TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học của nghiên cứu
Hiện nay, nguồn tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) trên thế giới và Việt Nam đang suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp, khiến nhiều loài và dưới loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần Do đó, cần thiết phải nghiên cứu các đặc điểm sinh học của động thực vật để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả.
2.1.1 Cơ sở bảo tồn Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH …
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài trong Sách đỏ thế giới, chính phủ Việt Nam đã công bố Sách đỏ Việt Nam nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Tài liệu này không chỉ là cơ sở khoa học cho việc soạn thảo các quy định và luật pháp về bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường, mà còn chỉ ra sự tồn tại của nhiều loài động, thực vật trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, với nhiều loài được xếp vào các cấp bảo tồn như CR, EN, VU Việc bảo tồn những loài này là cần thiết để gìn giữ nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học ở Việt Nam và toàn cầu Do đó, nghiên cứu các loài thực vật quý hiếm, đặc biệt là cây Nghiến, và đề xuất các phương thức bảo tồn là rất quan trọng.
Đại học Thái Nguyên (TNU) đang nỗ lực bảo tồn và phát triển các loài thực vật quý hiếm, đặc biệt là loài Nghiến, nhằm ngăn chặn sự mai một của chúng và bảo vệ nguồn gen Đây là cơ sở khoa học đầu tiên hỗ trợ tôi trong việc nghiên cứu và thực hiện khóa luận của mình.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của các loài là cần thiết để bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Điều này giúp ngăn ngừa suy thoái các loài động, thực vật quý hiếm và ô nhiễm môi trường, đồng thời xây dựng mối quan hệ bền vững giữa con người và thế giới tự nhiên.
Những nghiên cứu ở trên thế giới
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Nghiên cứu sinh học loài cây, bao gồm đặc điểm hình thái và vật hậu, đã được thực hiện từ lâu, đóng vai trò là nền tảng cho các môn khoa học khác Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào mô tả và phân loại các loài và nhóm loài cây Sự ra đời của các bộ thực vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu hình thái, phân loại và đánh giá tính đa dạng sinh học ở các vùng miền khác nhau.
1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể:
Vật hậu học nghiên cứu hoạt động sinh học chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và sinh sản, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chu kỳ vật hậu của cùng một loài ở các vùng sinh thái khác nhau Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu sinh thái và công tác chọn tạo giống Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của loài cây là cơ sở quan trọng để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng Các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến việc áp dụng lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng trong nghiên cứu các đặc điểm của từng loài cụ thể.
Odum E.P (1971) đã hoàn thiện học thuyết về hệ sinh thái, phân chia thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể tập trung vào nghiên cứu từng cá thể hoặc loài, chú trọng đến chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường Tái sinh rừng là quá trình sinh học đặc trưng của hệ sinh thái rừng, liên quan đến sự xuất hiện thế hệ cây con của các loài cây gỗ trong môi trường rừng Hiệu quả tái sinh rừng phụ thuộc vào mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố.
Baur G.N (1976) cho rằng sự thiếu hụt ánh sáng trong rừng nhiệt đới ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, tuy nhiên tác động này không rõ ràng đối với quá trình nảy mầm Rừng nhiệt đới thường có số lượng loài cây và mật độ tái sinh cao trên một đơn vị diện tích Do đó, để nghiên cứu tái sinh tự nhiên, cần đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp.
Cấu trúc rừng phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các loài thực vật và môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc này giúp hiểu rõ hơn về các mối quan hệ sinh thái trong quần xã, từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp Hiện tượng thành tầng là đặc trưng quan trọng của cấu trúc hình thái quần thể thực vật, tạo nền tảng cho việc hình thành cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng được đề xuất và sử dụng lần đầu nhằm hỗ trợ nghiên cứu này.
Đại học Thái Nguyên (TNU) đã tiên phong trong việc áp dụng phương pháp mới tại Guyan Mặc dù phương pháp này vẫn được sử dụng, nhưng nhược điểm của nó là chỉ minh họa cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích hạn chế Để khắc phục điều này, các nhà nghiên cứu đã vẽ một số dải kề nhau nhằm tạo ra hình ảnh không gian 3 chiều rõ nét hơn.
Richards P.W (1968) đã phân chia rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa trên chiều cao từ 6-42 m, tuy nhiên, ông chỉ xem đây là các lớp chiều cao Ngược lại, Odum E P (1971) đã bày tỏ nghi ngờ về sự phân tầng rừng rậm ở những khu vực có độ cao dưới 600 m tại Puerto Rico, cho rằng không tồn tại sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào.
Richards P.W (1968) đã nghiên cứu sâu về cấu trúc của rừng mưa nhiệt đới, nhấn mạnh rằng đặc điểm nổi bật của loại rừng này là sự đa dạng của thực vật gỗ và sự phân tầng rõ rệt Ông cho rằng rừng mưa là một quần xã sinh thái phức tạp và phong phú nhất về loài cây.
Nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao trong rừng tự nhiên nhiệt đới vẫn còn mang tính cơ giới và chưa phản ánh đầy đủ sự phân tầng phức tạp Hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã chuyển từ mô tả định tính sang định lượng, nhờ vào sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, giúp biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thông qua các hàm hồi quy, cũng như phân bố đường kính ngang ngực và đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất.
