PHẦN 1 1 MỞ ĐẦU 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Xã hội ngày càng văn minh, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao đòi hỏi mỗi con người phải không ngừng phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực Con người còn là nề[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng văn minh, đời sống vật chất ngày càng được nâng caođòi hỏi mỗi con người phải không ngừng phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnhvực Con người còn là nền tảng của gia đình và là nguồn nhân lực quan trọngcủa đất nước Hơn nữa phát triển con người là mục tiêu của sự phát triển kinh
tế xã hội, là nhân tố cơ bản để đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước[28], [29] Theo đánh giá của Liên hợp quốc [13], thực trạng chỉ số phát triểncủa con người Việt Nam đứng vị trí 116 trên tổng số 173 nước trên thế giới,chỉ số này thuộc nhóm thấp của thế giới Do đó công tác giáo dục và đào tạođược coi là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhânlực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nguồn nhân lực tri thức của đất nướcchính là thế hệ học sinh, sinh viên đang học tập và nghiên cứu trong cáctrường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học
Các chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh được coi là hai mặtcùng phát triển trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho đất nước.Thực tế cho thấy, muốn đưa ra một biện pháp đúng đắn và hiệu quả đối với sựnghiệp giáo dục và đào tạo một cách toàn diện, phải dựa vào hiện trạng thểlực và năng lực trí tuệ của học sinh
Ngay từ trước năm 1975, nhiều tác giả đã nghiên cứu về các chỉ số thểlực và trí tuệ của con người Việt Nam Các kết quả nghiên cứu được trình bàytrong quyển “HSSH” [85] Tài liệu này được sử dụng trong các sách giáokhoa, các giáo trình, tài liệu dạy và học
Trong thời kì đổi mới cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, trongnhững năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về thể lực và trí tuệcủa học sinh Việt Nam ở các địa bàn khác nhau Các kết quả nghiên cứu đãđược trình bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành và trong cuốn “Kếtquả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” [65]
Trang 2Đáng chú ý là công trình “Nghiên cứu đặc điểm sinh thể con người Việt Nam,tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khỏe” mã sốKX-07-07 do GS TS Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [81], [82] và nhóm đềtài “Nghiên cứu các chỉ tiêu thể lực và trí tuệ ở học sinh” do GS TSKH TạThúy Lan làm chủ nhiệm đề tài [47], [48], [49], [50], [51], [52] và của một sốtác giả khác [57], [58], [59], [62]
Các chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh không phải hằng định mà cóthể thay đổi phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và các kỳ điều tra đáng kểnhất là chế độ dinh dưỡng và lượng thông tin [4], [14], [24], [81] Vì vậy, việcnghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh cần phải tiến hành thường
xuyên và rộng khắp Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên
cứu một số chỉ số thể lực, trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xác định được thực trạng một số đặc điểm thể lực của học sinh tiểuhọc và trung học cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nhưchiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI
- Xác định được thực trạng một số đặc điểm về chức năng sinh lý củamột số hệ cơ quan của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Minh Đạo,huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh như tần số tim, huyết áp động mạch
- Xác định được các chỉ số trí tuệ, trí nhớ của học sinh tiểu học và trunghọc cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Xác định chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh tiểu học và trung học cơ
sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Xác định được mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các chỉ số thể lực của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (chiều cao, cân nặng, vòng ngựctrung bình, chỉ số pignet, BMI)
Trang 3- Nghiên cứu một số chỉ số chức năng ở học sinh tiểu học và trung học cơ
sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (tần số tim, huyết áp động mạch)
- Nghiên cứu các chỉ số trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xãMinh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (chỉ số IQ, mức trí tuệ và trí nhớ)
- Nghiên cứu chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh tiểu học và trung học
cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở xãMinh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tất cả có 9 nhóm với 9 độ tuổikhác nhau từ 7 - 15 tuổi Tổng số đối tượng nghiên cứu khoảng 897 học sinhtrong đó có khoảng 460 học sinh nam và 437 học sinh nữ
- Địa điểm nghiên cứu là trường tiểu học và trung học cơ sở xã MinhĐạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình được xác địnhtheo phương pháp hiện hành của ngành y tế
- Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi
- Huyết áp được xác định bằng phương pháp Korotkov
- Năng lực trí tuệ được xác định bằng cách sử dụng test “Khuôn hìnhtiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E dùng cho người từ 6 tuổi trở lên
- Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev
- Chỉ số AQ được xác định bằng cách sử dụng test Paul Stoltz PH D, cócải tiến
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của học
sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Kết quả trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho
hướng nghiên cứu về thể lực, sinh lý, trí tuệ của học sinh tiểu học và trunghọc cơ sở, cung cấp dẫn liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và
là dẫn liệu cho công tác giáo dục học sinh được tốt hơn
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM THỂ LỰC CỦA TRẺ EM
1.1.1 Các chỉ số thể lực
Các chỉ số thể lực của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợpcủa các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất Ở bất kỳ người bìnhthường nào cũng đều có mức độ phát triển thể lực nhất định Một trong nhữngbiểu hiện cơ bản của thể lực là các số đo kích thước của cơ thể, trong đó chiềucao, cân nặng và vòng ngực là các chỉ số cơ bản phản ánh thể lực của conngười Từ các chỉ số cơ bản kể trên có thể tính thêm các chỉ số khác biểu hiệnmối liên quan giữa chúng như chỉ số pignet, chỉ số khối cơ thể (BMI) Cácchỉ số đó có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển thể lực của trẻ em, biểuhiện sự tăng trưởng của cơ thể con người từ lức mới sinh đến lúc chết
Trong các chỉ số trên, chiều cao là chỉ số phát triển thể lực quan trọngnhất và được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học.Chiều cao phản ánh quá trình phát triển chiều dài của xương và nói lên tầmvóc của con người Sự phát triển chiều cao mang tính chất đặc trưng chochủng tộc, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường [5], [6], [8], [9], [19],[20], [21], [22], [43], [66]
Cân nặng cũng là một chỉ số được sử dụng thường xuyên trong cácnghiên cứu nhằm đánh giá thể lực của con người So với chiều cao, cân nặng
ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền, mà liên quan đến điều kiện dinh dưỡng Cânnặng cơ thể là đặc điểm tổng hợp, biểu thị mức độ và tỉ lệ giữa quá trình hấpthu và sử dụng năng lượng [30], [69]
Trang 5Vòng ngực cũng được coi là đặc trưng cơ bản của thể lực Mức độ pháttriển của lồng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của conngười.
Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp nên không thể đáng giáqua một số chỉ số riêng biệt Vì vậy, muốn đánh giá thể lực phải dựa vào mốiliên quan giữa các chỉ số hình thái giải phẫu, sinh lý khác nhau Đây làphương pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số Loại chỉ số đơn giản nhất đượcxác định dựa vào chỉ số là chiều cao, cân nặng như chỉ số Broca, Kaup, chỉ sốkhối cơ thể (BMI) Còn loại chỉ số phức tạp hơn dựa vào nhiều chỉ số hơn(chiều cao, cân nặng, vòng ngực ) như chỉ số pignet, QVC, Vervaek Bởivậy, đã có nhiều công trình ngiên cứu về các chỉ số này [5], [7], [8], [12],[14], [15], [23], [24], [25], [30], [32], [33], [41], [43], [49], [62], [64], [81]
Công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực của con người là củaC.F.Jumpert (theo [83]) Ông đã nghiên cứu cân nặng cơ thể, chiều cao và cácđại lượng khác ở trẻ em từ 1 đến 25 tuổi
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao do P.Montbeilard (theo [83])thực hiện ở người con trai của mình trong 18 năm liên tục, kể từ khi sinh rađến năm 1777 Sau này số liệu của P.Montbeilard được D.A.Thomson thểhiện trên đồ thị (theo [83]) Tiếp theo đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thểlực của trẻ em
Theo một số tác giả, quá trình phát triển cơ thể con người diễn rakhông đồng đều [6], [7], [14], [15], [24], [41], [62], [81], [82], [83] Sự pháttriển không đồng đều ở trẻ em thể hiện qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳtốc độ tăng trưởng nhanh, còn thời kỳ khác lại tăng trưởng chậm [14], [62],[69] Trong quá trình phát triển ở trẻ em từ khi sinh ra cho đến khi trưởngthành có hai giai đoạn tăng trưởng “nhảy vọt” Đó là giai đoạn từ 5 đến 7tuổi và giai đoạn dậy thì [62], [69] Trong quá trình phát triển ở trẻ em, sự
Trang 6hoàn chỉnh các cơ quan xảy ra không đồng thì và không đồng tốc [6], [27],[39], [50], [83], [88].
