Khái niệm y học TDTT: Y học TDTT là khoa học thực hành với đầy đủ các nhiệm vụ, phương pháp, cơ sở lý luận và các vấn đề nghiên cứu đặc trưng của riêng mình. Nó ứng dụng những kiến thức và thành tựu của y sinh học và khoa học liên ngành để tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện quá trình giáo dục thể thất nhằm nâng cao sức khỏe người tập và thành tích thể thao của vận động viên. Bên cạnh đó nó còn thực hiện việc nghiên cứu bệnh lý, cách phòng và chữa bệnh do tập luyện và thi đấu thể thao gây ra. Mục tiêu của y học TDTT: Mục tiêu cơ bản của y học TDTT là cùng với các phương tiện của văn hóa thể chất tạo ra sự tác động đồng thời nhằm nâng cao thành tích thể thao, tăng cường và nâng cao sức khỏe cho người tập, giúp họ phát triển cân đối toàn diện và chuẩn bị thể lực tốt phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: Y HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
Giảng viên: GS.TS LÊ QUÝ PHƯỢNG Học viên: PHẠM TẤN KIỆT
Lớp: Cao học khóa 25 (Lớp B) MSHV: M25B008
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2ĐỀ BÀI
Câu 1 (03 điểm):
Anh (chị) hãy trình bày: khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của y học TDTT
Câu 2 (04 điểm):
Anh (chị) hãy trình bày: nội dung và hình thức kiểm tra y học TDTT
Câu 3 (03 điểm):
Anh (chị) hãy rình bày nguyên nhân chấn thương trong thể thao và các biện pháp phòng ngừa
BÀI LÀM
Câu 1:
- Khái niệm y học TDTT:
Y học TDTT là khoa học thực hành với đầy đủ các nhiệm vụ, phương pháp, cơ sở lý luận và các vấn đề nghiên cứu đặc trưng của riêng mình Nó ứng dụng những kiến thức và thành tựu của y sinh học và khoa học liên ngành để tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện quá trình giáo dục thể thất nhằm nâng cao sức khỏe người tập và thành tích thể thao của vận động viên Bên cạnh đó nó còn thực hiện việc nghiên cứu bệnh lý, cách phòng và chữa bệnh do tập luyện và thi đấu thể thao gây ra
- Mục tiêu của y học TDTT:
Mục tiêu cơ bản của y học TDTT là cùng với các phương tiện của văn hóa thể chất tạo ra sự tác động đồng thời nhằm nâng cao thành tích thể thao, tăng cường và nâng cao sức khỏe cho người tập, giúp họ phát triển cân đối toàn diện và chuẩn bị thể lực tốt phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Trang 3- Nhiệm vụ cơ bản của y học TDTT:
Thường xuyên tổ chức và tiến hành việc theo dõi sức khỏe cho tất cả những người tham gia tập luyện TDTT
Kiểm tra và theo dõi y học cho tất cả những người tham gia tập luyện nhằm nghiên cứu những biến đổi cơ thể trong quá trình hoạt động thể lực
Theo dõi, phòng ngừa và điều trị cho VĐV ưu tú
Tiến hành kiểm tra y học sư phạm
Áp dụng và nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa, điều trị chấn thương và các bệnh lý xảy ra trong quá trình tập luyện và thi đấu thể thao Nghiên cứu xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường khả năng hồi phục và vận động cho người tập
Xây dựng một cách hợp lý các tiêu chuẩn và chế độ vệ sinh tập luyện nhằm giúp người tập tránh được những ảnh hưởng tác động tiêu cực của quá trình tập luyện Kiểm tra vệ sinh về sân bãi, trang thiết bị tập luyện và thi đấu
Đảm bảo y tế và tiến hành kiểm tra doping cho các vận động viên tham gia các cuộc thi đấu thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp
Đảm bảo y tế cho tất cả các loại hình thể dục, thể thao quần chúng
Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở trong cả lĩnh vực nghiên cứu
cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
Giải đáp những yêu cầu và thắc mắc về y học TDTT
Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục về công tác giáo dục thể chất và y học thể thao trong nhân dân
Câu 2:
a Nội dung của kiểm tra y học TDTT:
Khác với Y học thông thường, đối tượng nghiên cứu của Y học TDTT là những người khỏe mạnh, những người có khả năng hoạt động thể lực trên mức trung bình Để đáp ứng được những nhiệm vụ của y học TDTT thì nội dung kiểm tra y học và các phương pháp áp dụng cũng phải mang những đặc thù
Trang 4riêng Việc kiểm tra được tiến hành không chỉ đơn thuần ở trạng thái tĩnh (trạng thái ổn định không vận động) mà còn ở trạng thái vận động để đánh giá khả năng thích ứng của cơ thể nói chung và cả cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể nói riêng, dưới sự tác động của lượng vận động Những nội dung cơ bản của kiểm tra y học TDTT bao gồm:
- Kiểm tra và đánh giá mức độ phát triển thể chất:
Nghiên cứu mức độ phát triển thể lực các thể thường được tiến hành bằng cách đo đạc các chỉ số hình thái khác nhau như : chiều cao, cân nặng, vòng ngực, trọng lượng mỡ, trọng lượng cơ, xương, tỷ lệ độ dài các chi , các chỉ số đánh giá thể lực Pignet, QVC … Đối với người trưởng thành các chỉ số này dùng để đánh giá hình thái thể chất của cơ thể, đối với trẻ em đó là những thông
số đánh giá sự phát triển theo từng lứa tuổi
Các chỉ số hình thái của người trưởng thành thường không ổn định, bất biến Vì vậy, việc đánh giá phải tiến hành theo các giai đoạn tuổi sinh học Các chỉ số trên là các chỉ số tuyển chọn phải có tính đặc trưng, tính quyết định đối với năng lực vận động và trình độ luyện tập của vận động viên trẻ
Các chỉ số trên phụ thuộc vào yếu tố di truyền rất cao, ngoài ra còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường bên ngoài như: điều kiện xã hội, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện lao động, tập luyện thể chất và thể thao… Trong đó yếu tố tập luyện thể chất đóng vai trò hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến mức độ phát triển thể chất, thể trạng của người tập cụ thể là trẻ em qua các bài tập thể thao, các buổi tập thể thao có hệ thống
Để đánh giá mức độ phát triển thể lực thường dùng 2 phương pháp cơ bản: Phương pháp quan sát và phương nhân trắc học Ngoài ra có thể kết hợp phương pháp chụp X – quang
- Kiểm tra trạng thái chức năng các hệ cơ quan:
Kiểm tra chức năng hệ tim mạch: các chỉ tiêu sinh lý của tim, chu
chuyển tim, tiếng tim, thể tích tâm thu, lưu lượng phút của tim, tần số tim đập (nhịp tim),mạch đập, huyết áp
Trang 5 Các phương pháp kiểm tra chức năng hệ tim mạch: Phương pháp kiểm tra y học lâm sàng (hỏi, quan sát, sờ nắn, gõ, nghe); Phương pháp kiểm tra y học cận lâm sàng: Chụp, chiếu X quang, Điện tim, Tâm thanh đồ, Siêu âm…; Các test kiểm tra chức năng hệ tim mạch: Test chuyển hóa gắng sức; Test PWC170
Kiểm tra chức năng hệ hô hấp: Đặc điểm trạng thái chức năng hệ hô
hấp trong hoạt động thể dục thể thao; Một số chỉ tiêu sinh lý hô hấp: Tần
số hô hấp (nhịp thở), Thể tích khí lưu thông (tidal volum - TV), Thể tích
dự trữ hít vào (inspiratory reserve volum – IRV), Thể tích khí dự trữ thở
ra (expiratory reserve volum – ERV), Thể tích khí cặn (residual volum – RV), Dung tích toàn phổi (total lung capacity – TLC), Dung tích sống (Vital capacity – VC), VO2max
Các phương pháp kiểm tra chức năng hô hấp: Phương pháp kiểm tra
y học lâm sàng (hỏi, quan sát, sờ nắn, gõ, nghe), Các phương pháp kiểm tra y học cận lâm sàng (Chiếu, chụp X quang phổi, Đo dung tích sống); Các thử nghiệm kiểm tra chức năng hệ hô hấp: Test vận động gắng sức tối đa (Stress test), Test YMCA, Test chạy con thoi (Beep test), Test chạy 12 phút (Test Cooper)
