Việt Nam, một quốc gia luôn tự hào về một truyền thống lịch sử 4000 năm văn hiến cùng với truyền thống yêu nước được truyền từ đời này sang đời khác. Chưa bao giờ làm một quốc gia chiếm ưu thế về vũ khí, về lực lượng tinh nhuệ, nhưng Việt Nam vẫn trường tồn la là một quốc gia có độc lập, có chủ quyền, hình chữ ‘S’ một luôn còn đó trong bản đồ thế giới. Tất cả là nhờ có tình yêu nước nồng nàn mãnh liệt, cùng ý chí kiên cường, “ quyết tử để tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần ấy đã đi vào trong văn chương với một âm hưởng đầy hùng tráng như “ Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống” trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, hay trong trận chiến thần thần tốc năm 1789 của Vua Quang Trung trong Hoàng Lê Nhất Thống chí. Và rồi, trong chiến tranh chống Pháp, cũng là những hình ảnh hào hùng ấy, đi vào “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu còn mang một thứ gì đó rất khác, rất đặc biệt, mang theo một nỗi buồn man mác, đau xót đến ám ảnh trong lòng người đọc.
Trang 1Đề: Phân tích “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”- Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm:
Việt Nam, một quốc gia luôn tự hào về một truyền thống lịch sử 4000 năm văn hiến cùng với truyền thống yêu nước được truyền từ đời này sang đời khác Chưa bao giờ làm một quốc gia chiếm ưu thế về vũ khí, về lực lượng tinh nhuệ, nhưng Việt Nam vẫn trường tồn la là một quốc gia có độc lập, có chủ quyền, hình chữ ‘S’ một luôn còn đó trong bản đồ thế giới Tất cả là nhờ có tình yêu nước nồng nàn mãnh liệt, cùng ý chí kiên cường, “ quyết tử để tổ quốc quyết sinh” Tinh thần ấy đã đi vào trong văn chương với một âm hưởng đầy hùng tráng như “ Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không cùng sống” trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, hay trong trận chiến thần thần tốc năm 1789 của Vua Quang Trung trong Hoàng Lê Nhất Thống chí Và rồi, trong chiến tranh chống Pháp, cũng là những hình ảnh hào hùng ấy, đi vào “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu còn mang một thứ gì
đó rất khác, rất đặc biệt, mang theo một nỗi buồn man mác, đau xót đến ám ảnh trong lòng người đọc
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác để bày tỏ
sự tôn vinh và lòng biết ơn sâu sắc đến cho sự hi sinh cao cả của những nghĩa
sĩ nông dân trong trận đồn tập kích Pháp ở Cần Giuộc đêm 16-12-1861 Văn tế là thể văn thường gắn với những phong tục tang lễ nhằm bày tỏ lòng tiếc
thương đối với những người đã khuất Có thể nói, trước Nguyễn Đình Chiểu, VHVN chưa có hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh về người anh hùng nông dân nghĩa sĩ Sau Nguyễn Đình Chiểu rất lâu cũng chưa có một hình tượng nghệ thuật nào như thế Vì vậy lần đầu tiên trong VHDT có một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân nghĩa sĩ
Mở đầu bài thơ, tác giả cho ta những hình dung đầu tiên về chuyện thời cuộc lúc bấy giờ cũng với hình ảnh những người nông dân chân lấm tay bùn nhưng lại dũng cảm cầm vũ khí ra đánh giặc:
Hỡi ơi!
Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ Mười năm công vỡ ruộng, ắt còn danh nổi như phao, một trận nghĩa đánh Tây, tuy làm mất tiếng vang như mõ
Nay từ câu đầu tiên, tình thế nguy cấp của tổ quốc đã để thể hiện rất
cụ thể của hai chữ “đất rền” Sức uy hiếp của quân giặc thật khủng kiếp, làm run chuyển của trời đất, ấy vậy nhân dân ta cũng không hề tỏ ra sợ Cũng chính những lúc như thế, tinh thần yêu nước của nhân dân ta càng mạnh mẽ, càng tràn dân hơn Đồng thời, Nguyễn Đình Chiểu còn khẳng định quan niệm sống của cao cả của nghĩa quân : “ Thà chết vinh còn hơn sống nhục “ Vốn là những người nông dân, họ có làm ăn chăm chỉ đến suốt đời, nhưng đến cuối cùng vẫn là một số phận nhỏ bé, một con người không ai hay biết Chính vì thế, những số phận "bé nhỏ" đã vùng lên, quyết "chiến" một lần để mang lại tiếng thơm muôn đời
Và rồi, đến phần thích thực, Cuộc đời và chân dung của những người lính được khái quát một cách cụ thể hơn:
Trang 2"Cui cút làm ăn; lo toan nghèo khó.
