Phần 2 Phân loại lãi suất và tình hình lãi suất hiện nayA .Lãi suất tín dụng thương mại Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa c
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trang 2Phần 1 Khái niệm cơ bản về lãi suất
1 Khái niệm về Lãi Suất.
Lãi suất là một công cụ nhạy cảm trong điều hành chính sách tiền tệcủa mọi Ngân hàng trung ương,cũng là mối quan tâm của mọi người, mọidoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đã có rất nhiều kháiniệm về Lãi suất chúng ta có thể đưa ra một số khái niệm cơ bản về Lãisuất như sau:
-Lãi suất là tỷ số giữa tổng số lợi tức hàng năm và tổng số vốn đã bỏ racho vay trong năm Nói cách khác đi, Lãi suất là giá cả mà con nợ phải trảcho chủ nợ để sử dụng khoản tiền vay trong một kỳ hạn nhất định
- Lãi suất danh nghĩa là Lãi suất bằng tiền trên các tài sản bằng tiền.-Lãi suất thực tế (r) bằng lãi suất danh nghĩa (i) trừ đi lạm phát, lãi suấtthực tế phản ánh đúng chi phí thật của việc vay tiền và điều chỉnh cho đúngtheo những thay đổi dự tính về mức
* Ngoài ra còn có các loại lãi suất thông dụng như: Lãi suất trả trước khivay, lãi suất trả sau cùng với vốn, lãi suất trả dần cùng với vốn theo định kỳ
và lãi suất trả bằng phiếu lợi tức
2.Các nhân tố tác động đến lãi suất.
Lãi suất luôn luôn biến động do những nhân tố sau:
* Sự thay đổi của tổng cầu(GNP).
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối tiền cung ứng( nếutốc độ lưu thông tiền tệ không thay đổi) để đảm bảo cung cầu tương ứng.Nếu trong điều kiện đó, khối lượng cung ứng tiền(M1 hoặc M2) tăng quácầu thì MV>PQ, cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư làm cho lãi suấtgiảm Ngược lại, khi GNP giảm thì khối lượng tiền cung ứng thực tế cũng
Trang 3giảm theo, nếu tốc độ lưu thông tiền tệ không thay đổi mà giảm khối cungứng tiền tệ xuống quá thấp sẽ đưa đến tình trạng MV<PQ Lúc đó, cungvốn đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tư thì lãi suất sẽ tăng.
*.Sự chi tiêu của chính phủ.
Trong khi lượng cung ứng tiền tệ (M1 hay M2) không thay đổi mà chínhphủ chi tiêu nhiều hơn sẽ làm giảm bớt nhu cầu chi cho đầu tư và tiêu dùngcủa cá nhân, nhu cầu tiền của nhân dân trở nên khan hiếm, nguồn cung ứngvốn nhỏ hơn nhu cầu vốn, lãi suất sẽ tăng lên
* Chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ của chính phủ ban hành là nhằm mục đích kiểm soátlượng cung ứng tiền tệ, kiểm soát tình trạng lạm phát và các tác động đếnlãi suất để thực hiện các mục tiêu đã định
*.Nhu cầu tiêu dùng và đầu tư.
Trong thực tế khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì kéo theo lãi suất tăng vàngược lại khi nhu cầu này giảm đi thì sẽ làm giảm lãi suất Cũng như khinhu cầu về đầu tư, người ta đổ xô vào đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận thìnhu cầu về tiền, tài sản là rất lớn sẽ dẫn tới lãi suất tăng
Trang 4Phần 2 Phân loại lãi suất và tình hình lãi suất hiện nay
A Lãi suất tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế,
là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không
có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng đượccấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền Có ba loại tín dụngthương mạiLãi suất tín dụng thương mại là lãi suất được áp dụng khi cácdoanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Lãi suấttín dụng thương mại phụ thuộc vào thời hạn mua bán chịu, cung - cầu vềmua bán chịu và mức độ tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệmua bán chịu
Công thức tính:
LS TDTM = (Tổng giá cả hàng hóa bán chịu –Tổng giá cả hàng hóa
bán trả tiền ngay)/Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay * 100%
Các mức lãi suất tín dụng thương mại đều có điểm chung là chúng khôngđược ghi cụ thể bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chứng từ vay nợ ( trênthương phiếu ) mà được bao hàm trong tổng giá hàng hóa cao hơn giá muatrả tiền ngay.Chênh lệch giữa hai loại tổng giá cả hàng hóa này là tiền lãi
mà doanh nghiệp mua chịu trả cho doanh nghiệp bán chịu
I, Các hình thức tín dung thương mại
1.1 Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuấtkhẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩymạnh xuất khẩu hàng hóa Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thứcchấp nhận hối phiếu và mở tài khoản
Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu kýchấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộchứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếpcho họ Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của haibên bán và mua Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường canthiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này Ví dụ, luật nước
Trang 5Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luậtNhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày
Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu vàthương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đóqui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua saumỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện Sau từng thời gian nhấtđịnh, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séchoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay
1.2 Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhậpkhẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhậphàng thuận lợi Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước đểnhập hàng Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trườnghợp cụ thể Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồngxuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; cònngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồngcủa người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trướcmang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng Khoản tiền ứng trướcđược hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố địnhhoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng 1.3 Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: cácngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp chocác nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụngrộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan Người môi giới là các công tylớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng
Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa,cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu…Mọi tíndụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn
II , Tình hình tín dụng thương mại hiện nay
Hiện nay, các đánh giá chính thống đều chung nhận định rằng: cơ chế hỗ trợ vừa qua đã đạt được mục tiêu góp phần duy trì và phát triển sảnxuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, an
Nhưng bên cạnh đó, do tình hình sản xuất chung vẫn còn khó khăn, hơnnữa, chủ trương của Chính phủ trong năm 2010 là tập trung các giải phápkích thích kinh tế nên việc tiếp tục hỗ trợ là cần thiết Phải thấy rằng, trong số các gói kích thích kinh tế của các nước thực hiện
Trang 6vừa qua, chính sách tài khoá đóng vai trò cơ bản và quan trọng, chính sáchtiền tệ hỗ trợ để ổn định kinh tế vĩ mô và tránh sự sụp đổ hệ thống ngân
Chẳng hạn, một số ngân hàng trung ương các nước đã giảm lãi suất tái cấpvốn xuống mức 0% - 1% /năm cho các ngân hàng thương mại vay để làmgiảm lãi suất liên ngân hàng và gián tiếp giảm lãi suất cho vay doanhnghiệp Mặc dù vậy, nhưng doanh nghiệp nước họ vẫn phải vay với lãi suấtcao bởi rủi ro tín dụng tăng lên
Ví dụ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố lãi suất tái cấp vốn từ 0%
- 0,25%/năm nhưng doanh nghiệp vẫn phải vay thương mại với lãi suất từ6% - 6,6%/năm, thậm chí còn cao hơn trước khủng hoảng Với Việt Nam thì sao? Ngân hàng Nhà nước đã nghiên cứu và đề xuấtphương án hạ lãi suất cơ bản, tái cấp vốn xuống mức thấp (dưới 7%/năm)
để giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhưng không có tính khả thi
Bởi lẽ, khi đó lãi suất huy động thấp hơn lạm phát và không phù hợp cung
- cầu vốn thị trường Cũng có một số ý kiến khác cho rằng, nên hạ lãi suất
cơ bản xuống, đồng thời hạ lãi suất huy động tiền gửi để có thể hạ lãi suấtcho vay để hỗ trợ doanh nghiệp
Quan sát hình thức thì có vẻ dễ chấp nhận nhưng nếu xem xét kỹ về tậpquán, thu nhập bình quân và đặc điểm của nguồn tiền gửi vào hệ thốngngân hàng thì thấy rằng, phần lớn chúng được hình thành nhờ tuyệt đại bộphận người dân, cán bộ tích lũy được để gửi vào tiết kiệm Vì thế, trong bất
cứ một giải pháp nào, Ngân hàng Nhà nước cũng phải giải quyết hài hòaquyền lợi người gửi tiền và người vay tiền
Với lựa chọn giải pháp tăng khối lượng tiền cung ứng thì không thể thựchiện bởi bài học nhãn tiền từ năm 2007 do lượng tiền trong lưu thông tăngđột biến, từ đó xảy ra hàng loạt hệ lụy như thị trường tiền tệ, ngoại hối bất
ổn, lãi suất hai chiều giảm đột biến, làm tăng giá cả thị trường và khôngloại trừ hiện tượng bong bóng chứng khoán và bất động sản
Từ những phân tích trên, có thể thấy giải pháp hỗ trợ lãi suất 4% cho doanhnghiệp thông qua hệ thống ngân hàng là hoàn toàn phù hợp và có hiệu quả Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường hoạt động thanh tra, giámsát hệ thống, tránh và hạn chế đến mức thấp nhất hoạt động tín dụng tráivới pháp luật, nhằm tập trung vốn cho khu vực sản xuất có nhu cầu vốn
Hết 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng là 29,3%, dự kiến cả năm
có thể vượt quá 30% Với hạn mức này hiện nay là tương đối phù hợp vì
Trang 7điều hành chính sách tiền tệ phải đặt trong mối tương quan vừa phải hỗ trợtăng trưởng kinh tế, vừa phải ngăn ngừa tái diễn lạm phát Hơn nữa, thời điểm cuối năm, việc huy động vốn không dễ dàng, do đó,khả năng tăng trưởng tín dụng như đầu năm của các ngân hàng thương mại
