Từ những vụ việc cụ thể nêu trên cho thấy: Công tác quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách đối với NCCVCM còn nhiều bất cập đặt ra, cụ thể như: 1 Một
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HỒNG TĂNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HỒNG TĂNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỖ HỮU PHƯƠNG
HÀ NỘI, năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu được sử dụng, kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chính xác, có xuất xứ rõ ràng và chưa từng được công bố
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Tăng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 8 1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về pháp luật và thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 15 1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 19 1.4 Các điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 28
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người
có công với cách mạng tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 28 2.2 Thực tiễn tình hình quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Quế Sơn 33 2.3 Đánh giá về quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 46
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 58
3.1 Giải pháp chủ yếu để tăng cường quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 58
3.2 Một số kiến nghị chủ yếu để tăng cường quản lý nhà nước về thực hiện pháp
luật về người có công với cách mạng 71
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
02 BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hung
07 KT-XH Kinh tế - xã hội
08 LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và xã hội
09 NCCVCM Người có công với cách mạng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2020 chia theo địa giới hành chính xã, thị trấn 29 Bảng 2.2: Thống kê đối tượng chính sách người có công với cách mạng đã được xác nhận từ năm 2015 đến năm 2018 47
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và phát triển bền vững của đất nước,
vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta đã hiến dâng tuổi thanh xuân, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cứu quốc, dũng cảm chiến đấu, đã anh dũng hy sinh hoặc mang thương tật suốt đời Các anh hùng liệt sĩ, thương binh đã làm rạng danh non sông, đem lại sự vẻ vang cho dân tộc
ta Tiếng thơm của những lớp NCCVCM, với đất nước sẽ mãi trường tồn và muôn đời lưu vào sử xanh Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào, đời đời nhớ ơn, vinh danh và luôn nguyện kế tục và thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng nhằm xứng đáng với những hy sinh, cống hiến to lớn của họ Đúng vậy, Hồ Chí Minh đã xác định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người
có công với Tổ quốc Bởi vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và
giúp đỡ họ” [17, tr.372] Nên nhiệm vụ của “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước” [26] đã trở
thành một nguyên tắc được ghi nhận trong Khoản 1, Điều 59 của Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Để tri ân và đền đáp công ơn to lớn của NCCVCM, Đảng và Nhà nước ta đã
có hệ thống pháp luật dành cho NCCVCM gắn liền với sự nghiệp cách mạng, để tạo lập nền tảng pháp lý nhằm tổ chức tốt việc thực thi pháp luật về lĩnh vực này, chăm
lo đời sống cho NCCVCM và thân nhân gia đình họ Pháp luật của nhà nước ở lĩnh vực này luôn gắn liền song hành với việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển KT-XH, liên quan đến đời sống NCCVCM để góp phần tạo lập sự ổn định và cải thiện đời sống cho NCCVCM
Huyện Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam là một huyện trung du miền núi, có bề dày truyền thống cách mạng Trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật về lĩnh vực ưu đãi NCCVCM, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Quế Sơn phát huy đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, cùng với nhân dân để thực hiện tốt phong trào “đền ơn đáp nghĩa” tích cực
Trang 8gỡ Tình trạng khai man, giả mạo/ gian lận hồ sơ thủ tục NCCVCM; tình trạng nhiều trường hợp không qua giám định thương tật nhưng vẫn được công nhận là thương binh… đã và đang còn xảy ra ở nhiều địa phương để trục lợi chính sách ưu đãi của nhà nước nhằm chiếm đoạt gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, gây nên
sự bức xúc trong xã hội Từ những vụ việc cụ thể nêu trên cho thấy: Công tác quản
lý nhà nước của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách đối với NCCVCM còn nhiều bất cập đặt ra, cụ thể như: (1) Một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện “Pháp lệnh ưu đãi người có công” chưa đầy đủ, thiếu thống nhất; (2) Quy định hướng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận NCCVCM chưa đồng bộ, chưa đủ rõ về mức độ cống hiến, đóng góp, thiếu hợp lý, gây khó khăn cho thủ tục xác nhận đối tượng, cũng như tạo kẽ hở cho phần tử xấu lợi dụng, dẫn đến tiêu cực đáng tiếc vẫn còn xảy ra; (3) Một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của pháp luật về NCCVCM và còn thiếu trách nhiệm trong triển khai thực hiện pháp luật về NCCVCM,…
Với một số lý do cấp thiết nêu trên, tác giả đăng ký đề tài: “Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng, từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật
hiến pháp và luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu tham khảo một số giá trị từ các công trình, tài liệu liên quan đến đề tai, tiêu biểu là một số công trình chủ yếu sau:
- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với bài viết “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của hệ thống chính trị
và toàn dân” được đăng tải trên trang Báo Nhân dân điện tử ngày 27-7-2017 Qua
Trang 9- Sách “Những điều cần biết về chính sách với người có công” được Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997 Tài liệu này đã trình bày rõ căn cứ pháp lý
để tổ chức thực thi chính sách NCCVCM ở Việt Nam Trong đó, tài liệu làm rõ cụ thể về các căn cứ pháp lý để người dân và chính những đối tượng NCCVCM được biết đầy đủ về quyền lợi của họ được thụ hưởng
- Tác giả Phạm Thị Hải Chuyền về bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước hiện nay và định hướng đến năm 2020” được đăng ở Tạp
chí Cộng sản số 837, năm 2015 Qua bài viết này, tác giả đề xuất nhiều nội dung giải pháp quan trọng để khắc phục vấn đề bất cập và đảm bảo về tính thống nhất, đồng
bộ trong thực thi chính sách NCCVCM nhằm qua đó tổ chức tốt chính sách ưu đãi NCCVCM đến năm 2020
- Tác giả Nguyễn Thị Hằng về bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng” được đăng tải trên Tạp chí Cộng sản số 7 năm 2005 Bài viết đã trình bày
khái quát rõ về các thành tựu đạt được trong thực hiện ưu đãi xã hội đối với NCCVCM từ năm 1995 – 2005; đồng thời từ những thành tựu này đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm và các giải pháp đề ra nhằm tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi xã hội một cách tốt hơn
- Tác giả Nguyễn Hữu Chí với bài viết “Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng - Bốn mươi năm nhìn lại” trong kỷ yếu Hội thảo khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia khu vực I (Hà Nội): với chủ đề “40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh” được tổ chức năm 2009 Bài viết này đã khẳng định cuộc đời và sự
nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch là người dành tình cảm đặc biệt cho NCCVCM, với đất nước; đồng thời Người khởi xướng nên phong trào đền ơn đáp nghĩa Bài
Trang 104
viết cũng khẳng định sau 40 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt sâu sắc bằng các chủ trương, chính sách nhất quán về chăm lo NCCVCM và gia đình họ
- Lê Thị Liên với bài viết “Suy nghĩ từ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sĩ trong Di chúc” trong sách “Giá trị nhân văn của Di chúc Hồ Chí Minh” được in năm 2009 tại Hà Nội của Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Hà Nội và Bảo tàng Hồ Chí Minh, do Nxb Thanh niên phát hành Bài viết này: một mặt đã phân tích khá rõ các quan điểm của Hồ Chủ tịch đối với những lớp người đã hy sinh cho nền độc lập tự do của đất nước; một mặt khác xác định rõ chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối với NCCVCM làm cơ sở để hoạch định và thực thi chính sách NCCVCM hiện nay
- Tác giả Nguyễn Danh Tiên với bài viết “Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và NCCVCM” đăng tải trên Tạp chí Cộng sản Online
ngày 27 tháng 7 năm 2015 Qua bài viết, tác giả đã trình bày khá rõ về các chính sách của Đảng và Nhà nước về NCCVCM đang đi vào thực tiễn đời sống; đồng thời tác giả đưa ra các giải pháp đề xuất nhằm thực hiện đồng bộ nhằm bảo đảm tốt hơn trong thực hiện chính sách NCCVCM
