1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen truong an 20230331014816 e 445

87 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích
Tác giả Nguyễn Trường An
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Lê Đức Xuân
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao & Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 824,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nguyễn Văn Khoát 2018: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác ở Việt Nam”, Luận á

Trang 1

NGUYỄN TRƯỜNG AN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2023

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ LÊ ĐỨC XUÂN

Hà Nội –2023

Trang 3

1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích 8 1.1.1 Khái niệm của tội cố ý gây thương tích 8 1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích 9 1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích 13 1.2.1 Khái niệmcủa thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm

vụ án cố ý gây thương tích 13 1.2.2 Đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ

án cố ý gây thương tích 16 1.2.3 Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án cố ý gây thương tích 20 1.3 Mối quan hệ của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích 21 Tiểu kết chương 1 23 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 24 2.1 Quy định pháp luật vềthực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích 24 2.1.1 Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ

án cố ý gây thương tích 25 2.1.2 Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ vụ án cố ý gây thương tích 26

Trang 4

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội tỉnh Hải Dương 36

2.2.2 Khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương 39

2.2.3 Tình hình giải quyết tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương 41

2.3 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương 42

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 42

2.3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 48

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3:YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢTHỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH 56

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích 56

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích 60

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 60

3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 64

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

(ký ghi rõ họ và tên)

Nguyễn Trường An

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật hình sự và

Tố tụng hình sự của mình, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Khoa Pháp luật hình sự và Kiểm sát hình sự, Hội đồng xét duyệt

đề tài cùng toàn thể thầy cô giáo đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lê Đức Xuân - người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình

đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt mọi công việc trong quá trình thực hiện luận văn Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn của mình đến các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện, chia sẻ, động viên tôi suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn Mặc

dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những

thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây dựng cho được hệ thống pháp luật thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ và bảo vệ quyền con người Mục tiêu và hoạt động nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay đều hướng tới bảo vệ quyền con người Tuy nhiên trong những năm gần đây, dưới sự ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau, do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc

tế với những ảnh hưởng tiêu cực từ game online, phim ảnh bạo lực, văn hóa phẩm không lành mạnh, đã ít nhiều gây ảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ người dân,họcó xu hướng tôn sùng bạo lực, cho rằng bạo lực là phương thức giải quyết mọi vấn đề, gây nên mất an toàn - an ninh cho toàn xã hội Trước tình trạng trên thì chất lượng hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật như Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân ngày càng phải được nâng cao, hoàn thiện nhằm giữ vững ổn định trật tự và an toàn xã hội.Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và

kiểm sát hoạt động tư phápnhằm thực hiện “nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ

quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [18].Thực hành quyền công

tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm minh, thống nhất nhằm bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, quyền con người và quyền công dân.Thực hành quyền công tố được thực hiện từ giai đoạn giải quyết nguồn tin báo về tội phạm đến giai đoạn xét xử các vụ án hình sự.Trong đó, thực hành quyền công tốtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm thể hiện rõ nét nhất chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, qua đó thực hiện nhiệm vụ buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm mà Hiến pháp đã trao cho ngành Kiểm sát

Trang 10

Theo thống kê trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng xảy ra 421 vụ cố ý gây thương tích, điều tra làm rõ 393 vụ, khởi tố 365 vụ/668 bị can.Tội phạm cố ý gây thương tích có chiều hướng tăng với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những mâu thuẫn trong đời sống không được hòa giải kịp thời dẫn đến sử dụng bạo lực, các loại công cụ phương tiện như đá, chai thủy tinh, gậy, dao, mã tấu, để giải quyết mâu thuẫn, gây mất an toàn, an ninh trật tự cho xã hội Trước tình hình diễn biến phức tạp của các loại tội phạm trên,Viện kiểm sát nhân dân đã phối hợp với các cơ quan có thẩm quyềntích cực phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử một cách kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật Với chức năng, nhiệm vụcủa mình, Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện tốt, có hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm xét xử công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần thực hiện tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội… Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hành quyền công tốloại vụ án này còn nhiều hạn chế, không chỉ xuất phát từ những bất cập trong các quy định của pháp luật hình sự mà còn thể hiện ngay trong quá trình nhận thức và áp dụng pháp luật chưa thống nhất Điều này đã dẫn đến có việctruy tố, luận tội, đề nghị mức hình phạt chưa thuyết phục, thiếu khách quan, công bằng, chưa thể hiện được tính nghiêm minh, tính răn đe của pháp luật Để khắc phục tình trạng này, nâng cao hiệu quả của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án nói chung cũng như các vụ án cố ý gây thương tích nói riêngcần phải có nhiều giải pháp đồng bộ, lâu dài, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn, đặc biệt là

sự nỗ lựcchung tay của các cơ quan tiến hành tố tụng khác, đồng thời có sự tham gia đóng góp ý kiến của toàn thể nhân dân

Từ những vấn đề nêu trên đã khẳng định việc lựa chọn đề tài: “Thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương”làm luận văn thạc sĩ, nhằm giải quyết những vấn đề về lý luận

và thực tiễn đang đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác đấu tranh

Trang 11

phòng, chống các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong giai đoạn hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động của VKSND trong xử lý các vụ án hình sự nói chung và THQCT đối với vụ án cố ý gây thương tích nói riêng hiện nay đang là chủ đề được khá nhiều học giả cũng như người làm công tác thực tiễn quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc

độ khác nhau Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có các công trình nghiên cứu như:

- Nghiên cứu về lý luận: Đã có các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật như: Các giáo trình của Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội… Trong những giáo trình này, các nhà nghiên cứu đều chỉ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong giải quyết các

vụ án hình sự ở mức độ khái quát, cơ bản nhất Ngoài ra, còn có các bài viết trên sách báo, tạp chí nghiên cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố, Bên cạnh đó, những cuốn bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự của các trường như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh hoặc các cuốn bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự do TS Nguyễn Đức Mai làm chủ biên hay các cuốn bình luận của các tác giả khác như GS.TS Nguyễn Ngọc Anh – LS.TS Phan Trung Hoài, TS Phạm Mạnh Hùng và các đồng tác giả, cũng nghiên cứu về

công tác THQCT, KSHĐTP.Sách chuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiểm

sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” ban hành năm 2005; “Quyền công tố và kiểm các hoạt động tư pháp” ban hành năm 2008 do TS Lê Hữu Thể

chủ biên.Sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, Nxb

Chính trị quốc gia của tác giả Lê Hữu Thể Hay sách chuyên khảo của tác giả

Dương Thanh Biểu chủ biên về “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm”, NXb Tư pháp

năm 2006

- Một số công trình thực tiễn khác (chủ yếu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật, chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự) như:

Trang 12

+ Nguyễn Văn Khoát (2018): “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội;

+ Trần Thị Liên (2019): “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự”, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội;

+ Nguyễn Thị Đoan Trang (2017):“THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố

Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học – Đại học Luật Hà Nội;

+ Pha Thị Sa(2018):“Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ

Luật học – Viện Hàn Lâm Khoa học Xã Hội;

+ Đặng Xuân Lộc (2019): “THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ – Viện Khoa học Xã hội;

+ Trần Năm Vinh (2020):“Phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ

Luật học – Đại học Luật Hà Nội;

+ Nguyễn Tuấn Hùng (2020): “Một số thực trạng và giải pháp trong công tác

giải quyết tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác”,

VKSND huyện Mai Sơn, Sơn La

Như vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến THQCT của VKS ở các phương diện, cấp độ và cách tiếp cận khác nhau Song do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của các công trình đó được giới hạn nên đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu vềTHQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương Qua đây có thể xác định luận văn của tác giả không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố trước đây có liên quan đến đề tài luận văn Cùng với đó, đề tài này được thực hiện trên tinh thần có sự tiếp thu, kế thừa của các công trình đã được nghiên cứu trước đó, đồng thời đánh giá những điểm mới và quan điểm của tác giả trong tình hình kinh tế - xã hội hiện tại

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật về THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án Cố ý gây thương tích,phân tích một cách khách quan dựa trên tình hình thực hiện trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận văn hướng tới mục đích trên cơ sở kết quả xác định những tồn tại, bất cập và nguyên nhân trong quá trình THQCTcủa VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án cố ý gây thương tích để từ đó đưa ra một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng của công tác này nói riêng và đối với việc giải quyết các

vụ án hình sự nói chung

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề lý luận chung như: Khái niệm, nội dung, phạm vi, đặc điểm, vềTHQCTcủa VKSNDtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với vụ án cố ý gây thương tích

Thứ hai, phân tích,làm rõ những quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015 và các văn bản pháp luật có liên quan về THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với vụ án cố ý gây thương tích

Thứ ba, phân tích, làm rõ tình hình tội cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tổng kết những kết quả tích cực đã làm được, làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động này

Thứ tư, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xửsơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt độngTHQCT của VKSNDtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụán cố ý gây

thương tíchtrên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 14

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễnhoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh

Hải Dương

Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễnhoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian 5 năm từ năm 2017 đến năm 2021

5 Các phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chính sách pháp luật, cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận khoa học nêu trên, trong quá trình nghiên cứu

đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự như: Phương pháp tiếp cận định lượng và tiếp cận định tính; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và các luận chứng về các vấn đề nghiên cứu trong luận văn

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn đối với những người làm công tác thực tiễn, áp dụng phương pháp nghiên cứu điển hình đối với các vụ án về cố ý gây thương tích, từ đó rút ra các luận cứ làm cơ

sở cho việc đưa ra các nhận định, đánh giá của mình

Trang 15

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về hoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tội cố ý gây thương tích nói chung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, vừa có ý nghĩa về mặt lí luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn như sau:

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận văn là công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích một cách tương đối đầy đủ, toàn diện, có hệ thống các quy định pháp luật về Hoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích và việc áp dụng những quy định đó trên thực tế Luận văn góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử

sơ thẩmcác vụ án cố ý gây thương tích, đồng thời góp phần bổ sung, làm phong phú thêm dưới góc độ pháp lý hình sự, tố tụng hình sự và đưa ra cơ sở khoa học của hoạt động hoàn thiện pháp luật về hoạt động này

Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy

và nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật

7 Bố cục của luận văn

Chương 1: Một số vấn đề chung về thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀTHỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN CỐ Ý GÂY

THƯƠNG TÍCH

1.1.Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích

1.1.1 Khái niệm của tội cố ý gây thương tích

Thân thể con người là một trong những vấn đề được pháp luật nước ta quan tâm và bảo vệ Mặc dù hiện này Bộ luật Hình sự đã đưa ra nhiều quy phạm pháp luật để quy định những hành vi cấm xâm hại đến thân thể con người và chế tài xử

lý Nhưng hàng ngày vẫn có nhiều cuộc ẩu đả, đánh chém lẫn nhau và gây ra những hậu quả nặng nề, gây nguy hiểm cho xã hội Nhiều vụ việc thương tâm được báo chí đăng tin hàng ngày, nguyên nhân của những cuộc ẩu đả có thể chỉ xuất phát từ những lý do vô cùng nhỏ, không đáng bận tâm,nhưng chính vì sự mất kiểm soát bản thân và xem thường pháp luật mà gây nên Đa phần những cuộc ẩu đả đều xuất phát

từ hành vi cố ý gây thương tích với nhau Vậy cố ý gây thương tích là gì? Theo Từ điển Luật học thì “Cố ý gây thương tích” là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích cụ thể [30, tr172].Có thể hiểu đơn giản là chủ thể cố tình dùng những hành vi, vũ khí, phương tiện để tác động lên thân thể của người khác nhằm mục đích gây ra vết thương, hoặc thực hiện được mong muốn của bản thân là khiến đối phương bị thương để thỏa mong muốn của bản thân Đây là hành vi cực kỳ nguy hiểm cho người khác cũng như xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được tôn trọng, bảo vệ sức khỏe con người

Tội phạmtheo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 được hiểu là

“hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có

năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người,

Trang 17

quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”

[21] Có thể thấy nội hàm của khái niệm tội phạm có các dấu hiệu cơ bản là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt Trong đó, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm

Như vậy, có thể hiểu Tội cố ý gây thương tích là: loại tội phạm do người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (sức mạnh bạo lực) gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, một cách trái quy định của pháp luật hình sự và đến mức đáng phải xử lý bằng hình phạt Hành vi gây thương tích được thực hiện bằng phương pháp hành động như dùng chân tay, hung khí tác động lên cơ thể người khác làm họ bị thương tích hoặc

bị tổn hại sức khỏe, hoặc có thể thực hiện bằng phương pháp không hành động nhưng buộc nạn nhân phải gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho mình hoặc giúp sức cho đồng phạm thực hiện phạm tội hành vi gây thương tích…

Từ khái niệm về “ Tội cố ý gây thương tích” nêu trên thì có thể hiểu vụ án Cố

ý gây thương tích là vụ việc có dấu hiệu phạm tội của Tội cố ý gây thương tích được quy định trong Bộ luật Hình sự đã được Cơ quan có thẩm quyền ra lệnh khởi

tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật Tố tụng Hình sự

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích

Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể đóng vai trò quan trọng, giúp chúng ta phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác, từ đó có cơ sở pháp lý vững chắc nhằm đưa ra kết luận chính xác trong việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt một cách chính xác đối với một tội phạm cụ thể.Dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể được thể hiện qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm là: Mặt chủ thể của tội phạm, Mặt khách thể của tội phạm, Mặt chủ quan của tội phạm, Mặt khách quan của tội phạm