là khó diễn ra
Theo công văn số 5612, lãi suất tín dụng xuất khẩu áp dụng với chươngtrình cho vay xuất khẩu mà VDB đang triển khai chỉ còn 2,9%, giảm 4% sovới trước đây Lãi suất này sẽ áp dụng cho các hợp đồng tín dụng xuất khẩuvay vốn VDB được ký kết giải ngân từ ngày 17/4/2009 đến hết ngày31/12/2009 Sau thời gian trên, nếu các khoản vay còn tiếp tục, DN sẽ trảtheo lãi suất thông thường được quy định Vì vậy, thay vì hỗ trợ lãi suất,
DN sẽ được giảm luôn 4% và không còn phải mất thêm các công đoạn tínhtoán hỗ trợ lãi suất khi thanh toán
Với quyết định này của Bộ Tài chính đã giải quyết được tình trạng DNchê vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ, do nhóm này không được đưa vàođối tượng hỗ trợ lãi suất Vì không được hỗ trợ lãi suất nên nguồn vốn tíndụng ưu đãi nhà nước lại trở thành nguồn vốn đắt nhất trên thị trường và
DN thay vì tập trung vay vốn này lại chê và quay ra vay vốn thương mại.Hàng trăm tỷ đồng đã không được giải ngân trong những tháng đầu nămnay
Trong khi đó, theo báo cáo nhanh của các ngân hàng thương mại,
dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất với các khoản vay ngắn hạn bằng đồng ViệtNam đến ngày 23/4/2009 là 254.900 tỷ đồng
Trong đó, dư nợ cho vay của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 187.660 tỷ đồng, tăng 11.726 tỷ;ngân hàng thương mại cổ phần là 55.245 tỷ đồng; ngân hàng liên doanh,chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài là11.042 tỷ đồng; công ty tài chính là 953 tỷ đồng, tăng 479 tỷ đồng
Tháng 1/2007, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO) và bắt đầu phải thực hiện các cam kết Yêu cầu hộinhập kinh tế đòi hỏi chúng ta phải tính tới hình thức và mức độ hỗ trợ phùhợp với những quy định của WTO và thông lệ thương mại quốc tế, nên việcChính phủ sửa đổi chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu là tất yếukhách quan, phù hợp với quy định của WTO
Các hình thức tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu sẽ được thực hiệntrên các phương diện: hỗ trợ sản xuất trong nước (như tín dụng đầu tư, tíndụng xuất khẩu ) kết hợp với hỗ trợ cho các nhà nhập khẩu nước ngoàimua hàng hoá của Việt Nam, các dự án của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư
ở nước ngoài
Trang 8Việc xây dựng các chính sách này không tạo ra một kênh bao cấp mới
từ Nhà nước cho doanh nghiệp; không ảnh hưởng đến hoạt động tín dụngthương mại thông thường mà còn tác động tích cực, thúc đẩy tín dụngthương mại phát triển và đây cũng là thông lệ quốc tế mà các nước trên thếgiới đã và đang áp dụng
III , Đối tượng và các hình thức vay vốn tín dụng xuất khẩu:
Có hai loại đối tượng có thể được vay vốn tín dụng xuất khẩu Trước hết,
là các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào việc xuất khẩu hàng hóa, dịch
vụ thuộc danh mục ưu tiên khuyến khích xuất khẩu, phát huy lợi thế củaViệt Nam
Với đối tượng này, lãi suất cho vay áp dụng cho từng loại kỳ hạn vay
và mức độ rủi ro (hay độ tín nhiệm của người đi vay) Lãi suất vay đượcquy định theo nguyên tắc thị trường và Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể.Trước mắt, lãi suất cho vay này có thể được tính bằng lãi suất trái phiếuchính phủ cùng kỳ hạn và một tỷ lệ phí bù đắp cho chi phí hoạt động của tổchức cho vay
Để giảm thiểu rủi ro cho tổ chức cho vay, mức vốn cho vay tối đa khôngvượt quá 85% giá trị của hợp đồng xuất khẩu Đây cũng là lãi suất và mứcvay mà Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) khuyến nghị Thờihạn cho vay sẽ phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng xuất khẩu,nhưng không quá 12 tháng
Đối tượng thứ hai là các khách hàng nước ngoài cũng có thể được vayvốn để mua hàng hoá dịch vụ thuộc danh mục khuyến khích xuất khẩu củaViệt Nam, nhưng để vay được vốn họ phải có sự bảo lãnh từ Chính phủhoặc ngân hàng trung ương của bên mua
Ngoài ra, các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng được cung cấp dịch vụ bảolãnh để có thể vay vốn từ các ngân hàng thương mại phục vụ cho việc muahoặc sản xuất các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thực hiện hợp đồng xuấtkhẩu đã ký kết Mức bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 85% giá trị hợp đồngxuất khẩu với mức phí bảo lãnh là 1%/năm tính trên số dư bảo lãnh đểkhuyến khích các doanh nghiệp tham gia chương trình bảo lãnh tín dụngxuất khẩu
Chính sách mới có bổ sung một số nội dung phù hợp với tình hình pháttriển kinh tế-xã hội như: chỉ cho vay hoặc bảo lãnh tín dụng những dự ánđầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc một số lĩnh vực quan trọng,chương trình kinh tế lớn của Chính phủ trong từng thời kỳ, không trái với
Trang 9các quy định của WTO; một dự án đầu tư chỉ được tham dự một hình thứctín dụng đầu tư của Nhà nước và mức vay không quá 70% tổng mức đầu tưtài sản cố định của dự án.
