Từ cơ sở này, tác giả đưa ra các giải pháp trong thời gian đến để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy mạnh sự chuyển dịch tích cư
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN CÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐẶNG MINH ĐỨC
HÀ NỘI, năm 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây
Quảng Nam, ngày tháng năm 2021
Học viên
Phạm Văn Công
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô Học viện Khoa học Xã hội, đặc biệt là Khoa Luật đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này
Tôi đặc biệt cám ơn PGS.TS Đặng Minh Đức đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi có thể hoàn tất luận văn cao học này
Tôi cũng xin chân thành cám ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người đã giúp tôi trả lời bảng câu hỏi khảo sát làm nguồn dữ liệu cho việc phân tích và cho ra kết quả nghiên cứu của luận văn cao học này
Cuối cùng, tôi hết lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình đã động viên và tạo động lực để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt đẹp
Đà Nẵng, tháng 03 năm 2021
Học viên
Phạm Văn Công
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 9 1.2 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 14 1.3 Nội dung tiêu chí của xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 24 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM 30
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quế Sơn ảnh hưởng đến quản
lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 30 2.2 Tình hình về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế ở huyện Quế Sơn 34 2.3 Thực tiễn tình hình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới lĩnh vực kinh tế ở huyện Quế Sơn thời gian qua 35 2.4 Đánh giá chung 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH
TẾ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 60
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 60 3.2 Các giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 62
Trang 5KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
2 KDCNTMKM Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu
4 MTQG Mục tiêu quốc gia
6 QLNN Quản lý nhà nước
7 PTKT Phát triển kinh tế
8 UBND Ủy ban nhân dân
10 XDNTM Xây dựng nông thôn mới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.1 Nhóm tiêu chí của xây dựng nông thôn mới trong lĩnh
vực kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 25
2.1 Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Quế Sơn giai đoạn
2.2 Tỷ lệ VĐT/GTSX giai đoạn 2015-2019 32
2.3 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư năm 2019 33
2.4 Tình hình thực hiện tiêu chí về kinh tế của huyện Quế
2.5 Tổng quan về cơ cấu cán bộ theo độ tuổi 47
Trang 849
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM), giai đoạn 2010- 2020 là một trong những nhiệm vụ cấp bách được khẳng định trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Mục tiêu của chương trình QG về xây dựng nông thôn mới là để tổ chức thiết kế một cuộc sống cho cộng đồng xã hội ở nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh, bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái trong mối quan
hệ gắn kết hữu cơ với sự phát triển bền vững đô thị, thị tứ, thị trấn Đây là chương trình mang tính tổng hợp, sâu rộng, toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP)
Quế Sơn là một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, theo thống kê năm
2019, huyện Quế Sơn có diện tích 257,46 km², dân số là 80.821 người, trong đó dân số thành thị là 14.596 người chiếm 18% và dân số nông thôn là 66.225 người chiếm (82%) mật độ dân số đạt 330 người/km² Huyện Quế Sơn gồm có
13 đơn vị hành chính: Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú, Hương An, Quế Mỹ (sáp nhập từ xã Quế Cường và Phú Thọ năm 2020), Quế Thuận, Quế Hiệp, Quế Châu, Quế Minh, Quế An, Quế Long, Quế Phong và thị trấn Đông Phú Theo Chi Cục Thống kê huyện Quế Sơn, số hộ dân cư và cơ cấu dân cư như sau: Thành thị: 9,32%, Nông thôn: 90,68%
Huyện Quế Sơn bắt tay xây dựng NTM ở xuất phát điểm thấp; song với công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình xây dựng NTM đảm bảo chất lượng, phù hợp điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế -
xã hội địa phương, huyện Quế Sơn đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng Xác định, để xây dựng NTM thành công phải lấy phát triển sản xuất làm khâu đột phá Do đó, huyện đã tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp
Trang 10nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân
Trải qua thời gian 5 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn (2016-2020), huyện Quế Sơn đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận Hiện nay, Quế Sơn
đã có 5 xã đạt chuẩn danh hiệu nông thôn mới Tổng số xã nông thôn mới của huyện Quế Sơn đạt 193 tiêu chí, bình quân mỗi xã của huyện đạt chuẩn 14,84 tiêu chí; nếu so với năm 2015 thì tăng 2,74 tiêu chí/xã Hiện nay, cả huyện không còn xã nào dưới chuẩn 10 tiêu chí; đồng thời có 3 thôn đạt chuẩn danh hiệu “Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu" Tổng nguồn vốn được huy động trong 3 năm qua để đầu tư vào nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới của huyện Quế Sơn đạt >358 tỷ đồng Theo đó, kết cấu hạ tầng của huyện đã được chú trọng đầu tư xây dựng; đời sống nhân dân địa phương từng bước được cải thiện, nhất là thu nhập tăng lên Cụ thể: Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 là 31 triệu đồng/năm; so với 3 năm trước đó tăng gần 4 triệu đồng Tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 6,36%; so với năm 2015 đã giảm hơn 5,7%
Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2019-2020, UBND huyện đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm, đó là tiếp tục vận động nhân dân tích cực tham gia; huy động các nguồn vốn, tập trung nguồn lực hoàn thiện hạ tầng kinh tế các vùng nông thôn theo chuẩn NTM ở các xã; tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm”; gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, thương mai, du lịch Phấn đấu đến năm 2020, có 8 xã đạt chuẩn NTM; có trên 2 xã được công nhận đạt chuẩn “xã NTM nâng cao”; thu nhập bình quần đầu người tăng ít nhất
2 lần so với năm 2015, xây dựng đạt chuẩn trên 4 “Khu dân cư NTM kiểu mẫu" Trong thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục phát huy nguồn lực, vận động cộng đồng chung tay xây dựng nông thôn mới, nâng cao số xã đạt chuẩn NTM và số KDC đạt chuẩn KDCNTMKM Tập trung thực hiện Đề án mỗi xã một sản phẩm, xây dựng làng quê, xanh, sạch, đẹp
Trang 11Xuất phát từ những phân tích nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến
pháp và Luật Hành chính
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phạm Kim Giao (năm 2008), Chuyên đề bài viết “Quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn”, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành
Chuyên đề này phân tích khá rõ về hai nội dung chính, cụ thể đó là: (1) Quan điểm và mục tiêu, một số định hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn; (2) Những nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn Đồng thời bài viết này làm rõ các thành tựu và hạn chế/ bất cập trong quá trình quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn Từ cơ sở này, tác giả đưa
ra các giải pháp trong thời gian đến để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy mạnh sự chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; đổi mới để phát huy vai trò hoạt động của những thành phần kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ; tăng cường quản lý lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn gắn kết với quản lý quy hoạch dân cư, quản lý về xã hội, an ninh trật tự an toàn nông thôn
Cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới – Các vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Văn Phúc, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật ấn hành
năm 2012 tại Hà Nội Nội dung cuốn sách bàn đến những khía cạnh đa dạng của việc xây dựng NTM: vấn đề quy hoạch, an sinh xã hội, chính sách đất đai, bảo
Trang 12phương Từ quy chiếu này, tác giả đánh giá thực trạng quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Hòa Vang và đưa ra những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới hiện nay
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công năm 2015: “Quản lý nhà nước về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” của tác
giả Lê Thị Thu Thảo, tại Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Ở luận văn này, tác giả làm rõ các cơ sở lý luận, qua đó đi sâu nghiên cứu phân tích thực trạng quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Ninh giai đoạn 2010-2014 Qua đó tác giả đề xuất giải pháp gia tăng hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phú Ninh
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công năm 2017: “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả
Nguyễn Thị Ánh Hồng, tại Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Luận văn đã góp phần hệ thống hóa về cơ sở lý luận; nghiên cứu phân tích thực tiễn quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Nghĩa Hành, đồng thời làm rõ mặt đạt được và hạn chế, cùng nguyên nhân dẫn đến Từ căn cứ này, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới huyện Nghĩa Hành
Luận văn thạc sĩ năm 2016 chuyên ngành Hành chính công:“Quản lý nhà nước về xây dựng NTM tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội” của tác giả Hoàng Thị
Hồng Lê Luận văn này đã đánh giá khá rõ về thực trạng (kết quả và các hạn chế) quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Đức; đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Luận văn thạc sĩ năm 2015 chuyên ngành Hành chính công: “Quản lý nhà nước về XD NTM trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh” của tác giả
Trang 13Nguyễn Thị Quy Luận văn này đã đánh giá khá rõ về thực trạng (kết quả và các hạn chế) quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới huyện Hương Khê; đồng thời đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Đề tài năm 2009“Thực trạng xây dựng NTM và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước” của tác giả Hoàng Sỹ Kim, Học viện hành chính Quốc
gia Hà Nội Công trình nghiên cứu này tập trung phân tích các khía cạnh của thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đến năm 2009, qua đó đề xuất gợi ý nhiều nhóm giải pháp để tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới nước ta
Nhìn chung, nhiều công trình tài liệu nghiên cứu đã được đề cập trên về
cơ bản là có làm rõ nhiều vấn đề thực trạng chung trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới … Đây là cơ sở giúp tác giả tham khảo hữu ích trong quá trình nghiên cứu Dù vậy, việc nghiên cứu về nội dung này ở một lĩnh vực cụ thể là lĩnh vực kinh tế tại huyện Quế Sơn thì đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào trùng lặp
Do đó, việc đăng ký đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam”vừa mang tính lý luận và thực tiễn để góp phần thực hiện có chất lượng,
hiệu quả trong quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế cho thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm đề xuất đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện QLNN về xây dựng NTM trong lĩnh vực này ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá về nội dung chủ yếu của một số cơ sở lý luận quản lý nhà
Trang 14nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
- Đánh giá và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế tại huyện Quế Sơn, làm rõ các kết quả và mặt hạn chế/ bất cập, cùng với nguyên nhân dẫn đến bất cập/ hạn chế
- Đưa ra các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế đối với huyện Quế Sơn trong thời gian
đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung về xây dựng
nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng xây dựng nông thôn mới
trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ năm 2015 đến 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-xit và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ trương xây dựng nông thôn mới, luận văn lấy đó làm phương pháp luận để nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đó là: các phương pháp của luật học, phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải và quy nạp, thống kê, so sánh…
- Phương pháp của luật học: được áp dụng từ các nội dung của những
Trang 15văn bản quy phạp pháp luật có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập các thông tin chính thức đã được các cơ quan nhà nước công bố; thu thập và xử lý những thông tin
từ kết quả của các công trình nghiên cứu, của chuyên gia về xây dựng nông thôn mới Đồng thời, sử dụng các kết quả thông tin từ nhiều sách và các trang websites
Ngoài ra, việc thu thập và xử lý thông tin còn dựa trên việc quan sát thực tế, khảo sát điều tra ở các xã của huyện Quế Sơn; xử lý bằng các bảng biểu với các tiêu chí cụ thể về nông thôn mới
- Phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng số liệu chính thức của Chi cục thống kê huyện; tài liệu và số liệu của Ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện Quế Sơn; thống kê các số liệu, tài liệu của các xã và các cơ quan đơn vị trên địa bàn Quế Sơn Từ đó đối chiếu so sánh, phân tích nhằm có cơ sở đánh giá khách quan thực trạng nông thôn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh các mục mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
Trang 16nghiên cứu đề tài này được bố cục với 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước đối với xây dựng
nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Phướng hướng và giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng
nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về kinh tế
Kinh tế (economic) theo nghĩa kinh tế học, đó là tiết kiệm, là sự lựa chọn trong việc sử dụng vốn, tài nguyên để đạt lợi ích nhất
Kinh tế dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn
Tuy nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất, kinh tế được hiểu đó là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế
độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội (Lê Thị Thu Thảo, 2015)
Theo Mác và Ăng-ghen, sản xuất vật chất là cơ sở cho sự phát triển của
xã hội loài người Việc chuyển từ nấc thang phát triển xã hội này sang nấc thang phát triển xã hội khác, trước hết gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất; Theo Chủ nghĩa Mác: phương thức sản xuất vật chất quy định những quá trình sinh hoạt chính trị, xã hội nói chung Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trình sản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ích của mỗi tập đoàn, giai cấp, nhóm xã hội
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tích lũy và tăng tiến của nền
Trang 18kinh tế Khái niệm phát triển kinh tế có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế là bao hàm tăng trưởng kinh tế; sự hoàn chỉnh thể chế, cơ cấu kinh tế; và thu nhập của đời sống Nếu như “tăng trưởng kinh tế” dùng để chỉ sự gia tăng về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (GDP, GDP/đầu người hoặc GNP, GNP/đầu người…); thì “phát triển kinh tế” vừa bao hàm quá trình gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế, vừa bao
hàm sự biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà điển hình là sự chuyển dịch CCKT theo hướng CNH,HĐH và nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội…
1.1.1.2 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là một cuộc vận động chuyển biến cách mạng của cộng đồng cư dân ở khu vực nông thôn để họ đồng tâm hiệp lực vừa xây dựng phát triển toàn diện về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; vừa đảm bảo cải thiện thu nhập và đời sống nông dân, tạo lập được nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững ổn định an ninh nông thôn; vừa xây dựng gia đình, thôn, xã văn minh, sạch đẹp (Lê Thị Thu Thảo, 2015)
Nước ta trong giai đoạn hiện nay, chương trình nhiệm vụ xây dựng NTM được xem là một cuộc vận động chuyển biến lớn, thể hiện sự nhất quán quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước để tạo dựng một nông thôn hiện đại, văn minh, phát triển toàn diện và không ngừng cải thiện nâng cao đời sống người nông dân Việt Nam Xây dựng NTM là chương trình có hệ mục tiêu, quan điểm, nội dung cơ bản và các nhiệm vụ giải pháp cùng với phương thức thực hiện một cách cụ thể (Vũ Văn Phúc, 2012)
Như vậy: Xây dựng NTM được hiểu là quá trình xây dựng nông thôn đạt mười chín tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí QG về NTM, nhằm tạo dựng một nông thôn văn minh, hiện đại và phát triển toàn diện, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống người nông dân
Trang 191.1.1.3 Quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Quản lý nhà nước về khu vực nông thôn được hiểu đó là sự tác động hướng đích và tổ chức điều hành bằng công cụ quyền lực Nhà nước thông qua
hệ thống chính sách, pháp luật và bộ máy quản lý cùng nhân sự của mình để tác động lên các quá trình kinh KT-XH ở khu vực nông thôn nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển KT-XH đã đề ra” (Học viện Hành chính Quốc gia, 2008)
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước, bao gồm sự tập hợp mọi hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước để tác động vào nông nghiệp - nông dân - nông thôn nhằm thực hiện các nội dung và mục tiêu phấn đấu trong xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển nền kinh tế bền vững, bảo đảm cuộc sống người dân ở khu vực nông thôn nước ta ngày một tốt đẹp hơn và tạo lập môi trường ổn định cho sự phát triển đất nước (Lê Thị Thu Thảo, 2015)
Mặt khác, theo tiêu chí số 10, 11, 12 và 13 về kinh tế trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (được ban hành theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016), xã được công nhận đạt tiêu chí về kinh tế phải đáp ứng các điều kiện: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 ≥ 45 triệu đồng/người; Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 ≤ 6%; Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động ≥ 90%; Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 hoặc Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững (Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
Như vậy, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế là khái niệm dùng để chỉ sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước
có chức năng thông qua các công cụ pháp lý và cơ chế chính sách, tổ chức bộ
Trang 20máy cùng đội ngũ nhân sự của mình vào khu vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn để hiện thực hóa các nội dung, mục tiêu xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển kinh tế nông thôn, mang lại đời sống ấm no hạnh phúc cho người nông dân, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
- Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế vốn
là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn Chính quyền nhà nước các cấp với chức năng quản lý điều hành của mình là điều tiết và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, góp phần vào việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội
- Xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chương trình hành động
được thí điểm trong lĩnh vực kinh tế, vừa làm mô hình vừa đúc rút các kinh nghiệm Vì vậy, trên cơ sở của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì yêu cầu khách quan đối với công tác quản lý nhà nước của chính quyền các cấp về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế cần linh hoạt để đáp ứng sự phù hợp với đặc điểm của địa bàn khu vực, lĩnh vực
- Những chủ thể của công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế có sự đa dạng, nên yêu cầu cao và đồng bộ trong hoạt động phối hợp để thực hiện đạt kết quả Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này dựa trên cơ sở Nhà nước phân giao cho UBND các cấp tổ chức thực hiện Ở cấp huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối để tổ chức thực hiện, còn các phòng ban chuyên môn (theo phạm vi
Trang 21lĩnh vực có liên quan của mình) là thành viên phối hợp thực hiện Với lĩnh vực kinh tế, chính quyền các cấp (cấp Trung ương đến cấp huyện) giao cho ngành Công Thương cùng cấp; và Phòng Kinh tế huyện thực thi chức năng quản lý nhà nước về xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế Ở tuyến huyện, Phòng Kinh tế cùng phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Ban chỉ đạo cấp huyện thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tổ chức thực hiện những nội dung về tiêu chí kinh tế (Ngô Thị Vân Anh, 2015)