Trang 18

Về mặt lý luận tội phạm cố ý gây thương tích cũng có đầy đủ các dấu hiệu pháp lý về cấu thành tội phạm như tội phạm nói chung, cụ thể là:

- Mặt khách thể của tội phạm:Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại tới [27, tr.78] Khách thể trực tiếp của tội phạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ Đây là một trong những quyền cơ bản của con người

đã được hiến định tạikhoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền

bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”[18] Khi

thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành vi của người phạm tội đã xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến sức khỏe của con người thông qua việc tác động đến cơ thể con người, gây ra những tổn thương cơ thể ở một mức độ nhất định

- Mặt chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định + Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như tính chất pháp lý của hành vi, đồng thời có khả năng điều khiển được hành vi phạm tội của mình, tức

là không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015

+ Theo quy định tại Điều 12 và Điều 134 BLHS, thì chủ thể của tội phạm này phải đủ 16 tuổi trở lên, nếu phạm tội quy định ở khoản 1 và khoản 2 Điều 134 hoặc đủ

14 tuổi trở lên nếu phạm tội quy định tại các khoản 3,4,5 Điều 134 BLHS năm 2015

- Mặt khách quan của tội phạm:Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan như hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương thức, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội[27,

Trang 19

tr.86] Cũng như các tội phạm khác, mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài, bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và các dấu hiệu khách quan khác (như: thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện, phương thức, thủ đoạn, hoàn cảnh thực hiện hành vi)

Có thể hiểu hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi được điều khiển và nhận thức của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác một cách cố ý Đó là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, trái quy định của pháp luật hình sự.Cụ thể tại các yếu tố sau:

+ Phương tiện và công cụ thực hiện phạm tội: Dựa vào việc người phạm tội

sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội có thể xác định được là thật sự người phạm tội mong muốn giết người hay chỉ đơn thuần gây thương tích như lựa chọn phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng hoặc sử dụng phương tiện, công cụ có tính chất gây sát thương cao nhưng vị trí tấn công không phải vị trí chí mạng, cường độ không lớn

+ Vị trí xác định thương tích, tổn hại sức khỏe trên cơ thể nạn nhân: Một người đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp lý hoàn toàn có thể nhận thức được và tấn công vào những vị trí không xung yếu trên cơ thể nạn nhân (nơi xung yếu trên cơ thể thường là vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ,…)

+ Mức độ nghiêm trọng của hành vi cố ý gây thương tích: Yếu tố để cấu thành tội cố ý gây thương tích tùy thuộc vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu, cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh hay không Nếu cường độ tấn công không mạnh và những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân, khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây thương tích

+ Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của cấu thành hành vi cố ý gây thương tích được thể hiện ở tỷ lệ thương tật do cơ quan giám định pháp y kết luận, theo đó thì tỷ

lệ tổn thương cơ thể phải từ 11% trở lên Trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới

Trang 20

11% thì chỉ xử lý hình sự nếu thuộc một trong những trường hợp sau: Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; Có tính chất côn đồ; hoặc Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này bắt buộc phải thực hiện với lỗi

cố ý, có thể là cố ý trực tiếp và có thể là cố ý gián tiếp Trường hợp cố ý trực tiếp phạm tội là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích của người khác, thấy trước được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe có thể hoặc tất yếu xảy ra, nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra Trường hợp cố ý gián tiếp phạm tội là trường hợp người phạm tội cũng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích, thấy trước được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho những hậu quả đó xảy

ra So với tội giết người, thì sự cố ý trong trường hợp gây thương tích mức độ nguy hiểm có thấp hơn, vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không mong muốn nạn nhân chết

Tóm lại, những dấu hiệu pháp lý đặc trưng thuộc bốn yếu tố cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích nêu trên là những dấu hiệu luật định, có tính chất bắt buộc phải chứng minh khi định tội danh đối với tội phạm này Qua đó giúp cho

Trang 21

hoạt động THQCT đối với loại tội phạm cố ý gây thương tích được chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích

1.2.1 Khái niệmcủa thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Để làm rõ khái niệm "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án cố ý gây thương tích" thì trước hết cần phải hiểu rõ các khái niệm

"quyền công tố", "thực hành quyền công tố".Trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước

ta, Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình khi đề cập đến chức năng của VKS Việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn đều rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng của VKS trong giai đoạn hiện nay

- Khái niệm Quyền công tố:Để hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”,

bản chất và nội dung nó gì là, hiện nay vẫn chưa có quan điểm, nhận thức thống

nhất chung Theo từ điển tiếng Việt thì Công tố có nghĩa là: “điều tra, truy tố, buộc

tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” [23, tr.204] Trong khi đó, Từ điển Luật học định

nghĩa: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm

tội” [7, tr.188].Có thể thấycho đến nay, khi đưa ra khái niệm quyền công tố có rất

nhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lý nhưng cũng đều thể hiện những bất cập nhất định Tuy nhiên, tác giả nhận thấy quan điểm

của Tiến sĩ Lê Hữu Thể là chính xác và đầy đủ hơn cả, theo tiến sĩ thì: Quyền công

tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy

tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [25, tr.40]

Trang 22

Từ đó, có thể hiểu quyền công tố là quyền lực nhà nước, quyền công tố xuất hiện cùng với Nhà nước và pháp luật Quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, nơi mà cơ quan được giao quyền có trách nhiệm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

- Khái niệm Thực hành quyền công tố:Chế định VKS được quy định trong

pháp luật Việt Nam đã từ rất lâu nhưng cho đến Hiến pháp năm 1980 thì thuật ngữ

“thực hành quyền công tố” với tư cách là chức năng của VKS mới được chính thức

ghi nhận trong văn bản pháp lý của Nhà nước Như vậy có thể nói, Hiến pháp năm

1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKS quy định tại Điều 138 của Hiến pháp năm 1981 Thuật ngữ này cũng được nhắc đến ở Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 Quy định này cũng được tiếp tục nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chứcViện kiểm sát nhân dân năm 2002 Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của VKSND được Đảng và Nhà nước giao cho THQCT là hoạt động quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Chức năng, nhiệm vụ này của VKS được quy định rõ ràng và cụ thể hơn ở Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát

nhân dân năm 2014 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân

thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [18] và tại Điều 2 Luật tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là

cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [19] Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong

hai chức năng hiến định củaVKSND.Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì: “Thực hành quyền công tố là hoạt động

của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.”[19]