Vấn đề lãi suất cũng được sửa đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế
Ví dụ: trước đây lãi suất cho vay vốn tín dụng đầu tư theo quy định tại Nghịđịnh 106/2004/NĐ-CP thống nhất chung một mức tương đương 70% lãisuất cho vay thương mại cho mọi đối tượng và không tính đến thời hạn vayvốn khác nhau giữa các dự án Cách xác định lãi suất này còn mang tínhbao cấp từ Nhà nước, hạn chế tính chủ động và tự chịu trách nhiệm từ chủ
dự án
Vì vậy, trong Nghị định này lãi suất cho vay đầu tư bằng đồng Việt Namđược Chính phủ quy định theo hướng tiếp cận với thị trường Đây cũng
là lãi suất cho vay mà OECD khuyến nghị
Vấn đề bảo đảm tiền vay cũng được sửa đổi theo hướng: các chủ đầu tư,khi vay vốn hoặc được bảo lãnh được dùng tài sản hình thành từ vốn vay đểbảo đảm tiền vay và bảo lãnh Trường hợp tài sản hình thành từ vốn vaykhông đủ điều kiện bảo đảm tiền vay và bảo lãnh, chủ đầu tư phải sử dụngtài sản hợp pháp khác để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh với giá trị tối thiểubằng 15% tổng mức vay vốn và bảo lãnh
Chính phủ đã quy định mức lãi suất vay vốn tín dụng đầu tư đối với:
- Các dự án thuộc ngành công nghiệp (7 nhóm) bằng lãi suất trái phiếuchính phủ kỳ hạn 5 năm + 0,5%/năm;
- Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (7 nhóm); dự ánphát triển nông nghiệp, nông thôn (3 nhóm) và các dự án đầu tư tại địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; dự án tại vùngđồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung, các xã thuộc chương trình
135 và các xã biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi ngang thìlãi suất cho vay bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm
- Trường hợp vay bằng ngoại tệ, áp dụng lãi suất tương đương với lãisuất Sibor 6 tháng cộng thêm tỷ lệ % nhất định
B.Lãi suất tín dụng ngân hàng:
Trang 10Áp dụng trong quan hệ giữa ngân hang với công chúng và doanhnghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay,trong hoạt động tái cấp vốncủa Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng và trong quan hệ giữa cácngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng.Việc phân biệt khái niêmlãi suất trong các quan hệ này là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữachúng.
