1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập tác phẩm TRÀNG GIANG (huy cận)

56 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người.. Nhan đề Tràng Giang của Huy Cận vốn là hai từ Hán Việt được ghép l

Trang 1

Đề 1: Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

Bài viết tham khảo 1

Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới với hai phong cách sáng tác theo từng thời kì của lịch sử Một giọng thơ u uất, sầu não trước cách mạng tháng Tám đối lập với giọng thơ sôi nổi, hào hùng sau cách mạng tháng Tám Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho phong cách u uất, não nề của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám với nhiều nỗi niềm, trăn trở Đặc người người đọc ấn tượng với nhan đề và lời đề từ độc đáo

Nhan đề chính là cửa ngõ, là điểm xuất phát để người đọc có thể lần mò theo đó khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Và bài thơ “Tràng giang” cũng vậy, ý nghĩa, nỗi niềm thầm kín được gửi trọn trong nhan đề vẻn vẹn hai từ “Tràng giang” Mỗi nhan đề đều toát lên ý nghĩa riêng biệt làm nổi bật lên chủ đề, tư tưởng của tác phẩm đó

Một số nhan đề có tính chất gợi mở, một số nhan đề khằng định nội dung Tuy nhiên, sáng tạo theo cách viết nào thì nó cũng bao hàm những dụng ý nghệ thuật riêng Nhan đề của bài thơ có tên “Tràng giang” với vần “ang’ chủ đạo vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dai dẳng và nặng nề, cứ triền miên trong tâm thức của tác giả

“Tràng giang” hay còn gọi là “trường giang” là một từ hán việt ý chỉ con sông dài Nhưng tác giả lại lấy tên “Tràng giang” chứ không phải “Trường giang” Bởi vốn dĩ

“Trường giang” chỉ có ý nghĩa chỉ con sông dài đơn thuần như thế; nhưng ngược lại

“Tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả Vần “ang” kéo dài ra như nỗi niềm của Huy Cận chưa bao giờ vơi khi đứng trước con sông Hồng rộng lớn mênh mông này Và hình ảnh cụ thể của dòng

“tràng giang” có lẽ là dòng sông Hồng Sông Hồng là điểm nhấn khơi gợi cảm xúc của tác giả, đồng thời chồng chất những bế tắc không lối thoát cho những con người muốn đổi mới nhưng không tìm được con đường đi riêng cho chính mình Như vậy nhan đề

“Tràng giang” đã được làm sáng rõ, với ý nghĩa sâu xa như vậy

Trang 2

Còn về lời đề từ, không phải bài thơ nào cũng có Thực ra lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của tác phẩm, nhưng nội dung này chỉ là ở bề chìm, yêu cầu người đọc cần phải đi sâu khai thác mới có thể khám phá ra điều này Lời đề từ của bài

“tràng giang” là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, một câu thơ thốt lên nhưng đầy

ẩn ý nội dung và nghệ thuật Dường như âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhàng, buồn man mác, buồn len lỏi vào tâm hồn của con người Với biện pháp đảo trật tự cú pháp “bâng khuâng” lên đầu câu, Huy Cận đã khiến người đọc vướng vào những tâm

sự không thể giãi bài, cũng như khó có thể nói ra cùng ai

Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để

đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người Hẳn đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khác nhau Huy Cận đứng trước sông Hồng nhưng lại nhớ chính con sông này, có chăng là tâm sự đứng trước nhiều con đường, nhiều ngã rẽ nhưng lại không biết chọn con đường đi nào trọn vẹn nhất

Với nhan đề và lời đề từ đầy ý nghĩa như thế nào, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã có sức ám ảnh lớn đối với người đọc

Bài viết tham khảo 2

Trong bài thơ “Mai Sau” in trong tập thơ “Riêng chung” nhà thơ Huy Cận đã tự bạch lòng mình:

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Nỗi nhớ thương không biết đã nguôi chưa?

Hay lòng chàng cứ tủi nắng, sầu mưa

Cùng đất nước mà lặng buồn sông núi?”

Thơ Huy Cận trước cách mạng rất buồn, vì vậy ông thường tìm đến thiên nhiên để:

“Vui chung vũ trụ nguôi sầu trần gian”

Xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn văn chương Việt Nam năm 1940 với tập thơ “Lửa thiêng” Khi tập thơ xuất hiện ta bắt gặp một giọng thơ buồn ảo não của:

“Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu”

Trang 3

Linh hồn của tập thơ “Lửa thiêng” chính là bài thơ “Tràng Giang” Như cái tên của nó, bài thơ là một dòng sông dài Đó là một dòng sông tâm trạng để Huy Cận gửi gắm cái

“tôi” của một thời thơ mới Đồng thời “Tràng Giang” là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước một cách thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại

thi ca nói chung Nhờ đó mà Xuân Diệu nhận định: “Tràng Giang là bài thơ cuối cùng dọn lòng đến với giang sơn Tổ quốc”

Toàn bộ vẻ đẹp ấy kết tinh ngay ở nhan đề cũng như lời đề từ của bài thơ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề Có những người suốt đời lặn lội với văn chương nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trăn trở băn khoăn cho cách đặt nhan đề Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó Viết về một xã hội tăm tối trước cách mạng, Ngô Tất Tố có tiêu thuyết “Tắt Đèn” Để

ca ngợi cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa nay vẫn còn vang bóng, Nguyễn Tuân có tác phẩm “Chữ người tử tù”,…Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng là một trong những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận “Tràng Giang” vốn

là hai từ Hán Việt để chỉ dòng sông dài Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi

tứ để nhà thơ Huy Cận viết thành công bài thơ này Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về đất nước Việt Nam, nó có từ thuở khai thiên lập địa Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài về khoảng thời gian lịch sử

Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ “Tràng” và từ

“Trường” Ở đay nhà thơ Huy Cận không viết là “Tường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang” Như vậy đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt Bởi chữ

“Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài Còn chữ “Tràng” với âm “vang” vốn là

âm mở, nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu Như vậy, bài thơ với nhan đề

“Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi bước đi của không gian

Bài thơ “Tràng Giang” có lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

Trang 4

Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ Lời đề từ không phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật Nó cung cấp cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm

“Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết:

“Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”

Lời đề từ còn cung cấp những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ Lời đề

từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu chính: đó là trời rộng và sông dài Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem

là trung tâm của bài thơ “Tràng Giang”:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này Nếu khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông dài, mênh mông, dợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ “Tràng Giang” là bài thơ có âm điệu buồn Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong mạch cảm xúc của bài thơ này mà Lê Di viết:

“Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước Là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ

Trang 5

Bài viết tham khảo 3

Sự rung động của thơ ca bao giờ cũng được đo bằng nhịp đập của con tim Tràng giang của Huy Cận đã tác động rất sâu sắc vào trong xúc cảm của bạn đọc Hơn nữa, mỗi một bài thơ hay thường tác động đầu tiên đến với độc giả bạn đọc là nhờ âm điệu Khi nội dung ta còn chưa biết rõ, âm điệu bài thơ đã xâm nhập hồn ta tự bao giờ Cảm hứng chung của độc giả bạn đọc khi tiếp cận Tràng Giang là giọng thơ buồn, rất hợp với nỗi lòng của thi nhân, một nhà thơ chìm đắm trong cái tôi cô đơn siêu hình bản ngã

Bài thơ hấp dẫn độc giả bạn đọc đầu tiên là từ nhan đề Nhan đề Tràng Giang của Huy Cận vốn là hai từ Hán Việt được ghép lại với nhau nhằm miêu tả một dòng sông dài đó chính là dòng sông Hồng bởi khi viết bài thơ này, Huy Cận đang ngồi bên bến bờ Nam Chèm ngắm nhìn con sông Hồng mênh mông sóng nước Dòng sông ấy nó không chỉ dài về không gian địa lí, nó còn dài cả về thời gian lịch sử Nó vĩnh viễn thuộc

về đất trời Việt Nam, nó có từ thủa khai thiên lập địa

Tuy nhiên, trong tiếng Hán Việt hiện hành có 2 từ để miêu tả chiều dài đó là chữ

“trường” và chữ “tràng” Việc Huy Cận không viết là “Trường Giang” mà viết là “Tràng Giang” cho thấy ông là một nhà văn rất tinh tế trong việc sử dụng tiếng Việt bởi chữ

“trường” chỉ đơn thuần để chỉ chiều dài còn chữ “tràng” với âm “ang” là âm mở không chỉ gợi nên chiều dài của con sông mà còn gợi nên cả chiều rộng của con sông Đó là dòng sông đã được Huy Cận vẽ lên ở không gian 3 chiều: sâu chót vót, rông mênh mông, dài dằng dặc Mà không gian càng mênh mông vô tận bao nhiêu thì tâm hồn của Huy Cận lại càng cô liêu bấy nhiêu Như vậy, ngay từ nhan đề của tác phẩm, Huy Cận

đã bộc lộ được rõ phong cách, cá tính văn chương và sở trường của mình – một nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi không gian

Bài thơ còn có lời đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Trong một số thi phẩm nghệ thuật ta bắt gặp lời đề từ

Lời đề từ không phải là một thứ trang sức làm đẹp da cho 1 thi phẩm nghệ thuật Trái lại, nó là một dụng ý nghệ thuật, một xuất phát điểm Nó cung cấp cho người yêu thơ 1 chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của tác phẩm Lời đề từ định hướng từ thi liệu cho đến âm điệu của bài thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.” Lời đề từ này có âm điệu buồn và đây cũng chính là âm điệu của bài thơ Tràng Giang Đọc kĩ lời đề từ, ngẫm nghĩ lại, ta thấy ở đó Huy Cận đã đưa ra hai thi liệu chính mà tác

Trang 6

giả đã dùng để xây dựng lên Tràng Giang đó là “Trời rộng” và “sông dài” Hai thi liệu này kết tinh ở Hai câu thơ đẹp nhất trong bài Tràng Giang:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu

Và thế là trong hai khổ thơ còn lại Huy Cận đã triển khai trên những thi liệu này Khổ thơ thứ ba là dòng sông dài dằng dặc với những cánh bèo đang chảy trôi về nơi vô định Khổ thơ cuối cùng là bầu trời cao rộng với lớp lớp mây cao Mà trong thi ca, nói

về sông, trời là nói về giang sơn; mà nói về giang sơn là nói về Tổ quốc Như vậy, ta có thể thấy bài thơ đã bộc lỗ rõ tình yêu quê hương đất nước thầm kín trong tâm hồn của Huy Cận

Trang 7

Đề 2: Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Nhắc tới Huy Cận, người ta nhớ ngay đến một “hồn thơ ảo não” (Hoài Thanh) Trước cách mạng tháng Tám 1945, ông đã góp mặt vào thơ ca đương thời một nỗi sầu nhân thế, một cái tôi cô đơn, buồn bã trước dòng đời Với sự pha trộn giữa chất cổ điển

và hiện đại, ông đã gửi gắm nỗi niềm ấy trong nhiều bài thơ, trong đó phải kể đến Tràng giang Bài thơ in trong tập “Lửa thiêng” (1940) rất tiêu biểu cho phong cách thơ Huy Cận