Trang 23

Như vậy, có thể hiểu Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lí thuộc nội dung quyền công tố của mình để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, hoặc tới khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

- Khái niệm Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án cố ý gây thương tích:Xét xử là hoạt động quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và toàn bộ

quá trình tố tụng hình sự nói chung, nhằm thực hiện các biện pháp cần thiết do pháp luật quy định để kiểm tra tính hợp pháp, có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT, VKSND đã thực hiện trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ những thiếu sót do sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét

xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án.Giai đoạn xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai giai đoạn cơ bản đó là giai đoạn chuẩn bị xét

xử và xét xử tại phiên tòa với những hoạt động tố tụng hình sự khác nhau Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án có thẩm quyền xét xử theo luật định Trong suốt giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với vụ án

cố ý gây thương tích, VKSND thực hành quyền công tố của mình để đảm bảo thực hiện quyền buộc tội, bảo vệ quan điểm giải quyết vụ án của mình, không bỏ lọt tội phạm hay buộc tội oan cho người vô tội

Từnhững phân tích nêu trên, có thể đi đến kết luận như sau: THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích là việc VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự (buộc tội mang tính Nhà nước), buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích bị truy tố tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng cùng hồ sơ vụ án hình sự sang

Trang 24

Tòaán và kết thúc khi Tòa án ra quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị

1.2.2 Đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Thực hành quyền công tố của VKSND trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích có những đặc điểm cơ bản của THQCT nói chung, nhưng có những cũng có những điểm đặc trưng cơ bản, cụ thể như sau:

Thứ nhất, THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích là sự tiếp nối, kế tục của THQCT trong giai đoạn điều tra, truy tố nhưng thể hiện rõ nét

và đầy đủ hơn bản chất của quyền công tố là quyền đại diện Nhà nước để buộc tội đối với người phạm tội cố ý gây thương tích trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó

Chính vì vậy, THQCT của VKS được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật Mặc dù cùng hướng tới mục đích chung là đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội cố ý gây thương tích có căn cứ, đúng pháp luật nhưng hoạt động THQCT của VKS ở mỗi giai đoạn tố tụng là khác nhau Trong giai đoạn điều tra và truy tố, hoạt động THQCT của VKS là để thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, đối chiếu với những đặc điểm đặc trưng của tội cố

ý gây thương tích nhằm đi đến kết luận về việc có quyết định truy tố người phạm tội

cố ý gây thương tích ra trước Tòa án hay không? THQCT của VKS trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích là sự tiếp nối của giai đoạn điều tra, truy tố nhưng

ở thang bậc cao hơn, không chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật nhằm nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội người phạm tội cố ý gây thương tích mà còn là sự bảo vệ quan điểm buộc tội của VKSND trước Tòa án Hơn nữa, chỉ trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích mới có sự xuất hiện đầy đủ của ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử Điều này tạo điều kiện cho hoạt động THQCT của VKSND có sự “cọ xát” với hoạt động bào chữa và được kiểm chứng bởi hoạt động xét xử tại tòa, qua đó thể hiện rõ nét vai trò của VKSND trong việc đại diện cho Nhà nước để thực hiện việc buộc tội đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 25

mà Bộ luật hình sự quy định Cũng trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích, tính tranh tụng, đối kháng giữa bên buộc tội và bên bào chữa được thể hiện rõ nét, công khai tại phiên tòa VKSND muốn bảo vệ được quan điểm buộc tội của mình thì phải chứng minh, lập luận, tranh luận một cách công khai, có căn cứ, có sức thuyết phục đối với HĐXX, người tham gia tố tụng, qua đó đảm bảo uy tín của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội Quyền công tố của Nhà nước nói chung và THQCT của VKSND nói riêng vì thế cũng được thể hiện cụ thể

và đẩy đủ hơn so với các giai đoạn tố tụng hình sự trước đó

Thứ hai, THQCT trong giai đoạn XXST đối với các vụ án cố ý gây thương tích là hoạt động thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể phạm tội

cố ý gây thương tích.THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích của

VKSND là hoạt động thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể phạm tội cố ý gây thương tích nhằm đưa chủ thể phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ việc buộc tội tại phiên tòa.Quyền buộc tội là quyền năng của Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội cố ý gây thương tích Đây là một hoạt động cá biệt của cơ quan Nhà nước thể hiện chức năng duy trì giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, thực hiện các biện pháp chứng minh người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị coi là tội phạm Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án cố

ý gây thương tích có thể có cả hai chủ thể cùng thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội cố ý gây thương tích bao gồm VKSND và đại diện, nhân danh cá nhân người bị hại, nhưng chỉ có việc buộc tội nhân danh Nhà nước mới được gọi là quyền công tố và việc buộc tội nhân danh Nhà nước phải được thực hiện bởi một chủ thể là cơ quan trong bộ máy Nhà nước được giao thẩm quyền (ở Việt Nam là VKSND, ở các quốc gia khác là Viện công tố hoặc VKS)

Thứ ba, THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích được thực hiện song hành cùng với hoạt động KSXX, nhưng chỉ có THQCT mới hướng đến đối tượng là người bị buộc tội và chỉ khi nào THQCT thì VKS mới được giao các quyền

Trang 26

năng tố tụng để thực hiện việc buộc tội người phạm tội trước Tòa Còn đối với hoạt

động KSXX, nhiệm vụ của VKS là phải giám sát hoạt động của cơ quan và người tiến hành tố tụng, bảo đảm phát hiện kịp thời mọi vi phạm pháp luật cơ quan và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn XXSTVAHS

Trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích, VKS và Tòa án đều là những chủ thể có trách nhiệm chứng minh tội phạm nên hoạt động THQCT của VKS và hoạt động xét xử của Tòa án đều hướng đến đối tượng là người phạm tội cố

ý gây thương tích nhưng phạm vi chứng minh hành vi phạm tội của người bị buộc tội là khác nhau THQCT của VKS trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích có đối tượng là người phạm tội cố ý gây thương tích và VKS thông qua hoạt động công bố cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội), luận tội, tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm phải có nghĩa vụ chứng minh căn cứ buộc tội một cách đầy đủ, chính xác và khách quan Khác với THQCT của VKSND, hoạt động xét xử của Tòa án nhằm đưa ra kết luận về việc có đủ cơ sở để ra bản án kết luận về việc có tội hay không có tội đối với người phạm tội cố ý gây thương tích nên việc xem xét, đánh giá của Tòa án chỉ nằm trong phạm vi buộc tội của VKS mà không vượt ra ngoài phạm vi cáo buộc đó