1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
- Thực thi chức năng quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế
- Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn Ở vị trí vai trò của lĩnh vực kinh tế,
nó tác động mạnh đến các phương diện của đời sống xã hội, một mặt là để đưa đất nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế; một mặt khác, nó giúp thu hẹp khoảng cách trong phát triển kinh tế giữa nông thôn - thành thị Vì vậy trong quá trình quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế, bên cạnh phải có sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước thì quá trình hoạt động này cũng đòi hỏi một cách khách quan cần
có sự chung tay tham gia tích cực của nông dân với tư cách là chủ thể trung tâm
Xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chương trình hành động được thí điểm trong lĩnh vực kinh tế, vừa làm mô hình vừa đúc rút các kinh nghiệm Nên vai trò nhiệm vụ quản lý nhà nước đặc biệt quan trọng để bảo đảm thiết lập đồng bộ hạ tầng kinh tế nông thôn trong mối quan hệ gắn kết với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Ngô Thị Vân Anh,
Trang 222015)
- Căn cứ thực tiễn tình hình quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế, nhất là các hạn chế/ bất cập đặt ra hiện nay trong xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Trong điều kiện Đảng ta lãnh đạo đất nước ở thời kỳ đổi mới, với sự nhận thức rõ đặc điểm của nền sản xuất tập trung chủ yếu ở khu vực nông nghiệp – nông dân – nông thôn để đi lên CNXH, nên chủ trương của Đảng để định hướng các chính sách quốc gia được xuất phát điểm từ khu vực này Có nhiều Nghị quyết của Đảng ta đã định hướng cho sự phát triển nông nghiệp – nông dân – nông thôn phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển Song dù vậy, công tác xây dựng nông thôn mới là công tác chiến lược đặt dưới sự điều hành quản
lý của nhà nước cần có thời gian đủ dài để thực hiện; và cần huy động sự tham gia tích cực của nhiều chủ thể, nhất là người nông dân
Bên cạnh các thành tựu đã đạt được trong thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, thì vẫn có nhiều vấn đề bất cập đặt ra: Việc xây dựng nông thôn mới còn mang tính thành tích phong trào bề nổi (phát triển còn thiếu bền vững),
mà chưa đặt người dân vào vị trí chủ thể trung tâm của chương trình Các địa phương mới chỉ tập trung vào đầu tư xây dựng hạ tầng (áp lực vốn vay đầu tư hạ tầng, nợ công nước ngoài vượt khả năng thanh toán), mà chưa chú trọng đầu tư chiều sâu phát triển để chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế - xã hội, đất sản xuất
bị thu hẹp và thách thức do ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng… Hiện trạng này đặt ra yêu cầu tất yếu khách quan cần tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
1.2.1 Xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Việc hoạch định đồng bộ hệ thống môi trường thể chế pháp lý là nhiệm
Trang 23vụ tiên quyết để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Đây là căn cứ pháp lý để công tác quản lý nhà nước tiến hành hoạt động tuyên truyền giáo dục nhận thức cho các chủ thể trong quá trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời tổ chức thực hiện mọi hoạt động phát triển kinh tế; cũng như tạo môi trường, cơ chế và các điều kiện hỗ trợ và đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nông thôn mới (mà các ưu đãi để thu hút doanh nghiệp về đầu tư khu vực nông nghiệp – nông thôn; tăng cường cơ chế xã hội hóa để huy động các nguồn lực và quản lý tốt các nguồn vốn xây dựng NTM là một ví dụ)
Nhà nước phê duyệt và thực thi những chính sách về khoa học - công nghệ, chuyển giao công nghệ - kỹ thuật cho nông dân, điều hành quá trình thực thi chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn, giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn, cải thiện thu nhập đời sống họ, góp phần vào sự phát triển bền vững nông thôn Nhà nước áp dụng chính sách nông nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch tích cực về cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với lợi thế so sánh và tình hình đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của địa phương Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả đối với các nguồn lực (nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn của nhân dân đóng góp, vốn vay nước ngoài …) để thực hiện xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
1.2.2 Tổ chức bộ máy và các hoạt động quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
1.2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trong lĩnh vực kinh tế
Việc không ngừng kiện toàn chất lượng của bộ máy tổ chức hoạt động quản lý nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng để nhà nước tổ chức quản lý hoạt động xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế một cách khoa học, đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất Pháp luật Nhà nước ta quy định khá cụ thể về nhiệm vụ, chức năng, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan chuyên môn ở
Trang 24từng cấp hành chính làm cơ sở để tổ chức phối hợp thực hiện trong xây dựng nông thôn mới Dưới sự định hướng lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước ta,
hệ thống những cơ quan đơn vị được kiến thiết từ cấp trung ương đến các cấp địa phương để tổ chức vận hành việc triển khai tất cả những nội dung thuộc phạm vi quản lý Từ cơ sở này, tại các địa phương đều thiết lập Ban chỉ đạo về xây dựng nông thôn mới; thiết lập Ban quản lý, Văn phòng điều phối và Ban Giám sát nhằm chỉ đạo công tác tuyên truyền, hướng dẫn và quản lý quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1013/QĐ-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2010 về thành lập Ban Chỉ đạo TW Chương trình Mục tiêu QG về
XD nông thôn mới đối với giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 Từ căn cứ này, Ban Chỉ đạo Trung ương đã hoạch định kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu QG về XD nông thôn mới cho giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020; trong
đó, có nêu rõ nhiệm vụ thành lập Ban Chỉ đạo với tư cách của cơ quan tham mưu giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về
XD nông thôn mới ở các cấp, cụ thể như sau:
Đối với cấp TW: Căn cứ Quyết định 1013/QĐ-TTg, Ban Chỉ đạo Trung
ương Chương trình Mục tiêu QG về XD nông thôn mới đối với giai đoạn từ năm
2010 đến năm 2020 được cơ cấu số lượng với 24 thành viên; Thành lập Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương (gồm có: Trưởng ban, một phó Trưởng ban và ba ủy viên là lãnh đạo ở các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Xây dựng); thông qua Quy chế hoạt động và phân công cụ thể trách nhiệm của các thành viên trong Ban Chỉ đạo Trung ương; Thành lập Văn phòng điều phối đối với Chương trình Mục tiêu QG về XD nông thôn mới (thuộc Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn) để giúp việc cho Ban Chỉ đạo Trung ương