- Tác giả Tuệ Văn với bài viết “Đề xuất sửa đổi chính sách ưu đãi người có công” được đăng tải trên Tạp chí Quản lý nhà nước Online ngày 25 tháng 6 năm
2019 Bài viết đã trình bày công tác thực hiện chính sách ưu đãi NCCVCM, phân tích các vướng mắc và đặt ra yêu cầu mới; qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quá trình tổ chức thực thi chính sách ưu đãi NCCVCM hiện nay
- Tác giả Nguyễn Công Lập với Luận án Tiến sĩ năm 2017: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” Luận án này
đã phân tích luận giải khá rõ về mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng và lực lượng thực thi chính sách xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội
Từ cơ sở này, tác giả nghiên cứu thực trạng trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới ở những năm qua Đồng thời, tác giả đề xuất nhiều giải pháp trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao
Trang 115
hiệu quả thực thi chính sách xã hội ở nước ta hiện nay
- Tác giả Nguyễn Văn Vân với Luận văn Thạc sĩ năm 2016 “Thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn huyện Hòa Vang, thành phố
Đà Nẵng” tại Học viện Khoa học xã hội Luận văn này trình bày tập hợp về một số
vấn đề lý luận và nghiên cứu phân tích làm rõ về thực trạng thực hiện chính sách NCCVCM từ thực tiễn huyện Hòa Vang (dưới góc nhìn chính sách công) Từ luận chứng này, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn chính sách NCCVCM trên địa bàn huyện Hòa Vang
Từ các công trình và bài viết đã nêu trên chủ yếu tiếp cận ở góc nhìn chính sách công, về cơ bản các công trình này có nhiều giá trị để tham khảo và kế thừa; tuy vậy hiện chưa có công trình nào nghiên cứu trùng lặp về khía cạnh quản lý Nhà nước của huyện Quế Sơn về thực hiện pháp luật ở lĩnh vực ưu đãi NCCVCM
Vì vậy, tôi lựa chọn và quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài: Quản lý nhà nước
về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng, từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Quế Sơn về thực hiện pháp luật về NCCVCM
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng tình hình quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM từ thực tiễn huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam), luận văn tập trung đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Quế Sơn về thực hiện pháp luật về NCCVCM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa làm rõ một cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM
+ Nghiên cứu phân tích làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian qua; xác định các vấn đề hạn chế/ bất cập đặt ra và nguyên nhân dẫn đến
+ Đề xuất giải pháp và kiến nghị chủ yếu để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
Trang 126
quả quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 đến năm 2020
- Không gian nghiên cứu: ở phạm vi trên địa bàn huyện Quế Sơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài là sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta để tiếp cận trong nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM tại một địa phương cụ thể
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng chủ yếu về những phương pháp tiếp cận liên ngành giữa khoa học pháp lý và khoa học hành chính để nghiên cứu công tác quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về NCCVCM từ thực tiễn huyện Quế Sơn
Đồng thời, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích các văn bản và thu thập thông tin; thống kê, so sánh, hệ thống hóa, phân tích - tổng hợp tài liệu số liệu qua các năm để đánh giá thực trạng tình hình quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về NCCVCM từ thực tiễn huyện Quế Sơn (thành tựu, hạn chế/ bất cập và các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến); cũng như tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp và kiến nghị khắc phục
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Qua nghiên cứu, luận văn hệ thống hoá làm rõ hơn cơ sở lý luận quản lý nhà
Trang 137
nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM Qua đó tạo cơ sở để định hướng nghiên cứu về tình hình thực tiễn quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Từ việc nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM ở huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam) thời gian qua để xác định luận chứng thực tiễn nhằm xác định các vấn đề hạn chế/ bất cập đặt ra và nguyên nhân của nó; cũng như phân tích làm rõ hơn nhiều quy định của pháp luật hiện hành về NCCVCM… Từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc đề xuất nội dung của các giải pháp và kiến nghị chủ yếu để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về NCCVCM tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian đến
Kết quả của luận văn cũng là kênh tư vấn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các nhà quản lý tham khảo để nghiên cứu phương án hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM ở huyện Quế Sơn hiện nay, cũng như các địa phương có điều kiện đặc điểm tương đồng
7 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh các phần mở đầu, kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài có kết cấu gồm 03 chương dưới đây:
Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có
công với cách mạng
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có
công với cách mạng từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị để tăng cường quản lý nhà nước về thực
hiện pháp luật về người có công với cách mạng tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 148
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
1.1.1 Các khái niệm chủ yếu có liên quan
- Khái niệm về người có công với cách mạng (NCCVCM):
NCCVCM theo nghĩa rộng [21], đó là tập hợp những người (mà không phân
biệt giới tính nam nữ, dân tộc, tuổi tác, tín ngưỡng, tôn giáo) đã tự nguyện cống hiến đóng góp tài năng, trí tuệ, sức lực… cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước Họ
là những người có các thành tích cống hiến hoặc đóng góp nhiệm vụ xuất sắc vì lợi ích của đất nước, của dân tộc và đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo luật định Với nghĩa này cho thấy việc xác định dấu hiệu các tiêu chí chủ yếu của NCCVCM, đó phải là người có sự cống hiến hy sinh/ đóng góp xuất sắc vì lợi ích của quốc gia dân tộc Sự cống hiến thiêng liêng của họ được xã hội tôn vinh, chịu ơn và được Nhà nước công nhận cả trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc hoặc trong sự nghiệp xây dựng kiến thiết quốc gia Đúng vậy, xuất phát điểm từ đặc điểm và lịch sử dân tộc Việt Nam, nên trong suốt quá trình tranh đấu giữ nước và dựng nước, đối tượng NCCVCM ở nước ta có đặc điểm là một bộ phận lớn của những lớp người đã quên mình để hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng quốc gia dân tộc, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam Họ chính là lực lượng NCCVCM, với đất nước vì lợi ích của quốc gia dân tộc và quốc thái dân an, mà không hề yêu cầu đòi hỏi phải bù đắp, được nhân dân và Nhà nước
ta ghi nhận và biết ơn sâu sắc (mà không phân biệt giới tính, tộc người, tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng…)
Thuật ngữ NCCVCM (ở nghĩa hẹp)[21] dùng để chỉ lực lượng những người có
các cống hiến/ đóng góp xuất sắc cả thời kỳ trước cách mạng tháng Tám 1945, trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận Với nghĩa hẹp này, NCCVCM gồm có: người tham
Trang 15Với cơ sở trên, khái niệm NCCVCM theo Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM là những người đã có thành tích trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Tại Điều 38 của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng
12 năm 2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng đã khái quát về khái niệm:
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước khen tặng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; (2) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến; (3) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huy chương Kháng chiến
Như vậy, về khái quát có thể xác định cụ thể theo nhóm đối tượng NCCVCM được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận, gồm có:
+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng
8-1945
+ Liệt sĩ; thương binh
+ Anh hùng Lao động trong kháng chiến, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân
+ Đối tượng thụ hưởng chính sách như thương binh là những người bị thương và
Trang 1610
bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, tuy không phải là quân nhân, công an nhân dân, nhưng họ thuộc một trong các trường hợp theo quy định như thương binh và được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về người thụ hưởng chính sách như thương binh
+ Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc các bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và khi xuất ngũ được đơn vị, cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh"
+ Đối tượng hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
+ Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, nhưng họ không khai báo có hại cho kháng chiến cách mạng, không làm tay sai cho thù địch
+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế được tặng Huy chương kháng chiến, Huân chương kháng chiến
+ Người có công giúp đỡ cách mạng, gồm có: Người được tặng Bằng “Có công với nước” hoặc Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”; người trong gia đình được tặng Bằng “Có công với nước” hoặc Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”trước cách mạng tháng 8 năm 1945; người được tặng Huy chương kháng chiến hay Huân chương kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huy chương kháng chiến hay Huân chương kháng chiến
- Pháp luật là thuật ngữ dùng để chỉ hệ thống các quy tắc sử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước có thẩm quyền ban hành/ thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong đời sống xã hội, là nhân tố điều chỉnh các
quan hệ trong xã hội [19, tr.66]
- Thực hiện pháp luật được hiểu là hành vi xử sự hợp pháp của con người thể hiện dưới dạng hành động/ không hành động, chúng được tiến hành phù hợp theo yêu cầu của những quy phạm pháp luật Thực hiện pháp luật vốn dĩ là quá trình hoạt động có chủ đích của các chủ thể pháp luật nhằm làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chúng tạo ra cơ sở pháp lý đối với các hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật
Trang 1711
Như vậy, thực hiện pháp luật về NCCVCM có thể hiểu là quá trình tổ chức, điều hành hoạt động có mục đích của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cùng với đội ngũ nhân sự của mình nhằm làm cho pháp luật về NCCVCM đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi của các chủ thể pháp luật trong ứng xử hợp pháp với NCCVCM, để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện tốt pháp luật
về NCCVCM, bảo đảm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tính nhân văn XHCN; góp phần cho NCCVCM cùng gia đình họ phục hồi cuộc sống ổn định và phát triển theo hướng bền vững
- Theo đó, có thể xác định: Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về
NCCVCM được hiểu là hoạt động thực thi quyển lực nhà nước do các cơ quan nhà
nước thực hiện nhằm xác lập một môi trường ổn định, thuận lợi để pháp luật về NCCVCM được thực thi trong thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi ứng xử hợp pháp của các chủ thể pháp luật đối với NCCVCM, để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện tốt pháp luật về NCCVCM, bảo đảm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tính nhân văn XHCN; góp phần cho NCCVCM cùng gia đình họ phục hồi cuộc sống ổn định và phát triển theo hướng bền vững
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
* Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Một là, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM mang tính
quyền lực đặc biệt, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước được thiết lập trên cơ
sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”có tính tổ chức cao, để tác động lên các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về NCCVCM trên thực tế
- Hai là, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM vừa mang
tính chính trị, kinh tế – xã hội và vừa mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc của Nhà nước ta đối với xã hội về lĩnh vực này
Vì rằng, NCCVCM là bộ phận những người có lòng yêu nước nồng nàn, gan
dạ, bền bỉ, đã có nhiều cống hiến đặc biệt quan trọng, sẵn sàng cống hiến hết tài sản,
Trang 1812
của cải của mình và dám xã thân hy sinh vì sự nghiệp kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc và kiến quốc của dân tộc ta, vì dân Phần lớn NCCVCM hiện nay thuộc lớp người lớn tuổi, đều lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh và hoạt động cách mạng) Ngay cả sau khi nước nhà độc lập thống nhất và lặp lại hòa bình, dù là di chứng của thương tích
và bệnh tật mang trong mình, những NCCVCM vẫn không ngừng phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp của bộ đội cụ Hồ và luôn tự lo tìm công việc phù hợp sức lao động mình để tiếp tục nỗ lực phấn đấu; luôn giáo dục truyền thụ những giá trị truyền thống cách mạng cho con em mình, gương mẫu trong lối sống, luôn trung thành sắt son với chế độ XHCN và thể hiện tinh thần đấu tranh trước các tiêu cực xã hội NCCVCM
là lớp người có tín nhiệm/ uy tín rất cao đối với Đảng, Nhà nước ta và cộng đồng cư dân, là bộ phận rường cột, là chỗ dựa quan trọng về tiếng nói trong nhân dân; cũng như động viên nhân dân tham gia hưởng ứng tích cực những chủ trương, chính sách của Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước ta Họ chính là tấm gương sáng để gia đình và xã hội luôn noi theo Tuy nhiên, bản thân NCCVCM và thân nhân gia đình họ vốn chịu nhiều thiệt thòi, tổn thất mất mát trong điều kiện phần lớn họ có hoàn cảnh rất khó khăn, gặp thách thức trước xu thế của bối cảnh đất nước phát triển và hội nhập Bối cảnh điều kiện đó khiến NCCVCM và gia đình họ đối mặt với nhiều khó khăn và không đủ có cơ hội bình thường trong phát triển so với nhiều thành phần xã hội khác
Cũng từ đặc điểm này tất yếu đòi hỏi khách quan cần có sự quan tâm rất đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta để tri ân, chăm sóc, động viên, sẻ chia và giúp đỡ đãi ngộ NCCVCM và thân nhân gia đình họ bằng các quy định của pháp luật trên cơ sở của đặc điểm, nhu cầu của đối tượng NCCVCM và có tính toán đến sự phù hợp với
từng khu vực vùng miền Chính vì thế, đặc điểm của quản lý nhà nước về thực hiện
pháp luật về NCCVCM chẳng những phải thể hiện nhiệm vụ bảo vệ những thành quả cách mạng mà ông cha đã ra sức gìn giữ, mà còn phải thể hiện các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta (truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn; ăn quả nhớ người trồng cây…), đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa” về sự tôn vinh và tri ân, đãi ngộ của Ðảng, Nhà nước đối với những cống hiến của NCCVCM, chăm lo và tạo điều kiện thuận lợi cho người có công xây dựng cuộc sống, góp phần bảo đảm công bằng xã
Trang 19Tính tổ chức cao trong quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về
NCCVCM được thể hiện qua việc nâng cao tính hiệu lực của môi trường hành lang pháp lý, các chính sách điều tiết về lĩnh vực ưu đãi NCC và thiết lập hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự chặt chẽ, tinh gọn để đảm trách tốt công tác về lĩnh vực này
Tính điều chỉnh của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM
được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật, chính sách để đưa ra các quy
tắc xử sự dành cho NCCVCM và đảm bảo thực hiện; và buộc các cá nhân, tổ chức
phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về NCCVCM để đảm bảo tính chính trị pháp lý nhân văn XHCN của Đảng và Nhà nước ta trước sự cống hiến
và hy sinh của NCCVCM; cũng như phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách ứng
xử hướng về cội nguồn của Nhà nước để phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc Theo đó, yêu cầu đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về NCCVCM một cách đồng bộ, chặt chẽ về chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của các tổ chức có chức năng thẩm quyền triển khai pháp luật về NCCVCM; đồng thời pháp luật về NCCVCM được nhà nước sử dụng làm công cụ cưỡng chế nhằm đảm bảo sự truy cứu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm pháp luật về NCCVCM, tránh sự bỏ sót đối tượng chính sách hoặc làm sai lệch đối tượng, đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về NCCVCM được thực hiện đúng đối
tượng được thụ hưởng và đúng mục đích của nó
- Bốn là, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM vừa mang
tính khoa học, tính kế hoạch, vừa mang tính tính liên tục và ổn định
Đặc trưng tính khoa học và tính kế hoạch, nó đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý phải dựa trên một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước thông qua
Trang 2014
những tính toán một cách khoa học, thấu đáo
Đồng thời, công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM
phải là sự tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội đối với lĩnh vực ưu đãi NCCVCM Do sự vận động biến đổi không ngừng của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định Hơn nữa, việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định