…
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên,tập súng, tập cờ, mắt chưa từ ngó’
Những nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn xuất thân từ những nông dân nghèo khó, chăm chỉ, ngày ngày chỉ biết có con trâu, có đồng rộng Cuộc sống của họ chỉ lặp đi lặp lại trong những khung cảnh làng quê bình dị Họ không hề có một chút luyện tập, suy nghĩ gì về việc cầm binh ra trận Nhà thơ xúc động, cảm thông trước số phận “con trâu cái kiến” của người nông dân, bao nhiêu tình cảm của nhà thơ như dồn ép, lắng đọng qua 2 chữ “cui cút” Bằng những phép liệt kê, phép điệp từ, đoạn văn đã giới thiệu khái quát về nguồn gốc xuất thân của người nông dân , họ không phải những bậc nho sĩ kiến thức sâu rộng, cũng không phải những tráng sĩ mạnh mẽ, họ chỉ là những con người bình thường đến không thể bình thường hơn Có lẽ chính vì cũng không có gì để mất, nên họ đã sẵn sàng đi ra chiến trường, đi theo con tim rực cháy tình yêu
tổ quốc
Những người nông dân mộc mạc, chân chất, tưởng chừng rất cục mịch nhưng lại rất tình cảm, luôn đau đáu nỗi đau của quê hương:
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ;
Bữa thấy bòng bòng che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra ăn cổ;
Hai câu văn đã cho diễn biến tình cảm của người nông dân Họ từ vì nơm nớp, lo lắng chỉ biết vô lực trong tin tức của Triều đình từ ngày ngày sang ngày khác suốt mười tháng trời Nguyễn Đình Chiểu là đã sử dụng những hình ảnh so sánh đầy sinh động, gần gũi với đời sống nhà nông để nhấn mạnh sự ngóng trông của người nông dân Nhưng đáp lại với những hi vọng của họ lại
là sự im lặng thỏa hiệp của Nhà Nguyễn, từ đó đã dấy lên một nỗi bất mãn, căm thù đối với những kẻ hăm he xâm lược nước ta Và rồi, từ chỉ biết đứng nhìn, chỉ biết chờ đợi, họ đã bắt đầu hành động, bắt đầu phản kháng, bắt đầu đứng lên quyết chiến “Muốn tới ăn gan”, “ muốn ra ăn cổ” là cách biểu hiện thẳng thắn và mạnh mẽ nhất, nghe có phần đáng sợ, một cách nói vô cùng bình dân nhưng có lẽ chỉ có những từ ngữ này mới đủ thoát lên sự căm hờn của người nông dân Chính lúc này, họ rời bỏ cánh đồng, cây lúa, con trâu để trở thành những Nghĩa sĩ Cần Giuộc chiến đấu vì mảnh đất thân yêu
Họ biết thân phận mình là hèn mọn trong xã hội, ngoài sưu thuế phải nộp cho đủ, họ đâu dám nghĩ đến công to việc lớn Quốc gia đại sự là của vua quan và triều đình Vậy mà giờ đây, giặc Lang Sa tràn sang cướp nước, gieo rắc tanh hôi (tinh chiên) đã ba năm mà mặt mũi quan quân chẳng thấy ở đâu,
có chăng nữa thì chỉ là lũ hèn nhát chạy dài Cảnh tượng ấy khiến họ không thể bưng tai bịt mắt làm ngơ Lòng yêu nước hun đúc từ nghìn xưa trong huyết quản sôi sục, họ tự nguyện đứng lên đánh giặc:
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.