I,Lãi suất tiền gửi( lãi suất huy động)
1 Khái niệm:
Áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền Lãi suất tiền gửi cónhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, vào quy mô tiền gửi Sựbiến động lãi suất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mônguồn vốn của các ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khối tiền giao dịch vàqua đó tới lạm phát Chính vì vậy việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãisuất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế đẩy lùi lạm phát
2 Tình hình lãi suất huy động vốn trên thị trường:
Tính đến ngày 15/10/2009, mặc dù đã có sự điều chỉnh tăng lãi suất kể từsau ngày 1/9 nhưng mức lãi suất huy động của các NHTMNN vẫn chỉ tăngvới mức tăng không đáng kể
Các Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) bao gồm Ngân hàngĐầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vàhai ngân hàng đã được cổ phần hoá là Ngân hàng Công thương, Ngân hàngNgoại thương là những ngân hàng chiếm tỷ lệ vốn huy động chủ yếu trênthị trường Từ sau cuộc họp ngày 1/9/2009 của Hiệp hội, 4 NH trên đã điềuchỉnh tăng lãi suất, nhưng với mức tăng không đáng kể, thực hiện mục tiêu
ổn định lãi suất Theo đó, lãi suất huy động ở kỳ hạn 3 tháng là 7,9 – 8,1%/năm; kỳ hạn 6 tháng từ 8,3 – 8,5%/năm; kỳ hạn 9 tháng từ 8,3 – 8,7%/năm
và kỳ hạn 12 tháng từ 8,6 – 9,0%/năm Trong đó Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển hiện đang dẫn đầu với mức lãi suất huy động cao nhất khối này
Đối với các NHTM cổ phần khác:
+ Lãi suất của các kỳ hạn ngắn (dưới 12 tháng)
- Kể từ sau cuộc họp ngày 1/9/2009 của Hiệp hội đến nay, tất cả cácNHTMCP đều tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 1 tháng đến 12 tháng,với mức tăng rất lớn ở tất cả các kỳ hạn, đặc biệt là các kỳ hạn dưới 6
Trang 11tháng Một số NHTMCP hiện đang áp dụng mức lãi suất cao nhất ở tất cảcác kỳ hạn là NH Miền Tây, NH Hàng Hải, NH Ngoài QD, NH Đại Dương,
NH Dầu khí Toàn Cầu
+ Lãi suất huy động 1 tháng: phổ biến ở mức 8,3 – 8,7%/năm Có 1 NHlãi suất ở kỳ hạn này lên tới 9,2%/năm (NH Miền Tây), tiếp theo là NHNgoài QD (8,76%/năm), NH Hàng Hải (8,75%/năm)
+ Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng: phổ biến ở mức 8,5 – 9,0%/năm.Các NH có mức lãi suất cao nhất ở kỳ hạn này là NH Miền Tây(9,5%/năm), NH Hàng hải (9,35%/năm), NH Quốc tế (9,2%/năm)
+ Lãi suất kỳ hạn 6 tháng: Phổ biến ở mức 9,0 – 9,2%/năm NH MiềnTây đang áp dung mức lãi suất huy động cao nhất ở kỳ hạn này(9,95%/năm), tiếp theo là NH Ngoài QD (9,4%/năm), NH Hàng hải (9,4%/năm), NH Bắc Á (9,4%/năm)
+ Lãi suất kỳ hạn 9 tháng: Phổ biến từ 9,0 – 9,2%/năm NH Miền Tây,Hàng Hải, Bắc Á có mức lãi suất cao nhất, tương ứng 10%/năm,9,71%/năm và 9,7%/năm
+ Lãi suất kỳ hạn 12 tháng: phổ biến từ 9,2 – 9,4%/năm 3 NH có mứclãi suất cao nhất là NH Miền Tây, NH Ngoài QD, NH Bắc Á
- Đáng chú ý hơn là ở kỳ hạn 1 tuần, sau thời gian 1 năm (kể từ tháng10/2008), các NHTM không huy động kỳ hạn này, hoặc có NH huy độngnhưng với mức lãi suất rất thấp, thì sang đến tháng 10/2009, 1 loạt các NHbắt đầu triển khai huy động ở kỳ hạn 1 tuần, với lãi suất huy động lên rấtcao, nhiều NH lãi suất ở kỳ hạn này lên tới trên 7%/năm
- Đối với lãi suất của các kỳ hạn dài (trên 12 tháng)