Nhiều tác giả khác [62], [81], [88] nhận thấy có sự khác nhau về tốc
độ phát triển thể lực giữa nam và nữ Từ 7 đến 10 tuổi, tốc độ tăng chiều caocủa nữ nhanh hơn của nam Từ 11 tuổi trở đi, tốc độ tăng chiều cao của namlại nhanh hơn của nữ Đó là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăngtrưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [62]
Thực tế cho thấy, sự phát triển thể lực ở trẻ em phụ thuộc vào nhiềuyếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường [4],[5], [50] Dưới tác động của yếu tố di truyền và điều kiện của môi trườngsống, đã xảy ra quá trình cải tổ về mặt hình thái và chức năng, làm cho cơ thểtrẻ em ngày một hoàn thiện hơn [44], [62], [88]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu thể lực của trẻ em ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao vàcân nặng của trẻ em là Mondiere (1875) và sau này là của Huard và Bogot(1938), Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [83]) Tuy nhiên, các công trình nghiêncứu đó còn lẻ tẻ và các phương pháp nghiên cứu còn đơn giản
Sau năm 1954, có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hìnhthái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam và năm 1975 cuốn “HSSH” [85]được xuất bản Đây là một công trình trình bày khá hoàn chỉnh về các chỉ sốsinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam
Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs [88] đã nghiên cứu một số chỉ
số sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 10 tuổi Kết quả nghiên cứu chothấy, ở mọi lứa tuổi, chiều cao, cân nặng của người Việt Nam nhỏ hơn so vớingười châu Âu, châu Mĩ, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéodài hơn và bước vào thời kỳ nhảy vọt tăng trưởng dậy thì cũng muộn hơn.Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện vào lúc 12-13 tuổi, của
Trang 7nam lúc 13-16 tuổi và đến 23 tuổi đạt giá trị tối đa Tăng trưởng nhảy vọt vềcân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi và kết thúc tăng trưởng cân nặng
cơ thể lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam Do đó, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến
và ổn định về chiều cao, cân nặng sớm hơn so với nam
Từ năm 1980 đến năm 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [24] nghiên cứudọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6-17 tuổi Với 31 chỉ tiêu nhân trắc học đượcnghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11-
12 tuổi ở nữ, 13-15 tuổi ở nam, chiều cao trung bình của nữ trưởng thành là158cm và của nam là 163cm Cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ
và 15 tuổi ở nam Vòng ngực trung bình của nữ trưởng thành là 79cm và củanam là 78cm Năm 1989, nhóm tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp, NguyễnQuang Quyền, Vũ Xuân Khôi và cs [25] đã tiến hành nghiên cứu chiều cao,vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới trên 8000 người từ 1-55 tuổi ở cả
ba miền Bắc, Trung, Nam Nhóm tác giả nhận thấy, chiều cao của nam tăngnhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luật gia tăngchiều cao cho người Việt Nam (tăng 4cm/20 năm) Vòng ngực tăng nhanhnhất ở nam lúc 13-16 tuổi và ở nữ lúc 11-14 tuổi
Đào Huy Khuê [41] nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng
và phát triển của cơ thể trên 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở thị xã Hà Đông Tácgiả nhận thấy, hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi, nhưngnhịp độ tăng không đều Tốc độ tăng tối đa các thông số nghiên cứu của nữ làlúc 11-15 tuổi và của nam lúc 14-16 tuổi Từ 6-9 tuổi, các kích thước của nữ vànam không có sự khác biệt rõ rệt Từ 11-15 tuổi, các kích thước của nữ thườngcao hơn của nam và 16-17 tuổi, các chỉ số này của nam lại vượt của nữ Tác giảcũng cho rằng, có sự gia tăng chiều cao của người Việt Nam
Năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [14], nghiên cứutrên 13747 học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái
Trang 8Bình về các chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình Kết quảnghiên cứu cho thấy, so với số liệu trong cuốn “HSSH” [85] thì sự phát triểnchiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã,nhưng sự gia tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở khu vực nôngthôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể Học sinh thành phố và thị xã có xuhướng phát triển thể lực tốt hơn so với ở nông thôn.
Nghiêm Xuân Thăng [77], đã đo 17 chỉ số hình thái (chiều cao, cânnặng, vòng ngực, chỉ số pignet, Broca ) của người Việt Nam từ 1-25 tuổi ởmột số vùng của Nghệ An và Hà Tĩnh Tác giả có nhận xét rằng, sự phát triểnchiều cao ở tất cả các độ tuổi của cư dân vùng Nghệ An có khí hậu vừa nóngkhô vừa nóng ẩm so với cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ không có thời kỳnóng khô thấp hơn 0,5-4cm, nhưng cân nặng lại tương đương, mức chênhlệch cao nhất cũng chỉ là 0,5kg Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởngđến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người Tác giảcòn cho biết các chỉ số về kích thước có sự khác biệt giữa nam và nữ, ở các
độ tuổi, các kích thước của nam đều lớn hơn của nữ Tuy nhiên, cũng có một
số giai đoạn nữ phát triển nhanh hơn nam và đạt giá trị lớn hơn Ở các lứa tuổikhác nhau có sự phát triển không đồng đều, phát triển nhanh ở độ tuổi 5-7tuổi, 10-11 tuổi và 13-14 tuổi
Năm 1995, nhóm tác giả Trần Đình Long, Lê Nam Trà, Nguyễn VănTường và cs [64] nghiên cứu trên học sinh ở thị xã Thái Bình Nhóm tác giảcho thấy, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng cánh tay của họcsinh thị xã Thái Bình lớn hơn so với số liệu trong cuốn “HSSH” [85] nhưngthấp hơn so với học sinh ở quận Hoàn Kiếm [65]
Năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [60], [62] nghiên cứu trên học sinh
Hà Nội từ 6-17 tuổi Tác giả cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòngngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác từ
Trang 9những thập kỷ 80 trở về trước và so với học sinh ở Thái Bình và Hà Tây ởcùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởngtới sự sinh trưởng và phát triển thể lực của học sinh.