Vì vậy, đặc điểm về đối tượng của THQCT trong giai đoạn XXST vụ án hình sự vừa là cơ sở để phân biệt hoạt động THQCT và hoạt động kiểm sát xét xử của VKS, vừa là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của VKS và Tòa án trong việc chứng minh tội phạm

Thứ tư, THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích là thông qua việc xét hỏi, tranh luận, luận tội tại phiên tòa để làm rõ sự buộc tội, bảo vệ cáo trạng buộc tội đối với người phạm tội cố ý gây thương tích.THQCT trong giai đoạn

XXST vụ án cố ý gây thương tích là việc buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa sơ thẩmtheo một trình tự thủ tục cụ thể được quy định như: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa, tham gia xét hỏi, trình bày luận tội, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện

Trang 27

oan sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội Như vậy, buộc tội và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa là đặc điểm quan trọng nhất của THQCT trong giai đoạn XXST vụ án

cố ý gây thương tích vì nó thể hiện đầy đủ nhất quyền năng của VKS tại phiên tòa

và được thực hiện thông qua người đại diện là KSV

Thứ năm, THQCT trong giai đoạnXXST vụ án cố ý gây thương tích bắt đầu

từ khi VKSND chuyển Cáo trạng và hồ sơ vụ án đến TAND có thẩm quyền, kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được giới hạn bởi địa vị pháp lý của VKS

và Tòa án

Về phạm vi thời gian: Ở giai đoạn XXST, phiên tòa là trọng tâm của việc giải quyết vụ án nhưng trước đó còn có một khoảng thời gian chuẩn bị mở phiên tòa và ngay sau khi kết thúc phiên tòa vẫn còn phải giải quyết các yêu cầu của các chủ thể

có liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị Trong khi đó, quyền công tố luôn gắn với quyền tài phán của Tòa án nên việc THQCT phải được thực hiện toàn diện ở tất

cả các thời điểm của giai đoạn xét xử mà không chỉ bó hẹp trong phạm vi tại phiên tòa Với các nước theo truyền thống luật án lệ (mô hình tố tụng tranh tụng) thường không phân biệt rành mạch các giai đoạn tố tụng mà coi phiên tòa xét xử là trọng tâm và toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố được coi là hoạt động trước xét xử (tiền xét xử và xét xử) nên việc xác định giới hạn THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

có thể hiểu theo nghĩa hẹp là tại phiên tòa hoặc có thể hiểu theo nghĩa rộng là kể từ thời điểm Tòa án nhận được quyết định buộc tội do Viện công tố đệ trình lên Tuy nhiên, với đặc trưng về giai đoạn XXST như mô hình tố tụng tại Việt Nam thì phạm

vi của THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm phải được xác định là bắt đầu kể từ thời điểm Tòa án nhận được hồ sơ kèm cáo trạng VKS chuyển sang và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Về địa vị pháp lý của chủ thể: Trong giai đoạn xét xử, mối quan hệ giữa Tòa

án và VKS là mối quan hệ tố tụng giữa cơ quan công tố (buộc tội) và cơ quan thực hiện việc xét xử nên dù trong bất kì kiểu hình thức tố tụng nào thì hai hệ thống cơ quan này cũng độc lập với nhau, nhiệm vụ truy tố và nhiệm vụ định đoạt vụ án dựa trên nội dung là hai nhiệm vụ hoàn toàn tách biệt, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 28

với nhau về điều kiện và cơ sở phát sinh thẩm quyền của nhau Tòa án chỉ phát sinh thẩm quyền xét xử trong "giới hạn truy tố" của VKS và "giới hạn truy tố" này cũng đồng thời giới hạn phạm vi thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án Ngay cả khi Tòa án đã thụ lý hồ sơ và cáo trạng của VKS mà VKS muốn bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ thì cũng không thể tiếp tục chuyển tài liệu, chứng cứ sang cho Tòa án được Nếu Tòa án đã nhận hồ sơ và cáo trạng mà VKS phát hiện còn có tài liệu cần

bổ sung thì phải đề nghị Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung, sau khi nhận hồ sơ trả điều tra bổ sung của Tòa án chuyển sang thì VKS mới có thể tiếp tục bổ sung tài liệu, chứng cứ và có thể thay đổi quan điểm buộc tội nếu cần thiết Tòa án chỉ xét

xử trong phạm vi hồ sơ và cáo trạng VKS đã truy tố mà Tòa án đã thụ lý Khi việc truy tố của VKS bị triệt tiêu, thì cũng không còn cơ sở để Tòa án xét xử vụ án hình

sự nữa Nói cách khác, giới hạn xét xử và việc THQCT của VKS có mối quan hệ biện chứng với nhau, nếu không có buộc tội thì không phát sinh việc xét xử, phạm

vi của xét xử phải nằm trong phạm vi của việc truy tố

1.2.3 Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án cố ý gây thương tích

THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích có ý nghĩa to lớn, góp phần bảo đảm bất kỳ hành vi cố ý gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe người khác đều phải được xử lý kịp thời, nhanh chóng, đúng quy định pháp luật Việc công tố tại phiên tòa một cách công khai, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật

sẽ góp phần không để người nào bị khởi tố, bị hạn chế các quyền công dân một cách trái pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, cũng như không làm oan người vô tội

THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích cũng góp phần bảo đảm giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Thực tế cho thấy các tội phạm cố ý gây thương tích là các tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội tương đối cao, gây hậu quả vô cùng lớn và khó khăn trong việc khắc phục hậu quả Trong thời gian gần đây xảy ra nhiều vụ án cố ý gây thương tích mang tính chất manh động, hung hãn, côn

đồ đã làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của người dân, gây ra tâm lý bất an, lo

Trang 29

lắng cho cộng đồng xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện rõ quan điểm đấu tranh, phòng chống một cách nghiêm minh đối với các tội phạm cố ý gây thương tích và trong quá trình đấu tranh đối với loại tội phạm này thì vị trí, vai trò của VKS

là rất quan trọng.VKSND nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với chủ thể có hành vi phạm tộicố ý gây thương tích, gây mất trật tự an toàn xã hội nhằm kịp thời góp phần ổn định trật tự Ngoài ra, thông qua công tác THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích sẽ góp phần nâng cao vị trí, vai trò của VKSND trong đời sống chính trị - xã hội; Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VKSND còn gián tiếp thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thực hiện những biện pháp kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm trên địa bàn

1.3 Mối quan hệ của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Việc ghi nhận THQCT và KSHĐTP là hai chức năng của VKSND như quy định của pháp luật hiện hành là một quá trình phát triển tương đối dài, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển về tổ chức của ngành kiểm sát THQCT và KSHĐTP tuy là hai chức năng độc lập của VKS, có đối tượng và nội dung khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kết quả của hoạt động KSHĐTP là cơ sở cho việc THQCT có hiệu quả và ngược lại việc THQCT cũng là tiền đề cho KSHĐTP, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong tố tụng hình sự