Các NHTMCP có mức lãi suất huy động quá cao ở kỳ hạn dài thời điểmđầu tháng 9/2009 (cao nhất 10,3%/năm) đã điều chỉnh giảm xuống (như
NH PT Nhà TP.HCM, Kiên Long, Nam Á, Việt Á ) Động thái của một số
NH trên đã góp phần làm giảm mặt bằng lãi suất huy động ở các kỳ hạndài, đồng thời không tạo ra cuộc đua lãi suất giữa các NHTM ở các kỳ hạnnày Điều đó đã tác động tích cực đến dư luận xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số NHTM tiếp tục điều chỉnh tănglãi suất ở các kỳ dài nhưng không vượt quá mức 10%/năm Hiện có 8 NHđang áp dụng mức lãi suất kỳ hạn 36 tháng là 10%/năm (NH Quốc tế, NHHàng Hải, NH Miền Tây, NH An Bình, NH Đại Dương )
- Ngoài việc áp dụng các hình thức huy động thông thường, nhiềuNHTM đưa ra các hình thức khuyến mại hấp dẫn để thu hút khách hàngnhư thưởng lãi suất, thưởng tiền đã làm cho lãi suất thực của các kỳ hạnngắn cao hơn mức lãi suất các NH công bố ở trên và tạo cho chênh lệch lãi
Trang 12suất huy động và cho vay bình quân của các NHTM ngày càng một thu hẹp
Tuy nhiên, sau thông điệp của Thống đốc NHNN là sẽ kiểm tra toàn diệnnhững ngân hàng có lãi suất tiết kiệm VND từ 10%/năm trở lên, cuộc đuatăng lãi suất của các ngân hàng có dấu hiệu dịu lại, nhưng mặt bằng lãi suất
đã thiết lập ở mức 9,99%/năm, và chủ yếu đang được điều chỉnh tăng ở kỳhạn ngắn
3 Nguyên nhân của việc lãi suất có xu hướng tăng lên:
- Để chuẩn bị nguồn cung đáp ứng nhu cầu cho vay tăng nhanh nhữngtháng cuối năm và để giữ khách hàng trong điều kiện các kênh đầu tư khácđang khởi sắc, các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn thông qua tăng lãisuất tiền gửi bằng cả VND và USD Các ngân hàng lớn tuy dư dả vốn huyđộng nhưng không thể đứng ngoài cuộc
- Do giá USD thực tế kì vọng tăng lên nên một số người gửi tiền đãchuyển tiết kiệm từ VND sang USD( xu hướng này rõ nhất là ở nhữngngười có số tiền gửi VND lớn) Bản thân một số tổ chức cũng có xu hướnggiữ USD trên tài khoản vì sợ biến động tỉ giá Vì vậy tổng nguồn vốn vẫntăng nhờ mức tăng cao của tiền gửi ngoại tệ
- Tiền gửi của các tố chức luôn trong xu hướng giảm từ năm 2008 đếnnay Lí do là trong bối cảnh kinh tế khó khăn, khả năng tài chính yếu dosức cầu thu hẹp nên đa phần doanh nghiệp tận dụng tối đa vốn tự có củamình, giảm vay và giảm số dư tiền gửi tại các NHTM
- Nhu cầu vay mượn VND trên thị trường nội tệ liên ngân hàng có xuhướng tăng Đây là kênh đầu tư vốn khá quan trọng của các ngân hàng, tuylãi suất không cao bằng cho vay trực tiếp nền kinh tế, nhưng an toàn và ítchi phí nên các ngân hàng cũng muốn có nguồn vốn VND lớn đề cho vaythị trường này
4 Ảnh hưởng của việc tăng lãi suất huy động hiện nay
- Tình hình lãi suất tăng cao như hiện nay sẽ sàng lọc các doanh nghiệpnào mạnh mẽ sẽ vượt qua, doanh nghiệp nào có năng lực yếu sẽ bị ảnhhưởng và gây rủi ro tín dụng cao
Trang 13- Lãi suất huy động vốn tăng cao, điều này dẫn đến chi phí giá thành chovay trên đồng vốn phải cao Điều này dẫn đến cần tăng lãi suất cho vay,nhưng nếu lãi suất cho vay quá cao sẽ làm khả năng chi trả yếu đi, gây rủi
ro tín dụng và suy thoái kinh tế
- Hiện nay mức lãi suất huy động được coi là hợp lí trong điều kiện lạmphát đã có mức suy giảm như hiện nay
II Lãi suất tiền vay.
