1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn chính trị học phát triển - vai trò của tri thức khoa học đối với phát triển kinh tế

20 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI GIỚI THIỆU Trong kinh tế vai trò của tri thức khoa học và công nghệ trong bất cứ giai đoạn nào của xã hội loài người cũng đã được lịch sử thừa nhận. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XX vai trò của tri thức khoa học công nghệ ngày càng rõ rệt, trở thành yếu tố có tính quyết định trong sự phát triển kinh tế. Ngày nay các quốc gia đều thừa nhận khoa học, công nghệ là công cụ là chiến lược để phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng và bền vững trong môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt. Ở Việt Nam vai trò của tri thức khoa học công nghệ đã được khẳng định . Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định “khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. Đại hội Đảng VIII Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhấn mạnh “khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tiếp theo Đại hội IX “Tăng cường tiềm lực và đổi mới khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước” Khoa học và công nghệ luôn được xác định giữ vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một nền công nghiệp phát triển luôn dựa trên một nền khoa học và công nghệ tiên tiến và ngược lại, công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho khoa học và công nghệ phát triển… Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng và Nhà nước đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ (KHCN) đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với tiến trình phát triển ngành Công nghiệp nói riêng. Triển khai chủ trương trên, cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, tiềm lực KHCN đã được tăng cường, nhiều thành tựu KHCN được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, thông tin, xây dựng... Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được tiếp tục hoàn thiện; hoạt động xúc tiến hỗ trợ tìm kiếm, trao đổi, chuyển giao công nghệ được đẩy mạnh. Các quỹ phát triển KHCN quốc gia, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia được thành lập và hoạt động, phát huy hiệu quả. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thông tin KHCN có bước phát triển vượt bậc. Hoạt động kết nối cung cầu được tăng cường, bước đầu hình thành một số mô hình gắn kết giữa viện, trường với doanh nghiệp trong hoạt động KHCN.

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

Trong kinh tế vai trò của tri thức khoa học và công nghệ trong bất cứ giai đoạn nào của xã hội loài người cũng đã được lịch sử thừa nhận Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XX vai trò của tri thức khoa học công nghệ ngày càng

rõ rệt, trở thành yếu tố có tính quyết định trong sự phát triển kinh tế

Ngày nay các quốc gia đều thừa nhận khoa học, công nghệ là công cụ là chiến lược để phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng và bền vững trong môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt

Ở Việt Nam vai trò của tri thức khoa học công nghệ đã được khẳng định Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định

“khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước”

Đại hội Đảng VIII Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhấn mạnh “khoa học

và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tiếp theo Đại hội IX “Tăng cường tiềm lực và đổi mới khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”

Khoa học và công nghệ luôn được xác định giữ vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một nền công nghiệp phát triển luôn dựa trên một nền khoa học và công nghệ tiên tiến và ngược lại, công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho khoa học và công nghệ phát triển…

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng và Nhà nước đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ

Trang 2

(KHCN) đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với tiến trình phát triển ngành Công nghiệp nói riêng Triển khai chủ trương trên, cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, tiềm lực KHCN đã được tăng cường, nhiều thành tựu KHCN được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, thông tin, xây dựng Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được tiếp tục hoàn thiện; hoạt động xúc tiến hỗ trợ tìm kiếm, trao đổi, chuyển giao công nghệ được đẩy mạnh Các quỹ phát triển KHCN quốc gia, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia được thành lập và hoạt động, phát huy hiệu quả Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thông tin KHCN có bước phát triển vượt bậc Hoạt động kết nối cung cầu được tăng cường, bước đầu hình thành một số mô hình gắn kết giữa viện, trường với doanh nghiệp trong hoạt động KHCN

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái niệm tri thức khoa học và công nghệ

a Tri thức khoa học.