Đối với Ban chỉ đạo cấp tỉnh: do đồng chí Chủ tịch UBND cấp tỉnh kiêm
nhiệm Trưởng ban; Phó Ban thường trực là do một Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh kiêm nhiệm; và 01 Phó ban là đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát
Trang 25triển nông thôn kiêm nhiệm; các thành viên Ban chỉ đạo có thành phần được thiết kế cơ cấu tương tự như Ban Chỉ đạo Trung ương Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo cấp tỉnh gồm có Trưởng ban, các phó trưởng ban và ba ủy viên là đại diện lãnh đạo của các Sở ngành: Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng; Thiết lập Văn phòng điều phối đối với Mục tiêu QG về XD nông thôn mới (trong Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) để giúp việc cho Ban
chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện Chương trình đối với địa bàn tỉnh phụ trách
Đối với Ban chỉ đạo cấp huyện: do đồng chí Chủ tịch UBND cấp huyện
kiêm nhiệm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND kiêm nhiệm Phó Trưởng ban Các thành viên của Ban chỉ đạo cấp huyện được cơ cấu từ đồng chí lãnh đạo của phòng, ban cấp huyện có liên quan; Phòng Kinh tế (hoặc Phòng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn) là cơ quan thường trực điều phối để giúp việc cho Ban chỉ
đạo cấp huyện chỉ đạo thực hiện Chương trình này trên địa bàn phụ trách
Đối với Ban quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã: do đồng chí Chủ
tịch UBND cấp xã kiêm nhiệm Trưởng ban; đồng chí Phó Chủ tịch UBND cấp
xã là Phó Trưởng ban Các thành viên của Ban quản lý này là đại diện của các
cơ quan chuyên môn và đại diện của các đoàn thể nhân dân cấp xã
1.2.2.2 Các hoạt động xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế (1) Công tác tuyên truyền giáo dục về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh
tế
Việc đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao sự nhận thức sâu sắc của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên và cộng đồng người dân trên địa bàn tỉnh về chủ trương của Đảng chính sach pháp luật của Nhà nước ta nói chung và của cấp tỉnh nói riêng về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Những tiêu chí và các cách thức tổ chức xây dựng NTM được xem là những nội dung trọng tâm trong nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục về lĩnh vực này Trước khi lựa chọn các hình thức đa dạng và phong phú để triển khai các nội dung tuyên truyền giáo dục, thì vừa triển khai công
Trang 26việc hướng dẫn tuyên truyền theo định kỳ hàng tháng hoặc quý về các nội dung của nhiệm vụ XD nông thôn mới; vừa tiến hành tổ chức hội nghị báo cáo viên cấp tỉnh là cấp thiết nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin căn bản của quan điểm chỉ đạo trong triển khai nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới đối với địa bàn phụ trách
(2) Đối với việc quản lý việc thực hiện các tiêu chí kinh tế trong quá trình XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Để quản lý tốt việc thực hiện các tiêu chí XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, đòi hỏi các chủ thể phải căn cứ các tiêu chí về kinh tế đã được quy định để có cơ sở đánh giá thực tiễn việc triển khai các hoạt động trong XD nông thôn mới; qua đó phân tích đúng thực trạng tình hình để đo lường về chất lượng cũng như hiệu quả công việc trên thực tế, đây là căn cứ đánh giá, nhận định chính xác thực chất về mức độ hoàn thành nhiệm vụ so với chuẩn mực hay các mục tiêu cụ thể ở lĩnh vực kinh tế đã được xác định, nhất là ở 04 tiêu chí từ tiêu chí thứ
10 đến tiêu chí thứ 13 (Việc thu thập và xử lý thông tin để định lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ nhằm đảm bảo các công việc ra quyết định lập kế hoạch và xây dựng chương trình hành động có tính khả thi) Đồng thời, qua việc đánh giá này còn để rút ra các bài học kinh nghiệm hữu ích
Trong lĩnh vực kinh tế trong xây dựng NTM, thì một xã, thị trấn đạt tiêu chí nông thôn mới về kinh tế giai đoạn 2016-2020 là đáp ứng các điều kiện: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 ≥ 45 triệu đồng/người; Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 ≤ 6%; Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động ≥ 90%; Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm
Trang 27định số 1980 ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ), tiêu chí số
10 về thu nhập được xem là một trong những tiêu chí đặc biệt quan trọng trong hành trình XDNTM, bởi mục tiêu hàng đầu của Chương trình XDNTM là nâng cao đời sống, cải thiện thu nhập và giảm nghèo cho người dân Ngoài ra, tiêu chí này có ảnh hưởng và tác động qua lại đối với việc thực hiện các tiêu chí khác trong nhóm: lao động có việc làm và tổ chức sản xuất Để tăng thu nhập cho người dân cần gắn chặt với việc hỗ trợ, khuyến khích người dân tăng gia sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi như trồng màu, nuôi trồng thủy sản; chuyển dần từ sản xuất tự phát sang liên kết sản xuất có kế hoạch; tổ chức sản
xuất hàng hóa chất lượng cao gắn với nhu cầu thị trường
Về điều kiện đạt đối với tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ≤ 6%:
Trong Bộ Tiêu chí về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, tiêu chí số
11 về hộ nghèo được xem là một trong những tiêu chí đặc biệt quan trọng trong hành trình XDNTM, bởi mục tiêu hàng đầu của Chương trình XDNTM là nâng cao đời sống, cải thiện thu nhập và giảm nghèo cho người dân Ngoài ra, tiêu chí này có ảnh hưởng và tác động qua lại đối với việc thực hiện các tiêu chí khác trong nhóm: lao động có việc làm và tổ chức sản xuất Cần điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều, phân tích nguyên nhân nghèo để phân loại đối tượng và có hướng hỗ trợ phù hợp Để giảm nghèo bền vững, huyện cần phải chỉ đạo Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp cùng các đoàn thể tổ chức các lớp đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo; kết hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ nghèo vay vốn sản xuất, mua bán nhỏ, giải quyết việc làm để vươn lên thoát nghèo (Quyết định số 1980/QĐ-TTg)
Quản lý quá trình thực thi hệ tiêu chí XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, thể hiện ở: (1) Việc đánh giá nội dung quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế đã được tiến hành; (2) Việc đánh giá sự tác động của quản lý nhà nước về lĩnh vực ấy Đối với nhóm các công việc mà nhà nước tổ
Trang 28chức thực hiện việc XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, bên cạnh phải tập trung đánh giá thực trạng tình hình ban hành và thực thi chính sách, pháp luật đối với công tác nêu trên; mà còn dựa vào hệ thống các tổ chức bộ máy cùng đội ngũ nhân sự cán bộ và tình hình công tác giám sát/ kiểm tra mà có các đánh giá thấu đáo về mặt thành quả đạt được và mặt hạn chế/ bất cập của nhà nước, xác định cụ thể về nguyên nhân thuộc về trách nhiệm chủ thể nào Những nội dung đánh giá đó thường dựa một cách chủ yếu vào các chính sách hiện hành, cùng với các biện pháp đã thực thi và các kết quả mang lại cũng như một số hệ quả đặt ra Đây là cơ sở để xem xét những công việc quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
(3) Đối với việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đối với
XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Trong công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, đội ngũ nhân sự cán bộ, công chức là nhân tố đóng vai trò quan trọng mang tính quyết định trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác điều hành quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Đội ngũ cán bộ công chức, họ bao gồm những người đại diện cho nhà nước ở cáp cấp để giải quyết các công việc chung liên quan đến đời sống và lợi ích chính đáng của người dân
Vì thế, yêu cầu đội ngũ nhân sự cán bộ, công chức phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn cao, về văn hóa chính trị và văn hóa ứng xử công vụ, có năng lực
và kỹ năng cần thiết trong hoạt động công vụ để đáp ứng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Bản thân đối với người cán bộ, công chức, họ phải phụng sự nhân dân từ nhận thức đến cử chỉ, hành động phải thống nhất Mọi kết quả thực tế về nhiệm vụ cụ thể được giao trong công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là căn cứ thiết thực để đánh giá chính xác về họ
Đội ngũ công chức quản lý nhà nước và cán bộ công chức chuyên môn nghiệp vụ là những người điều hành trực tiếp quá trình hoạt động XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Nên đòi hỏi yêu cầu họ phải trang bị và cập nhật những
Trang 29kiến thức đầy đủ về hoạt động XD nông thôn mới; và đề cao sự nhận thức sâu sắc về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là không dừng lại chỉ biết các tiêu chuẩn chung, các kiến thức chuyên môn, mà họ cần phải có những trải nghiệm thực tế và kinh nghiệm quản lý quá trình XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Đối với cấp xã, đội ngũ chuyên trách cấp này là một trong năm nội dung chính của Chương trình mục tiêu QG xây dựng nông thôn mới ở giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020; và tầm nhìn tới năm 2030 Đội ngũ cán bộ cấp xã là lực lượng quan trọng đóng góp nên thành công XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Nên họ cần được bồi dưỡng và đào tạo lại để gia tăng chất lượng nhân lực cho khu vực nông thôn (Quyết định 800/QĐ-TTg)
Như vậy, muốn gia tăng chất lượng, hiệu quả của đội ngũ cán bộ công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế cần tập trung thực hiện những nội dung cơ bản dưới đây:
Kiện toàn việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế để họ có đủ trình độ, đạt chuẩn năng lực và kỹ năng trong quản lý điều hành; đảm bảo việc thực hiện chính sách tiền lương – thu nhập, chế độ đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật Đồng thời, cần có chính sách thu hút các nhân tài để bổ sung vào đội ngũ công tác quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế
Có chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân lực công tác QLNN về XD NTM Tổ chức các lớp, các đợt tập huấn - bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ tại địa phương về các nội dung về quản lý nhà nước XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Việc tăng cường chất lượng của công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực công tác quản lý nhà nước về xây dựng NTM cần phải được chú trọng để tạo bước chuyển biến tích cực để phát triển trình độ
và năng lực của đội ngũ này
(4) Thực hiện việc huy động nhiều nguồn lực xã hội để tham gia vào xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế
Trang 30Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 - 6 - 2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia XD nông thôn mới ở giai đoạn từ năm 2010 tới năm
2020, đã quy định về các nguồn lực được huy động nhằm thực hiện Chương trình này gồm có: Hỗ trợ từ nguồn tài chính ngân sách, vốn vay tín dụng, vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, vốn đóng góp của dân (đóng góp về đất đai, ngày công lao động và một số tài trợ từ các cá nhân, tổ chức ), cụ thể là:
Hỗ trợ từ nguồn tài chính ngân sách: được thực hiện bằng nguồn ngân
sách chủ yếu để hàng năm phân bổ thông qua các cách thức để tạo nguồn này, như: Tổ chức việc đấu giá quyền sử dụng đất; hoặc Nhà nước hoán đổi đất… theo đúng thủ tục quy định hiện hành để tạo nguồn vốn phục vụ công tác xây dựng NTM Đồng thời, sự huy động nguồn tài chính ngân sách nhà nước còn được thực hiện bằng việc quản lý khai thác sử dụng công năng các cơ sở hiện có của Nhà nước, các đoàn thể nhân dân… để tạo nguồn phục vụ XD nông thôn mới Mặt khác, việc tạo nguồn vốn ngân sách nhà nước thông qua chính sách khuyến khích cộng đồng và người dân mạnh dạn đầu tư vào phát triển sản xuất…; khuyến khích ưu tiên cộng đồng và người dân lựa chọn trong danh mục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở địa phương các xã nhằm đẩy mạnh hoạt động giao thương kết nối phát triển sản xuất…
Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp: Trong công tác quản
lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, việc thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp vào khu vực nông nghiệp, nông thôn đang gặp khó khăn, gây ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Nhận thấy thực trạng này, Nhà nước ta trong thời gian qua đã ra nhiều chính sách, cơ chế để khuyến khích các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp vào đầu
tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn Tiêu biểu có Nghị định
210/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào khu vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Bằng sự hỗ trợ và
Trang 31ưu đãi của Nhà nước cho doanh nghiệp thông qua chính sách về đất đai như: hỗ trợ việc thuê mặt nước, thuê đất của cá nhân, hộ gia đình; miễn giảm tiền thuê mặt nước và thuê đất, miễn giảm tiền sử dụng đất; miễn giảm tiền sử dụng đất trong quá trình chuyển nhượng mục đích quyền sử dụng đất… để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nguồn lực mà cộng đồng người dân đang hiện có: Bên cạnh việc vận
động cộng đồng và người dân trong việc xây dựng nhà tình nghĩa - tình thương; hay hiến đất, góp công trong xây dựng hạ tầng giao thông…, thì việc vận động huy động nguồn lực mà cộng đồng người dân đang hiện có thông qua nhiều hình thức, như: nhà nước tiến hành hoán đổi đất đai với người dân; khuyến khích vận động nhân dân đầu tư (khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm để khuyến khích cho con em học nghề…) nhằm phát triển sản xuất – kinh doanh; phát huy người dân hiến kế, sáng kiến… trong XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