Việc kiểm sát XXST vụ án cố ý gây thương tích sẽ góp phần kiểm tra, phản ánh chất lượng THQCT của VKS ở các giai đoạn tố tụng trước đó (giai đoạn khởi

tố, điều tra, truy tố, ) nhằm kịp thời khắc phục những thiếu sót, hạn chế đã có, hoạt động THQCT cũng từ đó mà đạt hiệu quả tốt hơn Việc kiểm sát xét xử tốt cũng tạo điều kiện cho KSV tiếp cận, phát hiện các vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng khác sớm hơn, từ đó kịp thời đề nghị Tòa án khắc phục để tránh dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, thực hiện tốt việc kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích cũng giúp cho hoạt động THQCT thêm chính xác, khách quan trong việc buộc tội đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Chẳng hạn

Trang 30

khi thấy HĐXX hoặc người bào chữa hỏi bị cáo có tính chất mớm cung thi KSV đề nghị chấm dứt ngay việc vi phạm này

Việc THQCT được thực hiện tốt song hành với kiểm sát XXST vụ án cố ý gây thương tích sẽ góp phần giúp TAND ra bản án, quyết định một cách khách quan, công bằng, đúng người, đúng pháp luật, tạo dựng, củng cố lòng tin của nhân dân vào các Cơ quan tiến hành tố tụng Bên cạnh đó, THQCT góp phần cùng với KSXX không chỉ đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự được kịp thời, đúng người, đúng pháp luật mà còn thể hiện tính răn đe đối với xã hội, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức

Như vậy, có thể thấy THQCT và KSHĐTP là hai chức năng cơ bản và quan trọng nhất của VKSND mà giữa chúng có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời nhau trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nếu vi phạm chức năng này sẽ ảnh hưởng chức năng khác và ngược lại

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Qua nội dung ở Chương 1, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật vềTHQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích, luận văn đã nghiên cứu và phân tích về khái niệm, đặc điểm, nội dung của THQCT trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích, làm rõ mối quan hệ giữa THQCT và KSHĐTP Qua đó có thể hiểu VKSND là cơ quan duy nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện cả hai chức năng là THQCT và KSHĐTP Trong giai đoạn XXST vụ án cố ý gây thương tích, VKS mà đại diện là KSV thực hiện đồng thời cả hai chức năng này và giữa hai chức năng đó có mối quan hệ gắn

bó chặt chẽ với nhau và cùng hướng đến nhiệm vụ chung là nhằm đảm bảo việc truy

tố người phạm tội ra trước tòa đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Trong đó, THQCT trong giai đoạn XXST thể hiện tập trung nhất vai trò của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS là tổng hợp các hoạt động của VKS nhằm thực hiện việc buộc tội người phạm tội chính xác, khách quan nên trong trường hợp có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án thì VKS có thể thay đổi quan điểm buộc tội và khi không đủ căn cứ để buộc tội thì VKS có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố của mình Kết quả THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS phản ánh chất lượng hoạt động THQCT trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố nhưng việc đảm bảo chất lượng THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS không chỉ phụ thuộc vào kết quả THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố mà còn chịu nhiều yếu tố tác động khác Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến chất lượng THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS là hoàn toàn cần thiết, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS ở các chương tiếp theo Những nội dung cơ bản đã nghiên cứu là căn cứ để luận văn khảo sát thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong chương 2, trên cơ sở đó nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác THQCT trong giai đoạn XXST các vụ án cố ý gây thương tích trong thực tiễn nói chung

Trang 32

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Quy định pháp luật vềthực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích

Quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau và giai đoạn XXST vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố mà tại đó, tòa án sẽ bước đầu quyết định người bị truy tố

có phạm tội hay không và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hoặc được tuyên không phạm tội THQCT của VKS trong giai đoạn này bao gồm các hoạt động để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội một cách chính xác, khách quan và đúng pháp luật Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự khẳng định, tùy theo tính chất và nội dung vụ án mà VKS phối hợp với Tòa án để chuẩn bị các nội dung sau:

“Phương án giải quyết; thời gian, địa điểm xét xử; những người cần triệu tập đến

phiên tòa; thông tin về sức khoẻ, tâm lý của bị can, bị cáo; việc tuyên truyền và những vấn đề khác có liên quan đến việc xét xử vụ án Đối với vụ án phức tạp, thì

có thể mời lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và một số cơ quan hữu quan khác tham dự” [33, tr.5]

Theo khoản 1 Điều 266 BLTTHS năm 2015, khi THQCT trong giai đoạn xét

xử, VKS có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTHS

Trang 33

Những nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định nêu trên chính là cơ sở để VKSND tiến hành các hoạt động để THQCT trong giai đoạn XXST các vụ án cố ý gây thương tích Theo đó, bao gồm các hoạt động sau đây:

2.1.1 Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án

cố ý gây thương tích

Phiên tòa công khai là nơi Tòa án sẽ xem xét toàn bộ các chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra, trực tiếp nghe các bên xuất trình chứng cứ, thẩm tra tại chỗ các chứng cứ và đưa ra lời phán quyết về tội của bị cáo cũng như quyết định mức hình phạt đối với người có tội Chính vì vậy, để đảm bảo cho việc buộc tội của mình có căn cứ và đúng pháp luật, KSV phải công bố cáo trạng, trình bày lại toàn

bộ diễn biến của hành vi phạm tội, nội dung của vụ án, căn cứ pháp lý cho quyết định truy tố của mình đối với chủ thể phạm tội cố ý gây thương tích Có thể hiểu Cáo trạng là văn bản pháp lý do VKS lập để truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, đây là hoạt động đầu tiên của việc THQCT tại phiên tòa nhằm công khai hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là cơ sở để Tòa án tiến hành hoạt động xét hỏi Nếu không có bản cáo trạng của VKS thì không có cơ sở để mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời nếu KSV đại diện cho VKS THQCT tại phiên tòa không công bố cáo trạng công khai tại phiên tòa thì HĐXX không có cơ sở để thực hiện các thủ tục

tố tụng nhằm thẩm tra chứng cứ và cũng không có cơ sở để bên bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của mình tại phiên tòa Tại Điều 306 BLTTHS năm 2015 quy

định: “Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình

bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo” [20, tr 265]