Từ các đặc điểm nêu trên, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM có một số vai trò chủ yếu, đó là:
Đối với Nhà nước, pháp luật nói chung và pháp luật về NCCVCM nói riêng
là công cụ đặc trưng để nhà nước quản lý xã hội, nó được đúc kết dựa trên cơ sở
xuất phát từ những nhu cầu khách quan và lợi ích chính đáng của các tầng lớp trong
xã hội Pháp luật về NCCVCM do nhà nước ban hành để điều chỉnh thống nhất, ổn định các quan hệ xã hội trong cả nước và bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước để đảm bảo hiệu lực pháp luật về NCCVCM được thi hành trong thực tiễn đời sống nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan và lợi ích chính đáng của các đối tượng NCCVCM trong xã hội Thông qua quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM, nhà nước phát huy được quyền lực chính thức của mình và kiểm tra, kiểm soát được hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện pháp luật về NCCVCM, nhằm đảm bảo dân chủ, công bằng cho đối tượng chính sách thụ hưởng và phù hợp với lợi ích chung của thực tiễn xã hội
Quản lý về thực hiện pháp luật về NCCVCM là trách nhiệm chính của nhà nước Theo đó, yêu cầu đối với vai trò quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM là phải bảo đảm các hoạt động xã hội liên quan đến lĩnh vực ưu đãi NCCVCM một cách dân chủ, công khai, minh bạch thì mới đem lại hiệu quả và thành công cho nhà nước về lĩnh vực này
Đối với các đối tượng chính sách (NCCVCM và thân nhân gia đình họ), thì
Trang 211.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về pháp luật và thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
Pháp luật về NCCVCM là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Pháp luật về NCCVCM được ban hành đầu tiên gắn liền với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 20/SL ngày 16 tháng 02 năm 1947 quy định
về “Chế độ hưu bổng thương tật, tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ” Đây là Sắc lệnh
đầu tiên về chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công; một sự kiện quan trọng trong chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta nhằm tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của các thương binh, liệt sĩ và người có công với nước Tiếp đó được bổ sung bởi Sắc lệnh số 242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948
quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng “tử sĩ” thực hiện chế độ
“lương hưu thương tật” đối với các thương binh, chế độ “tiền tuất” đối với gia
đình liệt sĩ Trong Di chúc của Bác Hồ, trước lúc đi xa Người đã căn dặn: Đảng,
Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho thương binh, liệt sĩ và NCCVCM có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với từng người để họ dần dần tự lực cánh sinh Bác nhắc nhở: “Đối với các liệt
sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta Người cũng chu đáo, quan tâm đối với cha mẹ, vợ con của thương binh
và liệt sĩ (người có công với nước) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói
rét” [6, tr.1.425-1.426] … Những chỉ dẫn của Bác đã được Đảng, Nhà nước ta phấn
đấu thực hiện ngày càng chu đáo và tốt hơn
Trang 22bằng: Nghị định 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng về
bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh và xã hội; Quyết định 79/HĐBT ngày 05 tháng 7 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về điều chỉnh mức trợ cấp của một số đối tượng hưởng chính sách xã hội; Quyết định 8/HĐBT ngày
05 tháng 01 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về điều chỉnh mức trợ cấp của một
số đối tượng hưởng chính sách xã hội
Tại Đại hội VII của Đảng tiếp tục khẳng định: Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những NCCVCM, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những NCCVCM Thể chế hóa chủ trương này, Chính phủ ban hành Nghị định
27/CP ngày 23 tháng 4 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời việc điều chỉnh mức lương hưu và mức trợ cấp đối với các đối tượng hưởng chính sách xã hội…
Đáng chú ý hơn để kịp thời thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, việc điều chỉnh bằng pháp luật giúp cho các mối quan hệ xã hội từng bước được chuyển đổi nhằm phù hợp với cơ chế mới, ngày 29 tháng 8 năm 1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành hai văn bản rất quan trọng, đó là: Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; và Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” Cùng theo đó, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai Pháp lệnh này đã tạo thành hệ thống pháp luật về
NCCVCM
Đến Đại hội VIII, Đảng ta chỉ rõ: “Tổ chức tốt việc thi hành Pháp lệnh về người có công, bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có
Trang 2317
đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; bồi dưỡng và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh Mở rộng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc
thương binh, gia đình liệt sĩ ” [11, tr.115]
Tại Đại hội IX, Đảng khẳng định: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những NCCVCM, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc
sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ
sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách
tự vươn lên” [12, tr.301] Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ: “Huy động mọi nguồn lực
xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bí mật, lực lượng vũ trang,
thanh niên xung phong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến ” [13, tr.229-230].
Căn cứ tình hình thực tiễn mới, Pháp lệnh Ưu đãi năm 1994 tiếp tục đã được tham mưu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung vào các năm (1998, 2000, 2002, 2005, 2007, 2012) nhằm phù hợp với điều kiện KT-XH của đất nước Năm 2012, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM Ngày 09 tháng 4 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh
Ưu đãi NCCVCM; đi cùng theo đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ra Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân Đồng
thời, để đánh giá toàn diện, đầy đủ việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NCCVCM, ngày 27 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ
thị 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCCVCM Theo đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Thường trực Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng chương trình phối hợp, triển khai rà soát đối với 7 đối tượng, bao gồm: liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất
Trang 2418
độc hóa học, người có công giúp đỡ cách mạng và cựu thanh niên xung phong
Đến Đại hội XII [14, tr.31,136,137], Đảng ta nhấn mạnh: "Thực hiện tốt
chính sách chăm sóc NCCVCM trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước kết hợp với việc huy động các nguồn lực xã hội; bảo đảm NCCVCM có mức sống từ trung bình trở lên"; “Tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội phù hợp với quá trình phát triển KT-XH Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến người dân; tạo điều kiện trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương/ những người gặp rủi ro trong cuộc sống Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, ” Thực hiện chủ trương của Đảng, các địa phương, đơn vị trong
cả nước từng bước khắc phục các bất cập, khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh việc tìm kiếm và quy tập mộ liệt sĩ; thúc đẩy phong trào ĐƠĐN; đồng thời, thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 25-01-2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCCVCM
Để định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về NCCVCM, Đảng ta tiếp tục
ra Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa
XII) về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác NCCVCM Từ
cơ sở này, tại Phiên họp thứ 51, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp
lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng(sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2021 văn bản pháp luật
này có nhiều điểm mới, quy định chặt chẽ, khả thi, bảo đảm chế độ cho người có công và thân nhân Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa chính trị , xã hội sâu sắc, thể chế hóa rõ chủ trương ưu tiên chăm sóc, ưu tiên dành nguồn lực nhằm cải thiện
và nâng cao đời sống NCCVCM
Về cơ bản, hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về NCCVCM đến nay đã được hình thành tương đối đầy đủ và không ngừng được hoàn thiện qua hơn 70 năm Như vậy, với việc hoàn thiện một bước của hệ
bỏ sót, với chế độ ưu đãi từng bước được nâng cao gắn liền với sự bảo đảm công bằng và đồng thuận xã hội, giúp cho họ có cuộc sống tốt hơn trước Tính đến thời
Trang 2519