1 Khái niệm:
Trong quan hệ tín dụng giữa DN và NH, lãi suất cho vay phản ánh giá cảcủa đồng tiền mà người sử dụng vốn là các doanh nghiệp phải trả cho ngườicho vay là các NHTM
2 Tình hình lãi suất tiền vay ở VN hiện nay
Trong năm 2008 dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng cao, và tácđộng từ các biện pháp chống lạm phát của chính phủ, mặt bằng lãi suất chovay của các NHTM trên thị trường đã có những biến động bất thường vàgây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN là nơi chịunhiều ảnh hưởng nhất Có lẽ mãi sau này người ta không thể quên đượccảnh tượng “dòng người” xếp hàng để rút tiền từ nơi lãi suất thấp sang nơilãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là19-20%/năm Theo đó lãi suất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất tối
đa, 21%/năm Bước sang năm 2009, bằng nhiều giải pháp của Chính phủ vàNgân hàng Nhà nước Việt Nam, mặt bằng lãi suất đã liên tục được điềuchỉnh giảm, nguồn cung tín dụng được nới lỏng, cùng với chính sách kíchcầu thông qua hỗ trợ lãi suất vay vốn phục vụ SXKD cho các DN, hoạtđộng SXKD của các DN trong nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi trở lại,nhu cầu vay vốn của DN cũng như số tiền giải ngân cho nền kinh tế của cácNHTM đã tăng trở lại Điều đó cho thấy các tác động tích cực của lãi suấttrong bối cảnh cả nước đang tập trung thực hiện các giải pháp kích cầu,chống suy giảm kinh tế, đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra lan rộng
Nhận định chung trên thị trường là lãi suất cho vay tiếp tục đà giảm sâusau khi quyết định cắt giảm thêm 1.5%/năm lãi suất cơ bản của NHNN vàmột loạt chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay của chính phủ
Sau khi NHTW quyết định về việc giảm lãi suất cơ bản VND xuống 7%
và đưa mức lãi suất trần cho vay VND tối đa của các tổ chức tín dụng
Trang 14xuống còn 10.5%, BIDV là NH tiếp tục tạo nên đáy lãi suất cho vay trên thịtrường mới, nhiều NHTM cũng rục rịch tuyên bố mạnh tay cắt giảm lãi suấtcho vay Chính thức từ ngày 1.2.2009, lãi suất cho vay ngắn hạn đến 3tháng của BIDV được đưa về mức 8%/năm, mức thấp nhất trên thị trườnghiện nay và áp dụng cho các khoản vay xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩutrực tiếp hay khách hàng có cam kết bán lại ngoại tệ tương ứng Các mứclãi suất cho vay ngắn hạn đồng loạt cũng được đưa về mức 9%/năm đối vớicác khoản vay đến 3 tháng và 9-10%/năm đối với các khoản vay có thờihạn trên 3 tháng Riêng các mức LS cho vay trung - dài hạn được BIBVtính bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng với phí tối thiểu (3%/năm)
và không vượt quá 150% lãi suất cơ bản
Cùng với BIDV, Vietcombank cũng nhanh chóng quyết định điều chỉnhlãi suất cho vay VND và đưa mức lãi suất cho vay ưu đãi về mốc 8,5%/năm
và 10%/năm đối với lãi suất cho vay thông thường Lãnh đạo Vietcombankkhẳng định, việc giảm lãi suất cho vay liên tục sẽ thực sự tăng cường khảnăng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các DN, đặc biệt là các DN vừa vànhỏ, DN sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu cũng như DN khó khăn trongtiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ phục hồi sản xuất nông nghiệp
Song hành với việc cắt giảm lãi suất các khoản vay, NHNN mới đâycũng cho phép các tổ chức tín dụng được thực hiện lãi suất thỏa thuận đốivới các khoản vay Phạm vi khoanh vùng đối với cho vay các nhu cầu vềvốn phục vụ đời sống, cho cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sửdụng thẻ tín dụng theo quy định của NHNN về cho vay của TCTD đối vớikhách hàng và trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, mức độ tín nhiệm củakhách hàng vay Có thể dự báo là trừ các khoản cho vay tiêu dùng cầm cốbằng giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm, trái phiếu chính phủ và giấy tờ có giá dochính NH cho vay phát hành) sẽ được áp dụng mức LS thấp, còn các khoảncho vay tiêu dùng, đặc biệt cho vay qua thẻ tín dụng sẽ phải chịu mức LSkhá cao, khoảng từ 12%-18%/năm
Bên cạnh đó, việc tiến hành hỗ trợ lãi suất 4% của gói kích cầu mà chínhphủ đưa ra sẽ phá vớ đáy lãi suất cho vay đối với khách hàng vay sản xuấtkinh doanh với mục đích nhằm giảm giá thành sản phẩm, duy trì tạo công
ăn việc làm Các NHTM theo đó sẽ cho vay các nhu cầu vốn lưu động đểhoạt động sản xuất - kinh doanh theo cơ chế tín dụng thông thường và thựchiện hỗ trợ lãi suất theo đúng quy định, không được từ chối hỗ trợ lãi suấtnếu khoản vay thuộc đối tượng hỗ trợ Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối
đa là 8 tháng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết vàgiải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 1.2 - 31.12.2009
Trang 15Với quyết định này, điểm đáng chú ý là các NH áp dụng cơ chế và lãisuất cho vay thông thường khi ký kết hợp đồng tín dụng Đến kỳ hạn thu lãitiền vay, các NH thực hiện việc giảm trừ số tiền lãi bằng 4%/năm tính trên
số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế phát sinh trong năm 2009 Như vậyvới trần lãi suất cho vay hiện nay ở mức 10,5%/năm, lãi suất thực trả củakhách hàng được cấp bù lãi suất sẽ ở mức 6,5%/năm Cácdoanh nghiệp,hợp tác xã, tổ hợp tác hay hộ sản xuất gia đình sẽ đỡ ngại ngần hơn khi vayvốn NH Một số chuyên gia khuyên rằng, đây là cơ hội vay vốn giá rẻ màcác doanh nghiệp nên tận dụng ngay vì khi dấu hiệu lạm phát quay lại, lãisuất phải tăng lên và cơ hội không còn