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [12], nghiên cứu học sinh trung học cơ sởcác dân tộc tỉnh Hòa Bình Tác giả cho biết, các chỉ số hình thái- thể lực ở họcsinh nam, nữ giữa các dân tộc Mường, Thái, Kinh không có sự khác biệt vàgiữa các dân tộc Tày, Dao cũng không có sự khác biệt Tuy nhiên, các chỉ sốhình thái- thể lực của học sinh nam, nữ các dân tộc Mường, Thái, Kinh đềucao hơn so với học sinh nam, nữ các dân tộc Tày, Dao Sự vượt trội của cácchỉ số hình thái -thể lực ở học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh so với ởhọc sinh các dân tộc Tày, Dao có thể có liên quan với sự khác biệt về điềukiện kinh tế- xã hội giữa các huyện ở tỉnh Hòa Bình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thể lực của học sinh ở ViệtNam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có sự khácnhau ít nhiều, nhưng đều xác định được là chúng biển đổi theo lứa tuổi vàmang đặc điểm giới tính Trong quá trình phát triển ở trẻ em có hai giai đoạnnhảy vọt tăng trưởng Mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt của các công trình làtương đối thống nhất đó là chiều cao tăng nhanh nhất từ 13-15 tuổi ở nam, 11-
13 tuổi ở nữ và có sự khác biệt về những chỉ số này giữa nam và nữ, giữa họcsinh thành phố, thị xã và học sinh nông thôn
1.2 CÁC CHỈ SỐ VỀ CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ HỆ CƠ QUAN
1.2.1 Tần số tim và huyết áp động mạch
Hoạt động của hệ tuần hoàn đảm bảo cung cấp ôxi và chất dinh dưỡngcho toàn bộ cơ thể sống, trong đó tần số tim và huyết áp động mạch là nhữngchỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn
Tim có chức năng vừa hút và vừa đẩy máu, là động cơ chính của hệtuần hoàn Bởi vậy tần số tim là một trong các chỉ số dùng để đánh giá hoạtđộng của hệ tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người
Trang 10Theo Tur A P (theo [62]), tần số tim trung bình của trẻ sơ sinh trongnhững ngày đầu tiên là 120-140 nhip/phút, sau đó giảm dần theo độ tuổi vàđạt mức ổn định ở lứa tuổi trưởng thành Nhiều công trình nghiên cứu đã chobiết ở trẻ lứa tuổi đang bú mẹ tần số tim trung bình là 110-160 nhip/phút,trước tuổi đến trường là 80-100 nhịp/phút và ở tuổi học đường là 72-82nhip/phút (theo [62]) Sự giảm tần số tim trong quá trình phát triển của trẻ em
có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của cácdây thần kinh ngoài tim [62] Trong những năm tiếp theo, tần số tim tiếp tụcgiảm đi chút ít [53], [70] Tần số tim có thể thay đổi theo độ tuổi, theo trạngthái cơ thể, khí hậu, bệnh lý, giới tính Tần số tim của trẻ em cao hơn củangười lớn, càng nhỏ càng nhanh và rất dễ thay đổi khi khóc, sốt, sợ hãi, gắngsức [72]
Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch Huyết áp khi tim
co gọi là huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu, huyết áp khi tim giãn gọi làhuyết áp tối thiểu hay huyết áp tâm trương Mức chênh lệch giữa huyết áp tối
đa và huyết áp tối thiểu gọi là huyết áp hiệu số Đây là điều kiện cần cho sựtuần hoàn máu Huyết áp hiệu số lớn nhất ở các động mạch chủ và động mạchlớn [26], [84]
Panaven V V (theo [88]) đã theo dõi sự biến đổi huyết áp tối đa, huyết
áp tối thiểu, huyết áp hiệu số ở trẻ em 7-17 tuổi và nhận thấy, huyết áp tăngdần theo tuổi, nhưng tăng không đều, thời điểm huyết áp tăng nhảy vọt ở nam
là 9, 12 và 13 tuổi, ở nữ là 9 và 12 tuổi Theo Fedorova E V và Zasukhina V
N (theo [62]), lứa tuổi huyết áp tăng nhảy vọt ở cả nam và nữ là 7-8 tuổi
Theo Frolkis V V (theo [62]), dưới 5 tuổi huyết áp của nam và nữ hầuhết giống nhau, nhưng 5-9 tuổi huyết áp của nam cao hơn của nữ Kết quảnghiên cứu của Fedorova E V (theo [62]) và Kaluifnaia R A (theo [62])cũng cho thấy, lúc 8-12 tuổi huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của nam đều
Trang 11cao hơn của nữ Như vậy, một số tác giả cho rằng, có sự thay đổi huyết áptheo giới tính.
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về chức năng của một số hệ cơ quan
1.2.2.1 Tần số tim
Theo Frolkis (theo [62]) thì tần số tim của trẻ sơ sinh là 120-140nhịp/phút, ở tuổi học sinh là 70 nhip/phút Trong cuốn “HSSH” [85], các tácgiả tiến hành đếm mạch cổ tay, cổ hoặc nghe tim trong một phút và tính giátrị trung bình của các đối tượng nghiên cứu cho thấy, tần số tim ở nam trưởngthành là 70-80 nhịp/phút và ở nữ trưởng thành là 75-85 nhịp/phút
Nghiêm Xuân Thăng [77], nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động timmạch và huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ở hai nhómtuổi 12-15 tuổi và 18-25 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số tim vàhuyết áp ở nhóm tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăngtheo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi trong ngày Trong ngày, tần
số tim tăng dần từ sáng đến trưa, cao nhất lúc 12 -14 giờ, sau đó giảm dần vàthấp nhất lúc 22-24 giờ Vào cùng một thời điểm thì mùa hè tần số tim caohơn mùa đông Ngoài ra, tần số tim còn bị chi phối bởi các yếu tố khác nhưlao động và trạng thái tâm lý
Đoàn Yên và cs [88] nhận thấy, người Việt Nam trước 12 tuổi có tần sốtim của nam và nữ gần như nhau, sau 12 tuổi tần số tim có sự khác biệt theogiới tính, từ đó đến già tần số tim của nữ cao hơn của nam Tần số tim củangười Việt Nam biến đổi có tính chu kỳ Tần số tim giảm dần cho đến 25 tuổiđạt trung bình 72 nhịp/phút sau đó ổn định đến 69 tuổi
Theo Tạ Thuý Lan và Trần Thị Loan [53], [54] cho thấy, tần số tim củangười lớn trong điều kiện nghỉ ngơi là 68-70 nhịp/phút còn ở trẻ em tần số timcao hơn nhiều so với người lớn và phụ thuộc vào lứa tuổi Cụ thể, trẻ em lúc 6
Trang 12tháng tuổi là 120-140 nhịp/phút, trên 6 tháng tuổi là 100-130 nhịp/phút, 2 tuổi
là 90-120 nhịp/phút, 5-6 tuổi là 80-110 nhịp/phút
Trần Thị loan [62] nhận thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theotuổi Từ 6-17 tuổi tần số tim của học sinh nam giảm 18,90 nhịp/phút, mỗi nămgiảm trung bình 1,72 nhịp/phút và của nữ giảm 14,00 nhịp/phút, mỗi nămgiảm trung bình 1,27 nhịp/phút
Đỗ Hồng Cường [12], nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dântộc tỉnh Hòa Bình đã cho thấy, từ 11-15 tuổi tần số tim của học sinh nam vàcủa học sinh nữ các dân tộc giảm dần Ở học sinh nam mỗi năm giảm khoảng1,95-2,36 lần/phút còn ở học sinh nữ giảm khoảng 1,75-2,02 lần/phút Tần sốtim của nam nữ học sinh giữa các dân tộc không có sự khác biệt và ở các lứatuổi khác nhau tần số tim của nữ đều cao hơn của nam
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, tần số tim có thểbiến đổi theo tuổi, tùy thuộc vào trạng thái tâm sinh lý, khí hậu, bệnh lý, giớitính
Trần Đỗ Trinh [84], nghiên cứu huyết áp người Việt Nam tại 20 tỉnhthuộc 7 vùng địa lý trong cả nước từ 15 tuổi trở lên Tác giả nhận thấy, huyết
áp tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ, mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15-19.Huyết áp của nam cao hơn của nữ khoảng 1-3 mmHg và có ý nghĩa thống kê
Đoàn Yên và cs [88], nghiên cứu tần số tim và huyết áp của người ViệtNam nhận thấy, sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có
Trang 13tính chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổirồi lại tăng dần Huyết áp động mạch của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi đềuthấp hơn so với người châu Âu, châu Mỹ.
