I Phân tích chính sách tiền tệ tín dụng của Việt Nam giai đoạn 2008 2009 MỤC LỤC 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TÍN DỤNG 31 Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ tín dụng 32 Nội dung củ.Phân tích chính sách tiền tệtín dụng của Việt Nam giai đoạn 20082009
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - TÍN DỤNG 3
1.Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ - tín dụng 3
2.Nội dung của chính sách tiền tệ - tín dụng 3
2.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ - tín dụng 3
2.2 Các giải pháp cơ bản của chính sách tiền tệ - tín dụng 5
2.3 Các công cụ cơ bản của chính sách tiền tệ -tín dụng 6
CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ-TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM 8
GIAI ĐOẠN 2008-2009 8
1.Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước 2008-2009 8
1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 2008-2009: 8
1.2 Bối cảnh kinh tế ở Việt Nam 2008-2009: 9
2.Thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2008-2009 10
3.Đánh giá về chính sách tiền tệ - tín dụng ở Việt Nam giai đoạn 2008 -2009 18
3.1 Những thành tựu đạt được 18
3.2 Những điểm hạn chế 21
CHƯƠNG III BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT ĐỂ THỰC THI HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ-TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 23
1.Bài học kinh nghiệm từ việc thực thi chính sách tiền tệ-tín dụng ở Việt Nam 2008-2009 23
2 Đề xuất để thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ-tín dụng ở Việt Nam 25
2.1 Nhóm giải pháp tạo điều kiện môi trường thuận lợi để phát triển chính sách tiền tệ 25
2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 26
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ - tín dụng là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô rất quantrọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến cácbiến số vĩ mô như: đầu tư, công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Việclựa chọn chính sách tiền tệ - tín dụng một cách linh hoạt luôn là một vấn đề thườngxuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điềuhành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bốicảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chínhsách tiền tệ - tín dụng, đặc biệt là các công cụ của chính sách tiền tệ - tín dụng làmột vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần tìm hiểu về chính sách tiền
tệ - tín dụng, nhóm chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Phân tích chính sách tiền tệ-tíndụng của Việt Nam giai đoạn 2008-2009”
Bài viết sẽ hệ thống hoá những vấn đề có tính lý luận về chính sách tiền tệ - tíndụng, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng chính sách tiền tệ - tín dụng
ở Việt Nam giai đoạn 2008-2009, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp góp phầnthực thi hiệu quả chính sách tiền tệ - tín dụng ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài viết bao gồm ba phần được bố cục như sau:
Chương I: Lý luận về chính sách tiền tệ - tín dụng
Chương II: Chính sách tiền tệ - tín dụng của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009 Chương III: Bài học kinh nghiệm từ thực tế và đề xuất để thực thi hiệu quả
chính sách tiền tệ - tín dụng ở Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - TÍN DỤNG
1. Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ - tín dụng
Chính sách tiền tệ-tín dụng là tổng thể các quan điểm, tự trưởng, các giải pháp vàcông cụ mà Nhà nước sử dụng để đảm bảo việc cung cấp tiền và tín dụng cho nền kinhtế
Chính sách tiền tệ-tín dụng là một trong những chính sách lớn của Nhà nước, làcông cụ sắc bén để quản lý nền kinh tế thị trường Vai trò quan trọng của chính sáchtiền tệ thể hiện ở các mặt sau:
Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ-tín dụng để điều tiết khối lượng tiền tệ tronglưu thông cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội trong từng thời kỳ lịch sửnhất định
Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ-tín dụng kết hợp với chính sách tài chình đểthực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội
Cải thiện cán cân thanh toán Bằng các công cụ của mình như lãi suất, tỷ giá hốiđoái… chính sách tiền tệ-tín dụng tác động lên mức đầu tư nước ngoài, thúc đẩy xuấtkhẩu, điều tiết nhập khẩu, từng bước làm cho đồng tiền nội địa có giá trị chuyển đổiđầy đủ
Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanhnhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiệnđại hoá
Chính sách mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công
ăn việc làm Trường hợp này nhằm chống suy thoái
Chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm hạn chế đầu tư, kiềm chế sự phát triển quá đà củanền kinh tế Trường hợp này chống lạm phát
Chính sách tiền tệ được vận hành theo hướng nào là tuỳ thuộc vào tình hình kinhtế-xã hội trong những thời kỳ cụ thể
2 Nội dung của chính sách tiền tệ - tín dụng
2.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ - tín dụng
Là một chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ tín dụng theo đuổi những mục tiêuchung là:
Tăng trưởng kinh tế
Trang 4Tăng trưởng kinh tế được thực hiện khi tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân(GDP) lớn hơn nhịp độ gia tăng dân số Khi khối lượng tiền tệ tăng lên, lãi suất tíndụng thường giảm xuống, đồng tiền “rẻ” đi sẽ kích thích đầu tư, phát triển tổng sảnphẩm quốc dân, tăng tổng cầu, phát triển sức mua thị trường, giảm hàng hoá tồn đọng,kích thích gia tăng sản xuất Ngược lại khi khối lượng tiền tệ giảm, lãi suất sẽ tăng,làm giảm đầu tư, dẫn đến làm giảm tổng sản phẩm quốc dân.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế vững chắc quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm caobởi vì những nhà kinh doanh muốn đầu tư nhiều hơn vào tư liệu sản xuất để nâng caonăng suất lao động và tăng trưởng kinh tế khi mức thất nghiệp thấp và ngược lại khithất nghiệp cao, các xí nghiệp nhàn rỗi thì không có lợi cho việc đầu tư Mặc dù haimục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng các chính sách có thể đặc biệtnhằm vào việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằng cách mở rộng hoặc thắt chặtkhối lượng tiền tệ cung ứng, trực tiếp khuyến khích các nhà đầu tư hoặc khuyến khíchnhân dân tiết kiệm tạo thêm nguồn vốn giúp cho các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư và
Tạo công ăn việc làm
Thất nghiệp là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệhướng vào việc tạo công ăn việc làm nhiều hơn thông qua mở rộng đầu tư, mở rộngsản xuất kinh doanh Muốn thực hiện mục tiêu này phải chống suy thoái kinh tế là suythoái kinh tế chu kỳ
Ổn định thị trường tài chính
Tạo một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng có thể hoạt động hiệu quả và hỗ trợ một cách tốt cho tăng trưởng kinh tếcao, lạm phát thấp cũng như hạn chế những khuyết tật của hệ thống tài chính là mụctiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ ngoài những mục tiêu nói trên Nền tảng của hệthống tài chính ổn định được hiểu là bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ươngphải ổn định hoạt động tài chính của hệ thống tài chính trong nước một cách gián tiếp
Trang 5kể cả thu thập thông tin, hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính theohướng quản lý các hoạt động của nó phù hợp với các mục tiêu của nền kinh tế Do vậy,vai trò của chính sách tiền tệ là làm hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu nói trên
để phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung mà không làm tổn hại hoặc hạn chế khả năngphát triển của hệ thống tài chính
Điều tiết sản xuất kinh doanh mở rộng sản lượng tiềm năng nền kinh tế.
Trong mỗi quốc gia sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào các biến số như đất đai, tàinguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, tiềm năng kỹ thuật và vốn Nền kinh tế cógiới hạn tối đa về khả năng sản xuất cho nên mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ
là phải góp phần khai thác và phát triển các nguồn lực nói trên một cách có hiệu quảnhất Để làm được điều đó chính sách cung ứng tiền phải ngày càng linh động, chínhxác và hiệu quả trong quản lý và điều tiết lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế,