Vào một buổi chiều thu năm 1939, có một chàng sinh viên trường Cao đẳng Canh nông, đạp xe dọc theo bờ đê sông Hồng, đến tới bãi Chèm – phía Nam dòng sông, trước cảnh sóng nước mênh mông, đã không kìm nén nổi cảm xúc buồn bã, cô đơn và nhớ nhà da diết nên sáng tác bài thơ Tràng giang Nhà thơ Huy Cận đã từng tâm sự về hoàn cảnh ra đời bài thơ như thế Ban đầu, tác phẩm có tên là “Chiều trên sông” nhưng

về sau đổi thành Tràng giang Nhan đề này đã chuyển tải nhiều ý nghĩa hơn “Tràng giang” là một từ Hán Việt đầy trang trọng, cổ kính, chỉ một con sông dài Nhưng nhà thơ không dùng “trường giang” (có cùng nghĩa) để thay thế, bởi cách điệp vần “ang” giúp nhan đề vừa gợi âm hưởng ngân vang, vừa gợi nên cảm giác một dòng sông không những dài mà còn rộng Thêm lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài càng làm

rõ hơn sắc thái cảm xúc chủ đạo của bài thơ Đó là nỗi buồn của con người trước một không gian mênh mông, rộng lớn có thể bao trùm cả vũ trụ

Và quả thực trước một dòng tràng giang như thế, thi nhân đã không giấu nổi nỗi buồn

mà cứ để nó lan tỏa khắp mọi không gian, bao trùm cả vũ trụ

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Khổ thơ đầu đã mở ra một khung cảnh tràng giang mênh mông, rộng lớn đối lập hoàn toàn với những thứ nhỏ bé như sóng, con thuyền, cành củi khô Những sự vật ấy đồng thời cũng gợi nên nỗi buồn mênh mang theo sóng nước Qua các từ gợn, buồn điệp điệp, nước song song, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng nỗi buồn càng trải dài, lan tỏa khắp cả mặt sông dài rộng Ở đây tuy có sự vật nhưng mọi thứ lại chẳng hề gắn kết, nhất là thuyền

Trang 8

và nước, hai thứ vốn dĩ không tách rời vậy mà thuyền về, nước lại khiến nỗi sầu, nỗi buồn như chia ra thành trăm ngả Tuy nhiên điểm nhấn rõ nét nhất của khổ thơ chính là hình ảnh củi một cành khô Sự vật vốn đã chẳng còn sức sống, lại nổi trôi vô định trên dòng sông đã vẽ một nét hiện đại để khắc họa nỗi buồn Mà hơn nữa nó còn lạc mấy dòng thì không chỉ là nỗi buồn, nó hiện hữu cả nỗi cô đơn Đó phải chăng là sự hiện thân cho kiếp người nhỏ bé, lênh đênh, bất định giữa dòng đời của chính tác giả? Đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của nhân vật trữ tình đã xa hơn, khung cảnh trên sông được hướng vào chiếc cồn nhỏ, vào bầu trời và khắp cả dòng sông

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xe vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu

Nhưng dường như không gian cũng không có mấy thay đổi, thậm chí hai từ láy lơ thơ, đìu hiulại càng khắc họa sự vắng lặng, yên ắng, quạnh hiu Đâu đó (hay là đâu có) có

âm thanh của sự sống? Dẫu có có đi chăng nữa thì tiếng làng xa vãn chợ chiều cũng chẳng làm cho nơi đây nhộn nhịp hơn, thậm chí càng tô đậm thêm sự tĩnh lặng Bởi vậy xung quanh chỉ còn là nắng trên trời, sông trước mặt, thứ xuống thứ lên, thứ dài, thứ rộng mà dường như vốn đã xa nay lại càng xa hơn Cách sáng tạo từ sâu chót vót đã giúp tác giả miêu tả được khoảng cách giữa trời với sông vừa có độ cao vừa có độ sâu, khiến không gian như mở ra ba chiều, khuếch tán rộng hết mức ở toàn vũ trụ Chỉ còn lại trơ trọi bến cô liêu thì chúng ta mới biết nỗi buồn đã rộng khắp mọi không gian và nỗi cô đơn càng ngày càng lớn Lúc này thi nhân không còn đối diện với dòng sông như

ở khổ trên nữa mà hoàn toàn bị choáng ngợp, quá nhỏ bé trước không gian vũ trụ như thế

Rồi ánh mắt thi nhân lại tiếp tục kiếm tìm Hình như nhân vật trữ tình “lục lọi” đâu đây một chút sự sống của con người

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Trang 9

Lần này hiện lên là hình ảnh hàng bèo quen thuộc Trong thơ xưa nó chính là hiện thân cho kiếp người trôi nổi, lênh đênh giữa dòng đời Nhưng chỉ là cánh bèo, chứ không phải hàng nối hàng bèo như ở đây Vâng, không biết bao nhiêu hàng bèo như thế, nối tiếp nhau trôi dạt về đâu? Có nỗi buồn, sự bơ vơ, lạc lõng không phải của một cành củi khô nữa mà là của cả một thế hệ con người chẳng biết sẽ đi đâu về đâu? Hình ảnh thơ đơn giản nhưng gói gém được tâm sự của cả bao nhiêu thân phận con người lúc bây giờ Bởi vậy nhìn xung quanh đâu cũng thấy mênh mông, đâu cũng không thấy có dấu hiệu của sự sống nào hết Điệp từ phủ định càng làm cho con người chẳng có chút bóng dáng nào hiện hữu nơi đây Không một chuyến đò, không một cây cầu thì nỗi niềm thân mật dù một chút thôi cũng thực khó Thế là chỉ còn lại thiên nhiên tiếp xúc với thiên nhiên Hai từ lặng lẽ có chút ngậm ngùi vì nhìn hết cảnh trí dòng sông từ trên cao xuống thấp, xa đến gần mà rồi cũng chỉ còn lại những bờ xanh, bãi vàng nối tiếp nhau Không gian vì thế lại tiếp tục thêm phần mênh mông bát ngát Nỗi cô đơn, sự buồn bã của con người chưa có dấu hiệu vơi cạn, thu hẹp lại theo bất cứ một chiều nào