Theo Frolkis (theo [87]), ở trẻ dưới 5 tuổi huyết áp của nam và nữ hầunhư bằng nhau, còn từ 5-9 tuổi huyết áp của nam cao hơn của nữ Kết quảnghiên cứu của Fedorova, Kaluifnaia (theo [62]) cho thấy, ở lứa tuổi 8-12,huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của nam đều cao hơn của nữ
Theo Tổ chức y tế thế giới (theo [62]), người trưởng thành có huyết áptối đa là 110-120 mmHg và huyết áp tối thiểu là 90 mmHg trở lên gọi là caohuyết áp Nếu như huyết áp tối đa thấp hơn 100 mmHg và huyết áp tối thiểuthấp hơn 60 mmHg gọi là hạ huyết áp
Trần Thị Loan [62], nghiên cứu huyết áp động mạch của học sinh từ
6-17 tuổi ở Hà Nội đã cho thấy, huyết áp của học sinh tăng dần theo tuổi, mỗinăm tăng trung bình 2 mmHg Tốc độ tăng huyết áp không đều Thời điểmtăng nhanh huyết áp ở nam lúc 13 tuổi, ở nữ lúc 12-13 tuổi Từ 6-17 tuổihuyết áp của nữ cao hơn của nam khoảng 2-3 mmHg
Đỗ Hồng Cường [12], nghiên cứu huyết áp động mạch của học sinhtrung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình đã nhận xét rằng, huyết áp độngmạch của học sinh tăng dần theo tuổi, hiện tượng này liên quan với sự biếnđổi cấu trúc và chức năng hệ tim mạch trong quá trình phát triển cá thể
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy huyết áp biến đổitheo tuổi, giới tính, hoạt động sinh lý, theo các vùng miền và các nước khácnhau
1.3 CÁC CHỈ SỐ TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM
1.3.1 Trí tuệ
Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề nhanh chóngthích nghi với tình huống mới Trí tuệ là khả năng rất quan trọng trong hoạt
Trang 14động của con người, có liên quan đến cả thể chất và tinh thần Hoạt động trítuệ biểu hiện ra nhiều mặt, có liên quan đến nhiều hiện tượng tâm sinh lý vànhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, sinh học, y học, xã hội học,giáo dục học Bởi vậy việc nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vực liênngành [9], [10], [11], [31], [37], [73].
Cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và có thểphân chia thành ba khuynh hướng chính Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ lànăng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân Theo Huarte J (theo [79]),trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo.Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng TheoRubinstein S L (theo [62]), hạt nhân của trí tuệ là các thao tác tư duy (phântích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) Khuynh hướng thứ bacoi trí tuệ là năng lực thích nghi của con người đối với thế giới xung quanh.Đại diện cho khuynh hướng này là Stern (theo [79]) Theo Wechsler D (theo[93]), trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động
có mục đích, trong sự phán đoán, thông hiểu và làm cho môi trường thíchnghi với những khả năng của mình Piaget J [73], (theo [90]) lại coi trí tuệ làhình thái nhất định của sự cân bằng, hình thành trên nghiên cứu cơ sở tri giác,
kỹ xảo Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong mối quan hệ giữa cơ thể với môitrường (theo [37]) Ngoài ra, năng lực trí tuệ còn được hiểu ở các phẩm chấtkhác như óc tò mò, lòng say mê, sự hứng thú, sự kiên trì và miệt mài Nănglực trí tuệ còn thể hiện ra hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt sángtạo hay thể hiện ở khả năng tưởng tượng (óc tưởng tưởng tượng phong phú,hình dung ngay và đúng điều người khác nói) Do đó, có thể nói năng lực trítuệ biểu hiện ở cả hai mặt nhận thức và hành động Sự tồn tại nhiều cách hiểukhác nhau về trí tuệ chứng tỏ, nó là hoạt động phức tạp của con người Xung
Trang 15quanh vấn đề trí tuệ, các nhà nghiên cứu còn dùng các thuật ngữ “trí khôn”,
“trí thông minh”…
Theo Claparede và Stern, trí khôn là sự thích nghi của tinh thần với cáchoàn cảnh mới (theo [71]) Còn theo D.Wechsler [92] thì trí khôn là tổng thểcủa nhiều chức năng trí tuệ, gắn chặt với nhiều điều kiện văn hóa xã hội nơicon người sinh ra và lớn lên Trí khôn thường dùng cho động vật và trẻ em
Thông minh là phẩm chất cao của trí tuệ mà bản chất của nó là tư duytích cực, chủ động, sáng tạo, linh hoạt trước những vấn đề thực tiễn và có liênquan chặt chẽ với trình độ văn hóa của mỗi người Như vậy, trí tuệ, trí khôn,trí thông minh là những khái niệm có nhiều điểm giống nhau nhưng có tínhchất biểu hiện khác nhau Trong đó trí khôn, trí thông minh là các phạm trùhẹp nằm trong nội hàm trí tuệ
Để đánh giá năng lực trí tuệ, có nhiều phương pháp khác nhau Mộtphương pháp phổ biến là dùng trắc nghiệm (test) Thuật ngữ “test” trong tiếngAnh có nghĩa là “thử” hay “phép thử” Test là phương pháp để thăm dò mộtvài đặc điểm của năng lực trí tuệ (khả năng ghi nhớ, chú ý, năng khiếu hoặc
để kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo )
Từ sau năm 1905, nhà tâm lý học Pháp A Bitnet (1857-1911) cộng tácvới T Simon [89] tiến hành hàng loạt các thực nghiệm nghiên cứu năng lựctrí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau và công bố hệ thống trắc nghiệm đểxác định mức độ phát triển trí tuệ Các test này được dùng làm kiểu mẫu đểphát triển nhiều test trí tuệ khác (Test phân tích nghiên cứu trí tuệ của R.Meili(1828) (theo [35]), test khuôn hình tiếp diễn của J.Raven (1936) [91], test tríthông minh của trẻ em WISC [92] và test trí thông minh của người lớn WAIS[93], test cấu trúc trí tuệ của Anthauer (1953) (theo [2])
Hiện nay, trên thế giới có nhiều loại test được sử dụng, nhưng test
“khuôn hình tiếp diễn” của J.Raven (test Raven) là trắc nghiệm được sử dụng
Trang 16phổ biến và rộng rãi nhất Test Raven được xây dựng trên thuyết tri giác hìnhthể của tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman Test Ravenđược công bố lần đầu tiên năm 1936 Sau hai lần chuẩn hóa vào năm 1945 và
1956, đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chẩnđoán trí tuệ của con người từ năm 1960 [1], [80]
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2], [31],[38] cho thấy, có thể sử dụng test trí tuệ để đánh giá khả năng hoạt động trítuệ của trẻ em Việt Nam Đơn vị được sử dụng để đánh giá năng lực trí tuệcủa con người là chỉ số thông minh (IQ)
Từ cuối những năm 80 trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứutrí tuệ của học sinh Việt Nam Một số tác giả [3], [36], [80] quan tâm đến bảnchất và cấu trúc của trí tuệ Kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2],[34], [35], [78], [79]…cho thấy, có thể sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ đểchẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em
Người đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam
là Trần Trọng Thủy [78], tác giả đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ bằng testRaven và đã xác định được chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượngphát triển trí tuệ ở học sinh, đồng thời còn đề cập đến mối liên quan giữa trítuệ và thể lực của học sinh Ông nhận thấy, sự phân phối điểm IQ của họcsinh Việt Nam gần với phân phối chuẩn, năng lực trí tuệ của học sinh nôngthôn và thành thị, với trình độ học lực và thành phần gia đình có sự khác biệt
Ngô Công Hoàn [34], khi nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinhthành phố Huế và Hà Nội đã cho thấy, có sự chênh lệch về mức độ phát triểntrí tuệ giữa học sinh bình thường với học sinh chuyên toán
Trịnh Văn Bảo và cộng sự [4], [5], đã nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu
tố di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh Tác giả nhận thấy, yếu tố ditruyền là tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh
Trang 17Tạ Thúy Lan và Võ Văn Toàn [47], [48], [75], [76], nghiên cứu khảnăng hoạt động trí tuệ của học sinh tiểu học, trung học cơ sở ở Hà Nội và QuyNhơn bằng test Raven và điện não đồ Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lựctrí tuệ của học sinh tăng dần theo lứa tuổi và có mối liên quan thuận với kếtquả học tập Khả năng trí tuệ của học sinh Quy Nhơn kém hơn so với học sinh
Hà Nội Khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em tương quan với quá trình hoànchỉnh hóa điện não đồ, thể hiện qua nhịp α và nhịp β ở vùng chẩm, trán
Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan [50], [51], [52], nghiên cứu trí tuệ củahọc sinh nông thôn và thành phố Hà Nội bằng test Raven Kết quả ngiên cứucho thấy, khả năng trí tuệ của học sinh nông thôn kém hơn so với của họcsinh Hà Nội, giữa học sinh nữ và học sinh nam không có sự khác biệt rõ vềkhả năng độ hoạt động trí tuệ Điều này chứng tỏ, hoạt động trí tuệ của họcsinh không phụ thuộc vào giới tính
Trần Thị Loan [57], [58], [59], [61], [62], nghiên cứu mối quan hệ giữanăng lực trí tuệ và học lực của học sinh phổ thông và nghiên cứu trí tuệ ở độtuổi (6-17 tuổi) Tác giả nhận thấy, trí tuệ và học lực của học sinh có mối liênquan thuận không chặt chẽ Quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn raliên tục và không có sự khác biệt theo giới tính Năng lực trí tuệ có mối liênquan nghịch với chỉ số pignet và tương quan thuận với chỉ số BMI nhưng cácmối liên quan này không chặt chẽ
Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng [49], nghiên cứu trí tuệ của học sinh ởThanh Hóa đã nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và
có mối liên quan thuận với học lực
1.3.2 Trí nhớ
Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lý con người,
là thành phần quan trọng của trí tuệ Trí nhớ là sự tiếp nhận và tái hiện những
sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành động Trí
Trang 18nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp có bản chất là sự hìnhthành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chúng Khi các
sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tác động vào cơ thể con người thìchúng gây ra các cảm giác đơn lẻ Sau đó bộ não phân tích tổng hợp để cho trigiác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não[16], [50] Trí nhớ của cá thể rất khác nhau, nhưng tất cả các cách nhớ đều cóthể xếp vào hai nhóm chính là trí nhớ dài hạn (lưu giữ hình thông tin trongmột khoảng thời gian dài, nó liên quan đến sự thay đổi bền vững về mặt vithể, hình thành các protein hoạt hóa) và trí nhớ ngắn hạn hay sự lưu thônghưng phấn trong các vòng neuron [45], [46], [63]
Về cơ chế nhớ, một số tác giả đã cho rằng, việc hình thành phản xạ cóđiều kiện đã tạo nên các “vết hằn” của trí nhớ Như vậy phản xạ có điều kiện
là cơ sở sinh lý của trí nhớ Theo Hyden (theo [63]) thì cơ sở của trí nhớ là sựthay đổi trong cấu trúc phân tử axit ribonucleic (ARN) Theo Conell M C vàJacobson (theo [63]), trí nhớ có liên quan đến lượng axit dezoxyribonucleic(ADN) trong các nơron Penphil W.(theo [63]) lại cho rằng trong não cónhững trung khu nhớ và mọi kích thích tác động lên cơ thể đều được giữ lạidưới dạng lưu trữ
Ở Việt Nam cũng có một số tác giả nghiên cứu về trí nhớ [5], [62], [77]
…
Nghiêm Xuân Thăng [77], nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh
và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10-20 tuổi trong các điều kiện khí hậu khác nhau.Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sựbiến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu không khí
Trịnh Văn Bảo và cs [5], nghiên cứu trí nhớ của học sinh lớp 6 trườngMarie-Curie và trường Trung học cơ sở Tô Hoàng Hà Nội có nhận xét, trí nhớcủa nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn của nhóm học sinh bình thường
Trang 19Trần Thị Loan [62], nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6-17 tuổi tạiquận Cầu Giấy, Hà Nội Tác giả cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng dần theotuổi và không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
1.4 CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ (AQ) CỦA TRẺ EM
Chỉ số vượt khó là chỉ số đo khả năng ứng xử, quản lý nghịch cảnh,khó khăn, stress Bên cạnh các chỉ số quen thuộc như IQ hay EQ, hiện nay
AQ được coi là một trong những chỉ số định lượng các phẩm chất tạo nênthành công của con người [94]
Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz [94] đưa ra một kháiniệm về AQ Ông đã định nghĩa AQ là đại lượng đo khả năng đối diện vàxoay sở của một người trước những thay đổi, áp lực và những tình huống khókhăn Paul Stoltz khẳng định dựa vào chỉ số AQ có thể giải thích được tại saomột số người không hẳn đã thông minh hay được giáo dục tốt, kiến thức xãhội không nhiều, mà lại thành công trong khi nhiều người khác thất bại Ôngviết ra trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm thực tế từ những nghiên cứu trên hàngngàn giám đốc điều hành và nhân viên trong những lĩnh vực kinh doanh khácnhau Cuốn sách này đã nhanh chóng được nhiều doanh nghiệp áp dụng và trởthành bí quyết thành công của nhiều tập đoàn, tổ chức Nó được sử dụngtrong những bài tập dành cho vận động viên thể thao Olympic, trường học,tập đoàn, doanh nghiệp Theo tác giả, AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực,sáng tạo của con người Nó cũng chính là một cảnh báo về 4 mức độ caothấp của bản lĩnh sống (đối mặt khó khăn, xoay chuyển cục diện, vượt lênnghịch cảnh, tìm ra lối thoát)
AQ gồm 4 chỉ số thành phần:
- Chỉ số C - Khả năng kiểm soát, điều khiển Chỉ số C xác định mức độkiểm soát các trở ngại của một người Đó là khả năng phục hồi về thể chất vàtinh thần Người có chỉ số C cao có thể kiểm soát tốt các tình huống xảy ra,
Trang 20ngay cả các tình huống xuất hiện quá khả năng của họ vẫn có thể tìm ra giảipháp, trái ngược với những người có chỉ số C thấp.