Cần lưu ý rằng giữa kiềm chế lạm phát với tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
có nhiều mâu thuẫn với nhau Thông thường khi kiềm chế được lạm phát thì tăngtrưởng kinh tế giảm, dẫn đến suy thoái kinh tế và tăng số người thất nghiệp Ngược lại,khi mở rộng đầu tư, khắc phục được suy thoái, đưa đến tăng trưởng kinh tế và tạothêm công ăn việc làm thì khó kiềm chế lạm phát
2.2 Các giải pháp cơ bản của chính sách tiền tệ - tín dụng
Chính sách điều tiết khối lượng tiền cung ứng
NHNN duy trì mối tương quan hợp lý giữa tổng cung và tổng cầu về tiền tệ, giữahàng và tiền bằng cách giữ nguyên hoặc tăng, giảm khối lượng tiền tệ cung ứng
Nếu nền kinh tế hàng năm vẫn tăng trưởng thì khối lượng tiền tệ cung ứng phảibằng mức tăng trưởng kinh tế
Nếu có lạm phát mà chưa kiềm chế được thì khối lượng tiền tệ cung ứng còn phảităng thêm bằng tỷ lệ lạm phát đã được kiềm chế
Trong điều kiện có số lượng tương đối lớn ngoại tệ nằm trong tay những người cưtrú cần được tính vào khối lượng tiền tệ có sẵn và sẽ tăng thêm
Thành phần khối lượng tiền tệ cung ứng gồm có: tiền lưu thông ngoài ngân hàng
và tiền gửi không kỳ hạn tại NH, TG tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn tại NH, các loạitiền gửi ở các định chế tài chính sau
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế
Khối lượng tín dụng ngân hàng ứng cho các doanh nghiệp là từ 2 nguồn: huy độngtiền đã có sắn trong lưu thông để cho vay và sử dụng tiền trung ương trong quá trìnhtái cấp vốn
Trang 6Khối lượng tiền tệ tăng thêm qua tín dụng ngân hàng trước hết được hình thành từnhu cầu thực sự của thị trường tiền tệ, quan hệ vay vốn giữa các doanh nghiệp và cácngân hàng thương mại Ở đay NHNN luôn là người cho vay cuối cùng đóng vai tròchủ nợ nhằm kiểm soát được tín dụng các nguồn tiền gửi của ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tín dụng theo các định hướng cụ thể sau:
Thực hiện chính sách đa dạng hoá các thành phần của khối lượng tiền tệ cung ứngnhằm tăng thêm tầng kiểm soát của NHNN, tích cực kiềm chế lạm phát và tăng nguồnvốn tín dụng cho nền kinh tế
Thay lãi suất thực âm bằng lãi suất thực dương, để thay chính sách tiền tệ làm xóimòn nguồn vốn bằng chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn
Thay chính sách tiền tệ ngân hàng thụ động phục vụ khách hàng bằng chính sáchtiền tệ NH chủ động điều khiển khách hàng
Chính sách ngoại hối
Để ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHNN thực hiện các nhiệm vụgiao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại nhằm kiểm soát những yếu tố tác động mạnhtới khối lượng tiền tệ cung ứng và giá trị đồng tiền trong nước
Chính sách tạm ứng cho ngân sách nhà nước
Chính sách tiền tệ muốn có tác dụng mong muốn phải giải quyết tốt mối quan hệvới chính sách tài chính Tình hình NS cân bằng hoặc không sẽ ảnh hưởng tích cựchoặc tiêu cực đến lưu thông tiền tệ
2 3 Các công cụ cơ bản của chính sách tiền tệ -tín dụng
Tái cấp vốn để cung ứng tiền tệ trung ương thông qua tái chiết khấu
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng ngắnhạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng Như vậy, tái cấp vốn là biện pháp
để NHNN đưa tiền tệ ra lưu thông, đồng thời khống chế số lượng và chất lượng tíndụng của các NH trung gian Thông qua việc cung cấp tín dụng NHNN tạo cơ sở đầutiên thúc đẩy toàn bộ hệ thống các NH trung gian tạo ra tiền và khai thông khả năngthanh toán của họ
Tái chiết khấu có nghĩa là một phần các khoản cho vay của các NHTM có thể đượcđổi trực tiếp lấy dự trữ trong ngân hàng trung ương Tái tài trợ và tái chiết khấu tạo ranhững khuyến khích cho NHTM đưa tín dụng vào trong lĩnh vực
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trang 7Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số giữa lượng phương tiện thanh tóan cần vô hiệu hóatrên tổng số tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán(cho vay) của các ngân hàng thương mại Với công cụ dữ trữ bắt buộc NHNN có thểkiểm soát được khối lượng tiền tệ cung ứng thêm và khối lượng tiền tệ đã có từ trướctrong lưu thông, tác động đến khối lượng và giá cả tín dụng của NHTM.