Cả ba khổ thơ là một bức tranh thiên nhiên thấm đẫm những phong vị cổ điển xen lẫn chút hiện đại đầy độc đáo để khắc họa một không gian vô cùng, vô tận Tất cả cũng chỉ

để chứa đựng một nỗi buồn, nỗi cô đơn không giới hạn của lòng người Bao nhiêu hi vọng dồn vào khổ cuối, để cái tôi vơi bớt đi phần nào những chất chứa ưu tư Vậy mà:

Lớp lớp mây cao, đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Khung cảnh thiên nhiên lại có sự thay đổi, nhưng lần này không phải là dòng sông mênh mông, vắng lặng như những khổ trên mà thay vào đó là sự tráng lệ, hùng vĩ nổi bật trên nền trời chiều Vẫn sử dụng những thi liệu cổ quen thuộc là mây, chim, nhà thơ

vẽ lên nền trời ấy những đường nét, màu sắc thật sinh động Đó là lớp lớp những áng mây ánh bạc đang đùn trên bầu trời như những ngọn núi Đặc biệt là cánh chim chao nghiêng được coi là một khoảnh khắc mà thâu tóm được sự chuyển động của hai sự vật Chẳng biết cánh chim nhỏ ấy nghiêng nhẹ đôi cánh một cái là bóng chiều sa xuống hay bóng chiều đổ mà đè nặng lên cánh chim khiến nó ngả nghiêng? Nhưng khoảnh khắc đồng hiện này đã tạo nên một sự dịch chuyển rất mau lẹ cả về không gian lẫn thời gian

Trang 10

Và thêm một lần nữa lòng người không thể nào xua tan được sự bủa vây của ngoại cảnh Không gian có thay đổi, có tráng lệ đến đâu trong lòng thi nhân vẫn cảm thấy trống trải Nhưng lần này nỗi cô đơn đã hóa nỗi nhờ nhà Biết bao nhiêu cảnh trí trên trời, dưới sông đều dồn về cảm xúc dợn dợn Từ láy nguyên sáng tạo này của nhà thơ đã khắc hoặc rất chân thực một nỗi niềm bâng khuâng, da diết của “lòng quê” khi nó hô ứng với cụm từ “vời con nước” Bao nhiêu nỗi buồn rồi cũng trào dâng lên thành nỗi nhớ quê hương Nhưng lạ thay, ở ngay trên mảnh đất quê hương mà lại thấy nhớ quê hương đến như vậy Thế mà quê hương lại chẳng còn, đó là nỗi niềm chung của cả một thế hệ các nhà thơ mới trước tình cảnh đất nước lúc bấy giờ Cảm giác xa quê hương, “thiếu quê hương” trở thành sự rung cảm sẵn có mà chẳng cần đến khói sóng hoàng hôn như thi sĩ Thôi Hiệu đời Đường mới gợi nên nỗi nhớ quê nhà của thi nhân Không cần vịn vào đâu, tự khắc nỗi nhớ ấy đong đầy, da diết, tự thân nó đã bộc lộ một tình yêu thắm thiết, trĩu nặng với quê hương

Có hai thứ ấn tượng còn đọng lại sau khi đọc xong bài thơ là không gian vô cùng, vô tận của ngoại cảnh và nỗi buồn, nỗi cô đơn không giới hạn của lòng người Cả hai như cùng kích ứng để càng rộng, càng lớn thì càng buồn, càng cô đơn khiến bài thơ như chất chứa, tích tụ nỗi sầu của cả ngàn năm lại vậy Nhưng vượt lên trên hết, bút pháp đặc trưng và nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và hiện đại đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp dẫu có buồn Song người đọc vẫn nhìn thấy một tình yêu quê hương đất nước thầm kín hiện lên trong Tràng giang

Bài viết tham khảo 2

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển Phong cách sáng tác của ông có

sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh Bài thơi để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả

Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ Hai chữ “Tràng giang” có thể nói là một con sông dài, mênh mông

và bát ngát Từ Hán việt này khiến người ta liên tưởng đến những bài thơ Đường của

Trang 11

Trung quốc Nhưng chính tràng giang này cũng gợi lên được tâm tư của người trong cuộc khi muốn nhắc tới những thân phận nổi trôi, bé nhỏ sống lênh đênh trên con sông dài tâm tưởng và sông của nỗi u uất như thế

Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” một lần nữa khái quát nên chủ

đề của bài thơ chính là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la Cả bài thơ toát lên được vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển, cũng là đặc trưng trong thơ của Huy Cận

Bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên đã khiến người đọc liên tưởng đến một con sông chất chứa bao nỗi buồn sâu thẳm:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu tram ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu tram ngả”, lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như đã lột tả hết thần thái

và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như thế này Ngay khổ thơ đầu, nét chấm phá của cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hơn hết là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, đơn lẻ trên dòng nước mênh mông, vô tận, vô đinh Sức gợi tả của câu thơ thực sự đầy ám ảnh, môt con sông dài, một con sông mang nét đẹp u buồn, trầm tĩnh càng khiến người đọc thấy buồn và thê lương Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu tram ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh long hiu hắt quá Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùng sông nước dập dềnh Điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi lên sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt khắp nơi Có thể nói câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bộ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Trang 12

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cành buồn thiu, đìu hiu và vắng lặng của một làng quê thiếu sức sống Đó có phải là quê hương của tác giả hay không Hình ảnh

“cồn nhỏ” nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tái lòng ở ven dòng sông dường như khoác lên mình một nỗi buồn mặc định Ngay cả một tiếng ồn ào của phiên chợ chiều ở nơi

xa cũng không thể nghe thấy, hay có chăng phiên chợ ấy cũng buồn đến hiu quạnh như thế này Một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa, hỏi người hay là tác giả đang

tự hỏi bản thân mình Từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu Khung cảnh hoang sơ, tiêu điều nơi bến nước không có một bóng người, không có một tiếng động thật chua xót Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh trời và sông để đặc tả

sự mênh mông vô đinh.Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là nét tài tình, tinh tế và độc đáo của Huy Cận Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai ấy

Ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh này nhưng dường như thiên nhiêu không như long người mong ngóng:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thương nhớ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ 3 dường như người đọc nhận ra một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ thứ hai nữa Từ “dạt” đã diễn tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật này Tuy nhiên từ ngữ này gắn liền với hình ảnh “bèo” lại khiến cho tác giả thất vọng vì “bèo” vốn vô đinh, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò Tác giả chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể

Trang 13

Mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự

im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu

Ở khổ thơ cuối dường như bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Có thể nói tư tưởng cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng them sầu, them buồn hơn Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút

và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống Hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gủi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển

đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng

cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận

Bài viết tham khảo 3

Trước Cách mạng tháng Tám, thiên nhiên trong thơ Huy Cận thường thấm đượm nỗi buồn - nỗi buồn tiêu biểu cho cả một thế hệ Thơ mới Bài thơ Tràng giang (1939 - trích

từ tập Lửa thiêng) thể hiện cái tôi buồn miên man của nhà thơ trước cảnh trời rộng, sông dài; nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình Bài thơ còn thể hiện tình yêu đất nước thầm kín của nhà thơ

Tràng giang nghĩa là sông dài, từ tràng cũng đọc là trường Nhưng từ tràng giang với

âm hưởng mênh mang của nó, gợi cảnh bao la, bát ngát hơn (tràng giang đại hải) Tác giả dùng từ Hán - Việt đã tạo ra vẻ cổ kính, vĩnh viễn của dòng sông

Trang 14

Mở đầu bài thơ là cảnh sông nước:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Câu thơ đầu gợi tả cảnh dòng sông mênh mang, những con sóng gợn lô nhô gối nhau tới chân trời tạo cảm giác êm ả trong không gian quạnh vắng như chứa đựng sẵn nỗi buồn: buồn điệp điệp Nỗi buồn lớp lớp nối nhau tỏa theo con nước đi về trăm ngả: sầu trăm ngả Cảnh tràng giang trong bài thơ mang một màu cổ kính Hình ảnh bổ sung cho con thuyền là cành củi khô chìm nổi lênh đênh giữa cảnh bát ngát của dòng sông:

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Từ rừng thẳm, cành củi qua bao sông suối mà trôi về đây, dập dờn giữa chốn sông nước bao la, gợi liên tưởng đến cảnh đời lạc loài, bơ vơ Đó là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng bị dòng đời cuốn trôi không biết về đâu

Khổ thơ gợi tả cảnh với không gian sông nước mênh mông với những đường nét: song song, điệp điệp, nhưng lại: sầu trăm ngả, lạc mấy dòng nên không hứa hẹn gì hội tụ, gặp

gỡ mà chia tan, xa rời Thủ pháp tương phản giữa hình ảnh dòng sông rộng lớn với cảnh củi khô và chiếc thuyền nhỏ bé, càng làm nổi bật cảnh bát ngát, vô tận của dòng sông

và thân phận lẻ loi, bé nhỏ của con người Âm điệu chung cho cả bài thơ, buồn vì thân phận con người cô đơn, lạc loài trong cuộc đời cũ

Khổ thơ thứ hai tiếp tục mạch thơ khổ đầu nhưng không gian được mở rộng ra và đẩy lên cao hơn

Lơ thơ cồn nhỏ, gió đìu hiu

Cồn nhỏ đơn côi giữa dòng sông, lại thêm ngọn gió đìu hiu làm cho cảnh càng hoang

vu, hiu hắt, chìm khuất Dòng nước lũ trên thượng nguồn đổ về nhấn chìm cồn nhỏ giữa sông chỉ còn nhô lên vài ngọn cỏ lưa thưa gợi liên tưởng đến những thân phận bị dòng

Trang 15

đời nhấn chìm xô dạt Không gian mở rộng sang bên bờ: cảnh chợ chiều đã vãn càng tô đậm cái vắng vẻ, xa lìa Cảnh chợ chiều có gợi đến cuộc sống, quê nhà nhưng chỉ là

âm thanh xao xác rồi mất hút dần trong cảnh mênh mang vắng lặng của dòng sông Dòng sông và nhà thơ như bị tách ra khỏi cuộc đời nên đứng trong cảnh ấy lòng người càng thêm thương nhớ cuộc sống quê hương

Bầu trời hiện ra cũng làm tăng thêm vẻ lạc lõng:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Câu thơ giàu hình tượng, gợi tả không gian có hình khối đường nét và màu sắc: từng vạt nắng trên cao rơi xuống tạo nên khoảng không sâu thẳm trên bầu trời, độ sâu của bầu trời như ở ngọn cót vót Cách dùng từ sâu gợi không gian bầu trời như mở rộng và đẩy lên cao hơn, sâu hơn, tạo ra không gian thăm thẳm, khôn cùng vô biên của vũ trụ

và nỗi buồn của nhà thơ dường như vô tận, mênh mông:

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Dòng sông, bến bãi, đến bầu trời đều rời rạc và được khỏa lấp nỗi buồn của nhà thơ, buồn vì thiếu vắng cuộc sống nên mong tìm về với cuộc sống

Nhưng cảnh càng xuất hiện càng lạc lõng, hờ hững:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Các sự vật được bên nhau: bèo dạt nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng nhưng tạo ra một thế giới không liên hệ, chia lìa Trong khung cảnh ấy hồn thơ muốn tìm đến dấu vết của cuộc sống nhưng tất cả đều mênh mông xa vắng được nhấn mạnh bởi hai lần phủ định: Mênh mông không một chuyển dò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Không một con đò, không một chiếc cầu tri âm, không có bóng người hay cái gì gợi đến tình người để mà gặp gỡ giao tiếp Chỉ có mặt nước mênh mông vắng lặng

Trang 16

Trong cảnh ấy, tình người càng buồn hơn, buồn vì sự thiếu vắng cuộc sống Nhà thơ đứng ngay giữa quê hương mình mà cảm thấy bơ vơ, trơ trọi nên càng khao khát gắn

bó với con người, cuộc sống, với quê hương

Bài thơ khép lại với cảnh hoàng hôn kì vĩ nơi chân trời xa:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Khung cảnh mở ra với hình ảnh núi bạc được kết tạo bằng mây trắng lấp lánh ánh nắng trời Tác giả bình: “Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng

nở ra trên trời cao Ánh chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp” Một vẻ đẹp kì thú, ngời sáng, hùng vĩ Hình ảnh này gợi nhớ đến một ý thơ dịch từ thơ Đường: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa” (Đỗ Phủ) nhưng lại có vẻ đẹp rạng rỡ hơn Một cánh chim chiều xuất hiện làm cho bức tranh them sinh động, thơ mộng, đẹp đẽ nhưng nhỏ bé, mông lung Cánh chim nhỏ như bị nắng chiều đè xuống, chỉ nghiêng cánh lá bóng chiều đổ xuống làm cho không gian như có hình khối, trọng lượng và thiên nhiên có vẻ như trĩu nặng nỗi buồn của thi nhân Cảnh mông lung xa vắng ấy càng gợi thêm lòng thương nhớ quê hương:

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Con sóng lòng nhớ quê của nhà thơ đã tỏa ra nhập vào con sóng nước Con nước cảm thông đã mang tình quê mênh mang đi sóng nước Con nước cảm thông đã mang tình quê mênh mang đi về mọi nẻo Ý thơ cuối mượn từ tứ thơ của Thôi Hiệu đời Đường: Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Hoàng Hạc Lâu)

Người xưa nhìn khói sóng mà nhớ nhà, còn Huy Cận không cần khói sóng vẫn nhớ quê hương Vì mối tình ấy luôn khắc khoải trong lòng Đó là nguyên nhân chính của nỗi buồn trải dài suốt bài thơ Một con người buồn nhớ quê hương khi đúng ngay giữa

Trang 17

quê hương mình càng thấy bơ vơ tội nghiệp làm sao! Bài thơ kết thúc là cảnh hoàng hôn trên sông nước và mở ra một tình quê bát ngát

Tóm lại, nỗi buồn sông nước, trời mây trong Tràng giang của Huy Cận cũng là nỗi đau cuộc đời, nỗi sầu nhân thế Nhà thơ gởi gắm vào đó một tấm lòng tha thiết yêu quê hương đất nước, sự nâng niu đối với tiếng Việt

Vì vậy, Xuân Diệu đánh giá: “Tràng giang là một bài thơ ca hát non sông đất nước,

do đó dọn đường cho lòng yêu giang san, Tổ quốc”

Bài thơ thể hiện cái buồn chung của một thời đại trong Thơ mới Nhưng nỗi buồn toát

ra từ cái đẹp của thiên nhiên thiếu liên lạc thiếu tình người chứ không phải cái buồn vì cảnh tù túng ngột ngạt trong Nhớ rừng của Thế Lữ

Bài thơ mang phong vị cổ điển ở hình ảnh, giọng điệu nhưng vẫn mang nét đặc sắc của thơ hiện đại ở không gian sắc màu, từ ngữ đến tứ thơ

Bài viết tham khảo 4

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945 Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005 Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu

về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự" Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời" Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang" Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp

Trang 18

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng

về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước

vũ trụ bao la Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại

Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài" Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc

Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về

Trang 19

những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy

là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài

và rộng bao la không biết đến nhường nào

Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong

lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền Thế

mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả" Từ chỉ

số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng" Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ

bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi

Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng

Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Trang 20

Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều

ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng

ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la,

vô tận Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu"

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa

Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cần gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển,

nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời Nhưng

Trang 21

trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng" Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở

ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không

có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định " không không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như

đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ

một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa

Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc

Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi

nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển

Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Trang 22

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

"Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê" Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước

Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn,

mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay

Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường

Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được

Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương

Trang 23

Đề 3: Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang

I Mở bài:

Từ ngàn xưa, thiên nhiên đã trở thành niềm cảm hứng mãnh liệt khơi nguồn sáng tạo cho thi nhân Ta đã từng gặp cảnh bồng lai trong thơ Lý Bạch, một vùng quê mộc mạc, tĩnh lặng trong thơ Nguyễn Khuyến, cảnh sơn thủy hữu tình trong thơ Nguyễn Trãi Phong trào Thơ mới (1932-1945) với sự tập hợp của nhiều gương mặt thi nhân, đã mang đến cho người đọc nhiều cảnh sắc thiên nhiên độc đáo, vây phủ tâm trạng của thi nhân Đọc Tràng giang của Huy Cận, ta bắt gặp một thiên nhiên kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ khiến ta như “đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát”

II Thân bài

1 Tràng giang là bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển

Nếu thiên nhiên trong, “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu mang vẻ đẹp thướt tha thì thiên nhiên trong Tràng giang của Huy Cận lại mang vẻ đẹp hùng vĩ, rợn ngợi của “trời rộng - sông dài’’