Thông thường, bản cáo trạng đã được chuyển cùng hồ sơ vụ án, tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, khi có sự thay đổi nhận thức, đánh giá chứng cứ hoặc có những phát sinh mới trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu cần thiết thì KSV trình bày ý kiến bổ sung nhưng ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo, ảnh hưởng tới quyền bào chữa của bị cáo Tại phiên toà, nếu có căn cứ

Trang 34

rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố, có tình tiết mới theo hướng có lợi cho

bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo cho

ý kiến, thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, sau phiên toà KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo đơn vị Trường hợp tình tiết mới đưa

ra tại phiên toà có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà và báo cáo lãnh đạo VKS quyết định Đối với vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn, KSV công bố quyết định truy tố theo quy định tại Điều 463 Bộ luật TTHS năm 2015, các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử

sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án [20]

Bên cạnh đó, việc công bố Cáo trạng tại phiên tòa của KSV đồng thời cũng đặt ra "giới hạn chứng minh" cho các bên trong vụ án hình sự VKS đã buộc tội bị cáo trong cáo trạng về hành vi phạm tội nào, tội danh gì thì chỉ đưa ra các tài liệu chứng cứ để chứng minh về tội danh và hành vi đó, Tòa án cũng chỉ có thể xem xét

và ra phán quyết trên cơ sở phạm tội mà VKS đã truy tố mà thôi Điều này hoàn

toàn phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trước Tòa án

2.1.2 Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ vụ án cố ý gây thương tích

- Đối với việc xét hỏi:

Trình tự tố tụng tại phiên tòa XXST theo mỗi truyền thống tố tụng lại có những đặc trưng khác nhau Tuy nhiên, thủ tục xét hỏi trong phiên tòa XXST vụ án hình sự đều được ghi nhận ở tất cả các quốc gia trên thế giới Trong một phiên tòa XXST vụ án cố ý gây thương tích thì quá trình xét hỏi là thủ tục trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là thủ tục quan trọng nhất để xác định sự thật khách quan của

vụ án Xét hỏi thực chất là quá trình tiếp tục điều tra công khai tại phiên tòa với sự

có mặt của tất cả các chủ thể liên quan đến vụ án Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay ghi nhận việc xét hỏi chủ đạo thuộc về Thẩm phán và KSV dựa trên nguyên tắc trách nghiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Xét hỏi là một trong những nội dung quan trọng nhất để KSV làm sáng tỏ các chứng cứ buộc tội, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các chứng cứ buộc tội theo cáo trạng của VKS với các tình tiết khách quan của vụ án

Trang 35

Với vị trí là người đại diện cho cơ quan THQCT thì KSV phải là người đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc xét hỏi thay vì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

Về phía VKS, KSV sử dụng kết quả của xét hỏi để thực hiện luận tội, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn…Việc tham gia xét hỏi là bắt buộc đối với KSV, trước khi tham gia phiên toà, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát, dự kiến những nội dung cần làm sáng tỏ, các tình huống khác có thể phát sinh tại phiên toà, chú ý các mâu thuẫn và cách xét hỏi

để giải quyết nhằm bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở, chuẩn bị các câu hỏi

để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm Tại phiên tòa, KSV theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của HĐXX, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác và ý kiến trả lời của người được xét hỏi, chủ động tham gia xét hỏi theo

sự điều hành của chủ tọa phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án, làm sáng tỏ hành vi phạm tội, tội danh, vai trò, vị trí của từng bị cáo, trách nhiệm dân

sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp…Khi có người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên tòa, KSV cần kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó để kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài liệu, đồ vật Trường hợp chưa đủ căn cứ kết luận mà chứng

cứ, tài liệu, đồ vật mới đó có thể làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để xác minh Ngoài xét hỏi bị cáo, KSV có quyền hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản theo quy định tại BLTTHS Phạm vi xét hỏi của KSV đối với những người nêu trên bao gồm mọi khía cạnh liên quan đến vụ án, đó là: Những chứng cứ, tình tiết xác định có tội và vô tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân bị cáo, nguyên nhân và điều kiện phạm tội Đặc biệt, KSV cần chú ý hỏi để làm rõ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng để phân biệt giữa tội cố ý gây thương tích với tội giết người trong trường hợp bị hại bị chết; Với các tội danh thuộc nhóm tội cố ý gây thương tích như động cơ, hoàn cảnh, mục đích của người phạm tội, công cụ phạm tội để phân biệt tội cố ý gây thương tích với tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, phân

Trang 36

biệt với tội cố ý gây thương tích do vượt quá phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội Xét hỏi đề làm rõ các tình tiết định khung (lợi dụng chức vụ, quyền hạn; thuê gây thương tích hoặc gây thương tích do được thuê; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân theo điểm

e, h, k khoản 1 Điều 134 BLHSnăm 2015), các tình tiết liên quan đến tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (có tổ chức, có tính chất côn đồ, phạm tội 02 lần trở lên theo điểm đ, i khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015), các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hoạt động xét hỏi của KSV trong phần xét hỏi chính là tiền đề, là điều kiện để tiến hành tranh luận với người bào chữa và phần tranh luận diễn ra ngay sau thủ tục xét hỏi sẽ đánh giá lại các tình tiết, các chứng cứ đã được xét hỏi trước đó

- Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ:

Theo quy định tại Điều 312 BLTTHS năm 2015 thì vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa như hung khí, hình ảnh và tiến trình điều tra Khi cần thiết, HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa

có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến vật chứng Khi xem xét, đánh giá vật chứng KSV cần lưu ý đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hung khí như vật liệu nổ, súng tự chế, a-xít hoặc hóa chất nguy hiểm, Trong giai đoạn này KSV nên vận dụng công nghệ thông tin, trình chiếu nhằm tái hiện chứng cứ quan trọng để tăng giá trị chứng minh tội phạm

2.1.3 Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố

vụ án cố ý gây thương tích

- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo:

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Luận tội” được hiểu là "phân tích, cân nhắc để

kết tội" [28, tr.590], từ đó có thể hiểu việc luận tội của KSV đối với bị cáo phạm tội

Trang 37

cố ý gây thương tích tại phiên tòa sơ thẩm là hành vi pháp lý của KSV mà pháp luật quy định về tội cố ý gây thương tích để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo

đó Việc luận tội của KSV tại phiên tòa được xem là kết quả của quá trình xét hỏi, xem xét tại tòa, là sự buộc tội trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với bị cáo Chính vì thế mà bản luận tội của VKS tại phiên tòa sơ thẩm phải có mối liên hệ khách quan với kết quả điều tra đã có trong hồ sơ vụ án nhưng vẫn phải phản ánh được kết quả điều tra xét hỏi trực tiếp, công khai tại phiên tòa