Lãi suất tín dụng
Chính sách lãi suất được vận hành theo cách ấn định lãi suất hoặc thả nổi lãi suất
Để tránh rủi ro của các NHTM, NHNN thường ấn định mức lãi suất “sàn” tối đa chotiền gửi và lãi suất “trần” tối thiểu cho tiền vay Khi đứng về phía bảo vệ lợi ích củaNHTM, NHNN thường quy định ngược lại: mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi và lãisuất tối đa cho tiền vay Để tăng tính linh hoạt của tiền tê, nhiều nước từ bỏ biện pháp
ấn định khung lãi suất cứng nhắc, chuyển sang thả nổi lãi suất trên thị trường tiền tệ
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá ngắn hạn doNHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhắm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.Nghiệp vụ ngân hàng mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi vì nhữngnghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng đối với những thay đổi trong cơ số tiềnteej và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ Thông quanghiệp vụ thị trường mở, NHNN mua hoặc bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi,tín phiếu NHNN và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ nhằmtác động vào mức dữ trữ trong ngân hàng Điều đó làm thay đổi lượng tiền gửi vàongân hàng và vì thế ảnh hưởng đến lượng tiền tệ
Cung ứng cơ số tiền hoặc tiền mặt pháp định
Toàn bộ lượng tiền mặt mà NHNN đã phát hành vào một thời điểm nhất định nào
đó trong nền kinh tế được gọi là tiền ngoài lưu thông hay cơ số tiền tệ Cơ số tiền tệ làhạt nhân của hệ thống tiền tệ Thông qua việc điều tiết cơ số tiền tệ và vốn khả dụngcủa các tổ chức tín dụng, NHNN trong khuôn khổ chính sách tiền tệ của mình sẽ thựchiện chức năng quản lý khối lượng tiền tác động đến sản lượng và tăng trưởng kinh tế,mức giá, môi trường kinh doanh và các quá trình kinh tế khác
Trang 8CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ-TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2009
1 Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước 2008-2009
1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 2008-2009:
Năm 2008-2009, kinh tế thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệnhất kể từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 Ngày 15/9/2008, cuộc khủnghoảng tài chính bùng nổ ở Mỹ, với sự đổ vỡ của Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers
và Công ty bảo hiểm AIG, Ngân hàng tiết kiệm Washington Mutual Inc, đã nhanhchóng lan rộng sang thị trường tài chính châu Âu và khu vực khác Để ngăn chặn sựsụp đổ của thị trường tài chính và suy thoái kinh tế, Chính phủ và ngân hàng trungương (NHTW) các nước, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) vàNgân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã dốc sức, nhanh chóng thực hiện các biện phápgiải cứu, ổn định thị trường tài chính và kích thích kinh tế
Đến tháng 12/2008, có 25 nước rơi vào suy thoái (Mỹ, Nhật bản, khu vực đồngEuro, các nước Đông âu); suy thoái kinh tế ở nhiều nước tiếp tục diễn ra trong nhữngtháng đầu năm 2009; IMF dự báo năm 2009, kinh tế thế giới giảm – 1,4% (các nướcphát triển giảm – 3,8%, riêng Trung Quốc tăng 7,5%, Ấn Độ tăng 5,4%); (2) Lạm phát
ở các nước có xu hướng giảm, hiện nay ở mức thấp; (3) Thương mại toàn cầu sụtgiảm, IMF dự báo năm 2009 giảm 12,2%; (4) Thị trường chứng khoán thế giới chaođảo và suy giảm mạnh (chỉ số chứng khoán DownJones của Mỹ giảm 24%, Anh giảm19%, Nikkei giảm 20%); đã có 89 ngân hàng ở Mỹ, châu Âu sáp nhập, giải thể và phásản; thị trường tín dụng bị thu hẹp, lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp ở mức cao(có các hình dưới đây minh hoạ)