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

- Dòng sông mênh mang, chảy dài trong không gian vắng lặng, bát ngát

- Những con sóng lớp lớp nối dài như nỗi buồn miên man không đứt

- Song song với chiếc thuyền như buông trôi, phó mặc cho cuộc đời là nỗi buồn “điệp điệp” gợi niềm chia biệt

- Cảnh ở đây sầu từ “con thuyền", “cành củi khô”, “dòng nước” đến "sóng”, “bờ xanh

- bãi vàng’’ đều cô liêu, đều mang nỗi sầu lớn: bao nhiêu ngả nước, bấy nhiêu ngả sầu, sầu miên man bất tận

Trang 24

- Không gian mở rộng theo chiều kích về độ cao, rộng, sâu Những hình ảnh đơn sơ bằng nét vẽ tinh tế giàu sắc thái cổ điển mà vẫn mới mẻ

- Thiên nhiên mang vẻ đẹp sâu lắng được đặt trong không gian sông nước lặng lẽ và rợn ngợp được khúc xạ qua tâm hổn thỉ sĩ

2 Thiên nhiên được khúc xạ qua tâm hồn thi sĩ

- Nỗi buồn của Huy Cận miên man không dứt như sông nước mênh mang bất tận, theo sông nước lan tỏa rất xa Thấm đượm trong cảnh vật là một linh hồn “mang mang thiên

cổ sầu”

- Thiên nhiên được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, mang nỗi buồn của thi sĩ

- Cái đẹp hiện lên qua tâm hồn thảng thốt của thi nhân:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

- Nếu trong “Đây mùa thu tới” nỗi buồn tỏa ra từ nỗi cô đơn, quạnh vắng, “Đây thôn Vĩ Dạ” nỗi buồn nhè nhẹ được cất lên từ ý thức sợ bị lãng quên của nhà thơ, thì “Tràng giang” là nỗi niềm “nhớ nhà” - nhớ một chốn quê hương mà phải chàng đây là hình ảnh Đất Nước bị khuất lấp đâu đó trong màn đêm nô lệ?

III Kết bài

Miêu tả thiên nhiên, trong thơ xưa " thường chuộng thiên nhiên đẹp: Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” là di sản của thơ phương Đông Thời đại Thơ mới là thời đại muốn cái “tôi” được khẳng định Vì vậy, thiên nhiên trong thơ mới mang một sắc thái khác khi miêu tả thiên nhiên

Tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới là tìm hiểu vẻ đẹp mang tính thời đại Các nhà thơ, trong đó có Huy Cận đã gởi cái tôi cá nhân của mình vào thiên nhiên với nỗi buồn của thế hệ sống dưới thời Pháp thuộc

Phía sau bức tranh thiên nhiên dẹp nhưng đượm buồn trong bài “Tràng giang" là bức tranh tâm trạng của Huy Cận một bức tranh tâm hồn giàu tính nhân văn

Trang 25

Bài viết tham khảo

Huy Cận một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới Tập thơ đầu tay của ông là Lửa thiêng đã ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Nổi bật nhất trong tập thơ ấy ta không thể không nhắc đến Tràng giang Tác phẩm không chỉ là nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhân vật trữ tình mà dưới ngòi bút tài hoa của Huy Cận một thiên nhiên thật đẹp, thật buồn cũng hiện lên vô cùng ấn tượng, rõ nét

Tác phẩm được gợi cảm hứng từ những con sông rộng lớn, mênh mông của đất nước Đọc Tràng giang người ta cố công tìm kiến hình ảnh một con sông cụ thể lẩn khuất sau những câu chữ của Huy cận Nhưng tuyệt nhiên không thể xác định được nó là con sông nào, ở đâu Bởi con sông ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này,

đó là con sông quê hương, con sông thương nhớ Nhan đề bài thơ là Tràng giang, tức những con sông dài, sông lớn, như vậy không gian mênh mông sông nước chính là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca trong lòng Huy Cận

Thiên nhiên trong Tràng giang là một thiên nhiên đẹp, đượm buồn và thẫm đẫm nỗi

cô đơn Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mang những nét cổ điển đặc trưng: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Khung cảnh mênh mông trời nước nối tiếp nhau mở ra, những con sóng nhỏ lăn tăn nối tiếp xô vào bờ, không gian mở được mở rộng với từ láy “điệp điệp” Trên mặt sông rộng mênh mông ấy con thuyền xuất hiện thật nhỏ bé, đơn độc, kết hợp với những cành củi khô trôi lặng lờ giữa dòng sông, khiến cho khung cảnh thiên nhiên lại càng trở nên buồn bã, đìu hiu hơn

Sang đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của Huy Cận đã có sự dịch chuyển, thi sĩ hướng mắt ra xa hơn và trước mắt ông là “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn

Trang 26

chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu” Vẫn là sông nước đấy thôi, nhưng tâm hồn thi sĩ đang cố gắng tìm kiếm trong không gian ảm đạm kia một chút hơi thở của sự sống ở nơi cồn nhỏ, ở tiếng chợ xa xa Nhưng vẳng lại chỉ là sự nín thinh của vạn vật Khổ thơ sử dụng hàng loạt các từ chỉ cái bé nhỏ: lơ thơ, cồn nhỏ kết hợp với các từ đìu hiu, cô liêu gợi nên hồn cốt sự vật đã làm nổi bật bức tranh phong cảnh buồn bã Đọc câu thơ ta bất giác nhớ đến Chinh phụ ngâm: “Non kì quạnh quẽ trăng treo/ Bến thì gió thổi đìu hiu mấy gò” Tuy thời thế thay đổi, tuy cách nhau cả trăm năm, nhưng cảnh ấy, tình ầy vẫn chẳng hề đổi thay Vẫn là sự hiu quanh, vẳng vẻ đến nào long của tạo vật Thiên nhiên đó còn có sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, âm thanh chợ xa hư thực thực hư khó lòng có thể xác định nổi Nếu âm thanh đó là thực thì

có lẽ không gian đã phải yên ắng biết chứng nào, con người mới có thể nghe được như vậy Rời tầm mắt, Huy Cận di chuyển lên cao, trời đất mênh mông, “sâu chót vót” càng khiến con người cô đơn, lạc lõng hơn Bức tranh thiên nhiên mở rộng cả ba chiều: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu đến vô cùng Những sự vật vận động trái chiều nhau nắng xuống trời lên khiến không gian càng được mở rộng hơn nữa Sử dụng từ “sâu chót vót” là một từ rất lạ, không phải là cao mà là sâu đã nhấn mạnh cái sâu không cùng của cảnh vật, màu xanh ngút ngàn của bầu trời khiến có cái gì đó rờn rợn ở trong lòng Bức tranh cô đơn, hiu quạnh tiếp tục được bổ sung ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Những cành bèo lặng lờ trôi trên dòng sông mênh mông rộng lớn, với những bờ xanh lặng lẽ tiếp bãi vàng Sự quạnh hiu qua mỗi khổ thơ lại càng rõ nét hơn Đây không chỉ đơn thuần là sự cô quạnh của khung cảnh mà nó còn là sự cô đơn trong chính tâm hồn người thi sĩ Nguyễn Du đã từng đúc kết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cũng chính là vì lẽ đó Cái nhìn của tâm trạng đã ảnh hưởng,

đã thấm dần sang cảnh vật, khiến cho mọi vật trở nên ảm đạm, cô đơn như chính thân

Trang 27

phận của người thi sĩ Không gian thiên nhiên đó chính là không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình

Khổ thơ cuối bài thơ đã mở ra một bức tranh khác, hùng vĩ, tráng lệ:

Các lớp mây chồng xếp lên nhau thành từng tầng, từng bậc, đùn lên thành những núi mây bạc trắng xóa Hòa cùng cái ráng chiều đỏ của hoàng hôn làm cho bức tranh diễm

lệ, kì vĩ hơn bao giờ hết Tương phản với sự hùng vĩ của thiên nhiên là cánh chim cô đơn, bé nhỏ đến đáng thương, tội nghiệp Nhìn khung cảnh ấy lòng ông cũng không thôi nhớ về quê nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Bức tranh thiên nhiên trong thơ Huy Cận đẹp mà thấm đẫm nỗi buồn, đó là nỗi buồn thê lương khắc khoải Dù cuối bức tranh ấy có xuất hiện sự kì vĩ, mĩ lệ, nhưng chỉ là trong thoáng chốc, ngưng đọng ở bài thơ vẫn là nỗi cô đơn, lạc lõng thấm đầy trong từng cảnh vật

Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, xinh xắn mà cũng thật độc đáo trong thơ ca Việt Nam Đằng sau bức tranh ấy là nỗi nhớ quê hương khắc khoải, là tình yêu nước sâu đậm mà kín đáo của Huy Cận dành cho non sông, đất nước

Trang 28

Đề 4: Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận

Bài viết tham khảo 1

Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng gọi nhà thơ Huy Cận là: “Người gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á Người khơi dậy cái mạch sầu mấy ngàn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” Thực đúng vậy, Huy Cận đã bước vào thi đàn bằng một tâm hồn đa sầu, đa cảm như thế Và cái tôi ấy đã theo suốt thi nhân trong chặng đường sáng tác thơ ca trước Cách mạng Nhưng chỉ cần qua Tràng giang bài thơ hay và nổi tiếng nhất, in trong tập

“Lửa thiêng” (1940) cái tôi trữ tình của nhà thơ Huy Cận đã được thể hiện đầy đủ và đúng nghĩa nhất

Dễ nhận thấy, cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang là một cái tôi đầy buồn bã, cô đơn, lạc lõng Ngay từ lúc bài thơ ra đời, nguồn cảm hứng của nhà thơ xuất phát từ những cảm xúc ấy Chàng sinh viên Canh nông năm đó, không giấu nổi cảm giác buồn

bã, cô đơn trước cảnh sóng nước sông Hồng mênh mang Bởi vậy nhan đề “Tràng giang”

và lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài, ngay mở đầu đã tạo nên cảm giác con người sao quá nhỏ bé trước không gian rộng lớn, nên nỗi buồn của thi nhân cứ mải miết trải dài và lan tỏa khắp mọi nơi Để rồi từ đó, bước vào từng khổ thơ là mỗi lần chạm đến nỗi cô đơn đến rợn ngợp trong lòng người

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Nét buồn bã, cô đơn của cái tôi trữ tình đã hiển hiện ngay ở những dòng thơ đầu tiên Nhà thơ đã cố gắng tìm kiếm những sự vật để khỏa lấp đi cái bâng khuâng trước khung cảnh trời rộng, sông dài ở trên Nhưng ngoại cảnh lại hiện lên với sóng gợn, thuyền xuôi, củi lạc quá nhỏ bé, đối lập với một tràng giang mênh mông, rộng lớn Đoạn thơ dường như đã gói gém quá nhiều nỗi sầu ở trong đó Có con sóng gợn nhỏ, lăn tăn nhưng được nhân hóa buồn điệp điệp như thể sóng lòng buồn bã đã lan tỏa khắp trên mặt sông Có con thuyền nhưng lại chẳng hề gắn kết với nước, từ láy song song như

Ngày đăng: 07/07/2021, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w