điểm này đã có khoảng hơn 100 văn bản dưới dạng các nghị quyết, nghị định và
thông tư của các cơ quan hành chính nhà nước được ban hành [49] Hiện nay [3],
toàn quốc đã xác nhận được cho hơn 9,2 triệu NCCVCM; và số NCCVCM đang được thụ hưởng chế độ ưu đãi hàng tháng với gần 1,4 triệu người (mức chuẩn để xác định trợ cấp ưu đãi NCC đang là 1.515.000 đồng) Tổng kinh phí thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM khoảng 31.000 tỷ đồng/ năm (gồm có: trợ cấp 1 lần; trợ cấp hàng tháng; bảo hiểm y tế; công tác mộ, nghĩa trang liệt sĩ; đền ơn đáp
nghĩa…) Số liệu thống kê cũng cho thấy [50], 95,75% số đối tượng NCCVCM đã
được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước; 97% NCC có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; 100% Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đều được chăm sóc, phụng dưỡng…
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
Nội dung quản lý Nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM về cơ bản gồm các công việc sau:
Thứ nhất, xây dựng pháp luật về NCCVCM Việc thường xuyên nghiên cứu,
xây dựng pháp luật quản lý nhà nước về NCCVCM là cần thiết và quan trọng, nhằm đánh giá thực trạng, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn đặt ra
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về NCCVCM bao gồm các hoạt động
như: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, định hướng chương trình đã được phê duyệt về ưu đãi NCCVCM; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về NCCVCM; Tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác; Tổ chức việc tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, giải quyết khiếu nại liên quan lĩnh vực ưu đãi NCCVCM theo quy định của pháp luật
Thứ ba, giám sát, thanh tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật về
NCCVCM Đây là một giai đoạn quan trọng trong chu trình quản lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế XHCN, tăng cường kỷ luật và nâng cao hiệu quả
Trang 2620
quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM Tùy vào chức năng, nhiệm
vụ của mỗi tổ chức, cá nhân để các chủ thể có những hoạt động giám sát, thanh tra trong phạm vi thẩm quyền Thông qua công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong việc chấp hành pháp luật về NCCVCM sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm quản lý của các ngành, các cấp, đồng thời nắm bắt được tình hình thực hiện pháp luật về NCCVCM, thấy được các thiếu sót cũng như những vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về NCCVCM để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật này hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý người thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện pháp luật về NCCVCM
Trong đó, một số điểm cần chú ý trong nội dung quản lý Nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM, mà theo các điều của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14
ngày 09 tháng 12 năm 2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng(sửa đổi) (từ
Điều 48,đến Điều 51) đã quy định như sau:
* Trách nhiệm của Chính phủ: là thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi
NCCVCM và thực hiện các nội dung sau:
- Quy định thẩm quyền, thủ tục, hồ sơ công nhận, giải quyết chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM; quy định thẩm quyền, thủ tục, hồ
sơ công nhận, giải quyết chế độ ưu đãi NCCVCM đối với những trường hợp còn tồn đọng; Quy định việc giám định y khoa để xem xét công nhận, giải quyết chế độ
ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM;
- Quy định mức hưởng và việc thực hiện trợ cấp, phụ cấp, các chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM; chính sách, chế độ đối với người làm việc tại cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng, cơ sở đón tiếp NCCVCM Quy định việc thực hiện chính sách ưu đãi người nước ngoài có công với cách mạng;
- Quy định chế độ hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Quy định chế độ ưu đãi đối với người sử dụng đất là NCCVCM; đất dành riêng cho công trình ghi công liệt sĩ, cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh, người hưởng chính sách
Trang 2721
như thương binh, bệnh binh, cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng cho thương binh, bệnh binh và những NCCVCM khác; hỗ trợ cơ sở vật chất đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh Quy định chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp bằng các hình thức ưu tiên giúp đỡ về giống, vật nuôi, cây trồng, thủy lợi phí, chế biến nông sản, lâm sản, áp dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất;
- Đầu tư cho công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ, cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng, cơ sở đón tiếp người có công từ ngân sách nhà nước; quản lý công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ Quy định về công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin Quy định chức năng, nhiệm vụ,
cơ cấu tổ chức và chế độ đối với cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công và bộ phận quản lý nghĩa trang liệt sĩ;
- Xây dựng kế hoạch cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, cơ
sở dữ liệu trong thực hiện chế độ ưu đãi người NCCVCM và thân nhân của NCCVCM
* Trách nhiệm của các Bộ, ngành: Tùy theo chức năng nhiệm vụ của từng
Bộ ngành để xác định trách nhiệm quản lý Nhà nước Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ; các bộ, ban, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi NCCVCM Về cơ bản, các Bộ ngành tập trung vào:
- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và
tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM do mỗi Bộ ngành trực tiếp quản lý
- Chỉ đạo công tác xác minh, cung cấp thông tin và tính pháp lý giấy tờ, hồ sơ… liên quan đến xem xét xác nhận NCCVCM theo yêu cầu của các cơ quan (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an) Bộ Nội vụ có trách nhiệm quy định hồ sơ, thủ tục tặng
Kỷ niệm chương đối với người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc,
Trang 2822
làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện việc giám định y khoa để xem xét công nhận, giải quyết chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của họ
- Bộ Tài nguyên - Môi trường có trách nhiệm phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư về quỹ đất dành riêng cho các công trình ghi công liệt sĩ, cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng cho thương binh, bệnh binh và những NCCVCM khác, Bộ Kế hoạch - Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng quy hoạch hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng NCCVCM theo quy định pháp luật về quy hoạch Bộ Thông tin
và Truyền thông có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ưu đãi NCCVCM
- Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân của họ
* Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền phân cấp quản
lý Về căn bản, UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi NCCVCM trong phạm vi địa phương mình; cơ quan LĐ-TB&XH giúp UBND cùng cấp thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi NCCVCM tại địa phương
- UBND cấp tỉnh có trách nhiệm:
+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM trên địa bàn quản lý Ban hành quy chế quản lý công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ trên địa bàn
+ Tổ chức triển khai các chế độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM trên địa bàn Bố trí ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ chi theo phân cấp, ủy quyền của Chính phủ và quy định của luật ngân sách
+ Đẩy mạnh phong trào ĐƠĐN, huy động nguồn lực trong xã hội để chăm
lo, giúp đỡ NCCVCM và gia đình họ
+ Tăng cường tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chế
độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM, xử lý nghiêm các trường
Trang 2923
hợp vi phạm trong thực hiện pháp luật về NCCVCM
- UBND cấp huyện có trách nhiệm:
+ Đẩy mạnh phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", huy động nguồn lực trong xã hội để giúp đỡ gia đình NCCVCM
+ Tăng cường tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chế
độ ưu đãi đối với NCCVCM và thân nhân của NCCVCM, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong thực hiện pháp luật về NCCVCM và thân nhân của NCCVCM
+ Quản lý công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ thuộc địa bàn quản lý
+ Quản lý công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ thuộc địa bàn quản lý
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức kinh tế - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm:
+ Vận động, chăm sóc, giúp đỡ NCCVCM và thân nhân của NCCVCM bằng các hình thức, nội dung thiết thực.