- Chỉ số O - Khả năng xử lý tình huống Chỉ số O xác định mức độ chịutrách nhiệm, khả năng xử lý tình huống và hành động Người có chỉ số O caothường có trách nhiệm giữ mình để đối phó với bất kỳ tình huống nào đó do
họ gây ra Ngược lại người có chỉ số O thấp thường cảm thấy cô đơn và cầngiúp đỡ trong các tình huồng
- Chỉ số R - Khả năng chịu đựng Chỉ số R xác định mức độ, phạm vitiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng Người có chỉ số R caochấp nhận thất bại và thách thức trong mọi thời điểm và không để nó ảnhhưởng đến công việc và cuộc sống, trái ngược với những người có chỉ số Rthấp
- Chỉ số E - Khả năng nhẫn nại, lạc quan Chỉ số E xác định thời gianchịu đựng các sự kiện xấu và thước đo sự lạc quan hy vọng Người có chỉ số
E cao luôn đối diện khó khăn với thái độ lạc quan và hy vọng Ngược lại,người có chỉ số E thấp xem trở ngại như khó khăn không giải quyết nổi
Chỉ số AQ mới được đưa ra cách đây khoảng hơn 10 năm nên ở ViệtNam, chỉ số AQ còn ít được nghiên cứu
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở xãMinh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tất cả có 9 nhóm với 9 độ tuổikhác nhau từ 7-15 tuổi Các đối tượng nghiên cứu đều có sức khỏe và trạngthái tâm sinh lý bình thường Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ướcchung của Tổ chức y tế thế giới
2.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 897 học sinh, trong đó có 460 họcsinh nam và 437 học sinh nữ Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi vàtheo giới tính thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng theo tuổi và theo giới tính
Trang 222.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu
- Các chỉ số về thể lực (chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ
số pignet, chỉ số BMI)
- Các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan (tần số tim, huyết áp tâmthu, huyết áp tâm trương)
- Các chỉ số trí tuệ (Chỉ số IQ, trí nhớ ngắn hạn)
- Chỉ số vượt khó (AQ) và các chỉ số thành phần của AQ ( C, O, R, E)
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
- Chiều cao được đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân
sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chẩm, lưng, mông,gót) chạm vào thước đo Tư thế thẳng đứng được xác định khi đuôi mắt và lỗtai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân.Thước đo bằng vải có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trườnghọc - Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Lấy trị số chiều cao chính xác đến 0,1cm
- Cân nặng được xác định bằng cân đồng hồ có vạch chia đến 0,1 kg.
Khi đo, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang dày, dép và đặc biệtphải đứng yên (không cử động) ở giữa bàn cân Lấy trị số cân nặng chính xácđến 0,1 kg
- Vòng ngực trung bình được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức Vòng ngực được đo ở
tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm
vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất Thước đobằng vải có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học - BộGiáo dục và Đào tạo sản xuất Trước khi đo hướng dẫn học sinh cách hít vào
Trang 23Cân nặng (kg)[Chiều cao (m)]2
tận lực và thở ra gắng sức Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng Lấy trị số vòngngực chính xác đến 0,1 cm
- Chỉ số pignet được tính theo công thức sau:
Pignet = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)]
Chỉ số Pignet được đánh giá dựa theo thang phân loại của NguyễnQuang Quyền và Đỗ Như Cương (theo [20])
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
- Chỉ số BMI gọi là chỉ số khối cơ thể tính theo công thức:
- BMI được tính theo công thức sau:
BMI =
Chỉ số BMI được đánh giá theo CDC [96] (hình 2.1 và 2.2)
Biểu đồ BMI đã chia ra làm 4 cấp độ
BMI < bách phân vị thứ 5: suy dinh dưỡngBMI = bách phân vị thứ 5 – 85: bình thườngBMI = bách phân vị thứ 85 – 95: nguy cơ béo phìBMI > bách phân vị thứ 95: béo phì
Trang 24Hình 2.1 Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 đến 20 tuổi
Hình 2.2 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi
Trang 252.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan
Tần số tim và huyết áp được đo vào đầu buổi học, sau khi đối tượng đãđược nghỉ ngơi thoải mái ít nhất 15 phút
- Tần số tim, được xác định bằng ống nghe tim phổi Khi đo, đối tượng
được ngồi ở tư thế thoải mái Người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đốitượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong 1 phút Đo
3 lần rồi lấy kết quả trung bình Nếu thấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thìcho đối tượng ngồi nghỉ 15-20 phút rồi đo lại [17], [18]
- Huyết áp, được xác định bằng phương pháp Korotkov Dùng huyết áp
kế đồng hồ đo ở tay trái trong tư thế nằm thoải mái Người đo quấn bao cao
su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt ống nghe ở động mạchcánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trướcmặt Vặn chặt ốc ở bóp cao su rồi từ từ bơm cho đến khi không nghe thấytiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết áp kế chỉ vào số 140-150 mmHg.Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi ra từ từ và lắng nghe Trị số trền đồng hồ lúc nghethấy tiếng mạch đập đầu tiên chỉ huyết áp tối đa và lúc bắt đầu không nghethấy tiếng mạch đập nữa thì chỉ huyết áp tối thiểu
2.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số trí tuệ
- Trí tuệ, được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test
“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E (dùng cho người từ 6tuổi trở lên)
Toàn bộ bài trắc nghiệm test Raven gồm 5 bộ, mỗi bộ gồm 12 bài tập.Mức độ phức tạp tăng dần từ bộ A đến bộ E, và trong mỗi bộ độ phức tạpcũng tăng dần (dễ nhất là bài tập 1của bộ A và khó nhất là bài tập 12 của bộE) [91] Tuy nhiên, mỗi bộ được xây dựng theo nguyên tắc khác nhau
Trang 26Bộ A được xây dựng theo nguyên tắc trọn vẹn và toàn bộ của cấu trúc,các chi tiết trong cấu trúc ấy được sắp xếp một cách liên tục, gắn liền vớinhau trong một chỉnh thể Nên giải được các bài trong bộ A là tìm được mốiliên hệ liên tục trong các chỉnh thể ấy Bộ này đòi hỏi ở đối tượng khả năng trigiác toàn bộ sự vật Bộ này có khả năng đo tri giác khái quát chung của đốitượng.
Bộ B được xây dựng theo nguyên tắc giống nhau của các cặp hình Do
đó, bộ B có thể giúp chúng ta đo khả năng phân tích trong tư duy để tìm ramối quan hệ giống và tương đồng của các sự vật hiện tượng
Bộ C được xây dựng theo nguyên tắc tiếp diễn logic của sự biến đổi cáccấu trúc Bài tập của bộ C chứa đựng những sự thay đổi của các hình phù hợpvới nguyên tắc phát triển phong phú, độ khó tăng dần theo chiều nằm ngang
và thẳng đứng Bộ C có thể đo được khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá
để suy diễn ra một logic, tức là một tư duy theo kiểu toán học
Bộ D được xây dựng dựa trên sự thay đổi của các hình
Bộ E được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc các bộ phận củahình Bộ này phức tạp nhất, muốn giải được nó thì cần phải có hoạt động tưduy phân tích, tổng hợp
Sau khi hướng dẫn cách thực hiện, mỗi học sinh được phát một quyểntest Raven và một phiếu trả lời rồi làm bài hoàn toàn độc lập Học sinh thựchiện test theo nhịp điệu vốn có của mình, không hạn chế thời gian Song,trong thực tế không có đối tượng nào làm bài quá 60 phút
Cứ mỗi bài tập trả lời đúng được một điểm Chỉ có bài tập nào có độbiến thiên cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng được yêu cầu đó sẽ
bị loại và phải làm lại Căn cứ vào điểm test Raven tính chỉ số IQ theo côngthức của Wechsler [93]
Trang 27Trong đó: X- điểm trắc nghiệm cá nhân; X : điểm trắc nghiệm trung
bình trong cùng một độ tuổi; SD- độ lệch chuẩn
Căn cứ vào chỉ số IQ đối chiếu với thang phân loại trí tuệ theo bảngphân loại chỉ số IQ của D.Wechsler trên bảng 2.4 có 7 mức trí tuệ [93]
Bảng 2.3 Phân loại trí tuệ theo chỉ số IQ
- Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
Trí nhớ thị giác, nghiệm viên sử dụng một bảng số trên đó có viết 12
số Trong đó, mỗi số gồm hai chữ số, 6 số lẻ và 6 số chẵn, được sắp xếp mộtcách ngẫu nhiên, không theo một quy luật nào Không được dùng các chữ sốchẵn chục (tận cùng bằng chữ số không (0)) và các số có hai chữ số giốngnhau Phổ biến cho nghiệm thể cách làm sau đó giơ bảng số cho nghiệm thểquan sát với thời gian 30 giây để cho nghiệm thể nhìn và cố gắng ghi nhớ các
số ghi trên bảng số và không được ghi chép lại Sau 30 giây nghiêm viên cấtbảng số đi và giành thời gian cho nghiệm thể ghi lại các số đã nhớ được màkhông cần đúng theo thứ tự như trong bảng số vào phiếu trả lời Quá trình tiếnhành yêu cần sự nghiêm túc Đánh giá kết quả dựa vào chữ số đúng trong thờigian 30 giây đó
Trí nhớ thính giác, cũng được nghiên cứu tương tự như trí nhớ thị giác,
Trang 28nhưng thay cho việc cho học sinh nhìn bảng số thì nghiệm viên đọc to, rõràng và ngắt nhịp đúng cách 3 lần để học sinh nghe và cố gắng ghi nhớ vàkhông được ghi chép.