Các nhà khoa học đã áp dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, nhưng các hàm toán học không thể hoàn toàn phản ánh mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng và môi trường xung quanh Do đó, các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được áp dụng trong đề tài.
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã áp dụng lý luận về sinh thái, tái sinh và cấu trúc rừng để nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của từng loài cây Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này đã được thực hiện.
Phạm Thị Mai (2012) đã nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của cây Tiêu Huyền (Platanus kerrii Gagnep), từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn nguồn gen quý tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng Ngoài ra, Triệu Văn Hùng (1996) cũng đã thực hiện nghiên cứu về đặc tính sinh học của một số cây nhằm làm giàu rừng.
Nghiên cứu lý thuyết sinh thái và tái sinh, cùng với cấu trúc rừng tự nhiên và đặc điểm sinh học của một số loài cây, đã làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc và tái sinh của rừng nhiệt đới Những phát hiện này sẽ là cơ sở quan trọng để định hướng cho nghiên cứu trong luận văn.
2.2.3 Nghiên cứu về cây Nghiến gân ba trên thế giới
Cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinense) là loài thực vật có hoa thuộc chi Nghiến, họ Đay - Tiliaceae, được mô tả khoa học bởi Chang & Miau vào năm 1978 Đây là cây gỗ lớn, chủ yếu phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, với đặc điểm chung là cây bụi và cây thân gỗ Thân cây có nhựa dính nhớt và vỏ nhiều sợi, trong khi các bộ phận non thường được phủ lông hình sao.
Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Khi nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978)
Điều kiện ngoại cảnh có vai trò quan trọng trong các giai đoạn phát triển của cây tái sinh Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra rằng, trong nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa lá rộng thường xanh, rừng tự nhiên bị tác động bởi con người qua việc khai thác hoặc làm nương rẫy nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng đất trống và đồi núi trọc.
Xuân Tý và Nguyễn Đức Minh (2005) đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây Huỷnh và cây Giổi xanh, trong khi Đỗ Đình Tiến (2002) tìm hiểu về cây Camelia hoa vàng tại vườn quốc gia Tam Đảo Nguyễn Thu Trang (2009) cũng đã nghiên cứu cây Dẻ Gai Ấn Độ tại đây Việc để thảm thực vật hoang dã tự phát triển có thể dẫn đến quá trình tái sinh tự nhiên, phục hồi rừng gần giống trạng thái ban đầu Ở miền Nam Việt Nam, Schmid (1974) đã chỉ ra sự phân hóa khí hậu và chế độ thoát nước trong nghiên cứu thảm thực vật Nam Trung Bộ Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật đã phát hành bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế biên soạn, trong khi Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) giới thiệu 5326 loài thực vật trong công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” Ngoài ra, còn nhiều bộ sách chuyên khảo khác, như bài giảng điều tra rừng của Lê Văn Phúc (2012) và lâm sinh học của Phùng Ngọc Lan (1986), cùng các bộ sách về Cây gỗ rừng Việt Nam và Cây thuốc Việt Nam, đã góp phần quan trọng vào nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật ở Việt Nam.
1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993)
Việt Nam sở hữu 100 loài cây bản địa có giá trị, theo nghiên cứu của Trần Hợp và Hoàng Quảng Hà (1997) Cây cỏ có ích cũng được đề cập trong tài liệu của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999), nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong hệ sinh thái Thêm vào đó, tài nguyên đất và cây gỗ Việt Nam được phân tích bởi Nguyễn Xuân Quát, Ngô Nhật Tiến (1997) và Trần Hợp, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phong phú và đa dạng của nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây.
2002) [8], v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây
Đại học Thái Nguyên – TNU đã biên soạn 11 tập chuyên khảo độc đáo, cung cấp tài liệu quý giá cho nghiên cứu thực vật Việt Nam.
2.3.2 Nghiên cứu cấu trúc rừng
Trong vài thập kỷ qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng đã trở thành một lĩnh vực quan trọng để đề xuất giải pháp bảo tồn hiệu quả Các nhà nghiên cứu như Thái Văn Trừng (1978) và Trần Ngũ Phương (1970) đã tiến hành phân tích cấu trúc sinh thái nhằm phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam.
Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra các đặc điểm cấu trúc của thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên kết quả điều tra từ 1961 đến 1965, trong đó nhấn mạnh tổ thành và quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và đưa ra mô hình cấu trúc tầng gồm các tầng vượt tán, ưu thế sinh thái, dưới tán, cây bụi và cỏ quyết Ông đã cải tiến phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit – Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, đồng thời sử dụng bốn tiêu chuẩn để phân chia thảm thực vật rừng thành 14 kiểu dựa trên dạng sống ưu thế, độ tàn che, hình thái sinh thái và trạng mùa của tán lá Qua đó, các nhân tố cấu trúc rừng được áp dụng trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể Đoàn Đình Tam (2012) cũng đã thử nghiệm một số quy luật nghiên cứu liên quan.