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát việc thực hiện, phản biện và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và luật định có liên quan
1.4 Các điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
1.4.1 Yếu tố chính trị - pháp lý
Nhân tố chính trị lãnh đạo XHCN là hạt nhân chi phối/ định hướng đến nội dung của pháp luật về NCCVCM Hơn nữa, pháp luật về NCCVCM vốn dĩ là sự thể chế hóa để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta, đó là vì lợi ích của nhân dân và toàn xã hội mà phục vụ; và ngay cả các chủ thể hoạt động trong hệ thống bộ
Trang 3024
máy nhà nước cũng chịu sự chi phối điều chỉnh bởi yếu tố quyền lực chính trị XHCN Bởi nó thể hiện bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện cầm quyền, thể hiện ra ở hệ thống chủ trương, quan điểm của quyền lực của Đảng ta vốn đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc; thể hiện ở ý chí và quyết tâm hành động của Đảng và Nhà nước ta, của chế độ XHCN đối với NCCVCM Mà trong đó, chủ trương, quan điểm của Đảng ta đối với NCCVCM là nhất quán, thể hiện sự tri ân và tôn vinh NCCVCM về đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” Sự ghi nhớ công ơn này trước hết được thể hiện ở trong các Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp Nhà nước ta
Nhân tố thể chế pháp lý về NCCVCM là công cụ căn bản trong quản lý nhà nước, nó đóng vai trò nền tảng quan trọng để thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước, là cơ sở để thực thi pháp luật về NCCVCM
Mức độ hoàn thiện pháp luật về NCCVCM là đặc biệt quan trọng Một khi
1.4.2 Yếu tố ý thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong
tổ chức thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
Sự thành công của pháp luật về NCCVCM phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước có chức năng, vào chất lượng nhân sự cán
bộ, công chức thực thi pháp luật về lĩnh vực này Nếu bộ máy cơ quan nhà nước hoạt động quan liêu, kém hiệu quả, nhân sự cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, yếu về năng lực và phẩm chất không trong sáng thì nó sẽ ngăn chặn không cho pháp luật phát huy như mục tiêu đã dự kiến
Ở khía cạnh đội ngũ nhân sự của nhà nước, vì đội ngũ cán bộ, công chức do
Trang 31do nhân dân, vì nhân dân, vì sự cống hiến hy sinh của những NCCVCM, với nước Hơn nữa, cán bộ, công chức lại là nhân tố có tính chất quyết định trực tiếp rất quan trọng đối với quá trình quản lý nhà nước nói chung và trong thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về NCCVCM nói riêng Bởi vì tuy có một hệ thống pháp luật về NCCVCM ban hành có hiệu lực cho tất cả các địa phương, song nếu trên thực tế lại chỉ có một số địa phương tổ chức thực hiện tốt và có một vài địa phương thực hiện chưa tốt, thì đó là: phần nhiều do cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực thực tế, thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, yếu kém về thái độ và trách nhiệm… trong quá trình tổ chức và áp dụng thực hiện pháp luật về NCCVCM, làm ảnh hưởng đến quá trình triển khai các dự kiến chương trình công tác, kế hoạch không sát thực tế gây lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả, hiệu lực của pháp luật về lĩnh vực này
Vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức phải là người đi đầu trong việc tổ chức triển khai thực hiện các đường lối của Đảng và pháp luật Nhà nước ta về lĩnh vực
ưu đãi NCCVCM Bên cạnh, cùng với việc phải đảm bảo thực hiện đảm bảo chuẩn yêu cầu về năng lực chuyên môn và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức theo luật định, thì người cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức công tác chính sách NCCVCM (còn với tư cách là con cháu của thế hệ sau, là công dân của thế hệ hôm nay) phải làm việc với cách hành xử có trách nhiệm để tri ân sâu sắc, đền đáp những NCCVCM, với nước trong quá trình làm nhiệm vụ cầu nối chuyển tải tinh thần chủ trương ĐƠĐN của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta đến với cộng đồng xã hội Bởi đó chẳng những chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước ta giao cho cán bộ, công chức, mà còn là yêu cầu phải trở thành ý thức, thói quen ứng xử trách nhiệm với cộng đồng xã hội và người dân
Trang 3226
1.4.3 Yếu tố dân trí, nhận thức và phong tục tập quán của người dân
Mức độ dân trí và sự nhận thức của người dân là yếu tố cốt lõi quan trọng, có vai trò quyết định đến mức độ thành công trong thực thi pháp luật về NCCVCM Quá trình thực hiện pháp luật về NCCVCM chỉ có thể đạt được như mục tiêu mong đợi khi và chỉ khi nó nhận được sự đồng thuận của xã hội, của người dân Hồ Chí
Minh đã chỉ dẫn rằng: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong Điều này cũng xác nhận rằng, nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến pháp luật về
NCCVCM cho người dân để giúp người dân hiểu đúng đắn về mục đích và lợi ích
mà pháp luật lĩnh vực này mang lại cho cộng đồng và xã hội, bởi tính nhân văn sâu sắc của nó Và một khi việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về NCCVCM được kịp thời, sâu rộng và hiệu quả thì được nhân dân đồng tình và hưởng ứng sẽ rất thuận lợi trong quá trình thực hiện pháp luật về NCCVCM Đồng thời thông qua tính hiệu quả mang lại của công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về NCCVCM sẽ giúp cho những cơ quan nhà nước có chức năng trong tổ chức thực hiện được thuận lợi, tiết kiệm thời gian và nguồn lực Song nếu ngược lại, một khi người dân thiếu thông tin/ chậm có thông tin thì sẽ khiến cho các cơ quan nhà nước có chức năng trong tổ chức thực hiện đối mặt những khó khăn trở ngại
Phong tục tập quán, văn hóa, sinh hoạt theo khu vực vùng, miền mà hình thành nên những thói quen truyền thống, khó thay đổi được cộng đồng tộc người thừa nhận; và việc thực hiện tác phong sinh hoạt đời sống của họ được lưu truyền qua các thế hệ Các đặc tính về phong tục tập quán này vốn dĩ là yếu tố chi phối ảnh hưởng đáng kể đến quá trình thực hiện pháp luật
Sự ảnh hưởng của phong tục tập quán đến quá trình thực hiện pháp luật, như là một hiện tượng xã hội có tính quy luật Nếu phong tục tập quán đó phản tiến bộ, lạc hậu thì sẽ trở nên lực cản trong quá trình thực thi pháp luật về NCCVCM; ngược lại, nếu phát huy được phong tục tập quán tiến bộ là hệ giá trị truyền thống tốt đẹp của tộc người, của dân tộc quốc gia (thể hiện ở đạo lý nhân văn sâu sắc “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “ăn quả nhớ người trồng cây”…) sẽ đóng vai trò tích cực trong việc quyết định thái độ và cách hành xử của người dân đối với trong
Trang 3327
quá trình thực thi pháp luật về NCCVCM
1.4.4 Yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Yếu tố về điều kiện KT-XH có ảnh hưởng tác động đến tính khả thi trong quá trình thực hiện pháp luật về NCCVCM Một khi thu nhập đời sống người dân được nâng lên, cùng với khả năng nguồn lực và tiềm lực kinh tế của nhà nước đủ mạnh - đủ lớn, thì cùng với khả năng nguồn lực của nhà nước (chất lượng và sự tâm huyết của đội ngũ nhân sự cán bộ, khả năng tài chính ngân sách, khả năng về các điều kiện cơ sở vật chất…) và sự huy động sự đóng góp của sức dân sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn trong quá trình chăm lo đời sống NCCVCM và gia đình họ một cách hiệu quả hơn
Trong điều kiện ngày nay, tùy vào điều kiện KT-XH hiện hữu để nhà nước xác định mức ưu đãi theo hướng điều chỉnh phù hợp là cần thiết Về dài hạn, quản