2.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu chỉ số AQ
Chỉ số AQ được xác định qua hồ sơ AQ (phụ lục) AQ gồm 4 chỉ số C,
O, R, E
Nghiệm viên phát cho mỗi nghiệm thể một Hồ sơ AQ gồm 20 câu hỏi,mỗi câu đều có các mức độ trả lời khác nhau, đạt từ 1- 5 điểm Nghiệm thểkhoanh tròn câu trả lời của mình trong hồ sơ AQ trong thời gian 8 -10 phút.Sau đó nghiệm viên tổng kết các điểm đạt được vào bảng dưới, rồi tính chomỗi cột C, O, R, E tương ứng
Chỉ số AQ được xác định thông quan công thưc sau:
AQ = ( C + O + R + E ) x 2
Chỉ số trung bình AQ = 147,5 [95] Chỉ số này càng cao càng tốt
Bảng 2.4 Phân loại các chỉ số thành phần của AQ
Trang 29+ Kiểm tra các phiếu trả lời của đối tượng nghiên cứu về trí tuệ, trí nhớ.Những phiếu nào không đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt của test cần đượcloại bỏ hoặc yêu cầu đối tượng làm lại.
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng đểchấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
- Bước 2: Tính toán các thông số theo thuật toán thống kê xác suất
dùng cho y - sinh học để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
Số liệu được xử lý trên máy vi tính bằng chương trình Exell để tính các
trị số như giá trị trung bình ( X ), độ lệch chuẩn SD Số liệu được kiểm định
bằng hàm “T-test” theo phương trình Student - Fisher với ý nghĩa α = 0,05[42] Kết quả nghiên cứu được so sánh với số liệu trong cuốn “HSSH” [85] vàkết quả nghiên cứu của các tác giả khác trong những năm gần đây
Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30 nên chúng tôi tính các đại lượngtheo các công thức sau:
Giá trị trung bình X¯ =
Trong đó: X¯ - Giá trị trung bình;
X i : Giá trị thứ i của đại lượng X;
n- Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
Độ lệch chuẩn SD =
Trong đó: X¯ - Giá trị trung bình;
X i : Giá trị thứ i của đại lượng X;
n- Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
∑
i=1
n
X i n
√1
n∑
i=1 n
(X i− ¯X )2
Trang 30So sánh hai giá trị trung bình ở mức ý nghĩa α
| Z|= |¯ X−¯Y|
√ SDX 2
SDY 2m
Trong đó: X¯ , Y - Các giá trị trung bình;
m, n- Số cá thể ở mẫu nghiên cứu;
Trong đó: r - Hệ số tương quan;
X i - Giá trị thứ i của đại lượng X;
Yi - Giá trị thứ i của đại lượng Y;
n - Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 CÁC CHỈ SỐ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH
3.1.1 Chiều cao của học sinh
3.1.1.1 Chiểu cao của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu chiều cao của học sinh nam từ 7-15 tuổi thể hiệntrong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao của học sinh nam
Min(2)
(2)
(1)-<[X SD]
->[X
+SD]
Trang 32nhiên, tốc độ tăng chiều cao của học sinh nam diễn ra không đều giữa các lứatuổi Từ 12 tuổi, chiều cao của học sinh nam bắt đầu tăng nhanh và mức tăngnhanh nhất là lúc 13-14 tuổi (tăng 6,85 cm) Đây là thời điểm tăng trưởngnhảy vọt chiều cao của học sinh nam, gắn liền với tuổi dậy thì, thời điểm màcác nhân tố tác động mạnh đến sự phát triển chiều cao Đặc biệt ở thời điểmnày các hoocmon ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cơ thể như hoocmon sinhtrưởng (GH), hoocmon sinh dục testosterone được tiết ra nhiều nhất.
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện chiều cao của học sinh nam theo tuổi
Mức chênh lệch về chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấpnhất trong cùng một độ tuổi rất lớn Cụ thể là mức chênh lệch chiều cao giữahọc sinh cao nhất và học sinh thấp nhất cũng tăng dần từ 7 tuổi đến 13 tuổisau đó giảm dần Sự khác nhau này có thể do học sinh bắt đầu bước vào tuổidậy thì không giống nhau Các học sinh bước vào tuổi dậy thì sớm hơn thìthời điểm tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao cũng tới sớm hơn Trong khi một
số khác lại chưa bước vào tuổi dậy thì nên chiều cao còn tăng chậm Kết quả,
sự khác nhau về chiều cao trong cùng lớp tuổi lớn
Trang 33Số học sinh nam có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình chiếm30,00% Như vậy, đa số học sinh có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trungbình Tỉ lệ học sinh thuộc nhóm này ở độ tuổi 7 (71,74%), độ tuổi 8 (67,40%),
độ tuổi 9 (68,52%), độ tuổi 10 (72,00%), độ tuổi 11 (70,38%), độ tuổi 12(71,70%), độ tuổi 13 (71,70%), độ tuổi 14 (66,00%), độ tuổi 15 (68,52%) đềurất cao Tính chung cho toàn bộ số học sinh nam từ 7 tuổi đến 15 tuổi thì tỉ lệnày là 70,00% Điều này chứng tỏ, sự phát triển chiều cao của học sinh namphù hợp với quy luật phát triển không đồng đều của trẻ em
3.1.1.2 Chiều cao của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu chiều cao của học sinh nữ từ 7 đến 15 tuổi được thểhiện trong bảng 3.2 và hình 3.2
Các số liệu trong bảng 3.2 cho thấy, chiều cao của học sinh nữ tăng dầntheo tuổi Cụ thể là chiều cao của học sinh nữ tăng từ 144,61 cm lúc 7 tuổi lên152,14 cm lúc 15 tuổi Như vậy, tốc độ tăng chiều cao trung bình của học sinh
nữ là 4,69 cm/năm Tốc độ tăng chiều cao diễn ra không đều Chiều cao củahọc sinh nữ bắt đầu tăng nhanh lúc 10 tuổi, tăng nhanh nhất lúc 12-13 tuổi(tăng 6,77 cm), sau độ tuổi này tốc độ tăng giảm dần
Mức chênh lệch về chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấpnhất trong cùng độ tuổi rất lớn Cụ thể, ở độ tuổi 13 mức chênh lệch này là24,0 cm, ở độ tuổi 14 là 24,5 cm Sự khác nhau này do từ 11-14 tuổi học sinh
nữ bắt đầu bước vào giai đoạn dậy thì Học sinh bước vào giai đoạn dậy thìsớm hơn thì thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao cũng sớm hơn.Trong khi một số khác lại chưa bước vào tuổi dậy thì nên chiều cao còn tăngchậm Do vậy, mức chênh lệch về chiều cao trong cùng độ tuổi rất lớn
Trang 34Bảng 3.2 Chiều cao của học sinh nữ
(2)
(1)-<[X SD]
->[X +SD] Chung
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện chiều cao của học sinh nữ theo tuổi
Số học sinh nữ có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình chiếm29,98% Như vậy, đa số học sinh có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung
Trang 35bình Tỉ lệ học sinh thuộc nhóm này ở các độ tuổi 7 (68,75%), độ tuổi 8(72,15%), độ tuổi 9 (69,23%), độ tuổi 10 (72,72%), độ tuổi 11 (70,22%), độtuổi 12 (71,70%), độ tuổi 13 (69,81%), độ tuổi 14 (68,00%), độ tuổi 15(68,00%) đều rất cao Tính chung cho toàn bộ số học sinh nữ từ 7 tuổi đến 15tuổi thì tỉ lệ này là 70,02% Điều này chứng, sự phát triển chiều cao của họcsinh nữ phù hợp với quy luật phát triển chung.