1.2.3 Hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với tất cả hoạt động XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế bao gồm: (1) Chính quyền theo dõi, đánh giá thực trạng về các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế ở mức độ/ không đạt; (2) Đánh giá việc đảm bảo tuân thủ pháp luật hiện hành trong tổ chức thực hiện XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Việc giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với tất cả hoạt động xây dựng NTM được tiến hành các nội dung, đó là:
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và kế hoạch của chính quyền nhà nước về xây dựng NTM;
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc sử dụng nguồn lực nhà nước và những nguồn lực ngoài nhà nước;
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc xây dựng hạ tầng kết cấu kỹ thuật; giám sát, kiểm tra việc quản lý quy hoạch và giám sát về quy trình tổ chức sản
Trang 32xuất…;
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động của những cơ quan nhà nước có chức năng trong việc tuân thủ luật pháp trong quá trình QLNN về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Gắn kết liền với các hoạt động giám sát - kiểm tra, đó là định kỳ phải tiến hành sơ - tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm vừa khắc phục các hạn chế/ bất cập; vừa nhân rộng các mô hình cách làm hay, những điển hình tiên tiến
và các kinh nghiệm thành công trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế; thực hiện khen thưởng biểu dương đối với các cá nhân điển hình, tập thể tiêu biểu… nhằm phát huy động lực cho các phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
1.3 Nội dung tiêu chí của xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Nội dung tiêu chí của XD NTM trong lĩnh vực kinh tế được phản ánh cụ
thể qua nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất”, với 04 tiêu chí: từ tiêu chí
thứ 10 đến tiêu chí thứ 13 (theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10
năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 – 2020) Xem Bảng 1.1 như sau:
Trang 33Bảng 1.1: Nhóm tiêu chí của xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
Chỉ tiêu theo vùng Trung
du miền núi phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
Bộ
Duyên hải Nam Trung
Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam
Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
10 nhập Thu
Thu nhập bình quân đầu
người khu vực nông
thôn đến năm 2020
trên dân số trong độ tuổi
lao động có khả năng
tham gia lao động
kết sản xuất gắn với tiêu
thụ nông sản chủ lực
đảm bảo bền vững
Trang 34hóa, nâng cao chất lượng hàng nông sản, tăng cường sự liên kết giữa người dân
và doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm gắn kết với thị trường, hướng đến sản phẩm xuất khẩu Qua đó tạo cơ hội việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần cải thiện nâng cao thu nhập người dân ở nông thôn
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế
1.4.1 Nhận thức của của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Nhận thức về vai trò quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế: đối với các cấp uỷ Đảng, chính quyền nhà nước và cả hệ thống chính trị các cấp cần nhận thức sâu sắc công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới Rằng là, chương trình Mục tiêu QG về XD nông thôn mới là một chính sách lớn mang tầm chiến lược quan trọng, thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta dành cho khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Để XD nông thôn mới thành công, phải xuất phát lấy dân làm gốc Nhiệm vụ trước tiên
là phải đẩy mạnh chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến để mọi chủ thể, nhất là người nông dân phải nhận thức rõ: việc đầu tư vào XD nông thôn mới là từng bước nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; đảm bảo cơ cấu kinh tế tích cực cùng các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn kết đồng bộ giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp hiện đại; bảo vệ bảo đảm môi trường sinh thái; và cải thiện và nâng cao đời sống của người dân ở nông thôn; Đối với sự thành công trong XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là đóng góp vào giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách trong phát triển giữa thành thị - nông thôn Trong đó, vị thế người dân phải là chủ thể cốt lõi trung tâm; họ chính là nguồn lực nội sinh nhằm thực hiện XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế; theo đó, vấn đề đặt ra là phải huy động tối ưu sức mạnh nội sinh này thì mới thực hiện thành công Chương trình
mục tiêu quốc gia này
Trang 35Yêu cầu đòi hỏi là phải: phát huy khối đoàn kết và tạo đồng thuận xã hội; đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng để phát huy hiệu quả tổng hợp cả hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả công tác dân vận để cùng bắt tay chung sức XD nông thôn mới, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức sâu sắc về nội dung của nhiệm vụ XD nông thôn mới theo chủ trương của Đảngvà chính sách của Nhà nước ta Đúng vậy, phong trào XD nông thôn mới trong thời gian qua ở các địa phương đã cuốn hút được sự tích cực tham gia của các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền Xác định
rõ chủ thể của công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
là chính quyền các cấp có chức năng, vai trò quyết định trong việc chọn lựa áp dụng những hình thức triển khai phù hợp với thực tiễn ở từng địa phương Thực thi nhiều giải pháp khả thi phù hợp với đặc điểm đối tượng và áp sát tình hình thực tiễn địa phương, nên mang lại hiệu quả cao Công tác phân công, phân quyền và phân cấp trong bộ máy quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
đã có sự chú trọng hơn, từng bước gắn với việc làm rõ trách nhiệm cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này
1.4.2 Năng lực của bộ máy chính quyền các cấp
Chương trình mục tiêu QG về XD nông thôn mới là chương trình công tác tổng hợp mọi mặt của Đảng và Nhà nước ta đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân Muốn tổ chức thực thi tốt chương trình này thì chính quyền nhà nước phải đóng vai trò chỉ đạo trong công tác quản lý điều hành việc hoạch định
và tổ chức thực hiện chính sách, tạo lập môi trường pháp lý, thiết kế các đề án hỗ trợ kỹ thuật, vốn và các nguồn lực khác, tạo lập cơ chế mở ra các điều kiện
và cơ hội thuận lợi để kích thích động lực cho các chủ thể, nhất là người nông dân tự nguyện tham gia tích cực và chủ động thực hiện hệ tiêu chí trong XD nông thôn mới
XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là một nhiệm vụ rất quan trọng và cũng là mặt nhạy cảm, bởi nó liên quan tới các chính sách, các ngành và các hoạt