NHTW các nước phát triển (Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhật ) và nhiều nước đang pháttriển đã thực hiện các biện pháp để tăng khả năng thanh khoản và mở rộng tín dụng, hỗtrợ tài chính cho các ngân hàng và công ty tài chính: (1) Thực thi chính sách tiền tệ nớilỏng bằng biện pháp giảm mạnh lãi suất chủ đạo, bơm tiền ra lưu thông; (2) Trả lãi đốivới tiền gửi dự trữ bắt buộc và vượt dự trữ bắt buộc; (3) Bảo lãnh cho các ngân hàngvay trên thị trường liên ngân hàng; (4) Phối hợp thực hiện hoán đối tiền tệ để cung ứngUSD cho thị trường ngoài nước Mỹ (FED đã hoán đổi ngoại tệ với 13 NHTW); (5)Cho phép một số ngân hàng đầu tư được huy động vốn như ngân hàng thương mại; (6)Cho các ngân hàng gặp khó khăn về tài chính vay dài hạn để mua cổ phiếu của chínhcác ngân hàng đó; (7) Phối hợp với Bộ Tài chính cơ cấu lại vốn cho các ngân hàngCuộc khủng hoảng tài chính đã có dấu hiệu từ mùa hè năm 2007, khi dầu thô,lương thực và nguyên liệu cơ bản bị đầu cơ, đẩy giá lên cao (Thời kỳ cao nhất dầu thô
Trang 9147 USD/thùng, thép 830USD/tấn, gạo 1.000USD/tấn ); giá bất động sản ở Mỹ giảm;
sự rò rỉ thông tin về nguy cơ thua lỗ lớn của các ngân hàng đầu tư và thương mại Mỹnắm giữ nhiều khoản cho vay bất động sản và các tài sản tài chính có nguồn gốc từ cáckhoản vay bất động sản dưới chuẩn; tháng 3/2008, Ngân hàng đầu tư Bear Stearns bịsáp nhập vào Ngân hàng JP.Morgan Chase; tháng 7/2008, Tập đoàn cho vay thế chấpthứ cấp Freddie Mac và Fannie Mae mất khả năng thanh toán
Hình 1: Diễn biến giá cả các nguyên liệu cơ bản 2008-2009
Theo thống kê trong tháng 2/2009, ở Mỹ có 4,4 triệu người mất việc làm, chiếm
tỉ lệ 8,1%; Tây Ban Nha 14,8%, trong khu vực đồng Euro là 8,2% (tháng 1/2009), Uỷban EC dự báo tỉ lệ này trong năm 2010 sẽ là 9,5% Tổ chức lao động quốc tế (ILO)trong một báo cáo gần đây cho biết đã có 32 triệu công nhân ở các nước đang pháttriển mất việc làm và mới đây ILO lại dự báo toàn thế giới có khoảng 132 triệu người
bị cắt hoặc giảm việc làm Việt Nam cũng không là ngoại lệ, nhiều doanh nghiệp đãcắt giảm công nhân, lao động Việt Nam ở nước ngoài cũng trong tình trạng tương tự.Theo nhận định ban đầu của ADB, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này đãlàm mất đi 50.000 tỷ USD giá trị tài sản tài chính Cũng do khủng hoảng kinh tế thếgiới sẽ phát triển chậm lại, WB và IMF nhận định rằng, GDP toàn cầu năm 2009 sẽ chỉcòn 5%, trong đó hầu hết các nước đều giảm, kể cả Trung Quốc Riêng Việt Nam,Quốc hội thông qua chỉ tiêu GDP năm 2009 là 6,5%, nhưng tại kỳ họp tháng 5/2009,Chính phủ đã trình Quốc hội thông quá mức 5%
1.2 Bối cảnh kinh tế ở Việt Nam 2008-2009:
Từ giữa năm 2007 và sang đầu năm 2008, kinh tế Việt Nam đối mặt với hiện trạnglạm phát gia tăng chóng mặt Hiện trạng tăng chỉ số giá cả (CPI) ở Việt Nam có mầmmóng từ năm 2005 - 2006, khi mà nền kinh tế Việt Nam đang trên đã ổn định về cơcấu và nhịp độ tăng trưởng Tình trạng đó kéo dài suốt 2007 Song do hạn chế về khảnăng dự báo và sự nhạy bén trong điều hành kinh tế vĩ mô mà lạm phát bùng phát ở
“đỉnh điểm” vào cuối quí I/2008 với mức tăng giá tiệm cận tới 20% Điều này như một
Trang 10cảnh báo về tính bức xúc của việc điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ,
mà trong đó, chính sách tiền tệ là tiêu điểm
Tốc độ tăng CPI tính chung cả năm 2007 là 12,63% nhưng tăng tốc về các thángcuối năm 2007 Tiếp diễn xu hướng từ 2007, cộng hưởng với các yếu tố tăng giá củathế giới, thiên tai, lũ lụt trong nước tạo các cơn sốt giá làm cho lạm phát các tháng đầunăm 2008 tăng cao (5 tháng đầu năm 2008 tăng 15,96%)
Lí giải về hiện trạng này, yếu tố tác động trực tiếp và sâu rộng có tính toàn cầu là