Nội dung thực hiện việc luận tội là phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS; mức bồi thường thiệt hại; xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại,

xử lý vật chứng; kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo bản luận tội theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát Đối với vụ án trọng điểm, phức tạp hoặc xét xử lưu động, KSV báo cáo lãnh đạo VKS cho ý kiến về dự thảo bản luận tội Tại phiên tòa, KSV phải ghi chép đầy đủ việc kiểm tra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác để hoàn chỉnh dự thảo bản luận tội Sau khi kết thúc việc xét hỏi, KSV trình bày bản luận tội và kết luận vụ án theo hướng sau: đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố nếu có căn cứ và các nội dung khác theo mẫu của VKSNDTC Đồng thời, việc luận

Trang 38

tội của KSV cũng là căn cứ để bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tiến hành bào chữa, làm tốt việc luận tội cũng chính là làm tốt chức năng THQCT tại phiên tòa sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích

- Tranh luận tại phiên tòa:

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Tranh luận” là bàn cãi để tìm ra lẽ phải, còn Tranh tụng là kiện tụng lẫn nhau [28, tr.765] Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc KSV tranh luận (đối đáp) với người bào chữa, bị cáo… là một phần của quá trình tranh tụng tại phiên tòa Việc tranh luận, đối đáp giữa KSV, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm là một hoạt động thể hiện sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.Đối đáp, tranh luận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của KSV khi THQCT tại phiên tòa sơ thẩm hình

sự Theo Điều 322 BLTTHS năm 2015 quy định về Tranh luận tại phiên tòa thì:

“Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng

ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.”[20] Do đó, khi

THQCT tại phiên tòa sơ thẩm, KSV bắt buộc phải tranh luận đến cùng đối với từng vấn đề đưa ra cần làm rõ, đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ phải thực hiện Việc tranh luận của KSV với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác sau khi kết thúc xét hỏi xuất phát từ nhu cầu "phản biện" để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án, trong đó có quyền bào chữa của bị cáo Việc KSV tranh luận với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm là một hoạt động thể hiện sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Theo nguyên lý chung, ai đưa ra lời cáo buộc đối với người khác, người đó phải chứng minh tính có căn cứ và hợp pháp của sự cáo buộc đó KSV là người đại diện cho VKS đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa, nên phải có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội

đó bằng hình thức tranh luận công khai, ngược lại, chủ thể bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác tham gia tranh luận với tư cách cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi.Để tìm ra

Trang 39

sự thật khách quan thì cần phải có sự tranh luận tự do và cởi mở giữa bên buộc tội

và bên bào chữa (gỡ tội) dựa trên nguyên lý "ở đâu có buộc tội, ở đó có bào chữa,

gỡ tội" Tòa án (mà cụ thể là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên khác của HĐXX) phải vô tư khách quan theo nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật

để phán xử dựa trên kết quả tranh luận giữa hai bên (buộc tội và gỡ tội) Như vậy, việc tranh luận tại phiên tòa chỉ là hình thức đối đáp giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên khác trong HĐXX không có nghĩa

vụ tham gia vào quá trình tranh luận đó mà chỉ là chủ thể duy trì, điều khiển quá trình tranh luận đó mà thôi

Việc tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm thực chất là việc KSV đối đáp (phản bác) lại đối với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về luận tội của mình Do vậy, KSV cần phải có sự chuẩn bị thật tốt bằng đề cương tranh luận được dự thảo trước theo mẫu, tại phiên tòa phải ghi chép đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng để chuẩn bị tranh luận KSV phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, vận dụng, tổng hợp kiến thức pháp luật và lập luận

để đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia

tố tụng khác Nếu vụ án có nhiều người bào chữa cho bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác có cùng ý kiến về một nội dung thì KSV tổng hợp lại để đối đáp chung cho các ý kiến đó Trường hợp chủ tọa phiên tòa đề nghị KSV đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác chưa được tranh luận thì KSV thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên tòa, nếu đã tranh luận một phần thì KSV tranh luận bổ sung cho đầy đủ, không lặp lại những nội dung đã tranh luận trước Trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ, HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi thì sau khi xét hỏi xong KSV phải tiếp tục tranh luận theo quy định Khi tranh luận, KSV phải bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiến của những người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng đắn và bác bỏ những ý kiến, đề nghị không có căn cứ pháp luật Các vụ án cố ý gây thương tích thường phức tạp, có nhiều bị cáo, nhiều người làm chứng, nhất là có liên quan tới các vụ án giết người, gây rối trật tự xã hội Đối với vụ án phức tạp như vậy thường

Trang 40

có nhiều KSV tham gia phiên tòa thì lãnh đạo VKS phải phân công cụ thể cho từng KSV chuẩn bị các nội dung, chứng cứ, lập luận để THQCT, KSXX tại phiên tòa

- Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội khác nhẹ hơn: Trong quá trình xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích có thể xuất hiện nhiều bằng chứng, tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án, dẫn đến việc có sự thay đổi về quyết định truy tố của VKS so với ban đầu Thay đổi quyết định truy tố có thể hiểu là việc VKS thay đổi nội dung buộc tội mà trước đó VKS đã kết luận trong quyết định truy tố Việc thay đổi nội dung buộc tội chính là kết quả của hoạt động kiểm tra, đối chiếu đánh giá chứng cứ, tài liệu ngay tại phiên tòa, từ việc tranh tụng, đối chất giữa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác giúp tìm ra sự thật khách quan của vụ án, bản chất, động cơ của hành vi cố ý gây thương tích VKS vẫn tiếp tục đưa bị can ra trước Tòa án, nhưng theo tội danh

và điều, khoản khác với tội danh và điều, khoản đã truy tố trước đó và có thể theo chiều hướng nhẹ hơn tội đã truy tố hoặc cũng có thể nặng hơn tội đã truy tố Vấn đề đặt ra là VKS có thể "tùy nghi" thay đổi nội dung buộc tội theo tất cả các chiều hướng đó hay không? Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành mới chỉ ghi nhận quy định về việc thay đổi quyết định truy tố của VKS theo hướng kết luận về tội khác nhẹ hơn tội đã truy tố trước đó hoặc kết luận về khoản khác nhẹ hơn khoản đã truy tố trong cùng một điều luật (chẳng hạn như sang Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh)

Bên cạnh đó, thông qua quá trình tố tụng tại tòa, khi phát hiện những bằng chứng làm thay đổi bản chất của vụ án, KSV có thể tự mình đưa ra quyết định rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố.Vấn đề đặt ra là khi KSV thay đổi quan điểm truy tố của mình bằng cách rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án sẽ giải quyết (ra phán quyết) như thế nào? Xung quanh vấn đề này còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc KSV rút quyết định truy tố tại phiên tòa XXST dựa trên các cơ sở lý luận sau đây:

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm