, đã

có trên 330 nghìn tỷ đồng được đưa ra nền kinh tế thông qua con đường hỗ trợ lãi suất Điều này một mặt giúp giải quyết khó khăn ngắn hạn cho các doanh nghiệp, một mặt kích thích đầu tư và tiêu dùng của toàn bộ nền kinh tế

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu năm

2009, sự xuất hiện các “gói kích cầu” là phổ biến cả ở các quốc gia, dù phát triển hay đang phát triển, lẫn ở các tổ chức khu vực và quốc tế như IMF, EU, ASEAN, với quy mô ngày càng tăng, từ hàng ngàn tỷ USD như ở Mỹ, hàng trăm tỷ USD như ở Nhật, Trung Quốc, Nga và các nước thành viên EU…

Ở Việt Nam, “gói kích cầu thứ nhất” trị giá 1 tỷ USD đã được Chính phủ quyết đoán thông qua và sớm được giải ngân nhanh chóng để hỗ trợ 4% lãi suất vay ngân hàng thương mại cho các khoản vay ngắn hạn dưới 1 năm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vốn Điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng không quá 300 công nhân, không nợ đọng thuế và nợ tín dụng quá hạn … Tiếp đó,

“gói kích cầu thứ hai” cũng đã được công bố với quy mô lớn hơn, cho vay dài hạn hơn (tới 2 năm), điều kiện nới lỏng hơn và lĩnh vực cho vay cũng mở rộng hơn…

Hỗ trợ trực tiếp lãi suất cho vay theo cơ chế xin-cho là đặc trưng cho phương thức kích cầu chủ yếu của Việt Nam (khác với Mỹ, Nhà nước chủ yếu dùng quỹ ngân sách để mua cổ phần và nợ xấu của các công ty, quản lý và phục hồi hoặc tái cơ cấu xong sẽ bán lại chúng trên thị trường , và cũng khác ở Trung Quốc, Nhà nước dùng NSNN chủ yếu trực tiếp chi cho các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia…)

Cho đến hết tháng 7/2009, theo báo cáo sơ bộ trên toàn quốc đã có 350.000

tỷ đồng được giải ngân theo kênh của “2 gói kích cầu” và bước đầu đã có thể cảm nhận được một số tác động 2 mặt của chúng:

Một mặt, “gói kích cầu” trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, như một chiếc phao cứu sinh làm gia tăng tức thời lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm và quyền năng của Nhà nước trong giải cứu các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước

“Gói kích cầu” còn trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó góp phần giảm giá, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội

Đồng thời, “gói kích cầu” còn giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động và cho vay tín dụng do không phải hạ thấp lãi suất huy động, vừa mở rộng đầu ra nhờ không phải nâng lãi suất cho vay dễ làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường Sự ổn định và hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng dòng tiền bơm vào thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự

ổn định kinh tế vĩ mô và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội

Trang 9

Ngoài ra, dòng vốn của “gói kích cầu” còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai

Mặt khác, bên cạnh những tác động tích cực trên, sự lạm dụng, thiếu kiểm soát và sử dụng không hiệu quả các “gói kích cầu” sẽ có thể gây ra một số hệ lụy tiêu cực nặng nề khó đo lường, như: Làm thất thoát, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánh nặng nợ nần và các hiện tượng “đầu cơ nóng” với những hệ quả đắt đỏ đi kèm cho cả Chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và xã hội nói chung khi các dự án vay đầu tư được lập ra có chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải ngân không đúng mục đích vay; Làm gia tăng các hiện tượng tham nhũng do sự bắt tay giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp trong việc lập các dự án vay ảo để chiếm đoạt vốn hỗ trợ từ “gói kích cầu”, cũng như do các ngân hàng nhũng nhiễu doanh nghiệp để “ăn chia” phần vốn

hỗ trợ trong khi thẩm định, cho vay vốn, làm tổn hại lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; Làm tổn hại đến sức cạnh tranh của nền kinh tế do việc cho vay theo “gói kích cầu” thiên về quy mô và thành tích, tức góp phần níu kéo, duy trì cơ cấu kinh tế, cũng như cơ cấu sản phẩm và thị trường kinh doanh lạc hậu, kém hiệu quả; Làm gia tăng hoặc kéo dài tình trạng bất bình đẳng thị trường giữa các loại hình doanh nghiêp, khu vực kinh tế và các địa phương nếu không tuân thủ tốt các nguyên tắc minh bạch và bình đẳng trong triển khai các “gói kích cầu”; Đặc biệt, về trung hạn, tạo áp lực tái lạm phát cao trong tương lai nếu kéo dài quá lâu “liệu pháp kích cầu” và sử dụng không hiệu quả “gói kích cầu” khiến gia tăng tích tụ các mất cân đối hàng - tiền và vi phạm thô bạo, nghiêm trọng quy luật lưu thông tiền tệ…

Đầu năm 2009 trước viễn cảnh suy thoái kinh tế sâu, NHNN đã chuyển từ chính sách tiền tệ thắt chặt áp dụng từ nửa đầu năm 2008 sang mở rộng có giới hạn, và mở rộng mạnh mẽ để kích thích tăng trưởng kinh tế

Lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn liên tục được giảm với tốc độ nhanh nhằm tăng thanh khoản cho hệ thống NHTM và kích thích các NHTM đẩy mạnh cho vay Bên cạnh đó Chính phủ đã sử dụng gói kích cầu lên tới 8 tỷ USD, trong đó có 1 tỷ USD dùng để hỗ trợ lãi suất cho hệ thống tín dụng

Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn và kịp thời của NHNN và Chính phủ trong điều hành chính sách tiền tệ Được hỗ trợ lãi suất 4%, tăng trưởng tín dụng của hệ thống Ngân hàng đã gia tăng đột biến Tính đến nay, đã

có trên 330 nghìn tỷ đồng được đưa ra nền kinh tế thông qua con đường hỗ trợ lãi suất Điều này một mặt giúp giải quyết khó khăn ngắn hạn cho các doanh nghiệp, một mặt kích thích đầu tư và tiêu dùng của toàn bộ nền kinh tế

Trang 10

Minh chứng rõ nhất cho sự phục hồi của nền kinh tế là sự hồi phục của sản xuất công nghiệp Tháng 9 là tháng thứ hai liên tiếp, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá cố định năm 1994 có mức tăng trên 10% so với cùng kỳ năm ngoái

Nếu như 3 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ tăng 2,1% so với cùng kỳ, thì sau 4 tháng, mức tăng này là 3,3% Tiếp tục đà tăng trưởng này, con số tương ứng sau 5 tháng, 6 tháng, 7 tháng và 8 tháng là 4%; 4,8%; 5,1% và 5,6% Còn sau 9 tháng đầu năm, mức tăng trưởng đã lên tới 6,5% Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cao Viết Sinh nhận xét: Đây là biểu hiện rõ nét nhất cho thấy xu hướng hồi phục trong sản xuất

Cùng với sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trong 9 tháng đầu năm sau khi trừ yếu tố giá cả đã tăng tới 10,2% so với cùng kỳ năm 2008

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đây là lần đầu tiên kể từ đầu năm 2009 tới nay, mức tăng tổng mức bán lẻ đã cao hơn 10% Sức mua hồi phục rõ nét sẽ tạo cú hích cho sản xuất trong nước, qua đó góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh đó, việc giải ngân các dòng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn ODA, đặc biệt là vốn ngân sách cũng rất thuận lợi

Xuất khẩu dù sau 3 quý đầu năm, kim ngạch đã giảm tới 14,3% so với cùng kỳ năm trước, song lượng xuất khẩu của một số sản phẩm tăng mạnh so với cùng kỳ, như sắn và sản phẩm từ sắn (tăng 67,6%), hạt tiêu (52,1%), gạo (34,1%), chè (21,3%)

Đặc biệt, kết quả khích lệ nhất theo đánh giá của Chính phủ là đời sống nhân dân vẫn được quan tâm đúng mức và ngày càng được cải thiện, dù kinh tế trong nước và thế giới rơi vào khó khăn

Trong khi đó, các chuyên gia phân tích của Morgan Stanley (Hoa Kỳ) đưa

ra nhận định về 3 điểm nổi bật nhất của kinh tế vĩ mô Việt Nam xét từ góc độ chính sách tiền tệ Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát đã được kiềm giữ đáng kể Thứ hai, sức ép cán cân thanh toán đã bớt nặng nề do tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong nước chậm lại và sụt giảm nhu cầu đầu cơ Thứ ba, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khá ổn định FDI cam kết từ tháng 4 đến tháng 7 là 39

tỷ USD, giải ngân 4,3 tỷ USD trong khi quý I chỉ đạt 1,7tỷ USD

Chính phủ dự báo, triển vọng kinh tế trong năm 2010 có nhiều khả năng sẽ khởi sắc hơn Do đó, các thành viên Chính phủ nhất trí về việc tính toán lại các chỉ tiêu về vĩ mô cho phù hợp Trong đó, chỉ tiêu về bội chi ngân sách phải được quan tâm để có thể giảm dần xuống mức 5% khi các khoản chi kích thích kinh tế có thể sẽ được rút lại

Ngày đăng: 07/08/2023, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w