sự khủng hoảng năng lượng mà chủ yếu là xăng dầu đã ảnh hưởng rất lớn đến quátrình lạm phát ở Việt Nam – giá xăng dầu liên tục leo thang từ vài chục USD thùng rồi140USD, đã thâm nhập trên diện rộng trong lưu thông hàng hóa, từ khâu ngoại nhậprồi lan rộng đến thị trường làm tăng chỉ số giá cả CPI dẫn tới phá vỡ mặt bằng giá cũ,khó có thể kiềm chế trong thời gian ngắn Nếu chính phủ không kiềm giá “xăng dầu”trong thời gian qua thì chỉ số giá tăng còn trầm trọng hơn
Đây là yếu tố khách quan mà tiềm lực kinh tế Việt Nam chưa đủ khả năng chủđộng kiểm soát và ngăn chặn Điều này có thể liên hệ với cuộc khủng hỏang ở Mỹnhững năm 70 thế kỷ 20, khi mà khối OPEC cấm vận xăng dầu đối với Mỹ để phảnđối Mỹ đứng về phía ISRAEL trong cuộc chiến với các nước Ả Rập Cuộc khủnghỏang dẫn tới lạm phát kéo dài đến cuối thập niên đó, mặc dù Mỹ là cường quốc kinh
có hiệu lực, không thể coi là yếu tố đứng ngoài quá trình lạm phát Những tác độngtrên có thể là những yếu tố “nhập khẩu” lạm phát
2 Thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2008-2009
Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới và diễn biễn phát triển kinh tế ViệtNam có nhiều dấu hiệu khó khăn, khủng hoảng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng
Bộ Tài chính và các Bộ ngành Chính phủ đã có nhiều biện pháp can thiệp nhằm giúp
ổn định thị trường và nền kinh tế giảm thiểu tác động từ khủng hoảng tài chính toàn
Trang 11cầu Chính sách tiền tệ được điều chỉnh linh hoạt kết hợp với các chính sách kinh tế vĩ
mô khác đã mang lại hiệu quả đáng kể Quá trình thực thi CSTT được nghiên cứu từnăm 2008 đến nay qua 4 thời kỳ:
Thời kì 1: Quý I/2008 – thời kỳ bắt đầu thắt chặt,
Thời kì 2: Quý II và III/2008 – thời kỳ tăng cường thắt chặt
Thời kì 3: Quý IV/2008 tới Qúy I/2009 – thời kỳ nới lỏng
Thời kì 4: Từ quý II/2009 tới nay (11/2009) – tiếp tục thời kỳ nới lỏng
TK3 (Từ quý IV/2008 đến QI/2009): CSTT nới lỏng Lãi suất diễn biễn ngược chiều, liên tục được điều chỉnh giảm theo từng tháng, đến này là 7%
TK4 (Từ quý II/2009 đến nay – tháng 11/2009): chính sách tiền tệ ổn định, nới lỏngvới mức lsuất cơ bản luôn giữ ở mức 7%/năm
01-06/2008 Tăng các lãi suất điều hành, lãi suất cơ bản
tăng từ 8,25-14%/năm, lãi suất tái cấp vốn:
6,5-15%/năm; lãi suất chiết khấu: 13%/năm
Giảm cung ứng choNHTM, hạn chế khảnăng mở rộng tín dụngcủa NHTM Đồng thời,
Trang 12giữ ổn định thị trườngtiền tệ bằng hỗ trợ ngắnhạn qua OMOs
Mục tiêu cuối cùng làkiềm chế lạm phát vàđảm bảo an toàn hoạtđộng ngân hàng
Tăng tỷ lệ DTBB và mở rộng diện tiền gửiphải DTBB
Phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc với khốilượng 20.300 tỷ đồng
Nghiệp vụ thị trường mở thực hiện chào bán
và mua nhằm điều tiết vốn khả dụng, ổn địnhthị trường
Phiên chào bán: kỳ hạn giao dịch dài
Phiên chào mua: kỳ hạn giao dịch ngắn từ
7-14 ngày, khối lượng chào mua được xác địnhtrên cơ sở vốn khả dụng ngân hàng, tình hìnhthị trường, mục tiêu điều hành với
05-2008
Ban hành cơ chế điều hành lãi suất cơ bản: lãisuất kinh doanh [+150% lãi suất cơ bản]
Ổn định thị trường,kiểm soát lãi suất đầu
ra của nền kinh tế
Ổn định hoạt động hệthống ngân hàng vàkinh tế vĩ mô
10/2008 đến
nay
Lãi suất điều hành được điều chỉnh giảm, lãisuất cơ bản giảm 6 lần từ 14-7,0%/năm, lãisuất tái cấp vốn và chiết khấu giảm 7lần:15,0-7,0%/năm và từ 13-5,0%/năm
Tăng khả năng tiếp cậnvốn vay từ NHNNTạo điều kiện NHTM
hỗ trợ vốn cho nền kinhtế
Giữ ổn định thị trườngtiền tệ
Mục tiêu cuối cùnggóp phần tăng trưởngkinh tế và đảm bảo antoàn hoạt động ngânhàng
4 lần điều chỉnh giảm Tỷ lệ DTBB;
Lãi suất tiền gửi DTBB bằng VND và vượtDTBB bằng USD được điều chỉnh phù hợpvới thị trường
Cho phép TCTD được thanh toán trước hạntín phiếu NHNN bắt buộc
Thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM có nhucầu vốn tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp ,
và cho các NHTM nhỏ gặp khó khăn về thanhkhoản
Nghiệp vụ thị trường mở: thực hiện các phiênchào mua GTCG theo phương thức đầu thầukhối lượng, lãi suất ổn định
Trang 13Quý I/2008: Thực hiện CSTT thắt chặt
Trước tình hình lạm phát có dấu hiệu gia tăng, NHNN bắt đầu sử dụng CSTT thắtchặt thông qua việc tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc LSCB được điều chỉnh tăng từ8,25% lên 8,75% vào tháng 01/2008 DTBB đối với tiền gửi VND dưới 12 tháng đượctăng lên 10% vào tháng 06/2007 và 11% vào tháng 2/2008 Đến tháng 03/2008,NHNN phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc đối với 41 NHTM để húttiền lưu thông trong nền kinh tế Trước tình hình đồng USD xuống giá liên tục so vớiVND, NHNN đã nâng biên độ giao dịch tỷ giá từ 0,5% lên 0,75% và 2% Việc tăngbiên độ không chỉ nhằm mục đích bình ổn thị trường ngoại hối mà còn góp phần giảm
áp lực lạm phát đối với nền kinh tế Đồng thời, NHNN ngừng thực hiện mua ngoại tệUSD và dùng dự trữ ngoại hối mua VND để bình ổn thị trường
Các giải pháp rút tiền từ lưu thông nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát mà NHNN ápdụng được nhận định là đúng đắn nhưng liều lượng và thời gian thực hiện chưa thíchhợp Kết quả là thanh khoản của một số ngân hàng thương mại nhỏ bị giảm sút nghiêmtrọng dẫn đến cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng nổ ra đẩy lãi suất huy động và chovay liên tiếp kịch trần, thậm chí lãi suất qua đêm liên tục gia tăng kỷ lục buộc ngânhàng thương mại phải siết chặt các khoản cho vay ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư vàsản xuất kinh doanh
Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm năm 2008
Trang 14Quý II và Quý III/ 2008: Tăng cường thắt chặt CSTT
Tín hiệu xấu từ nền kinh tế vĩ mô trong nước trong 4 tháng đầu năm 2008, nhất là
về thâm hụt thương mại và tỷ lệ lạm phát gia tăng tiếp tục tạo sức ép cho nền kinh tế.Trước khó khăn đó, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác điều hànhtrong thời gian tới tiếp tục tập trung vào mục tiêu “phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổnđịnh kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng hợp lý, bền vững, trong đókiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu”
Lạm phát giai đoạn 2007-09 (%)
NHNN tăng cường thắt chặt CSTT thông qua việc tăng mạnh LSCB, duy trì DTBB
ở mức cao LSCB tiếp tục được điều chỉnh tăng lên 12% (5/2008) và 14% (6/2008),mức đỉnh điểm trong nhiều năm nay và giữ nguyên tới tháng 9 năm 2008 Lãi suất tiềngửi DTBB tăng gấp 3 lần từ 1,2% lên 3,6%/năm (9/2008) NHNN điều hành thắt chặttín dụng hạn chế ở mức 30%, đặc biệt giám sát nghiêm ngặt cho vay chứng khoán vàbất động sản theo hạn mức Từ ngày 25/09/2008, NHNN cho phép các TCTD sử dụng20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc để cầm cố vay vốn, chiết khấu tại NHNN.Cùng đó, vào tháng 5-6/2008, đồng USD quay chiều tăng giá với tốc độ chóng mặt sovới VND cả trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do khiến NHNN ra quyếtđịnh tiếp tục nới biên độ tỷ giá giao dịch lên +/-2% vào ngày 27/06/2008
Cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng căng thẳng.Ngay sau khi NHNN hủy bỏ trần lãi suất huy động 12%/năm và thay bằng trần lãi suấtcho vay 18%/năm (150% của lãi suất cơ bản vừa được nâng lên 12%/năm), tất cả cácNHTM, kể cả các NHTM quốc doanh, đều đồng loạt liên tiếp tăng lãi suất huy động
và tăng cường vay mượn trên thị trường liên ngân hàng (có lúc lên tới 20%/năm) đểđối phó với tình trạng khó khăn về thanh khoản Lãi suất cho vay cũng tăng đến mức
kỷ lục 21%/năm gây chi phí vốn cao cản trở các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.Thêm vào đó, chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh khiến một số doanh nghiệpsản xuất kinh doanh thua lỗ, đình đốn, nợ xấu gia tăng Tuy nhiên, tình hình phát triểnnóng của nền kinh tế với tỷ lệ lạm phát trên 20% đã được kiểm soát
Trang 15Biến động tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi VNĐ ngắn hạn (%)
Q1,Q2,Q3
Q1 (Quý I/2008): DTBB điềuchỉnh tăng lên 11%-mức caonhất trong năm và duy trìtrong suốt Quý II và QuýIII/2008
Q3 (Từ quý IV/2008 đến nay):DTBB liên tục điều chỉnhgiảm mạnh và hiện còn 3%
Quý IV/2008 tới quý I/2009: Thực thi CSTT nới lỏng
Từ cuối năm 2008 tới nay, nguy cơ lạm phát leo thang tạm thời lắng xuống Thayvào đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế dường như chịu ảnh hưởng nhiều bởi giai đoạnkinh tế chao đảo trước đó Vì vậy, để từng bước phục hồi nền kinh tế, tạo đà cho tăngtrưởng GDP, Chính phủ chủ trương nới lỏng hơn CSTT và CSTK trên cơ sở bám sáttheo dõi và phản ứng linh hoạt với diễn biến thị trường Với mục tiêu đó, NHNN đãđiều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành để vừa giảm mặt bằng lãi suất cho vay, vừatăng cường nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng của nền kinh tế
Bảng 1: Biến động lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNĐ (%)
Q3 Q4 Q3 (Quý III/2008): Lãi
suất DTBB tăng gấp 3 lần
từ 1,2% lên 3,6%
Q4 (Từ quý IV/2008 đếnnay): Lãi suất DTBB liêntục điều chỉnh tăng đến10% vào tháng 11/2008trước khi đảo chiều giảmmạnh và hiện chỉ còn1,2%, mức năm 2004
Trang 16Cơ chế lãi suất thỏa thuận cho vay tiêu dùng được thực hiện đã có hiệu quá tíchcực trong việc khích cầu tiêu dùng trong dân cư cũng như việc tăng nguồn thu giúp cácngân hàng giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp Đồng thời, NHNN cho phépcác TCTD được thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc Tỷ lệ DTBBđối với tiền gửi VND ngắn hạn giảm mạnh từ 10% xuống còn 3% và lãi suất tiền gửiDTBB đối với VND giảm xuống 1,2%/năm Bên cạnh đó, trong thời gian này để tăngnguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã mở rộng biên độ ấn định tỷ giámua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại lên +/-3% (ngày 07/11/2008) vàlên +/-5% (ngày 24/03/2009) NHNN cũng phối hợp các biện pháp điều tiết cung cầungoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiếtyếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống, điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệliên ngân hàng.
Quý II/2009 tới nay: tiếp tục chính sách tiền tệ ổn định, nới lỏng
Với chủ trương và chính sách mà NHNN đã đưa ra trong quý I/2009 tình hìnhtài chính tiền tệ tương đối ổn định Theo báo cáo của NHNN VN, trong 5 tháng đầunăm, tổng phương tiện thanh toán tăng 14.55%, dư nợ tín dụng tăng 14.91% so vớitháng 12/2008( trong đó tín dụng bằng VND tăng 20.59%, tín dụng bằng USDgiám 6.34%)
Những con số này cho thấy sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế, bởi ngườidân đã bắt đầu đổ tiền vào sản xuất – kinh doanh để đợi ngày “ hái quả”, song mặtkhác cũng hiển hiện một nỗi lo Lo vì tăng trưởng tín dụng trong 5 tháng đầu nămnay đã ở mức khá cao, không thấp hơn bao nhiêu so với con số tăng trưởng dư nợtín dụng, 17.66% của cùng kỳ năm ngoái Nguyên nhân của việc tăng trưởng tíndụng cao một phần xuất phát từ việc trong 5 tháng đầu năm, đã có tới hơn 319.000
tỷ đồng cho vay hỗ trợ lãi suất được giải ngân
Việc tăng trưởng dư nợ tín dụng, tổng phương tiện thanh toán ở mức cao, cộngthêm lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng trong 5 tháng đầu năm lànguyên nhân làm cho CPI của VN tăng
Bảng 2: Kết quả phát hànhtrái phiếu chính phủ tháng 1-7/2009
Đơn vị: tỷ USD