Đại học Thái Nguyên – TNU nghiên cứu cấu trúc và sinh trưởng của rừng lá rộng, hỗn loại thường xanh tại Kon Hà Nừng – Gia Lai, cho thấy rằng hầu hết các loài cây có đường kính và chiều cao tương đồng với cấu trúc của lâm phần Đồng thời, cấu trúc của các loài cây cũng có những biến động đáng kể.
Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng tập trung vào mô hình hóa cấu trúc đường kính, với nhiều tác giả quan tâm đến việc biểu diễn chúng qua các hàm phân bố xác suất khác nhau Đặc biệt, Bảo Huy (2009) đã áp dụng phương pháp Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên, từ đó tạo cơ sở cho việc lập biểu đồ thân cây đứng tại Việt Nam.
Trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã áp dụng các mô hình phân bố khác nhau Cụ thể, vào năm 1982 và 1986, các nhà nghiên cứu đã sử dụng hàm phân bố giảm và phân bố khoảng cách để mô tả cấu trúc rừng thứ sinh, đồng thời áp dụng quá trình Poisson để phân tích cấu trúc quần thể rừng Trần Văn Con (1991) đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính rừng khộp tại Đắk Lắk Lê Sáu (1996) cũng áp dụng hàm Weibull để nghiên cứu quy luật phân bố đường kính và chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên Bùi Văn Chúc (1996) đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn tại Lâm trường Sông Đà, phân tích các trạng thái rừng IIa, IIIa1 và rừng trồng, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây (theo Nguyễn Đăng Cường, 2011).
Các nghiên cứu gần đây về cấu trúc rừng chủ yếu tập trung vào việc mô hình hóa quy luật kết cấu lâm phần, nhưng thường bỏ qua các yếu tố sinh thái, dẫn đến việc các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng không đáp ứng được mục tiêu kinh doanh rừng bền vững Để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả, cần phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách toàn diện, từ góc độ tổng hợp của sinh thái học, lâm học và sản lượng.
2.3.3 Nghiên cứu về cây Nghiến gân ba ở Việt Nam
Sách đỏ Việt Nam năm (2007), phần II thực vật [2], mô tả đặc điểm cây Nghiến gân ba:
Cây gỗ lớn có chiều cao từ 30 đến 35 mét, đường kính thân cây đạt tới 80 – 90 cm, với cành non không có lông Lá cây hình trứng rộng, kích thước khoảng 10 - 12 x 7 – 10 cm, mép lá nguyên và có 5 - 7 đôi gân bên, trong đó có 3 gân gốc; cuống lá dài từ 3 – 5 cm Hoa của cây là hoa đơn tính, hoa đực có đường kính 1,5 cm, với đài hình chuông, chia thành 5 thuỳ sâu, dài 1,5 cm Cánh hoa có 5 chiếc, dài 1,3 cm, và nhị hoa khoảng 25 chiếc, xếp thành 5 bó, chỉ nhị dài từ 1 - 1,3 cm, bao phấn hình bầu dục, dài 3 mm Quả của cây có hình dạng 5 cạnh, tự mở, đường kính 1,8 cm, tương tự như quả Khế.
Cây sinh học và sinh thái ra hoa từ tháng 3 đến tháng 4, và có quả từ tháng 8 đến tháng 10 Loài cây này ưa sáng, thường mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, với độ cao dưới 800 m Cây tái sinh chủ yếu bằng hạt, trong khi cây mạ và cây con thường gặp phổ biến dưới tán rừng.
Phân bố: Trong nước: Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mộc Châu), Hà
Giang, Tuyên Quang; Cao Bằng với các huyện Quảng Hoà, Trùng Khánh, Hạ Lang, Thạch An; Bắc Kạn gồm Chợ Đồn và Ba Bể; Lạng Sơn với Hữu Liên và Bắc Sơn; cùng với Quảng Ninh, Bắc Giang và Hoà Bình, đặc biệt là Mai Châu và Pà Cò.
Gỗ quý có giá trị cao với màu nâu đỏ, độ cứng chắc, thớ thẳng và vân đẹp, ít co rút Loại gỗ này thường được sử dụng để đóng thuyền, làm bệ máy và trong xây dựng, đồng thời cũng rất phổ biến trong việc chế tác thớt và bệ cho các tượng mỹ nghệ cao cấp.
Tình trạng: Tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh
Gỗ trước đây được sử dụng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay chủ yếu bị khai thác trái phép để xuất khẩu, dẫn đến tình trạng số cá thể trưởng thành bị chặt phá hơn 50% Mặc dù có mặt tại các khu bảo tồn thiên nhiên như Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên và Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng tình trạng chặt trộm vẫn diễn ra Loài này đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên.
Thảo luận
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở cả trên thế giới và ở Việt Nam, đề tài rút ra một số nhật xét sau:
Nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh và sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ lâu, cung cấp cơ sở lý luận cho các đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, sự đa dạng của tài nguyên thực vật rừng nhiệt đới yêu cầu các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học của từng loài, đặc biệt là những loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Tài nguyên rừng hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng do khai thác quá mức, dẫn đến nhiều loài cây quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, với ngày càng nhiều loài được bổ sung vào sách đỏ Việt Nam Nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời, nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất khỏi tự nhiên trong tương lai gần.
Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.5.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Xã Thần Sa thuộc địa giới hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về phía Bắc,có toạ độ địa lý:
- Từ 105º51’05" đến 106º08’38" kinh độ Đông;
- Từ 21º45’12" đến 21º56’30" vĩ độ Bắc
• Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới Tỉnh Bắc Kạn
• Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn
• Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
• Phía Nam giáp với các huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính của huyện Võ Nhai, bao gồm một phần diện tích của 6 xã và một thị trấn: Thị trấn Đình Cả, xã Phú Thượng, xã Sảng Mộc, xã Thần Sa, xã Thượng Nung, xã Nghinh Tường và xã Vũ Chấn Tổng diện tích đất quy hoạch cho vùng lõi khu rừng đặc dụng là 17.639 ha.
Địa hình xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, bị chia cắt mạnh mẽ do lịch sử kiến tạo địa chất, với đặc điểm chung là núi đá dốc lớn và bị chia cắt sâu Khu vực này có ba kiểu địa hình chính rõ rệt.
Nhóm địa hình đồi núi thấp, với độ cao dưới 800 m, chiếm một diện tích lớn và là khu vực quan trọng cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong vùng đệm của khu bảo tồn.
+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hết diện tích khu bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800 m
Nhóm địa hình trũng nằm giữa các dãy núi đá vôi và núi đồi đất có đặc điểm là thấp và bằng phẳng Trong khu vực này, thường xuất hiện các con sông, suối, cùng với những cánh đồng lúa và hoa màu của người dân sống trong vùng đệm của khu bảo tồn.
2.5.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Khí hậu tại khu vực Bắc Sơn có đặc điểm nóng ẩm vào mùa hè và lạnh hơn vào mùa đông, thường xuyên xuất hiện sương muối Sự ảnh hưởng của địa lý và địa hình của dãy núi Bắc Sơn, kéo dài từ Bắc Sơn đến Võ Nhai, Đồng Hỷ, tạo ra kiểu khí hậu khắc nghiệt và đặc sắc hơn so với các vùng khác trong tỉnh.
2.5.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng Đất đai gồm 2 loại chính:
Nhóm đất màu nâu đỏ (feralit) thường xuất hiện trên núi đá vôi và những nơi dốc chân núi, với độ phì cao và thường có đá lộ đầu Đất này có thành phần cơ giới nặng, hơi chua (PH=5,5-6,5) và tầng B phát triển mạnh, dễ nhận biết với màu đỏ tươi Xen kẽ với đất nâu đỏ là loại đất xám trên đá vôi, mặc dù diện tích không lớn nhưng có độ phì cao hơn, hàm lượng mùn lớn và kết cấu chủ yếu là hạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng ngô, khoai sọ, giúp cây trồng sinh trưởng rất tốt.
Đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất chiếm diện tích lớn, phân bố chủ yếu ở các thôn Mỏ Gỡ, Cao Lầm, Cao Biền (xã Phú Thượng) và Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao (xã Thần Sa) Tầng đất có độ dày từ mỏng đến trung bình, chủ yếu ở vùng đồi núi có độ cao từ 300-600 m Thành phần cơ giới của đất biến động mạnh, từ cát pha đến thịt nặng, và trên đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với đá phiến thạch sét Ở khu vực trên 600-700 m, loại đất này cũng xuất hiện, thường có rừng già và lượng mùn lớn, có nơi có cả tầng AB Độ dày tầng đất trung bình, nhiều nơi có đá lẫn với hàm lượng lớn, đất thuộc loại chua.
2.5.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản
Xã Thần Sa sở hữu trữ lượng lớn vàng sa khoáng và đã từng trải qua tình trạng khai thác vàng trái phép tại nhiều khu vực như Hẻm núi Cô Tiên, hang Rắn, Boong Xay, vũng Tu Lườn, hang Hút, thác Kiệm và hang Dơi (Bản Ná) thuộc xóm Xuyên Sơn Vào cuối thập kỷ 1990, Thần Sa nổi tiếng là một mỏ vàng tiềm năng.
"thổ phỉ" lớn nhất ở miền Bắc Tháng 2 năm 2010, điểm quặng vàng gốc Tân
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã phê duyệt việc giao ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên quản lý và cấp phép hoạt động khoáng sản cho khu vực có diện tích 19,69 ha.
Khu di tích Thần Sa, nằm tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về phía bắc, là nơi phát hiện những di chỉ khảo cổ đồ đá của con người sống cách đây 20.000 - 30.000 năm Tại hang Phiềng Tung (hay còn gọi là hang Miệng Hổ), người dân Thần Sa đã chứng minh sự tồn tại của nền văn hoá cổ Thần Sa, được công nhận là nền văn hoá cổ nhất ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á cho đến nay.
Hệ thống giao thông trong khu vực chỉ có gần 150 km đường ô tô, bao gồm khoảng 59 km đường bê tông, đường nhựa và gần 20 km đường cấp phối, phần còn lại là đường đất Tất cả các xã đều có đường ô tô đến trung tâm, nhưng chất lượng đường rất kém, gây khó khăn cho việc di chuyển, đặc biệt trong mùa mưa lũ Ngoài ra, còn hàng trăm km đường mòn dân sinh với mặt đường nhỏ hẹp và chất lượng kém.
Hệ thống thủy lợi trong khu vực đã xây dựng được 17.610 m kênh mương, bao gồm 9.110 m kênh cứng và 8.500 m kênh đất, tuy nhiên, nhiều đoạn đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng chưa cao, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất Về điện nước sinh hoạt, tất cả các xã đã có hệ thống điện lưới quốc gia, nhưng chỉ đến các trung tâm xã và một số thôn ven đường chính, trong khi các bản xa vẫn chưa có điện Hiện nay, một số hộ gia đình sử dụng máy thủy điện nhỏ và máy nổ để phát điện Điều kiện địa hình núi đá phức tạp cũng ảnh hưởng đến chương trình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn.
Đại học Thái Nguyên (TNU) đã được đầu tư xây dựng, nhưng vẫn còn trong phạm vi hạn chế Nhiều hộ gia đình vẫn phải tìm kiếm nguồn nước tự nhiên từ trong núi để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.
2.5.2 Đánh giá về những thuận lợi và khó khăn
Khu vực xã Thần Sa là nơi lý tưởng cho loài Nghiến phát triển nhờ vào điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi Loài cây này không chỉ quý hiếm mà còn nằm trong khu bảo tồn các loài cây có giá trị cao, thu hút sự quan tâm từ chính quyền, các ngành chức năng và các nhà khoa học Với lực lượng lao động dồi dào và giàu kinh nghiệm trong sản xuất lâm nghiệp, rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, do đó, việc bảo tồn và phát triển rừng trở thành nhiệm vụ chung của toàn xã hội.
Xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, nằm ở miền Bắc Việt Nam với khí hậu khắc nghiệt và tiểu khí hậu đặc trưng Rừng là nguồn sống thiết yếu cho người dân nơi đây, nhưng tình trạng xâm lấn và khai thác trái phép vẫn diễn ra, không chỉ ở các khu phục hồi sinh thái mà còn ở những khu bảo vệ nghiêm ngặt Việc quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, trong khi phong tục thả rông gia súc vẫn phổ biến trong các thôn bản.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Thời gian nghiên cứu: Từ 1/1/2019 đến 15/4/2019
Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, nội dung của đề tài được xác định như sau:
* Đặc điểm hình thái của loài Nghiến gân ba
* Đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
* Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Nghiến gân ba phân bố
* Đặc điểm tái sinh của loài nghiến gân ba tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
* Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
Các nghiên cứu và tài liệu liên quan đến đặc điểm sinh thái, hình thái, khả năng tái sinh và giá trị sử dụng của loài Nghiến gân ba đã được tiến hành cả trong và ngoài nước.
- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
Sau khi thu thập thông tin sơ bộ về hình thái và phân bố của loài, đề tài sẽ xác định vị trí trên bản đồ khu vực cần điều tra Mục tiêu của cuộc điều tra sơ thám này là để nắm rõ hơn về sự phân bố và đặc điểm của loài trong khu vực.
- Nhận diện chính xác loài và xác định sơ bộ khu vực nghiên cứu của loài Nghiến gân ba
- Xác định sơ bộ tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các loại rừng đại diện, nới có loài Nghiến gân ba phân bố
Để xác định dung lượng quan sát cho loài cây Nghiến gân ba, cần tiến hành điều tra trên 5% tổng diện tích rừng tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên Khu vực nghiên cứu được thực hiện tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, nhằm nắm bắt biến động về trữ lượng, phân bố và tái sinh của loài cây này.
Các tuyến điều tra chỉ được xác định trên các trạng thái rừng tự nhiên Trong quá trình điều tra, việc phát hiện cây Nghiến gân ba được thực hiện bằng cách quan sát đặc điểm nhận dạng của chúng Sau khi phát hiện, các chỉ tiêu như D1.3, Hvn, Hdc, Dt sẽ được đo đếm và thống kê vào biểu mẫu.
Dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng, TNR tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo tài liệu liên quan và ý kiến của các cán bộ, người dân am hiểu địa hình để lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp.
Trước khi tiến hành công tác ngoại nghiệp, việc xác định tuyến điều tra trên bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng là rất quan trọng Các tuyến điều tra cần phải song song và cách đều nhau, với khoảng cách giữa các tuyến là 500 mét.
3.4.3 Phương pháp phỏng vấn người dân Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết và sử dụng các loài Nghiến gân ba trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng phỏng vấn như sau: Những người được phỏng vấn gồm những người đã từng khai thác
Đại học Thái Nguyên (TNU) đang nghiên cứu và sử dụng các loài cây gỗ trong khu vực để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và giao thương Những người có kinh nghiệm như các cụ già, cán bộ tuần rừng và kiểm lâm địa bàn đã tham gia phỏng vấn để thu thập thông tin về giá trị sử dụng và phân bố của các loài cây, đặc biệt là cây Nghiến gân ba, được sử dụng để nấu dầu Công tác điều tra được thực hiện với 30 phiếu khảo sát tại mỗi xã, nhằm đảm bảo tính chính xác và đầy đủ trong việc thu thập dữ liệu.
Để điều tra cây cá thể, cần thực hiện khảo sát trong cộng đồng với sự hỗ trợ từ lãnh đạo xã, nhằm giới thiệu cán bộ kiểm lâm và cán bộ lâm nghiệp dẫn dắt Quá trình điều tra sẽ sử dụng mẫu bảng thống nhất và phỏng vấn người dân, đồng thời cung cấp hình ảnh mẫu loài cây để thu thập thông tin về giá trị sử dụng và phân bố của các loài cây trong vườn nhà.
Các cây điều tra được điền vào mẫu bảng 01
Phương pháp thu hái và xử lý mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tên loài và taxon, đồng thời góp phần xây dựng bảng danh lục thực vật chính xác và đầy đủ.
Để thu hái mẫu, sử dụng túi nylon lớn để đựng và bảo quản mẫu vật bằng cồn để giữ cho chúng lâu bền Ghi nhãn bằng bút chì trước khi gắn vào mẫu và ghi chép đầy đủ các đặc điểm của loài cây trong sổ tay Mẫu thu thập được cần xác định tên địa phương và tên phổ thông thông qua cán bộ kiểm lâm, người dân địa phương và các chuyên gia.
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng đại diện kết hợp với đối chiếu, so sánh với tài liệu hiện có là một kỹ thuật phổ biến trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001).
Quan sát hình thái và kích thước của các bộ phận cây Nghiến gân ba, bao gồm thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt Tập trung vào việc mô tả chi tiết các đặc điểm này để hiểu rõ hơn về cấu trúc và sự phát triển của cây.
Đại học Thái Nguyên – TNU sử dụng thước dây để xác định chu vi tại vị trí D1.3 Để đo lá và quả, chúng ta chọn những lá và quả sinh trưởng bình thường, không bị sâu bệnh hay biến dạng Sử dụng thước kẻ hoặc thước dây để đo chiều dài và rộng, sau đó ghi lại các thông số vào bảng Ngoài ra, thước kẹp cũng là công cụ tiện lợi và chính xác để đo kích thước quả.
Việc lấy mẫu tiêu bản không chỉ giới hạn ở loài nghiên cứu mà còn bao gồm các loài khác trong quần xã để hỗ trợ trong việc định danh Các mẫu vật thu được cần được so sánh với các tiêu bản trước đó hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm đảm bảo tính chính xác (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001) [14] Để đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Nghiến gân ba, cần thu hái 100 mẫu lá và quả từ ba vị trí khác nhau trên tán cây: dưới tán, giữa tán và đỉnh tán.
Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây ống nhòm, thước đo độ cao, GPS,…
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm về hình thái của loài Nghiến gân ba
4.1.1 Đặc điểm hình thái thân
Bài viết tổng hợp tài liệu nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài Nghiến (Excentrodendron tonkinense) trong và ngoài nước, kết hợp với điều tra thực địa tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu được trình bày rõ ràng trong bảng 4.1.
Hình 4.1 Thân cây nghiến Hình 4.2 Thân cây nghiến
Bảng 4.1: Kết quả đo đếm đường kính trung bình của thân cây Nghiến
Cây Nghiến trong khu vực nghiên cứu có chiều cao từ 7-30m và đường kính thân cây từ 12-125cm Đường kính trung bình (D1.3) là 41 cm, trong khi chiều cao trung bình (Hvn) đạt 14 m Thân cây có hình tròn thẳng, gốc lớn với bạnh, vỏ cây màu xám tro, có nốt sần sùi và bong mảng.
4.1.2 Đặc điểm hình thái lá cây
Hình 4.3 Lá nghiến trưởng thành Hình 4.4 Lá nghiến tái sinh
Kết quả đo kích thước lá cây Nghiến được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.2: Kết quả đo đếm kích thước trung bình của lá Nghiến Chỉ số
Lá Chiều dài cuống lá (cm)
Kết quả đo kích thước và hình ảnh lá cây Nghiến cho thấy lá Nghiến có một số đặc điểm sau:
Lá đơn có hình trứng tròn với đầu nhọn và mũi lồi ra, đuôi lá hình tim hoặc gần tròn Kích thước lá dài từ 7-14 cm và rộng từ 7-12 cm, phiến lá dày, cứng, nhẵn bóng với mép nguyên Cuống lá thô, dài từ 4-7 cm và có màu hơi đỏ, trong khi lá non có đặc điểm hơi dính.
Một số đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
4.2.1 Đặc điểm phân bố trong các trạng thái rừng
Nghiến là loài cây đặc trưng của vùng núi đá vôi, thường xuất hiện trong rừng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới và rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới Trong khu vực rừng mưa mùa á nhiệt đới, có hai loại rừng chính là rừng thường xanh và rừng mưa mùa nhiệt đới.
Đại học Thái Nguyên (TNU) tọa lạc trong khu vực núi đá vôi và rừng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới, nơi có hai loại rừng chính: rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi và rừng trên núi đất Khu vực này nhận lượng mưa hàng năm vượt 1378 mm, có mùa khô kéo dài hơn ba tháng, độ ẩm trung bình hàng tháng trên 80% Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất dao động từ 26 đến 36 độ C, trong khi tháng lạnh nhất có nhiệt độ từ 6 đến 15 độ C, với nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối ghi nhận là 6 độ C.
0C, nhiệt độ trung bình năm là 22 – 39 0 C
Rừng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới trên núi đá vôi chủ yếu phân bố ở các dải núi đá với độ cao trên 250 m Loại rừng này có thành phần cây rừng phong phú, bao gồm nhiều loài như Đinh (Polyscias fruticosa), Trai lý (Garcinia fagraeoides), và Nghiến (Excentrodendron tonkinense) Cấu trúc rừng của kiểu phụ này khá đơn giản, được chia thành ba tầng: tầng cây gỗ, tầng cây bụi, và tầng thảm tươi Rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất có diện tích và phân bố chủ yếu ở các khu vực núi đất.
Bảng 4.3: Bảng phân bố của loài Nghiến trong các trạng thái rừng
OTC Số cây Trạng thái rừng Địa danh
1 1 Núi đá có rừng Xóm Ngọc Sơn II
2 3 Núi đá có rừng Xóm Ngọc Sơn II
3 6 Núi đá có rừng Xóm Ngọc Sơn II
4 3 Núi đá có rừng Xóm Kim Sơn
5 1 Núi đá có rừng Xóm Kim Sơn
6 3 Núi đá có rừng Xóm Kim Sơn
7 2 Núi đá có rừng Xóm Ngọc Sơn II
8 3 Núi đá có rừng Xóm Kim Sơn
9 4 Núi đá có rừng Xóm Ngọc sơn II
Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy rằng hầu hết các cây nghiến trong các OTC phát triển chủ yếu ở vùng núi đá vôi và trong trạng thái rừng Cụ thể, tại OTC 3, trung bình có từ 2 đến 4 cây nghiến, với xóm Ngọc Sơn II ghi nhận 6 cây cao nhất, trong khi OTC 5 chỉ có 1 cây nghiến tại xóm Kim Sơn.
4.2.2 Đặc điểm phân bố theo tuyến điều tra
Qua quá trình điều tra cây nghiến theo tuyến tôi thu thập được kết quả điều tra trong bảng 4.4
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp nghiến gân ba theo tuyến điều tra
STT Tuyến điều tra Độ dài tuyến
Tuyến 14: Từ đầu xóm Ngọc sơn II – cuối xóm
Ngọc Sơn II Điểm đầu: X:589021 ; Y:2416732 Điểm cuối: X:596921 ; Y:2416732
Tuyến 15: Từ đầu xóm Ngọc sơn II – cuối xóm
Ngọc Sơn II Điểm đầu: X:588921 ; Y:2416433 Điểm cuối: X:597321 ; Y:2416433
Tuyến 15: Từ đầu xóm Ngọc sơn II – cuối xóm
Ngọc Sơn II Điểm đầu: X:588921 ; Y:2416433 Điểm cuối: X:597321 ; Y:2416433
Tuyến 30: Từ Hạ Sơn Dao đến cuối núi Xó Páng Điểm đầu: X:588521 ; Y:2410355 Điểm cuối: X:596000 ; Y:2410355
Tuyến 06: Từ đầu mỏ Tân Kim đến cuối Khau En Điểm đầu: X:591235 ; Y:2419732 Điểm cuối: X:598066 ; Y:2419732
Tuyến 13 : Khu vực:Di Chỉ khảo cổ bãi đá Ngườm Điểm đầu: X:588131 ; Y:2410834 Điểm cuối: X:596021 ;Y: 2410834
Tuyến 05:từ núi Khau En đến Tân Kim Điểm đầu: X: 592422 ;Y: 2420321 Điểm cuối: X:597916 ; Y:2420321
Tuyến 27:từ núi Đá Mèo đến Kim Sơn Điểm đầu: X:587716 ;Y: 2411518 Điểm cuối: X:595822 ; Y:2411518
Tuyến 28:Từ Hạ Sơn Dao đến Kim Sơn Điểm đầu: X: 587921 ; Y:2411216 Điểm cuối: X: 595814 ; Y:2411216
Kết quả điều tra từ 35 tuyến tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy có 8 tuyến xuất hiện cây nghiến, với tổng số 34 cây Tần suất xuất hiện của loài nghiến trên toàn tuyến là 0,97 Độ dài các tuyến điều tra dao động từ 5-8 km, trong đó tuyến dài nhất có loài nghiến xuất hiện là 8,55 km với 6 cây, và tuyến ngắn nhất là 5,6 km với 2 cây Số lượng cây nghiến phân bố không đều giữa các tuyến, cho thấy rằng cây nghiến có sự phân bố tự nhiên hạn chế trong khu vực nghiên cứu.
Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật nơi loài Nghiến gân ba phân bố
Mật độ tầng cây gỗ, được tính bằng số cây trên một hecta (N cây/ha), là một đặc trưng quan trọng của quần thể rừng, phản ánh khả năng tận dụng dinh dưỡng và mức độ tương tác giữa các cây Nó cũng cho thấy khả năng thích nghi của cây rừng với sự thay đổi điều kiện sống, khoảng cách giữa các cây trong quần thể, và tác động của quần thể đến quần xã Do đó, nghiên cứu mật độ là nghiên cứu về mức độ khai thác tiềm năng sản xuất của điều kiện lập địa.
Bảng 4.5 Mật độ của loài Nghiến gân ba OTC N Lp N Ng N Lp (cây/ha) N Ng (cây/ha)
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy: mật độ của tầng cây gỗ và Nghiến trong các OTC khác nhau là khác nhau Cụ thể:
Mật độ cao nhất trong OTC 3 với mật độ tầng cây gỗ là 410 cây/ha Trong đó mật độ cây Nghiến đạt 60 cây/ha
Mật độ trung bình của cây nghiến gân ba từ 20 đến 40 cây/ha
Mật độ thấp nhất trong OTC 2 mật độ tầng cây gỗ là 300 cây/ha trong đó mật độ cây Nghiến 30 cây/ha
Nhìn chung mật độ của tầng cây gỗ và Nghiến trong các OTC có sự khác nhau rõ rệt
Mỗi loài sinh vật, đặc biệt là thực vật rừng, có một trung tâm phân bố tối ưu, và sự phân bố này phụ thuộc vào khả năng chống chịu cũng như biên độ sinh thái của chúng Sự tồn tại của loài cây và khả năng phân bố tối ưu không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại mà còn bị tác động bởi điều kiện bên ngoài, đặc biệt là trong cùng một môi trường sống.
Phân tích bảng số liệu tầng cây gỗ tại các OTC nơi có cây Nghiến phân bố cho phép xác định công thức kết cấu tổ thành loài cây gỗ Việc này giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa loài cây nghiên cứu và các loài cây khác, bao gồm các mối quan hệ hỗ trợ hoặc cạnh tranh Nhận diện loài cây đi kèm không chỉ hỗ trợ trong việc điều tra mà còn giúp đưa ra các biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm phát triển loài cây Nghiến.
Hệ số tổ thành tính theo số cây ta có công thức tổ thành tầng cây gỗ như sau:
Bảng 4.6: Tổng hợp công thức tổ thành tầng cây gỗ
OTC Công thức tổ thành
Số loài tham gia CTTT
7,91Suđ+6,59Hav+5,90Siđ+5,89Mas+5,31H vn+19,53Lk
0Muo+6,48Mas+5,57Pha+5,03Nhr+22,47Lk 17 9
Từ bảng 4.6 chúng tôi có những kết luận sau đối với thành phần loài cây đi kèm với loài Nghiến như sau:
Hệ tổ thành của loài nghiến có độ cao từ 13,56 đến 40,46, với một số loài thường gặp như Mạy Tèo (Streblus acrophyllus Blume), Lộc mại (Claoxylon indicum), Chay bắc bộ (Artocarpus tonkinensis), Sồi (Líthocorpus zissus Champ.Ex.Benth), và Thung (Tetrameles amdifolia) Những loài này thường xuất hiện cùng với Nghiến và đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc rừng hỗn giao Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hỗn giao giữa các loài cây ở các đỉnh núi cao, từ đó đề xuất các biện pháp tái sinh Nghiến kết hợp với các loài cây khác.
4.3.3 Đặc điểm trữ lượng cây Nghiến gân ba tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Để thuận lợi cho việc xử lý số liệu và phân tích kết quả điều tra tôi đã tiến hành phân loại trữ lượng rừng cho từng ô tiêu chuẩn sau đó tập hợp để xử lý số liệu và phân tích Kết quả phân tích và xử lý được tổng hợp trong bảng 4.7
Bảng 4.7: Trữ lượng nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu
OTC D tb (cm) H tb (m) Trữ lượng (m 3 ) Tiết diện (m 2 )
M/ha M Ng /ha G/ha G Ng /ha
Theo bảng 4.11, trữ lượng trung bình của loài nghiến dao động từ 25 đến 50 m³/ha, trong đó OTC1 có trữ lượng cao nhất đạt 189,872 m³/ha nhờ vào sự hiện diện của một cây cổ thụ lớn với đường kính 125 cm Ngược lại, OTC9 ghi nhận trữ lượng nghiến thấp nhất chỉ đạt 14,33 m³.
4.3.4 Đặc điểm độ tàn che nơi loài nghiến gân ba phân bố Để chỉ ra các chỉ số độ tàn che, trong quá trình điều tra tôi đã xác định thành phân các loài cây từ tầng thảm tươi đến tầng cây cao để đánh giá sơ bộ về thực vật khu vực này Độ tàn che trong OTC là giá trị trung bình các lần đo đếm trong các ODB kết quả được tổng hợp trong bảng 4.8
Bảng 4.8: Sinh trưởng đường kính, chiều cao và độ tàn che của các OTC có nghiến phân bố
Hvn tb D1.3 tb Độ tàn che trong các Otc
Độ tàn che trung bình của loài nghiến gân ba trong các OTC là 0,43, với OTC 3 có độ tàn che lớn nhất là 0,6 Ngược lại, OTC 2 và OTC 8 có độ tàn che nhỏ nhất, chỉ đạt 0,3 Kết quả cho thấy nghiến gân ba là loài cây ưa sáng, thường phân bố tại những khu vực có độ tàn che trung bình và thấp.
Đặc điểm về tái sinh của loài
4.4.1 Đặc điểm tái sinh quanh gốc cây mẹ
Kết quả điều tra và sử lý kết quả về chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.9: Tổng hợp tái sinh cây nghiến gân ba
Cấp chiều cao (m) Chất lượng % Nguồn gốc