lý nhà nước cần có chiến lược khả thi về tổng thể phát triển của KT-XH với bước đi hiệu quả là cơ sở hình thành đầy đủ điều kiện vật chất nhằm thực thi tốt chính sách pháp luật về NCCVCM, đáp ứng được mục tiêu đề ra
Tiểu kết Chương 1
Thực hiện pháp luật về NCCVCM được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành hoạt động có mục đích của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thông qua đội ngũ nhân sự của mình nhằm làm cho pháp luật về NCCVCM đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi của các chủ thể pháp luật trong ứng xử hợp pháp với NCCVCM, để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện tốt pháp luật về NCCVCM, bảo đảm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tính nhân văn của chế độ XHCN; góp phần cho NCCVCM cùng gia đình họ được hưởng
ưu đãi để cuộc sống ổn định và phát triển theo hướng bền vững Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về NCCVCM, nghiên cứu các quan
điểm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là làm rõ nội dung của quản lý Nhà nước về
thực hiện pháp luật về NCCVCM; cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước ở lĩnh vực này
Trang 3428
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN Ở HUYỆN
QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật
về người có công với cách mạng tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, hành chính, lịch sử
Huyện Quế Sơn là một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có tọa độ địa lý
từ 150 38’25’’- 150 49’51’’ vĩ độ Bắc và từ 1080 06’58’’- 1080 20’51’’ kinh độ Đông Quế Sơn nằm cách tỉnh lỵ Tam Kỳ (Quảng Nam) là 30 km về phía Tây Bắc;
và cách thành phố Đà Nẵng là 40 km về phía Tây Nam Ranh giới hành chính của huyện được xác định: với phía Bắc giáp huyện Duy Xuyên; phía Nam giáp huyện Hiệp Đức; phía Đông giáp huyện Thăng Bình; và phía Tây giáp huyện Nông Sơn
Địa hình Quế Sơn có trên 60% diện tích là vùng đồi núi, phía Tây có các dãy núi cao như: Yang - Brai (1.143m), Bàn Cờ (1.037m), Hòn Tàu - Đèo Le (953 m) Vùng đồng bằng nhỏ hẹp ở phía Đông và xen kẽ giữa các khu vực đồi gò Địa hình huyện Quế Sơn phân bố thấp dần từ Tây sang Đông, trong đó hơn 60% địa hình đồi núi cao, về mùa mưa sẽ gây ra hiện tượng xói mòn đất và thoái hóa đất Còn lại địa hình gò đồi và đồng bằng, với địa hình này luôn được phù sa bồi đắp nên thích hợp cho sản xuất nông nghiệp Về căn bản, huyện Quế Sơn được phân chia theo 3 dạng địa hình:
- Vùng đồi núi cao: Tập trung ở phía Tây, chiếm trên 60% tổng diện tích tự nhiên Độ cao trung bình 500-1000m
- Vùng gò đồi: tiếp giáp giữa núi cao và vùng đồng bằng, độ cao trung bình 50-150m Phân bố chủ yếu ở vùng trung, diện tích chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên
- Vùng đồng bằng: Tập trung ở phía Đông và xen kẽ giữa các vùng gò đồi Trên địa bàn huyện Quế Sơn có 02 hệ thống sông chính là: Sông Ly Ly và
Trang 3529
Sông Bà Rén Bên cạnh 02 hệ thống sông chính được nêu trên, Quế Sơn còn có nhiều hệ thống sông, suối nhỏ khác Ngoài ra, huyện còn có hệ thống các kênh nối dài: Kênh Phú Ninh; Kênh Hồ Việt An… ; có những hồ chứa nước như hồ: Suối Tiên, Cây Thông, Hố Giang, An Long, Hố Giếng, Đập Vũng Tôm, Suối Tiên, đập
Đá Chồng-Quế Xuân 2,… Những hồ chứa này có quy mô dung tích từ 0,3-6,5 triệu
m3, thuận lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn Quế Sơn
Về nét cơ bản, địa hình huyện Quế Sơn phân bố thấp dần từ Tây sang Đông, trong đó hơn 60% địa hình đồi núi cao, về mùa mưa sẽ gây ra hiện tượng xói mòn đất và thoái hóa đất Còn lại địa hình gò đồi và đồng bằng, với địa hình này luôn được phù sa bồi đắp nên thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 257,46km2 Trong đó [51]: Đất sản xuất
nông nghiệp 43,43km2; Đất lâm nghiệp 38,72 km2; Đất chuyên dùng 7,74km2; Đất
ở 3,63km2
Toàn huyện Quế Sơn có 13 đơn vị hành chính, bao gồm các xã: Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú, Hương An, Quế Mỹ (sáp nhập từ xã Quế Cường và Phú Thọ năm 2020), Quế Thuận, Quế Hiệp, Quế Châu, Quế Minh, Quế An, Quế Long, Quế Phong và thị trấn Đông Phú Trong số đó, Quế Phong là một xã miền núi của huyện
Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2020 chia theo địa giới hành
chính xã, thị trấn
Đơn vị Diện tích tự nhiên
(km2)
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km2) Tổng số 257,46 81.186 315
Trang 3630
Đơn vị Diện tích tự nhiên
(km2)
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km2)
Nguồn: Giới thiệu chung về Quế Sơn, theo http://queson.gov.vn/Default.aspx?tabid=389
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và nguồn lực trong quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng
Bên cạnh, Quế Sơn có các tiềm năng về đất đai, nhất là đất rừng để phát triển thế mạnh về cây lâm nghiệp, huyện có sự phong phú và đa dạng về nguồn tài nguyên thiên nhiên với nhiều vẻ đẹp của các danh lam - thắng cảnh, hiện Quế Sơn
đã và đang kêu gọi thu hút đầu tư vào: Khu du lịch sinh thái Suối Tiên (Quế Hiệp), Khu du lịch sinh thái Suối Nước Mát-Đèo Le (Quế Long), Hồ Giang (Quế Long), Vũng nước nóng Bàn Thạch (Quế Phong), núi Hòn Tàu Đến nay đã có một nhà đầu tư vào đầu tư Khu du lịch sinh thái Suối Nước Mát-Đèo Le; ngoài ra, Quế Sơn còn là địa danh gắn liền với nhiều di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng, như: Tượng đài chiến thắng Cấm Dơi; Đền Tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ huyện… để phát triển du lịch - dịch vụ Bình quân lượng khách đến tham quan các điểm du lịch trên địa bàn huyện khoảng 05-07 ngàn lượt người/ năm
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện có sự phát triển tương đối khá mạnh, với khu công nghiệp Đông Quế Sơn; các cụm công nghiệp Hương An, Quế Cường, Dốc Đỏ…
Hệ thống mạng lưới giao thông ở huyện Quế Sơn có đường Quốc lộ 1A chạy qua địa phận các xã: Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú, Hương An với chiều dài 8,5km; Đường ĐT chạy qua địa bàn huyện có 02 tuyến: ĐT 611A và ĐT 611B, có tổng chiều dài tuyến 37,5 km (trong đó: có 22km bê tông nhựa và 15,5km thâm
Trang 3731
nhập nhựa); toàn huyện có 18 tuyến ĐH, với tổng chiều dài 119,29 km; Đường ĐX
và đường nội thị có 65 tuyến, với tổng chiều dài 113,3km Đường Dân sinh (thôn, xóm) có tổng chiều dài 393,66 km Đường giao thông ĐX, ĐH được đầu tư bê tông hóa, kết nối thông suốt giữa các xã trong huyện và một số huyện trong tỉnh như: Nông Sơn, Hiệp Đức, Thăng Bình, Duy xuyên…
Tình hình KT-XH trên địa bàn huyện Quế Sơn phát triển ổn định; phần lớn các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực của các ngành đều đạt và vượt, trong đó có nhiều chỉ tiêu vượt cao so với Nghị quyết đề ra Nếu năm 2019 huyện Quế Sơn có tổng giá trị sản xuất (theo so sánh năm 2010) khoảng 5.117,116 tỷ đồng thì tổng giá trị sản xuất năm 2020 của huyện ước đạt 8.573 tỷ đồng, tăng 6,65% so với năm 2019 Thu phát sinh kinh tế đạt trên 147 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 950 tỷ đồng, Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 39.433 tấn Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 36,07 triệu đồng; tăng 1,43 triệu đồng so với
năm 2019 Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,95% [30]
Về dân số - lao động, theo số liệu điều tra của Chi Cục Thống kê huyện Quế Sơn, dân số huyện Quế Sơn năm 2019 là 81.186 người Trong đó, khu vực nông thôn có 73.623 người chiếm 90,68%, khu vực thành thị có 7.563 người chiếm 9,32% Mật độ dân số chung toàn huyện là 315 người/km2 (cao nhất là xã Quế Xuân