Kiểm tra chức năng thần kinh và thần kinh cơ: Vai trò, chức năng và
đặc điểm hệ thống thần kinh và thần kinh cơ trong hoạt động thể dục thể thao
Các phương pháp kiểm tra chức năng hệ thần kinh và thần kinh cơ : Đánh giá chung về chức năng hệ thống thần kinh, Kiểm tra chức năng hệ thần kinh thực vật, Kiểm tra chức năng thăng bằng, Kiểm tra chức năng thần kinh cơ, Kiểm tra chức năng các cơ quan cảm thụ (cơ quan thị giác và thính giác); Đánh giá chung về chức năng hệ thống thần kinh: phỏng vấn và quan sát, tiến hành các Test kiểm tra để phân loại loại hình vận động; Kiểm tra chức năng thần kinh cơ: Thử nghiệm Tepping (Tepping test), Kiểm tra chức năng thần kinh cơ
Trang 6bằng phép ghi điện cơ đồ, Đo cảm giác lực cơ, Kiểm tra phản xạ gân cơ
- Kiểm tra y học sư phạm: là hình thức kiểm tra do bác sĩ thể thao và huấn
luyện viên cùng tiến hành đồng thời ngay trong quá trình huấn luyện, thi đấu thể thao nhằm mục đích chung là đánh giá tác động của bài tập thể thao đến cơ thể người tập, xác định trình độ tập luyện của vận động viên, trên cơ sở đó cho phép điều chỉnh quá trình huấn luyện một cách khoa học cho cả tập thể hay cho từng
vận động viên riêng biệt
Nhiệm vụ của kiểm tra Y học sư phạm: Đánh giá điều kiện tập luyện và
công tác tổ chức tập luyện, Đánh giá tác động của bài tập tới cơ thể người tập, Xác định trạng thái sức khỏe và trạng thái chức năng nhằm đánh giá trình độ tập luyện trong những giai đoạn khác nhau của quá trình tập luyện, Đánh giá mực độ phù hợp của phương tiện huấn luyện với nhiệm vụ đặt ra và khả năng của người tập nhằm mục đích hoàn thiện quá trình huấn luyện và đối xử cá biệt trong huấn luyện, Đánh giá và lựa chọn các phương tiện, phương pháp thúc đẩy quá trình hồi phục
sau lượng vận động lớn
Các phương pháp ứng dụng trong kiểm tra y học sư phạm:
Phương pháp đánh giá cường độ của bài tập: Đánh giá cường độ vận
động bên ngoài có thể tiến hành theo các thông số tuyệt đối (m/giây, cm/giây, số động tác thực hiện/phút, số đòn sử dụng/đơn vị thời gian,
số kg/1 lần cử) hay các thông số tương đối, được tính theo phần trăm của một trong các chỉ tiêu sau: theo vận tốc tối đa/cự ly thi đấu, theo vận tốc tối đa mà vận động viên đạt được trong một trạng thái nhất định; Đánh giá cường độ bên trong dựa trên cơ sở sinh lý là mạch tăng song song với cường độ vận cơ
Phương pháp đánh giá lượng vận động buổi tập: Phương pháp phỏng vấn và quan sát, phương pháp nhân trắc, xác định hàm lượng urê máu, thử nghiệm lượng vận động bổ sung
Trang 7- Tự kiểm tra y học: là việc theo dõi một cách có hệ thống của chính vận động
viên về trạng thái sức khỏe, mức độ phát triển thể lực cũng như những biến đổi của chúng dưới ảnh hưởng của các bài tập thể lực; Tự kiểm tra y học bao gồm những biện pháp đơn giản và dễ thực hiện nhất, dựa vào các thông s ố về cảm giác chủ quan của chính vận động viên như: Cảm giác chung về sức khỏe, Giấc ngủ, Cảm giác ngon miệng, Năng lực vận động, sự ham muốn tập luyện, Lượng
mồ hôi, Nội dung và phương pháp tập luyện; Các chỉ số khách quan như: mạch yên tĩnh, dung tích sống, nhịp hô hấp, trọng lượng cơ thể
Phương pháp tiến hành: Để ghi lại các thông số cần thiết, yêu cầu phải có một quyển sổ tự theo dõi sức khỏe, trong đó ghi nội dung cần theo dõi và ngày tháng theo dõi
b Hình thức kiểm tra y học TDTT:
Kiểm tra y học TDTT cho những người tham gia tập luyện thường được
tiến hành dưới 3 hình thức: Kiểm tra bước đầu, kiểm tra định kỳ, kiểm tra bổ
sung.
Kiểm tra bước đầu: Hình thức kiểm tra y học này được áp dụng cho tất cả
những người mới bắt đầu tham gia tập luyện trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu, học sinh, sinh viên, các trường chuyên nghiệp cũng như VĐV các đội tuyển khi bắt đầu bước vào một chu kỳ huấn luyện mới Đây là hình thức kiểm tra bắt buộc, kiểm tra một cách toàn diện trước khi bước vào tập luyện, kiểm tra cả về hình thái, chức năng, thể lực, thành tích thể thao…nhằm đánh giá trạng thái sức khỏe, mức độ phát triển thể chất và khả năng thích ứng của cơ thể người tập với lượng vận động Kết quả kiểm tra ban đầu sẽ cho phép các bác sĩ thể thao đưa ra chỉ định tập luyện cho những người mới lần đầu tham gia tập luyện (có thể tham gia tập luyện được hay không và nên tập môn nào cho thích hợp?) và là cơ sở để phân loại nhóm tập theo tình trạng sức khỏe Đối với các VĐV, kết quả của lần kiểm tra này được lưu lại để làm cơ sở cho việc theo dõi và đánh giá hiệu quả của quá trình tập luyện sau mỗi giai đoạn huấn luyện
Trang 8Kiểm tra định kỳ: Kiểm tra định kỳ là hình thức kiểm tra được định trước,
phù hợp với kế hoạch huấn luyện của huấn luyện viên và thường được tiến hành sau khoảng thời gian tập luyện từ 1 đến 3 tháng hay sau khi kết thúc giai đoạn huấn luyện thể lực, giai đoạn chuẩn bị thi đấu và thi đấu của một chu kỳ lớn Mục đích của việc kiểm tra định kỳ là đánh giá mức độ tác động của bài tập thể chức đến cơ thể người tập, khả năng thích ứng của cơ thể mức độ phù hợp của phương tiện và phương pháp huấn luyện, mức độ phát triển thể lực và trình độ tập luyện của VĐV Như vậy, việc kiểm tra định kỳ giúp cho các bác sĩ thể thao và các huấn luyện viên đánh giá được hiệu quả một giai đoạn huấn luyện, từ đó rút kinh nghiệm thực tiễn cho đợt huấn luyện sau
Kiểm tra bổ sung: thường được tiến hành theo đề xuất của huấn luyện
viên hoặc theo yêu cầu của VĐV Đây là hình thức kiểm tra được áp dụng nhằm đưa ra chỉ định cho VĐV trước khi bước vào thi đấu hoặc sau khi thi đấu, cũng như đánh giá khả năng và mức độ thích ứng với lượng vận động của VĐV sau khi hồi phục chấn thương, sau khi mới ốm dậy hoặc khi xuất hiện các dấu hiệu tập luyện quá sức Theo luật thi đấu của các môn thể thao như: quyền anh, chạy marathon, đi bộ thể thao, chạy cự ly trên 20km, đua xe đạp, môtô, ôtô đường trường, bơi cự ly dài…thì bắt buộc các VĐV phải trải qua kỳ kiểm tra y học bổ sung trước khi bước vào thi đấu Với các môn thi đấu theo hạng cân, việc kiểm tra này phải được tiến hành trước khi cân kiểm tra
Trang 9Câu 3:
- Nguyên nhân chấn thương trong thể thao:
Tổ chức và phương pháp tiến hành bài tập không đúng: Lịch tập luyện và thi đấu không hợp lý, không có nguyên tắc, số lượng người tập đông, tập không
có huấn luyện viên…
Không tuân thủ phương pháp tập luyện: Trình tự bài tập, nguyên tắc tăng dần cường độ (tăng quá đột ngột gánh nặng tập luyện, cường độ, thời gian, tần
số các bài tập, đặc biệt những VĐV còn đang ở tuổi chưa kết thúc hoàn toàn sự phát triển của bộ máy vận động), không tuân thủ nguyên tắc tính cá thể trong tập luyện, thiếu thông tin về trạng thái sức khoẻ VĐV, tuổi, giới, trình độ tập luyện (thể lực, kỹ chiến thuật), khởi động không đầy đủ, toàn diện, tập không có dụng cụ bảo hiểm… Nhóm nguyên nhân này gây nên 40 - 75% các trường hợp chấn thương thể thao
Điều kiện sân bãi tập luyện không tốt, không đảm bảo độ an toàn: Mặt sân, sàn tập không phẳng, trơn hay quá cứng, chiếu sáng, thông gió kém, dụng cụ tập, giày và quần áo tập cũ, kém chất lượng hay không phù hợp Nhóm nguyên nhân này gây nên 15 - 20% các trường hợp chấn thương thể thao
Công tác giáo dục VĐV chưa tốt dẫn đến tính kỷ luật của VĐV kém, chơi thô bạo, sử dụng các động tác bị cấm… Nhóm nguyên nhân này gây nên 8 -15% các trường hợp chấn thương thể thao Ví dụ, trong thi đấu bóng đá, việc không tuân thủ luật chơi và chơi thô bạo là nguyên nhân của khoảng 36% tổng
số các chấn thương
Không tuân thủ các nguyên tắc của công tác kiểm tra y học: Các VĐV mới, VĐV nghỉ tập do ốm, chấn thương hay nghỉ tập lâu ngày ra sân tập không
có sự cho phép của bác sĩ, không tuân thủ chế độ trong ngày của VĐV (ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, cuộc sống tình dục…); VĐV có trục trặc về sức khoẻ (mệt mỏi trường diễn, tập luyện quá mức, bệnh tật) Nhóm nguyên nhân này gây nên 2 -10% các trường hợp chấn thương thể thao
Trang 10 Điều kiện thời tiết khắc nghiệt: Nóng bức, lạnh, mưa gió to… Nhóm nguyên nhân này gây nên 8 - 9% các trường hợp chấn thương thể thao
Sự thiếu am hiểu của tập thể huấn luyện viên khi sử dụng các loại hình thể thao bổ trợ và các trò chơi thể thao (bóng đá, bóng chuyền, nâng tạ…) để hình thành các kỹ thuật thể thao bổ sung ở VĐV
Công tác tuyển chọn VĐV không được tiến hành kỹ lưỡng ở một số môn thể thao cũng là nguyên nhân tiềm ẩn gây chấn thương Để đạt được thành tích thể thao cao cũng như chịu đựng được các bài tập nặng phải tuyển chọn được các thanh niên có phẩm chất tâm lý phù hợp và các khả năng thể lực cũng như
có trạng thái sức khoẻ tốt nhất dựa trên các kiến thức và phương pháp y - sinh học hiện đại
- Các biện pháp phòng ngừa chấn thương trong thể thao:
Khởi động đúng cách và thư giãn sau mỗi buổi tập
Tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc huấn luyện, đặc biệt nguyên tắc tăng dần khối lượng và cường độ vận động, trong giới hạn của bản thân, không nên gò ép bản thân tập luyện quá nghiêm khắc, điều này dễ dẫn đến chấn thương như bong gân, rách cơ
Đảm bảo chế độ dinh dưỡng khoa học, cung cấp đầy đủ năng lượng, muối khoáng, các vitamin và nguyên tố vi lượng
Chọn trang phục, giày phù hợp với môn thể thao và với yêu cầu tập luyện hoặc thi đấu
Tăng cường giáo dục ý thức trách nhiệm và tôn trọng đối thủ cho VĐV; Tăng cường giáo dục đạo đức cho VĐV nêu cao tinh thần trung thực, cao thượng trong thi đấu thể thao
Tập thích nghi với điều kiện, môi trường tập luyện và thi đấu thể thao
Tuân thủ các nguyên tắc kiểm tra y học và tự kiểm tra y học, theo dõi sức khỏe của chính mình trong tập luyện và thi đấu thể thao
Tăng cường cơ sở vật chất và những điều kiện đảm bảo về trang thiết bị, sân bãi và dụng cụ thi đấu thể thao./