3 Nguyên nhân của việc giảm lãi suất cho vay hiện nay.
- Khách hàng vay tiêu dùng e ngại là lo chiều hướng khủng hoảng kinh
tế còn kéo dài sẽ khiến cuộc sống nhiều khó khăn hơn, do đó hạn chế chếchi tiêu đặc biệt là những đồ dùng xa xỉ
- Với biến động của lãi suất như đã từng diễn ra trong năm 2008, ngườivay vốn trở nên thận trọng hơn với các kỳ điều chỉnh, bởi các khoản vaythường có kỳ hạn từ 2 - 4 năm, trong khi tình hình lãi suất hiện nay khôngchắc sẽ tiếp tục ổn định trong những năm tới
4 Ảnh hưởng của mức lãi suất tiền vay đối với nền kinh tế:
Hiện nay lãi suất cho vay được coi là đang ở mức rất thấp, và còn thấphơn đối với các đối tượng thuộc diện được hỗ trợ lãi suất 4%
- Khi lãi suất vay thấp, mọi người có thê vay tiền một cách dễ dàng đểmua nhà, mua xe…Việc mua nhà, mua xe này lại tạo điều kiện phát triểnnhững nhu cầu khác như đồ gỗ, các thiết bị thiết yếu…Vì vậy tạo một lựcđẩy cho nền kinh tế Như vậy khách hàng có thể trả lãi phí ít hơn và lấy vềđược nhiều sản phẩm dịch vụ hơn
- Khi lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất, các chủ nôngnghiệp và các cơ sở kinh doanh có thể dễ dàng mượn vốn đầu tư vào thiết
bị hoặc những phạm trù cần chi phí khác lớn hơn, mở rộng qui mô doanhnghiệp Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tư như vậy thì cógiá trị hơn tại thời điểm khi mà lãi suất thấp hơn là khi lãi suất cao Điềunày khiến cho các doanh nghiệp lời hơn khi đầu tư với mức lãi suất thấp,tạo điều kiện thúc đầy kinh tế phát triển nhanh hơn do năng suất lao độngtăng mạnh
Trang 16- Bên cạnh đó, các gói kích cầu qua hình thức hỗ trợ lãi suất 4% vớiquy mô 17.000 tỷ đồng (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỷ đồng (thời hạn tới
24 tháng) với tổng dư nợ tín dụng dự tính (nếu giải ngân hết) lên tới850.000 tỷ đồng là quá lớn so với năng lực hấp thụ vốn của hệ thống doanhnghiệp Nếu xét toàn bộ thị trường vốn, thị phần thanh khoản bơm thêm chỉ
có 37.000 tỷ đồng (17.000 + 20.000 tỷ đồng), phần dư nợ tín dụng tăngthêm là do phân phối lại thanh khoản sẵn có của nền kinh tế thông qua hìnhthức huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Nếu mặtbằng lãi suất tăng lên thì phần còn lại sau khi trừ 4% lãi suất cũng sẽ tănglên và doanh nghiệp phải chịu đựng mức lãi suất tăng thêm trong khi tỷ lệsinh lời chưa được cải thiện
- Việc giảm lãi suất cho vay khiến cho lượng tiền cung ứng trên thịtrường tăng lên do nhu cầu vay lớn, điều này làm cho lượng tiền mặt tronglưu thông tăng lên, khối lượng tiền cung ứng MB tăng
III.lãi suất tái chiết khấu(lãi suât tái cấp vốn)
1.khái niệm:
Lãi suất tái chiết khấu (lãi suất tái cấp vốn) áp dụng khi ngân hàng trung
ương tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy
tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng Lãi suất táichiết khấu do Ngân hàng Trung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu củachính sách tiền tệ trong thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thịtrường tiền tệ Ngân hàng Trung ương các nước thường hình thành một cặplãi suất tái cấp vốn tạo nên một khung lãi suất chỉ đạo nhằm kiểm soát vàđiều tiết sự biến động lãi suất trên thị trường đặc biệt là mức lãi suất ngắnhạn
2.tình hình lãi suất tái chiết khấu trên thị trường:
Hôm nay (10/4), Ngân hàng Nhà nước quyết định giảm lãi suất tái cấpvốn từ 8%/năm xuống 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 6%/năm xuống5%/năm Khác với mọi lần, quyết định này không có thông tin về lãi suất
Ngày 10/4/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành
Quyết định số 837/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiếtkhấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng vàcho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà