1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thưc trạng phát triển kinh tế tư nhân và các giải pháp thúc đẩy phát triển

23 579 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Và Các Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Hà Văn Đạt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 228,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thưc trạng phát triển kinh tế tư nhân và các giải pháp thúc đẩy phát triển

Trang 1

Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vấn đề pháttriển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối vớinềnkinh tế Việt Nam Kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận trong cơ cấu ấy đã cómột thời kỳ bị coi làđối lập với kinh tế XHCN, vì vậy phải nằm trong diện cải tạoxoá bỏ Song thực tiễn đã cho thấy quan niệm như vậy là cực đoan và sự xuất hiệntrở lại của kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần không nhỏ vào sự thay đổi bộ mặtcủa nền kinh tế theo hướng tích cực Cùng với chủ trương chuyển nền kinh tế ViệtNam sang nền kinh tế thị trường , Đảng và nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiềuchủ trương, chính sách để khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế,trong đó có kinh tế tư bản tư nhân Tuy nhiên, kinh tế tư bản tư nhân, thành phầnkinh tế non trẻ của nước ta đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức Nhiềuvấn đề bất cập trong xã hôi, trong chủ trương chính sách và tổ chức quản lýđang là trởngại cho sự phát triển của thành phần kinh tế này

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới Cơ hộiphát triển rút ngắn, thực hiện thành công CNH, HĐH phấn đấu đưa Việt Nam về cơbản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hiện thực Tuy nhiên, để thựchiện được mục tiêu này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn với sự giải phóng tối đa lựclượng sản xuất xã hội Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam cònđang hạn chế, xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, còn kinh tế tư bản tưnhân như một động lực phát triển cơ bản là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn.Trong những năm vừa qua mặc dùđã có bước phát triển tốt, kinh tế tư bản tư nhânViệt Nam vẫn chưa thực sự cóđược một vai trò tương xứng với tiềm năng của nó.Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau đây :

"Thưc trạng phát triển kinh tế tư nhân và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế

tư nhân ở việt nam hiện nay"

Đây là bài đềán đầu tiên của tôi nên không tránh khỏi nhưng thiếu sót rất mongnhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn để bài đềán sau của tôi đươc hoàn thiệnhơn

Trang 2

Sinh viên: Hà Văn Đạt

MỘT SỐ VẤNĐỀ LÍ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN

1 Tính tất yếu tồn tại Kinh Tế Tư Nhân :

Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo chủ nghĩa Mac Lênin và tưtưởng hồ chí minh Một trong những nhiệm vụ là xác lập quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , nhằm phát triển kinh tế xã hội Trong đó nội dung cốt lõi là xác lập cơ cấu về sở hữu tư liệu sản xuất và cơ cấu cácthành phần kinh tế một cách phù hợp với yêu cầu của quy luật thực tế khách quacủatrong thời kỳ quáđộ của nước ta Bước khởi đầu đổi mới trong đó có việcmởđường phát triển kinh tế tư nhân đã diễn ra từ năm 1979 , khi đó nghị quyết hộinghị lần thứ IV , BCHTƯĐảng khoá IV Đó là bước đầu chấp nhận kinh tế tư nhân

và kinh tế hàng hoá , dù còn nhiều hạn chế về quy mô và lĩnh vực hoạt động ,nhưng đã lập tức nẩy sinh vứơng mắc về lý luận vìđụng đến nguyên lý cơ bản củanền kinh tếcông hữu vàkế hoạch hoá tập trung , nay lại mởđường cho kinh tế tưnhân vàkinh tếthị trường có thể lợi trước mắt , nhưng lâu dài liệu còn chủ nghĩa xãhội ?” Hầu như mọi vấn đề lý luận nảy sinh từ bước mởđầu phát triển kinh tế tưnhân cho đến nay đều xoay quanh câu hỏi đó