- Khái niệm

Tri thức khoa học là những kiến thức thu được qua những quá trình học tập một cách công phu

Tri thức khoa hoc không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn được kiểm nghiệm qua thực tiễn

-Đặc điểm của tri thức khoa học

Tri thức khoa học là tri thức ở tầm quản lý được cái bản chất qui luật nguyên nhân, xu hướng của thế giới khách quan

Tri thức khoa học là tri thức có tính hệ thống về sự vật khách quan

Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới khách quan và không phải được kiểm tra và chứng minh bởi logic và thực tiễn

- Nguồn gốc của sự hình thành tri thức khoa học

Tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài,liên tục tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác Từ những con số, chất liệu, dữ liệu thu nhận được qua việc quan sát, phân tích,nổ xẻ các đối tượng nghiên cứu qua thực nghiệm,thí nghiệm khoa học đã hình thành nên những tri thức kinh nghiệm khoa học song nếu chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm khoa học thì chưa thể co tri thức khoa học Vì chưa khám phá ra được bản chất của sự kiện chưa nắm bắt được qui luật tồn tại và hoạt động của nó bằng tư duy lý luận với tư duy trừu tượng khoa học Một đặc trưng chỉ vốn có của bộ não con người, con người gạt bỏ được những mối liên hệ ngẫu nhiên bề ngoài của

sự vận động biến đổi và phát triển của đối tượng nghiêng cứu

Trang 4

b Tri thức công nghệ.

- Khái niệm

Tri thức công nghệ là tập hợp tất cả những hiểu biết của con người về việc biến đổi,cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người,sự tồn tại và phát tiển của xã hội

Tri thức công nghệ bao gồm các cách thức,phương pháp các thủ thuật,

kỹ năng có được nhờ trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra sản phẩm

- Đặc điểm của tri thức công nghệ

Tri thức cụng nghệ cú tớnh lưu truyền Chuỗi phỏt triển tri thức cụng nghệ khụng cú kết thỳc vỡ những kỹ năng, hiểu biết, đúng gúp của con người tớch lũy được trong quỏ trỡnh hoạt động của họ truyền lại cho thế hệ sau Tri thức cụng nghệ được tớch lũy trong cụng nghệ trả lời hai cõu hỏi

“làm cỏi gỡ” và “làm như thế nào” nhờ cỏc tri thức ỏp dụng trong cụng nghệ

mà sản phẩm của nú cú đặc trưng mà sản phẩm cựng loại của cụng nghệ khỏc khụng cú được Do đú tri thức cụng nghệ là sức mạnh của cụng nghệ

c Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ.

Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Khoa học là tiền đề trực tiếp của công nghệ và công nghệ lại là kết quả trực tiếp của khoa học Khi nói đến công nghệ người ta hiểu ngay trong

đó có khoa học Trong công nghệ trí tuệ, tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Ngược lại những tri thức khoa học hiện đại không thể có được nếu thiếu trợ giúp của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin

Vì sự phát triển của khoa học chính là thước đo trình độ phát triển của tư duy

Trang 5

con người Từ đây cho thấy rằng giữa thông tin và khoa học có mối quan hệ hết sức chặt chẽ,hữu cơ với nhau Thông tin vừa là nội dung khoa học vừa là hình thức biểu hiện của nó vì nó lưu giữ và chuyển tải thông tin tri thức khoa học là bằng công nghệ thông tin Qua các máy vi tính,siêu vi tính và mạng Internet bằng công nghệ thông tin

So sánh các giai đoạn phát triển cơ bản của khoa học và công nghệ hay cũng có thể coi đó là những cuộc cách mạng khoa học và cách mạng công nghệ chúng ta thấy mối quan hệ chặt chẽ và phù hợp với nhau một cách đáng kinh ngạc Xét về mặt thời gian các cuộc cách mạng khoa học và các cuộc cách mạng công nghệ diễn ra về cơ bản như đồng bộ với nhau Xét về mặt nội dung và tính chất của các cuộc cách mạng này biểu hiện những trình độ phát triển ngày càng cao,hoàn thiện hơn

d Cấu trúc của tri thức khoa học và công nghệ.

- Cấu trúc của tri thức khoa học

Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận tri thức khoa học bao gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận Trong đó tri thức kinh nghiệm là trình

độ thấp còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học, giữa hai trình độ này các tri thức khoa học có mối quan hệ mật thiết với nhau làm tiền

đề, cơ sở cho nhau cung phát triển, phản ánh ngày càng đúng đắn hơn, đầy đủ hơn và sâu săc hơn về thế giới vật chất đang vận động không ngừng

Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được thông qua quan sát và thí nghiệm thực tế Nó nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động sản xuất đến đấu tranh xã hội hoặc từ thí nghiệm khoa học Xét về mặt toàn diện

và đầy đủ tri thức kinh nghiệm lại được chia thành hai loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm

Trang 6

mới chỉ là những hiểu biết về những mặt riêng rẽ, rời rạc về các mối liên hệ bên ngoàicủa đối tượng Vì thế dù đã mang tính trừu tượng và khái quát nhất định nhưng tri thức kinh nghiệm mới chỉ là bước đầu và còn hạn chế

Để nắm bắt được bản chất của sự vật thì nhận thức của con người tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lý luận Đây là một trình độ cao hơn về chất

so với tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận được khái quát tư tri thức kinh nghiệm Nó tồn tại trong hệ thống các kinh nghiệm phạm trù,quy luật,giả thuyết, lý thuyết, học thuyết nào đó Tri thức lý luận là sự biểu hiện chân lý chính xác hơn, hệ thống hơn và có tính sâu sắc hơn và vì thế phạm vi ứng dụng của nó cũng rộng rãi hơn tri thức kinh nghiệm

Tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm là hai trình độ phản ánh khác nhau và bổ xung cho nhau để nắm bắt chuẩn xác hơn bản chất của sự vật

- Cấu trúc của tri thức công nghệ

Theo trỡnh độ tri thức công nghệ căn cứ vào mức độ phức tạp, hiện đại của công nghệ được chia thành các tri thức công nghệ đơn giản và phức tạp hơn

Phát triển tri thức công nghệ của con người hỡnh thành khi được nuôi dưỡng,dạy dỗ trong nhà trẻ,lớp mẫu giáo,tiếp theo được hoc tập trong nhà trong nhà trường rồi đào tạo trong trường dạy nghề hay trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học Với kiến thức trang bị qua quá trỡnh đào tạo,con người tham gia vào công nghệ trong quá trỡnh đó với sự tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng của họ được nâng cấp và phát triển

2 Vai trò của tri thức khoa học ,công nghệ đối với phát triển kinh Từ

Trang 7

Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức của con người về tự nhiên, xó hội và tư duy với bản chất và quy luật vận động của chúng được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết định hướng hoạt động của con người Cũn cụng nghệ là sự ứng dụng, vật chất húa cỏc tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống, đó là tập hợp các giải pháp, phương pháp, quy trỡnh, kỹ năng, phương tiện kỹ thuật,… được sử dụng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ cụ thể

Thuật ngữ khoa học và công nghệ là sự thể hiện, đồng hành gắn bó giữa

lý luận, lý thuyết và thực tiễn, thực hành, giữa nghiờn cứu và ứng dụng thực tế

Đầu thế kỷ XX, loài người đó tớch lũy được một kho tàng trí tuệ về khoa học và kỹ thuật đồ sộ Karl-Marx (1818 - 1883) đó từng cú một luận điểm nổi tiếng: “tri thức xó hội phổ biến (được hiểu là khoa học - TVK) đó chuyển húa thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Tuy nhiên do điều kiện lịch sử lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều, không dưới 80 - 90% dân số thế giới vẫn sống trong nghèo nàn lạc hậu

Khoa học và công nghệ (KHCN) giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 40 thế kỷ trước và đặc trưng rừ nột nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũ trụ (1957) tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, cũng như các công trỡnh nghiờn cứu vũ trụ khỏc đến nay hầu như là chuyện “hàng ngày” Được sự kích thích

và sự hỗ trợ của công nghệ vũ trụ, các ngành công nghệ mới, có tầm cao mới liên tiếp ra đời, đặc biệt là công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo,… với những phát minh kỳ diệu như lade (1967), truyền hỡnh qua vệ tinh nhõn tạo (1964), tổng hợp gien (1973), mạch tổ hợp cho (1965),

Trang 8

máy tính điện tử, máy tính điện tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ óc con người (1994), bộ vi xử lý (1971), rệp điện tử, máy gia tốc, v.v…

Có thể nói từ nửa cuổi thế kỷ XX, con người đó mở rộng them tầm nhỡn, thực sự nối thờm cỏnh để bay và làm việc trong không gian bao la, đó làm cho khụng gian thu hẹp khoảng cỏch, con người xích lại gần gũi nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp, sôi nổi hơn, khối óc, sâu rộng hơn, hiểu biết thế giới khách quan khám phá quá khứ lịch sử cũng như dự đoán tương lai xác thực hơn(1)… Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xó hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động tạo nên một sự phát triển nhảy vọt, một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới (thường gọi là thời đại kinh tế tri thức) quá

độ sang một nền văn minh mới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mà nguyên nhân và động lực chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới (2) hỡnh thành từ mấy chục năm qua

Nói kinh tế tri thức tức là nói nền “kinh tế trong đó sản sinh ra, phổ cập

và sử dụng tri thức đóng vai trũ quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”(3)

Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trũ ngày càng to lớn của những đổi mới liên tục về khoa học và công nghệ trong sản xuất và vai trũ chủ đạo của thông tin và tri thức với tư cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Cỏc nhà nghiờn cứu cũn chỉ rừ, theo cấp độ tiến hóa của các nền văn minh nhân loại, có thể thấy quyền lực đang dịch chuyển từ sức mạnh của bạo lực, vũ khí, tiền bạc (thuộc hai nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp, sang sức mạnh của tri thức, trí tuệ Trong nền văn minh mới này, quyền lực không

Trang 9

cũn phụ thuộc vào sức mạnh vật chất và của cải sẵn có trong tay mà chủ yếu phụ thuộc vào những nguồn tri thức nắm được Tài nguyên tri thức - trí tuệ cơ bản khác với tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động ở chỗ khi sử dụng hoặc trao đổi đó khụng mất đi mà cũn được bảo tồn hoặc có bổ sung phong phú thêm, trái lại chi phí cho việc sử dụng, trao đổi, phổ biến hầu như không đáng

kể Tri thức cũn là thứ “của cải” mà bất cứ người nào, dân tộc nào, dù là yếu, nghèo nhất, nếu có quyết tâm học hỏi cũng đều có thể giành được, chiếm đoạt được

Trong lĩnh vực kinh tế - xó hội, khoa học và cụng nghệ đó thực sự thỳc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người

Khoa học và công nghệ đó trực tiếp tỏc động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rừ rệt tỷ lệ tiờu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,… Nhiều sản phẩm mới ra đời phong phú, đa dạng, đa năng, mẫu mó đẹp, kích thước nhỏ nhẹ hơn Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể

a Trong điều kiện hiện nay ứng dung tri thức khoa học,công nghệ là

sự cần thiết.

- Trong nền kinh tế thế giới chuyển dần sang cơ cấu phát triển theo chiều sâu

Trong nền văn minh này động lực thúc đẩy nền sản xuất không phải là vốn,tài nguyên thiên nhiên, sức lao động giản đơn mà là tri thức khoa học, công nghệ… Đặc biệt là trong công nghệ cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía những ngành có hàm lượng khoa học, công nghệ và trí tuệ cao, cơ cấu

Trang 10

tiêu thụ giảm theo hướng giảm các sản phẩm dùng nhiều lao động và nguyên liệu

Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lượng và lợi thế so sánh của nguyên liệu và sản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần, do vậy mà mới có tình trạng chỉ số giá cả các sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị trường thế giới giảm tới 40% so với đầu thập kỷ 80 Nhờ tiến bộ khoa học, công nghệ mà càng ngày người càng tao ra được nhiều nguyên liệu

có thể thay thế những thứ từ trước tới nay chỉ có thể dưa vào sự cung cấp của thiên nhiên Vì vậy tiến bộ khoa học công nghệ đang làm cho ưu thế dưới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nên tương đối

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nước đang phát triển thoát khỏi sự lạc hậu và trì trệ về kinh tế Nếu như biết định hướng đúng, có một tiềm năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần thiết để tiếp thu các công nghệ hiện đại Khi đã có những

kỹ thuật công nghệ mới tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho số lao động dôi ra, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm thì khả năng hội nhập của các nước này với trào lưu chung của thế giới là hiện thực song tiến

bộ khoa học công nghệ thời đại chúng ta còn có một mặt khác nghiệt ngã hoàn toàn có khả năng nhấn chìm các nước kém phát triển chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu và phụ thuộc Nếu như họ không tìm ra con đường thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ, thói quen cũ không thích nghi với những biến đổi của thời đại

- Khoa học và cộng nghệ là động lực của công nghiệp hoá hiện đại hoá Mục tiêu của công nghiệp hoá hiện đại hoá là sử dụng kỹ thuật công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt nănátuất lao động cao Tất cả

Ngày đăng: 18/07/2018, 23:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w