1 với 948 người/km2, thấp nhất là xã Quế Hiệp với 99 người/km2) Dân số là nữ có 42.123 người, chiếm khoảng 51,88%, số dân là nam có 39.063 người, chiếm 48,12% Quế Sơn nổi tiếng là mảnh đất và con người giàu truyền thống lịch sử cách mạng; hiện nay nguồn lực lao động của huyện khá dồi dào và được thụ hưởng nhiều
ưu đãi từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
Nhìn chung đối với huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam), trong sản xuất nông nghiệp đã từng bước đảm bảo việc chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi; gắn liền với việc chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu Công tác thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực của huyện, nhất là đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng hệ thống thủy lợi, giao thông và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp được tăng cường… Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh, phát huy
Trang 3832
hiệu quả hoạt động của Trung tâm hành chính công của huyện và bộ phận một cửa
ở các xã, thị trấn… Nhờ đó đóng góp vào việc giải quyết việc làm, thu nhập và đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên Việc quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường cũng được chú trọng từng bước
Các chính sách an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo và các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giáo dục… trên địa bàn huyện được triển khai thực hiện tích cực Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu được tập trung chỉ đạo quyết liệt; năm 2020 toàn huyện có 5/11 xã đã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới Phong trào xây dựng đời sống văn hóa được chú trọng, toàn huyện hiện có 86,5% số thôn, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa; 90,4% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa Chế độ chính sách, an sinh xã hội được chăm lo chu đáo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố kiện toàn và hoạt động hiệu quả Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ xã hội được quan tâm thực hiện, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể
Tuy vậy so với yêu cầu phát triển mới hiện nay, huyện Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam vẫn còn một số hạn chế, khó khăn đó là:
Vai trò chủ thể của một bộ phận người dân trong xây dựng nông thôn mới chưa thể hiện rõ nét, nhiều tiêu chí thiếu tính bền vững Tiến độ giải quyết hồ sơ, thủ tục, triển khai giải phóng mặt bằng, thi công, giải ngân, thanh quyết toán một số công trình còn chậm trễ, nhất là các công trình, phần việc xây dựng nông thôn mới Việc giải quyết vướng mắc để triển khai một số dự án còn kéo dài
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa đi vào chiều sâu Tệ nạn ma túy, cờ bạc diễn biến phức tạp; vẫn còn đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, nhất là đơn thư liên quan đến tranh chấp đất đai Chất lượng sinh hoạt chi bộ thường kỳ và sinh hoạt chuyên đề ở chi bộ một số nơi còn hạn chế, một số tổ chức
cơ sở đảng tỷ lệ phát triển đảng viên rất thấp
Tình hình dịch bệnh Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi và dịch lở mồm long
Trang 39Kể từ khi có hiệu lực thi hành Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM; cùng với các Nghị định,
chỉ thị của Chính phủ (như Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM; Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi NCCVCM và thân nhân; Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCCVCM); và các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương, Tỉnh ủy
Quảng Nam đã đề ra các chương trình, chỉ thị để triển khai thực hiện pháp luật về NCCVCM, tiêu biểu là: Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 01 tháng 10
năm 2012 về thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành (khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; Chỉ thị
số 22-CT/TU ngày 23 tháng 7 năm 2012 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác lao động, người có công và xã hội; và nhiều văn bản chỉ đạo và
hướng dẫn của UBND tỉnh Quảng Nam Nhận được sự chỉ đạo của tỉnh Quảng Nam
và tình hình thực tiễn của Quế Sơn, Phòng LĐ-TB&XH huyện đã tham mưu UBND huyện Quế Sơn trong việc ban hành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể cho từng nội dung với các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đối với các cơ quan đơn vị của huyện có liên quan và UBND cấp xã của 13 xã, thị trấn thuộc huyện để triển khai thực hiện chính sách pháp luật về NCCVCM Điển hình là các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo của UBND huyện Quế Sơn, đó là: Công văn 500/UBND-VX ngày
02 tháng 7 năm 2013 về hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi NCCVCM, Công văn 109/UBND-VX ngày 12 tháng 3 năm 2014 về tăng cường chỉ đạo, quản lý thực
Trang 4034
hiện chế độ chính sách ưu đãi NCCVCM; Công văn 570/UBND-VX ngày 03 tháng
4 năm 2015 về việc thực hiện vận động quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; Công văn 570/UBND-VX ngày 06 tháng 8 năm 2015 về việc kêu gọi nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng; Công văn 543/UBND-VX ngày 14 tháng 9 năm 2016 về tăng cường công tác quản lý thực hiện chế độ chính sách ưu đãi đối với NCCVCM và Bảo trợ xã hội; Kế hoạch 17/KH-UBND ngày 06 tháng 3 năm 2017 về tổ chức Kỷ niệm
70 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7-1947 đến 27-7-2017; và các văn bản khác…
Về căn bản, hệ thống các VBQPPL hiện hành về ưu đãi NCCVCM đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với huyện Quế Sơn; và thể chế hóa được tinh thần của các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với NCCVCM, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tích cực vào việc ĐƠĐN, chăm lo, trợ giúp và tạo điều kiện để NCCVCM và thân nhân gia đình họ tiếp tục vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống Từ cơ sở này, nhận được sự chỉ đạo của tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Nam, sự phối hợp tích cực của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy và Sở LĐ-TB&XH, huyện ủy và chính quyền huyện Quế Sơn đã triển khá tốt công tác tuyên truyền giáo dục phổ biến pháp luật về NCCVCM theo quy định đến các xã, thị trấn, các thôn xóm và mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện Quế Sơn nhằm phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật
về NCCVCM
Bên cạnh đó để phát huy hiệu quả, Báo Quảng Nam, Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh, và Đài phát thanh – Truyền hình huyện Quế Sơn và đài truyền thanh các xã – thị trấn trên địa bàn còn mở các chuyên mục biểu dương gương người tốt, việc tốt, đơn vị, địa phương làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và những gương điển hình tiên tiến là thương binh, bệnh binh và thân nhân liệt sỹ vượt khó, làm kinh tế giỏi Mặt khác, bằng các kênh thông tin này còn phổ biến rộng rãi
để các cơ quan, đơn vị, tổ chức và người dân trên địa bàn biết và có nhu cầu tra cứu thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ trên Website (http://thongtinlietsi.gov.vn/); cũng như tuyên truyền, vận động các cơ quan, đơn vị,
tổ chức và người dân có thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và thông tin về thân nhân của