Trang 36động tác động (cả gián tiếp và trực tiếp) ảnh hưởng tới đời sống của người dân khu vực nông thôn Cả hệ thống chính trị các cấp có trách nhiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình XD nông thôn mới; mà ở đó chính quyền các cấp có vai trò nòng cốt và quyết định trong công tác chỉ đạo, quản lý điều hành mọi hoạt động liên quan đến chương trình này Vì vậy, phải tăng cường chú trọng đổi mới phương thức và gia tăng năng lực quản lý điều hành của khối ủy ban nhân dân các cấp; cùng với việc gắn liền nâng cao trình độ và các kỹ năng công vụ, cũng như nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ thi hành nhiệm vụ này
1.4.3 Sự tham gia chủ động, tích cực của người dân nông thôn
Nông dân là chủ thể trung tâm, là hạt nhân trong việc XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Bởi nông dân trực tiếp tham gia tổ chức sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế và thực hiện nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn; góp ý kiến đề xuất trong việc xây dựng quy hoạch
và tham gia thực hiện công tác quy hoạch XD nông thôn mới; chủ động tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; giữ gìn giá trị bản sắc văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa mới; chung tay bảo vệ môi trường sinh thái; duy trì ổn định trật tự an toàn xã hội; tham gia xây dựng hệ thống chính trị các cấp trong sạch vững mạnh Có thể nói, sự chủ động tham gia tích cực của nông dânvà cộng đồng dân cư trong XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là một trong các yếu tố cơ bản để thực hành cơ chế dân chủ ở cơ sở của khu vực nông thôn Đồng thời, với cơ chế thực hành dân chủ ở cơ sở đi vào thực chất sẽ huy động được sự đồng thuận xã hội, huy động sức mạnh cộng đồng người dân khu vực nông thôn tham gia tích cực vào toàn
bộ quá trình XD nông thôn mới
1.4.4 Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực
Ở nước ta, chương trình XD nông thôn mới là một chương trình tổng hợp về phát triển nông thôn trên phạm vi quốc gia với gần 10.000 xã được tiến hành ở giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 Đây là một chương trình mang tầm chiến lược lớn, với các chính sách hỗ trợ đa dạng (cả trực tiếp và gián tiếp), có
Trang 37sự lồng ghép các nguồn lực từ nhiều dự án, chương trình lớn để huy động tất cả mọi nguồn lực xã hội (không chỉ nguồn lực của nhà nước, mà bao gồm cả nguồn lực từ các doanh nghiệp, các cộng đồng và người dân cùng đóng góp) tham gia thực hiện chương trình XD nông thôn mới
Từ thực tiễn nhiều năm qua, nhiều chính sách về XD nông thôn mới không ngừng được chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện dần nhằm phù hợp với đặc điểm đối tượng và tình hình thực tế của địa phương Song trước yêu cầu thực tiễn phát triển mới đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thêm Từ các cơ sở của lý do được nêu trên, cần thiết phải tăng cường đánh giá tác động của chính sách về XD nông thôn mới thông qua việc đánh giá về chất lượng chính sách, đánh giá về tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực… Nhiệm vụ này là một trong những nội dung cốt lõi để đo lường chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế
Tiểu kết Chương 1
Trên cơ sở làm rõ khái niệm về NTM và xây dựng NTM, Chương 1 trình bày những nội dung cơ bản về cơ sở khoa học quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế; chủ thể của quản lý nhà nước về xây dựng NTM; Các nhân tố tác động ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế; sự cần thiết phải XD nông thôn mới… Nhất là các hoạt động quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, cụ thể đó là: công tác giáo dục tuyên truyền; quản lý việc thực hiện bộ tiêu chí XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế; các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn nhân lực tham gia vào trong quá trình XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế Với các cơ sở khoa học này đã được hệ thống hóa làm chỗ dựa để nghiên cứu Chương 2, nhất là phân tích đánh giá thực tiễn tình hình quản lý nhà nước về XD nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế tại huyện Quế Sơn
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quế Sơn ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh
b Địa hình
Địa hình vùng đồi núi huyện Quế Sơn chiếm >45% tổng diện tích đất tự nhiên, với những dãy núi cao nằm ở phía Tây Quế Sơn có vùng đồng bằng nhỏ hẹp nằm ở phía Đông của huyện với sự xen kẽ giữa những khu gò đồi
Nhìn chung, địa hình tự nhiên của huyện Quế Sơn được phân bố với xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, mùa mưa đến thường gây nên các hiện tượng xói mòn đất/ thoái hóa đất Vì vậy, bên cạnh có địa hình gò đồi và đồng bằng của huyện thường được bồi đắp phù sa, tạo thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp; thì vẫn có một số nơi trên địa bàn Quế Sơn hàng năm thường bị vùi lấp hoặc bị cuốn trôi vào mùa mưa lũ, gây nên nhiều thách thức/ khó khăn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống cư dân
c Chế độ khí hậu
Huyện Quế Sơn chịu tác động ảnh hưởng mạnh bởi khí hậu nhiệt đới ẩm
Trang 39gió mùa- với nền nhiệt cao Đặc điểm khí hậu này tạo thuận lợi cho hệ thực vật
dễ sinh trưởng phát triển, nên Quế Sơn thích hợp với khá nhiều loại cây trồng và vật nuôi Nhiệt độ trung bình của Quế Sơn là 250C; trung bình lượng mưa chiếm 2.620 mm/ năm; độ ẩm trung bình trong không khí là 85%
d Thủy văn
Huyện Quế Sơn gồm có hai con sông chính là sông Bà Rén; sông Ly Ly Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện có các con sông và suối nhỏ khác Hơn nữa, Quế Sơn có hệ thống các con kênh lớn, tiêu biểu đó là: kênh Hồ Việt An và Kênh Phú Ninh Trên địa bàn huyện còn có nhiều hồ nước có quy mô sức chứa
từ 0,3 triệu m3 đến 6,5 triệu m3 (với các Hồ Cây Thông, Suối Tiên, Hố Giang, Hố Giếng, An Long, đập Đá Chồng - Quế Xuân 2 và Đập Vũng Tôm…); các hồ nước này có chức năng chính là phục vụ đáp ứng kinh tế nông nghiệp và đời sống sinh hoạt cho nhân dân
Cơ cấu các ngành: Nông lâm thuỷ sản chiếm 19,12%; CN-TTCN và xây dựng chiếm 47,18%; TM-DV: 33,69%
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 35,46 triệu đồng/người, tăng 5,46 triệu đồng so với năm 2017
- Giá trị sản xuất giai đoạn 2015-2019 trên địa bàn huyện Quế Sơn tăng dần qua các năm, thể hiện:
Trang 40Bảng 2.1: Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Quế Sơn giai đoạn 2015-2019
Nguồn: Chi cục Thống kê – Phòng TC- KH huyện Quế Sơn
- Hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế: Tỷ lệ vốn đầu tư trên GTSX của
huyện Quế Sơn những năm đầu có xu hướng giảm dần qua các năm, năm 2015
là 0,157 đến năm 2019 tỷ lệ này là 0,107; bình quân giai đoạn (2015-2019) là 0,128
Nguồn: Chi cục Thống kê – Phòng TC- KH huyện Quế Sơn
- Cơ cấu vốn đầu tư: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư chưa hợp lý, vốn Nhà