1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tiểu luận kết thúc môn Kinh tế thể thao

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tiểu Luận Kết Thúc Môn Kinh Tế Thể Thao
Trường học Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Thể Thao
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 104,87 KB
File đính kèm Bài tập kết thúc môn Kinh tế thể thao.zip (502 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế thể thao (sport economy), theo quan niệm chung, là một lĩnh vực kinh doanh giống như mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường, cung cấp hàng hóa, dịch vụ thể thao cho nhu cầu của xã hội để thu hoặc không thu lợi nhuận. Nhìn từ giác độ kinh tế vĩ mô, kinh tế thể thao cũng giống như các hoạt động kinh doanh khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ gồm 2 loại: hàng hóa, dịch vụ thông thường (common goods) và hàng hóa, dịch vụ công ích, công cộng (public goods). Như vậy, kinh tế thể thao có thể được định hình và phát triển với 2 loại hoạt động cụ thể là loại hoạt động kinh doanh với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận tối đa (thường do các nhà doanh nghiệp đầu tư) và loại hoạt động kinh doanh với mục tiêu chủ yếu không phải là tìm kiếm lợi nhuận tối đa mà là cung cấp hàng hóa, dịch vụ thể thao cho nhu cầu chung của xã hội (thường Nhà nước phải đầu tư hoặc hỗ trợ như là các hàng hóa, dịch vụ công ích, công cộng).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN KINH TẾ THỂ THAO

Tên học viên: Phạm Tấn Kiệt Đơn vị công tác: Trung tâm HLTTQG Cần Thơ

Khóa học: Cao học 25 – Lớp B

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2021

Trang 3

CÂU HỎI:

Câu 1: Nhận thức của anh (chị) về phát triển kinh tế thể thao ở giai đoạn hiện

nay? Liên hệ thực tế về hoạt động kinh tế ở cơ sở thể thao hoặc ở đơn vị mà anh (chị) đang công tác?

Câu 2: Trong các nội dung của môn học kinh tế thể thao, anh (chị) quan tâm đến

vấn đề nào nhất? dẫn chứng thực tế về vấn đề mà anh (chị) quan tâm?

Trang 4

BÀI LÀM

Câu 1:

a Khái niệm về kinh tế thể thao

Kinh tế thể thao (sport economy), theo quan niệm chung, là một lĩnh vực kinh doanh giống như mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường, cung cấp hàng hóa, dịch

vụ thể thao cho nhu cầu của xã hội để thu hoặc không thu lợi nhuận Nhìn từ giác độ kinh tế vĩ mô, kinh tế thể thao cũng giống như các hoạt động kinh doanh khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ gồm 2 loại: hàng hóa, dịch vụ thông thường (common goods) và hàng hóa, dịch vụ công ích, công cộng (public goods) Như vậy, kinh tế thể thao có thể được định hình và phát triển với 2 loại hoạt động cụ thể là loại hoạt động kinh doanh với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận tối đa (thường do các nhà doanh nghiệp đầu tư) và loại hoạt động kinh doanh với mục tiêu chủ yếu không phải là tìm kiếm lợi nhuận tối

đa mà là cung cấp hàng hóa, dịch vụ thể thao cho nhu cầu chung của xã hội (thường Nhà nước phải đầu tư hoặc hỗ trợ như là các hàng hóa, dịch vụ công ích, công cộng)

Kinh tế thể thao, hiểu theo nghĩa rộng, là lĩnh vực bao gồm các hoạt động kinh

tế liên quan trực tiếp tới hoạt động thể thao (luyện tập, thi đấu, ) cũng như gián tiếp (phục vụ cho hoạt động thể thao) như sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ liên quan tới hoạt động thể thao (trang thiết bị, dụng cụ, truyền thông, marketing, cá cược, chứng khoán )

b Nhận thức về phát triển kinh tế thể thao ở giai đoạn hiện nay:

- Kinh tế thể thao là bộ phận của nền kinh tế quốc dân

- Phát triển TDTT và kinh tế thể thao phải dựa vào điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội

- Những công trình cơ sở vật chất thể thao là vốn đầu tư lớn của nhà nước và xã hội sẽ từng bước vận hành theo cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường để tồn tại, phát triển như một thực thể kinh tế

- Nhận thức lao động của ngành TDTT là lao động có sự phân công xã hội, trong đó một bộ phận được thể chế hoá về nghề đặc thù do tính chất và phương thức lao động dịch vụ dưới dạng hàng hóa