Dẫu còn ý kiến băn khoăn , cuộc mởđường và phát triển vẫn diễn ra trước hết do áplực mạnh mẽ từ thực tế , đông đảo nhân dân vàđảng viên , cán bộđã rất năng độngtìm tòi sáng tạo nhiều nhân tố mới , không thụđộng chấp hành theo “ cơ chế khôngphù hợp thực tế ” , đòi hỏi “cơỉ trói ” , “tháo gỡ ” để sản xuất phát triển nâng caođời sống nhân dân đang quá khó khăn thiếu thốn Khó khăn đó có nguyên nhânkhách quan , nhưng nguyên nhân chủ quan, chủ yếu và trực tiếp là do một số sailầm trong cải tạo, tập thể hóa vàsự duy trì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, ngăncấm kinh tế tư nhân và quan hệ thị trường Và thời gian đó, nguồn vật tư hàng hoá

và tài chính trong tay Nhà nước đã cạnkiệt, trong khi nguồn khả năng trong dân cònnhiều thiếu thốn Thưc tếđóđưa tới đòi hỏi phải “tháo gỡ” từng bước cho kinh tế tư

Trang 3

nhân và tưdo trao đổi hàng hoá Sự tháo gỡ nhanh chóng đưa lại hiệu quả nổibật ,càng giúp khẳng định quyết tâm tháo gỡ.

Cùng với áp lực đổi mơí từ thực tế cuộc sống, về mặt tư tưởng lý luận, ngay từ buổiđầu đã gặp nhiều thuận lợi do những nước xã hội chủ nghĩa lúc đang có trào lưu trởlại những tư tưởng của Lênin trong chính sách kinh tế mới ,nổi bật nhất là sự tấtyếu phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Việt Nam là nước vừa mới pháttriển kinh tế sau chiến tranh ,tự biết mình còn thiếu vốn lý luận và kinh nghiệm,nên đã rất coi trọng tổ chức nghiên cứu học tập và khai thác kiến thức và kinhnghiệm quốc tế Tuy nhiên,đặc điểm nổi bật của bước mởđường đổi mới trên thựctếcủa nhân dân Trên đất nước ta, các năm từ 1979 đến đại hội VI (1986 )Đảng vànhà nước đã liên tục cổ vũ và tạo phong trào tìm tòi sáng tạo và phát huy nhân tốmới trên thực tế Qua đó, từng bước tổng kết , ban hành chính sách và thể chế mới.Bước đổi mới chính sách kinh tế của đại hội VI ( 1986 ) kếđó là hội nghị lần thứ 6(1989 ) BCHTƯĐảng khoá VI , chính là kết quả tổng kết thực tế , tự chủ vận dụngsáng tạo tư tưởng Lênin về phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và quan hệthị trường để xúc tiến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với ViệtNam Chính sách mới của đại hội VI , do phù hợp với thực tếvàý nguyện của nhândân , đãđi vào cuộc sống rất nhanh , tạo cơ sở lý luận và niềm tin mạnh mẽ trongtoàn đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, trong đó phát triển kinh tế tư nhân vàkinh tế thị trường đã trở thành xu hướng không thểđảo ngược dù gặp khó khănvướng mắc thăng trầm Kế tục chính sách củaĐại hội VI về phát triển kinh tế tưnhân và kinh tế thị trường

2.Vai trò và vị trí của thành phần kinh tế tư nhân

2.1 Về cơ cấu nghành nghề kinh doanh.

Đặc trưng bao quát làđầu tư tập trung vào các nghành thương nghiệp, dịch vụ, côngnghiệp chế biến,đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản ,xây dựng ,vận tải kho bãi vàthông tin liên lạc ,khách sạn nhà hàng, kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn,tài chính tín dụng…

Trang 4

Tình hình trên làđiều bình thường trong quá trình chuyển đổi kinh tế kế hoạch hoátập tập trung cao độ ( với nền kinh tế thiếu hụt triền miên –làm không đủăn…),sangnền kinh tế nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước Bởi lẽ, các doanh nghiệp hoặc các nhà kinh doanh chỉđầu tư khi khả năngsinh lợi hấp dẫn.Số lượng các loại hình doanh nghiệp từng bước đãđược thống kêcập nhật nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về kinh tếđối với khu vực kinh tếnày Qua các số liệu thống kê tổng quát cho thấy, ngoài sự phát triển mạnh mẽ củakinh tế cá thể (với 1879402 cơ sở kinh tế ,thu hút 3241129 lao động ) thì doanhnghiệp tư nhân gấp 2,57 lần số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn và gấp 2,95 lần

số lượng công ty cổ phần Tuy nhiên,số lao động thu hút của các công ty tráchnhiệm hữu hạn lại nhiều hơn doanh nghiệp tư nhân 1,15 lần

Như vậy loại hình doanh nghiệp tư nhân vẫn là hình thức hấp dẫn các nhàđầu tư trong nước Điều này có thể cắt nghĩa bởi các nguyên nhân về quyền lợi, uy tín trách nhiệm, các yêu tố tâm lý, tập quán kinh doanh và giới hạn bởi trình độ xã hội hóa sản xuất môi trường kinh doanh.Chính vì vậy nghịđịnh của Đại hội X của Đảng

đã khẳng định : ‘‘Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sảnxuất - kinh doanh Các thành phần kinh tếnhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể tiểu chủ, tưbản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo pháp luật, đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trươc pháp luật, cùng tồn tại vàphát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh’’

2.2 Tạo việc làm và xoáđói gảm nghèo.

2.2.1Tạo việc làm.

Từ năm 1996 đến nay , số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhânchỉ giảm trong năm 1997 , còn lại đều tăng Thời điểm 31-12-2000 số lượng laođộng trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân là 4.643.844 người , chiếm 12%tổng sốlao động xã hội ,bằng 1,3 lần tổng số việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước Lao

Trang 5

động của hộ kinh doanh cá thể là 3.802.057 người, của các doanh nghiệp tư nhân là841.787 người Sự gia tăng của các doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự gia tăng về sốlượng lao động phù hợp với trình độ kỹ thuật của lao động , việc sử dụng lao độngtại chỗ của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã giảm bớt khâu giải quyết nơi ăn ở ,các điều kiện cơ sở hạ tầng khác như phương tiện giao thông , trường học trạmxá… , tình trạng thất nghiệp đã giảm dần

Trong 5 năm 1996-2000 lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng thêm 778.681người (tăng 20,4%) Trong đó số lao động trong các doang nghiệp tư nhân tăngthêm 487.459 người (tăng 237,57%); số lao động ở hộ kinh doanh cá thể tăng thêm292.222 người (tăng 8,29%) Số lao động qua thực tế khảo sát ở hộ kinh doanh cáthể lớn hơn nhiều so với sốđăng ký vì nhiều hộ gia đình chủ yếu sử dụng số laođộng trong dòng họ , lao động mang tính thời vụ và lao động nông nhàn không thểhiện trong báo cáo thống kê Tình hình thu hút lao động trong những năm qua thểhiện rất rõ rệt qua bảng :

Tình hình thu hút lao động trongkhu vực kinh tế tư nhân trong những năm qua.

(tính đến thời điểm 31-12 hàng năm)

Lao động (người) 3.865.1633.666.942 3.816.9424.097.455 4.643.844Tốc độ phát triển liên

hoàn(%)

100 94,87 104,09 107,35 113,33

Tốc độ tăng liên hoàn(%) -5,13 4,09 7,35 13,33

% trong tổng lao động xã hội 11,2 10,3 10,3 10,9 12,0Công nghệ kỹ thuật sản xuất ngày càng được cải thiên và nâng cao , dây truyền sảnxuât ngày càng hiện đại , đòi hỏi ở công nhân một trình độ tay nghề phù hợp vớiđiều kiện làm việc, chính vì thế quá trình đào tạo tay nghềđược đưa lên vị trí hàng

Trang 6

đầu Hiện nay ,trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao rõ rệt , bên cạnh đóviệc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo nghềđược hìnhthành ,như việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo nghềđếnnăm 2005và 2010.Trong đó cần chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề vàcông nhân trình độ cao cho khu vực KTTN Mặt khác điều kiện đểđào tạo tay nghềcho người lao động thuận lợi hơn so với cáckhu vực kinh tế khác, hầu hết được đàotạo tại chỗ, thông qua kèm cặp của người nhàđã có tay nghề Chi phí cho đào tạokhông đáng kể, đồng thời qua truyền nghề như vậy sẽ duy trìđược những làng nghềtruyền thống, góp phần cùng xã hội dạy nghề mà chi phí chung của xã hội (kể cảchi phí của tư nhân và nhà nước ) không đáng kể

Việc tạo ra hiều chỗ làm việc mới đã góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội,nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết sốdôi dư từ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế và giải thể

2.2.2Xoáđói giảm nghèo.

Khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xoáđói giảmnghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở khu vực thành thị và nông thôn Theo thực tếkhảo sát, thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân thường

có mức tương hoặc cao hơn thu nhập của lao động trồng lúa ở nông thôn cùng địabàn

Phát triển khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần rất quan trọng để tạo ra việclàm tại chỗ cho gia đình vàđịa phương , đem lại thu nhập cho người lao động Theokết quảđiều tra doanh nghiệp năm 2000 của Tổng cục Thống Kê , mức thu nhậptrung bình 1tháng/ 1 lao động (1000 đ)của các doanh nghiệp nói chung là: 1041,1;DNNN là 1048,2; DNtư nhân là 651,1; Cty cổ phần là 993,0; Tập thể là 529,3;CtyTNHHlà 801,8; DN có vốn dầu tư nước ngoài là 1754,5.Mức thu nhập của khuvực kinh tế tư bản tư nhân tuy thấp hơn các DNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế

Trang 7

tập thể Thu nhập trung bình của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhâncao gấp 2đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định

3 Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội nộp ngân sách nhà nước 3.1 Huy động các nguồn vốn trong xã hội sử dụng vào sản xuất kinh doanh

Trong 10 năm gần đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, chiếm tỷ lệ caotrong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế tưnhân đạt 31.542 tỷđồng chiếm 24,05%; năm 2000 đạt 35.894 tỷđồng, tăng 13,8%

so với năm 1999, chiếm 24,31% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Năm 2000 vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thểđạt 29.267 tỷđồng, chiếm 19,82%tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư nhân đạt6.627 tỷđồng, chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh Đối với cácdoanh nghiệp tư nhân năm 1999 là 79.493 tỷđồng, năm 2000là 110.071 tỷđồng,tăng 38,5% Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế của doanh nghiệp là

Hà Nội từ 10.164 tỷđồng (năm1999) tăng lên 16.573 tỷđồng (năm2000), tăng63,05%; tương ứng ở thành phố Hồ Chí Minh từ 36.954 tỷđồng tăng lên 52.353tỷđồng, tăng 41,67%…

Trong hai năm 2001-2002, sau khi có luật doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp tưnhân ra đời 35.440,với số vốn đăng kýđạt 40.455 tỷđồng, nhiều hơn số doanhnghiệp tư nhân được thành lập trong 5 năm trước cộng lại

Năm 2003 , khu vực kinh tế tư bản tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ Khu vựckinh tế tư bản tư nhân chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư phát triển, hầu hết giá trịnôngnghiệp, chiếm 25,5% giá trị công nghiệp, phần lớn giá trị dịch vụ, 48% kim ngạchxuất khẩu.Chỉ tính trong 4 năm gầnđây với 72.601 doanh nghiệp có vốnđăng kýđạt145.000 tỷđồng (tương đương với 9 tỷ USD), tỷ trọngđầu tư của các loại doanhnghiệp tư nhân trong tổng đầu tư xã hộiđạt từ 23% đến 25%

Trang 8

3.2.Đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà nước.

Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đãđóng góp rấtlớn vào sự phát triển của đát nước, với số vốn huy động lớn trong toàn xã hội, khuvực kinh tế tư bản tư nhân đãđóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà nướcNăm 2000 nộp được 5.900 tỷđồng, ước tính chiếm 7,3%tổng thu ngân sách tăng12,5% so vơí năm 1999 Đến năm 2001, khu vực doanh nghiệp tư nhân Nộp ngânsách nhà nước đạt trên 11.075 tỷđồng, chiếm 14,8%tổng thu ngân sách Năm 2007kinh tế tư nhân đóng góp khỏang hơn 38% GDP Qua số liệu cho chúng ta thấykinh tế tư nhân có vai trò rất lớn trong nguồn thu ngân sách của nhà nước với tốc

độ phát triển nhanh chóng thì chỉ trong một vài năm gần đây kinh tếtư nhân sẽ thểhiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗ dựa vững chắc trongquá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước công nghiệp hoá hiệnđại hoá

THỰCTRẠNGPHÁTTRIỂNKINHTẾTƯNHÂNHIỆNNAY

1.Thời kỳ trước năm 1986.

Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất đượcthực hiện trên phạm vi cả nước Kế hoạch 5 năm 1976-1980 ngoài nhiệm vụ khắcphục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tế miền Nam theo mô hình kinh tếmiền Bắc Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất nhỏởmiền Bắc, đồng thời triển khai mạnh mẽở miền Nam

Số lượng lao động hoạt động trong kinh tế tư nhân vẫn chiếm trên 20%tổng số laođộng ngành công nghiệp; năm1980: 22,3%;năm1984: 26%; năm 1985:23%;năm1986: 23,2%.Giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực kinh tế tư bản tư nhân tạo rahàng năm chiếm trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp.Nhữngngười kinh doanh thương nghiệp những năm 1980cũng ở mức 60 vạn Năm

Trang 9

1980:63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn.Những số liệu trên cho thấysức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế này trongsuốt thời gian dài như một tất yếu khách quan, cần phải biết sử dụng mặt tích cựccủa nó làm cho dân giàu, nước mạnh.

2.Thời kỳ sau năm 1986.

Từđường lối đổi mới (đại hội VI của Đảng 12-1986) khẳng định xây dựng, phát triểnnền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồntại lâu dài Nghị quyết trung ương khoá VI ghi rõ:”Chính sách kinh tế nhiều thànhphần cóý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuấtlớnXHXN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế”, “Tư nhân được kinh doanhkhông hạn chế về quy môđịa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luậtkhông cấm”

Nhờ có chính sách đổi mới kinh tế tư bản tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiệnphát triển, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của đất nước.Năm 1999 Luậtdoanh nghiệp được quốc hội thông qua và năm 2000 ban hành Luật doanh nghiệp(thay cho Luật Công ty và Luật doanh nghiệăyt nhân trước đây) Đạo luật này đi vàocuộc sống rất nhanh, tạo ra bước phát triển đột biến của kinh tế tư nhân, đặc biệt làdoanh nghiệp tư nhân từ năm 2000 đến nay Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự dokinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ

bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-

2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhânđăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn1991-1999 Cho đến năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư nhânđang hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp, với tổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷđồng Từ năm 1991đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%, kinh tế cá thể giảm từ 35,9%xuống 31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14% Từ

Trang 10

1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước

và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi

sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụcủa các doanh nghiệp không phân biệt hìnhthức sở hữu

II PHÁTTRIỂNKINHTẾTƯNHÂNTHEONGÀNHNGHỀTỔCHỨCKINHDOANH.

1 Trong lĩnh vực nông nghiệp.

Cùng với sựđổi mới trong kinh tế hợp tác, các Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tưtrong nước, Luật Thương mại thông qua vào đầu những năm 90 đã tác động rấtmạnh vào khu vực nông nghiệp, tới hàng triệu nông dân Việt Nam Kinh tế hộ giađình nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tínhchất công nghiệp ở nông thôn (ngành nghề truyền thống, các doanh nghiệp xâydựng, dịch vụ…) phát triển rất mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhièuvùng nông thôn.Trong lĩnh vực nông nghiệp số hộ tư nhân, cá thể chiếm tỷ trọng lớn81,65% Đây thực sự là lực lượng kinh tế mạnh thể hiện trên các mặt sau đây:

Chỉ trong thời gian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trang thiết bị hiệnđại, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bước: các hộ nôngdân sắm thêm được 109.483 máy phát điện, 9.088 động cơđiện, 36.011 động cơ chạyxăng, 97.808 máy tuốt lúa, 28.643 máy kéo lớn , 75.286 máy kéo nhỏ, 537.809 máybơm, 106.305 máy xay, 15.157 máy nghiền thức ăn gia súc, 11.392 máy cưa Nếu kểthêm những đóng góp của nông dân vào xây dựng đường điện, đường, trường trạmthì rất lớn

Cũng chỉ trong thời gian không lâu, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn thì nông dân nước ta đã bỏ vốn lập trên 110.000 trang trại với số vốn cao,trong đó riêng các tỉnh phía bắc 67.000 trang traị Các trang trạiđã tạo ra một lượnghàng hoá lớn; trung bình một trang trại cung cấp một lượng giá trị hàng hoá là107,449 triệu đồng, trong đó tỷ trọng hàng hoá là 86,74% Số hàng hoá này chủ yếu

Trang 11

là nông sản, hải sản, một số nhỏ là sản phẩm chăn nuôi Kinh tế trang trại đã gópphần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam lên kinh tế hàng hoá, giải quyếtnhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

Có thể nói, khu vực kinh tếtư nhân trong nông nghiệp thời gian qua đã góp phầnxứng đáng vào thành tích của ngành nông nghiệp nói chung tạo ra tổng sản lượngcủa Việt Nam, và 32% kim ngạch hàng xuất khẩu bao gồm cả thuỷ sản)

2 Trong lĩnh vực công nghiệp

Với cơ chế mới, khu vực kinh tế tư nhân cũng thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vựccông nghiệp Toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp (bao gồm cácdoanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đãđua phần đóng góp vào sản lượng công nghiệp

cả nước từ 375 năm 1990 lên 58% năm 2006, trong đóđóng góp quan trọng nhất làcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và lĩnh vực côngnghiệp chế tạo (khu vực tư nhân trong nước năm 2006chiếm 23,7%, khu vực đầu tưnước ngoài chiếm 35,25) Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp sẽcòn tăng hơn nữa vì những đổi mới trong thể chế rất mạnh với những bộ luật mới rađời từ năm 1998 đến nay, nhất là Luật Doanh nghiệp mới được phê chuẩn năm 1999

và có hiệu lực thực hiện từ năm 2000, kèm theo việc bãi bỏ hơn 100 loại giấy phépkinh doanh gây phiền hà, cản trở; Luật Đầu tư nước ngoài cũng được sửa đổi vớinhững thuận lợi mới cho các nhàđầu tư …

Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của khu vực kinh tế tưnhân trong hoạt động công nghiệp (bao gồm cả tiểu, thủ công nghiệp) cũng pháttriển rất mạnh vàđóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nôngnghiệp, nông thôn nói riêng Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê và của một số cơquan chức năng, trong những năm gần đây, trong nông thôn cả nước có khoảng từ18% đến 20% số hộ nông dân tham gia hoạt động phi nông nghiệp, trong đó một nửa

Ngày đăng: 27/01/2013, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w