3.1.1.3 So sánh chiều cao của học sinh nam và nữ
Chiều cao của học sinh nam và học sinh nữ được thể hiện trong bảng3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Chiều cao của học sinh theo tuổi và giới tính
Trang 36chiều cao của học sinh nam lớn hơn so với của học sinh nữ Tốc độ tăng chiềucao hàng năm của học sinh nam và học sinh nữ không đều Cả nam và nữ đều
có giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao Ở nam thời điểm tăng trưởngnhảy vọt về chiều cao diễn ra từ 13-14 tuổi, còn ở nữ diễn ra lúc 12-13 tuổi.Thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ bắt đầu sớm hơn so vớicủa nam Sự tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của học sinh nam và học sinh
nữ diễn ra vào giai đoạn dậy thì, đó là thời điểm cơ thể có sự biến đổi mạnh
mẽ về mặt sinh lý Hoạt động mạnh của hoocmon sinh dục (testosterone ởnam và ơstrogen ở nữ) đã kích thích sự phát triển chiều dài của xương, nhất làcác xương ống
Giai đoạn bắt đầu tuổi dậy thì của nữ thường đến sớm hơn của nam Dovậy, giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ cũng sớm hơn củanam khoảng 1 năm Ở giai đoạn 7-9 tuổi chiều cao của nam lớn hơn của nữ, ởgiai đoạn 10-13 tuổi chiều cao của nữ lại lớn hơn của nam Đến giai đoạn 14-
15 tuổi khi nam bước vào giai đoạn dậy thì và có sự tăng nhảy vọt về chiềucao thì chiều cao của nam lại cao hơn của nữ Như vậy, trên đồ thị biểu diễn
sự tăng trưởng chiều cao của nam và nữ xuất hiện hai điểm giao chéo Điểmgiao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất xuất hiện vào lúc 9-10 tuổi vàđiểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ hai xuất hiện lúc 13-14 tuổi(hình 3.3)
Mức chênh lệch về chiều cao giữa học sinh nam và học sinh nữ trongcùng một độ tuổi từ 7 tuổi đến 14 tuổi không rõ và không có ý nghĩa thống kê(p>0,05), còn ở độ tuổi 15 rõ rệt (p<0,05), có ý nghĩa thống kê
Trang 37Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn chiều cao của học sinh theo tuổi và giới tính
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao
của học sinh theo tuổi và giới tính
6.77
5.29 4.75
5.98
4.53 4.31
N÷
Nam
Trang 383.1.2 Cân nặng của học sinh
3.1.2.1 Cân nặng của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh nam 7 - 15 tuổi được thểhiện trong bảng 3.4 và hình 3.5
Các số liệu trong bảng 3.4 cho thấy, cân nặng của học sinh nam tăngdần theo tuổi Cụ thể là cân nặng của học sinh nam tăng từ 18,46 kg lúc 7 tuổilên 44,55 kg lúc 15 tuổi Tốc độ tăng cân nặng trung bình là 3,26 kg/năm Tuynhiên, tốc độ tăng cân nặng không đều Ở giai đoạn 7- 12 tuổi, tốc độ tăng cânnặng của học sinh nam tương đối chậm, còn ở giai đoạn 13-15 tuổi, tốc độtăng cân nặng của học sinh nam tương đối nhanh Giai đoạn tăng trưởng nhảyvọt về cân nặng của học sinh nam xuất hiện lúc 14-15 tuổi (5,77 kg/năm)
Mức chênh lệch giữa học sinh nặng nhất và học sinh nhẹ nhất trongcùng độ tuổi cũng tăng dần từ 7-15 tuổi Cụ thể là mức chênh lệch nhỏ nhấtlúc 7-8 tuổi (8,5 kg) và lớn nhất lúc 14-15 tuổi (26,5 kg) Điều này có thể dothời điểm bước vào giai đoạn dậy thì của học sinh khác nhau Ngoài ra, nhữnghọc sinh được chăm sóc về mặt dinh dưỡng tốt sẽ có cân nặng vượt trội so vớihọc sinh có điều kiện dinh dưỡng kém hơn
Số học sinh nam có cân nặng nằm ngoài giá trị trung bình chiếm29,78% Như vậy, đa số học sinh nam có cân nặng nằm trong khoảng giá trịtrung bình Tỉ lệ học sinh thuộc nhóm này ở các độ tuổi 7 (71,74%), độ tuổi 8(67,39%), độ tuổi 9 (70,37%), độ tuổi 10 (70,00%), độ tuổi 11 (68,52%), độtuổi 12 (71,70%), độ tuổi 13 (71,70%), độ tuổi 14 (70,00%), độ tuổi 15(70,38%) đều rất cao Tính chung cho toàn bộ số học sinh nam từ 7 tuổi đến
15 tuổi thì tỉ lệ là 70,22% Điều này chứng tỏ, sự phát triển cân nặng của họcsinh nam phù hợp với quy luật phát triển chung của trẻ em
Trang 39Bảng 3.4 Cân nặng của học sinh nam
Tuổi n
Cân nặng (kg)
Học sinh có cân nặngnằm ngoài giá trị X SD
(%)
X SD Tăng Max
(1)
Min(2)
(2)
(1)-<[X SD]
->[X +SD] Chung
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nam theo tuổi
3.1.2.2 Cân nặng của học sinh nữ
Trang 40Kết quả cân nặng của học sinh nữ từ 7 - 15 tuổi được thể hiện trongbảng 3.5 và hình 3.6.
Bảng 3.5 Cân nặng của học sinh nữ
Tuổi n
Cân nặng (kg)
Học sinh có cân nặngnằm ngoài giá trị X SD
(%)
X SD Tăng Max
(1)
Min(2)
(2)
(1)-<[X SD]
->[X +SD] Chung
Mức độ khác nhau giữa học sinh nặng nhất và học sinh nhẹ nhất trongcùng độ tuổi cũng tăng dần từ 7-15 tuổi Cụ thể là mức chênh lệch nhỏ nhấtlúc 7 tuổi (9,0 kg) và lớn nhất lúc 15 tuổi (24,5 kg) Điều này chứng tỏ ở lứatuổi nhỏ, cân nặng của học sinh nữ đồng đều hơn ở giai đoạn dậy thì