Trang 5

- Kinh tế thể thao gắn liền với thị trường thể thao và tăng trưởng theo nhịp độ phát triển và mở rộng của thị trường thể thao

- Phát triển kinh tế thể thao đi đôi với sự công bằng, tiến bộ xã hội, góp phần ổn định và an sinh xã hội

- Sản phẩm cơ bản của ngành TDTT:

+ Văn hóa và thể thao là các ngành không sản xuất, mà kết quả lao động lại là các dịch vụ Cùng với điều này, trong lĩnh vực TDTT còn có những cơ sở sản xuất ra các thiết bị thể thao, dụng cụ thể thao, quần áo, giày, găng…

+ TDTT là loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu tinh thần và duy trì hoạt động sống hàng ngày của người sử dụng Dịch vụ TDTT đáp ứng việc duy trì và phục hồi sức khỏe, phát triển thể chất và tinh thần cho mỗi cá nhân, nâng cao trình độ nghề nghiệp Phần lớn các loại hình dịch vụ của ngành TDTT đều thuộc dịch vụ văn hóa - xã hội

- Nguồn nhân lực trong ngành TDTT:

+ Lực lượng lao động trong các lĩnh vực phi sản xuất, đặc biệt là sản xuất các dịch vụ TDTT ít tuân theo cơ giới hóa, tự động hóa mà đòi hỏi sự tương tác cá nhân và hướng vào yếu tố con người Do vậy, lực lượng lao động cần phải có sự sáng tạo và các kỹ năng tương đối cao

+ Trong mối quan hệ giữa kinh tế và thể thao, cần thiết phải có sự thay đổi các yêu cầu về đào tạo chuyên nghiệp không chỉ trong thực tiễn mà cả trong quá trình giảng dạy Người tham gia hoạt động kinh tế thể thao không những phải nắm vững các nguyên tắc cơ bản của một nền kinh tế thị trường mà còn phải có khả năng tư duy kinh

tế, nắm vững các yếu tố của kinh tế và văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh thể thao

+ Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, dịch vụ chiếm khoảng 60%

và hàng hóa là 40%, trong đó dịch vụ luôn có xu hướng gia tăng

+ Việc làm trong ngành công nghiệp TDTT có mức độ khác nhau, bao gồm tất

cả các hình thức, các lớp học bắt buộc trong các cơ sở giáo dục, tổ chức việc làm tự nguyện, thể thao nghiệp dư và chuyên nghiệp

Trang 6

+ Có thể chia nguồn nhân lực trong hoạt động GDTC và huấn luyện thể thao thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Trực tiếp tham gia vào việc đào tạo và huấn luyện Nhóm này bao

gồm các giáo viên GDTC của các cơ sở giáo dục, HLV, giảng viên, hướng dẫn viên

Nhóm 2: Liên quan đến việc chuẩn bị các điều kiện cho VĐV và môn thể

thao Nhóm này bao gồm các kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia, công nhân, viên chức

và người tham gia CLB cơ sở, các trường học thể thao, cơ sở thể thao, cơ sở đào tạo

Nhóm 3: Thể thao chuyên nghiệp Nhóm này có mặt ở hầu hết các phần trong

ngành công nghiệp - giải trí - dịch vụ tự do của người dân

- Thị trường TDTT

+ Dưới quan điểm kinh tế, TDTT là lĩnh vực phi sản xuất, không trực tiếp tham gia vào việc tạo ra một sản phẩm hữu hình TDTT sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, bao gồm việc đảm bảo rằng một loạt các hoạt động về hậu cần, tổ chức và nhân sự phát triển của một mạng lưới các phòng tập TDTT, phí xây dựng và tổ chức phục vụ khách hàng của họ trong quá trình nghiên cứu bài tập, đào tạo, biểu diễn thể thao và xem các cuộc thi đấu; đào tạo chuyên nghiệp, tiến hành nghiên cứu, sản xuất, lưu trữ và bán hàng cho các mục đích thể thao, sửa chữa và cho thuê thiết bị và dụng cụ thể thao

+ Các hoạt động cung ứng của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau cung cấp các sản phẩm cho mỗi sự kiện theo hướng kinh doanh cốt lõi của nó đã tạo nên sự tích hợp, phụ thuộc lẫn nhau nhằm đáp ứng cùng một nhu cầu của người dân tham gia

+ Trạng thái cân bằng của ngành dịch vụ trong thị trường TDTT được thiết lập khi các nhà sản xuất hài lòng với công việc của họ và người tiêu dùng - phạm vi và chất lượng dịch vụ cung cấp

+ Lĩnh vực thương mại dịch vụ ở Việt Nam, đóng góp cụ thể của dịch vụ TDTT là nhỏ và chưa cụ thể

+ Thị trường thể thao có thể đo được bằng nhiều cách, như lượng tiêu thụ các sản phẩm thể thao, chi phí xây dựng địa điểm thi đấu hay chi phí hoạt động của các bộ phận Ngoài ra, có thể xác định độ lớn của thị trường thông qua ngân sách đầu tư cho

Trang 7

thể thao của nhà nước và doanh nghiệp; cũng có thể là chi phí trung bình 1 người trả cho thể thao hàng năm, hay số lượng người tham gia và người làm việc trong ngành TDTT Tuy nhiên, sẽ là rất khó để đưa ra con số chính xác cho thị trường này vì nó quá lớn và có nhiều đối tượng liên quan

- Sự can thiệp của Chính phủ vào TDTT nhìn từ góc độ kinh tế

+ Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều can thiệp đáng kể vào lĩnh vực TDTT thông qua nhiều cách khác nhau Có thể thấy rằng, người tiêu dùng chi tiêu cho thể thao chiếm một phần tương đối nhỏ trong tổng chi tiêu cho giải trí, còn Chính phủ đầu tư vào TDTT lại là một khoản khá lớn trong tổng chi tiêu công 20 năm qua Dưới góc độ tiếp cận, Luật Thể dục, thể thao ở một số nước châu Âu thường phân thành 2

mô hình: “Can thiệp” là một mô hình có quy định pháp luật cụ thể về cơ cấu và nhiệm

vụ của phong trào thể thao quốc gia Tất cả các mô hình luật thể thao khác đều được coi là mô hình “không can thiệp” Ngoài phương thức kiểm soát thông qua pháp luật, Chính phủ các quốc gia còn kiểm soát phong trào TDTT thông qua các quỹ dành cho TDTT

+ Do kinh tế TDTT là ngành khá đặc thù nên mức độ và hình thức can thiệp của Chính phủ cũng có nhiều khác biệt so với các ngành kinh tế khác Xét trên giác độ kinh tế học, sự can thiệp của Chính phủ cũng được giải thích bởi các yếu tố khác biệt

về hướng sản phẩm, cung cầu thị trường Sự phát triển của TDTT chịu ảnh hưởng của thị trường thể thao và của Chính phủ Tác động của 2 yếu tố này khác nhau về động lực, phương tiện, mức độ và thời gian để tạo nên 2 cơ chế hoạt động đó là: Định hướng thị trường và định hướng Chính phủ

+ Căn cứ vào chuỗi giá trị thị trường thể thao có thể chia thị trường làm 3 nhóm dựa trên các mục đích hoạt động khác nhau, đó là:

Nhóm 1: Các đối tượng được thành lập bởi nhà nước Nhóm này bao gồm các

cơ quan/tổ chức nhà nước ở cấp quốc gia, địa phương hay khu vực cũng như các tổ chức thuộc quyền quản lý nhà nước được thành lập với mục đích phát triển thể thao, quản lý các vấn đề luật pháp liên quan đến thể thao, nâng tầm sức khỏe cộng đồng

Nhóm 2: Các tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức hoạt động tình nguyện Nhóm

này bao gồm các CLB cấp khu vực, các tổ chức cộng đồng hay các tổ chức thể thao

Trang 8

quốc tế như FIFA Các hoạt động của nhóm này tập trung chủ yếu vào phát triển thể thao, tăng lượng người tham gia rèn luyện thể thao, tổ chức thi đấu

Nhóm 3: Các doanh nghiệp/tổ chức làm thể thao Nhóm này được thành lập vì

nhu cầu/mục đích kinh tế, bao gồm các đối tượng như CLB, giải thi đấu, các sự kiện thể thao được xây dựng với mục đích tạo lợi nhuận Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm liên quan đến thể thao như các công

ty sản xuất hàng may mặc, dụng cụ, giày dép hay các nhà bán buôn, bán lẻ, các công

ty truyền thông

Hoạt động của 3 nhóm này không tách rời nhau và tạo thành một chuỗi giá trị Bên cạnh đó, một phần các tổ chức phi lợi nhuận nhưng không trực thuộc quyền quản lý của nhà nước (như Ủy ban Olympic quốc tế)

- Nhận thức về kinh tế TDTT và sự tham gia của nhà nước

+ Phân tích các mối quan hệ giữa nền kinh tế và sự phát triển của TDTT dựa trên 3 vấn đề chính: tài trợ cho thể thao; thể thao và quản lý kinh tế để tạo ra các thủ tục hợp tác kinh tế trong thị trường duy nhất của ngành công nghiệp thể thao; tương tác giữa thị trường và ngành công nghiệp thể thao

+ Các vấn đề tài chính cần thiết để phân tích gồm: ngân sách nhà nước và địa phương, xổ số thể thao, nguồn vốn quốc gia khác, các nhà tài trợ, doanh thu từ các sự kiện thể thao cho sự phát triển của TDTT

+ Hoạt động quản lý kinh tế kết hợp với việc sử dụng hiệu quả nhất nhằm tăng thu nhập, hạch toán, phát triển các yêu cầu đối với hệ thống thuế, các quy tắc chi phí tối ưu cho sự kiện thể thao, cách để tăng sự đóng góp của tình nguyện viên, phân tích tiền công cho VĐV chuyên nghiệp và điều kiện làm việc của họ

+ Các môn thể thao, dịch vụ thể thao đại diện cho các hoạt động kinh tế liên quan đến tiêu thụ sản phẩm TDTT, tạo ra nhu cầu của thị trường đối với hàng hóa và dịch vụ thể thao, phục vụ như là một chuyên ngành và không chuyên sản xuất TDTT đòi hỏi tạo ra một mạng lưới các phòng tập, cơ sở thể thao và do đó cần có thị trường xây dựng công trình thể thao Duy trì tập thể dục, hồi phục, điều trị trong trường hợp chấn thương đòi hỏi sự tham gia của thị trường thực phẩm, dược phẩm Sự cạnh

Trang 9

tranh giữa các môn thể thao trên thị trường tạo phạm vi hoạt động cho các phương tiện truyền thông, từ đó tạo điều kiện cho hoạt động của các nhà tài trợ

+ Nhà nước cần thiết phải tham gia thị trường thể thao vì mục đích cộng đồng, kinh tế và chính trị Do vậy, nhà nước tác động lên hoạt động TDTT thông qua 4 hướng sau:

Thứ nhất, nhà nước xây dựng/bảo trì các công trình thể thao, tìm kiếm, huấn

luyện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, cổ vũ, thúc đẩy phát triển phong trào rèn luyện TDTT cũng như cung cấp tài chính cho các tổ chức, các giải thi đấu hay những đợt vận động đăng cai tổ chức các giải thể thao lớn

Thứ hai, nhà nước chịu trách nhiệm phát triển thể thao thông qua việc đào tạo

chính quy tại trường học hoặc các trung tâm đào tạo thể thao

Thứ ba, nhà nước là tổ chức có tiếng nói sâu rộng nhất trong vấn đề truyền bá

thông tin lợi ích thể thao, các vấn đề liên quan đến sức khỏe, các chương trình thể thao

vì cộng đồng hay các chương trình nâng tầm hiểu biết cho cộng đồng về lối sống lành mạnh

Thứ tư, nhà nước đưa ra các điều lệ tổ chức, ngăn chặn các hành vi xấu như

doping, bán độ

Tuy nhiên, không giống các thị trường tiêu dùng thuần túy, ở thị trường TDTT, nhà nước thường can thiệp để giảm tính cạnh tranh tuyệt đối Nhà nước không tham gia trực tiếp vào các hoạt động marketing mà thúc đẩy thể thao phát triển bằng cách đầu tư cho hoạt động truyền bá lợi ích sức khỏe do thể thao mang lại

c Liên hệ thực tế hoạt động kinh tế thể thao tại đơn vị đang công tác:

Cá nhân em hiện đang công tác tại Trung tâm HLTTQG Cần Thơ Vì vậy qua môn học kết hợp với thực tiễn công tác tại đơn vị, em xin phép được trình bày về hoạt động kinh tế thể thao (đang và có thể diễn ra tại đơn vị)

- Thuận lợi:

+ Quyết định số 1045/QĐ-TCTDTT, ngày 09/7/2018 của Tổng cục TDTT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm HLTTQG Cần

Trang 10

Thơ quy định đây là đơn vị sự nghiệp có thu Vì vậy, đó chính là cơ sở để phát triển kinh tế thể thao

+ Điều kiện cơ sở vật chất tương đối đảm bảo cho việc tập luyện các môn thể thao; đội ngũ chuyên gia, HLV nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm huấn luyện; lực lượng VĐV được tuyển chọn bài bản, chất lượng cao

+ Đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt huyết

+ Vị trí địa lý nằm tại Trung tâm quận Ô Môn, cạnh bên Trung tâm sinh hoạt Thanh thiếu niên và Trung tâm văn hoá Quận

+ Được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ cùng ngành TDTT các tỉnh, thành (đặc biệt tại ĐBSCL)

+ Các hoạt động có thể mang lại nguồn thu: tận dụng cơ sở vật chất để cho thuê

tổ chức sự kiện hoặc các giải thể thao; dịch vụ nhà nghỉ, ăn uống khi các đoàn thể thao đến tập huấn; dịch vụ kiểm tra sức khoẻ, kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện cho VĐV các địa phương (phục vụ công tác tuyển sinh, sàn lọc lực lượng); cho thuê địa điểm để các đội tuyển tỉnh đến tập huấn; cho thuê phòng tập thể lực; cộng tác viên với các trang tin thể thao, tạp chí thể thao, báo thể thao…

- Khó khăn:

+ Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể từ cơ quan chủ quản cấp trên (Tổng cục TDTT)

+ Chưa có nhân sự chuyên trách tại đơn vị về lĩnh vựa làm kinh tế, kinh doanh thể thao

+ Mặc dù vị trí địa lý mặc dù nằm ngay trung tâm Quận nhưng lại cách xa thành phố; đa sống đồng bao dân tộc sinh sống xung quanh, nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ thể thao và khả năng chi trả phí dịch vụ rất hạn chế

+ Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh còn hạn chế; Trung tâm chưa xây dựng được trang thông tin chính thống để mọi người dân có quan tâm dễ dàng truy cập, tìm hiểu

+ Điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp trong nhũng năm vừa qua cũng là rào cản rất lớn trong việc phát triển kinh tế nói chung và kinh tế thể thao nói riêng

- Giải pháp:

Trang 11

+ Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy quản lý KTTT như: các văn bản dưới Luật,các Nghị định, Thông tư đồng bộ ở từng lĩnh vực kinh doanh; ban hành các loại điều lệ, quy định cần thiết như: điều lệ quản lý thị trường thể thao, quy định quản lý kinh doanh công trình thể thao, quy định quản lý tài trợ, quảng cáo

+ Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực Triển khai đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm cho đội ngũ nhân sự quản trị kinhdoanh thể thao; tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển kinh tế thể thao và học tập các mô hình phát triển kinh tế thể thao của các nước để so sánh tìm hiểu sự yếu kém thực tế ở nước ta; kết hợp các đơn vị học thuật, các ban ngành chính phủ, các nhà kinh doanh cùng nhau nỗ lực nghiên cứu phát triển kinh tế thể thao. + Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhu cầu tập luyện thể thao của các đội tuyển và phục vụ người dân tham gia tập luyện Phân loại và thực hiện chuẩn hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ TDTT cho mọi người, thểthao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp, thể thao giải trí; phát triển sản xuất kinh doanh các

cơ sở vật chất - kỹ thuật theo từng loại thiết chế TDTT; đẩy mạnh năng lực cạnh tranh

và hiệu quả sử dụng mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT cấp quốc gia, tạo nguồn thu lớn cho ngành TDTT

+ Có chế độ đãi ngộ tương xứng với sự đóng góp của cán bộ, viên chức, nhân viên thuộc Trung tâm HLTTQG

Câu 2: Vấn đề quan tâm ở môn học Kinh tế thể thao.

Sau khi được tiếp cận, học tập môn Kinh tế thể thao, bản thân em đặc biệt

quan tâm vấn đề: “Marketing và tài trợ thể thao”.

a Maketing trong thể thao:

- Marketing là nơi thực hiện chức năng kinh tế cung - cầu Từ góc độ nghiên cứu nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng thì marketing biểu hiện là quá trình tổ chức sản xuất dịch vụ, hoặc cụ thể là ''làm thị trường''

- Marketing thể thao hay marketing trong kinh tế thể thao đều có những nguyên lý, nội dung và phương pháp chung của marketing trong kinh tế nhưng có những đặc trưng riêng của lĩnh vực thể thao về đối tượng người tiêu dùng, sản phẩm hàng hoá do sản xuất hoặc dịch vụ thể thao, cách thức tiến hành, giá cả, khuyến mại và bao giờ

Ngày đăng: 25/07/2023, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w