1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên lý thống kê kinh tế

306 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên lý thống kê kinh tế
Tác giả Nguyệt Đại Học Mở Hà Nội, GS. TS. Phạm Ngọc Kiểm, PGS. TS. Nguyễn Công Nhự
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 306
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn như số liệu ghi chép về lượng mưa, về nhiệt độ, về độ ẩm không khí trên các vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia; số liệu về dân số, GDP, vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế; giá t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

-*** -

NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu của xã hội, Khoa Tài Chính – Ngân hàng thuộc Viện Đại Mở Hà Nội đã tiến

hành tổ chức biên soạn cuốn Nguyên lý thống kê kinh tế phục vụ trực tiếp cho

công tác đào tạo của khoa

Để quản lý kinh doanh có hiệu quả, người làm công tác quản lý không thể không trang bị những kiến thức về hạch toán kinh tế mà trong đó bao gồm Hạch

toán kế toán và Hạch toán thống kê Hạch toán thống kê mà cụ thể là Nguyên lý thống kê kinh tế trang bị những kiến thức cơ bản về nội dung, phương pháp

tính các chỉ tiêu kinh tế và phương pháp phân tích các chỉ tiêu kinh tế đó để giúp

cho người quản lý ra quyết định có căn cứ khoa học Cuốn Nguyên lý thống kê kinh tế được biên soạn để giảng dạy cho các lớp đào tạo cử nhân ngành Tài

chính – Ngân hàng các hệ chính quy; hệ vừa làm vừa học; hệ văn bằng hai của Khoa Tài chính – Ngân hàng

Cuốn sách này được viết dựa theo chương trình khung đã được Bộ Giáo

dục và Đào tạo phê duyệt, gồm các chương:

Chương 1- Nhập môn thống kê học

Chương 2- Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu thống kê

Chương 3- Nghiên cứu thống kê các mức độ của hiện tượng kinh tế –xã hội Chương 4- Phân tích hồi quy và tương quan

Chương 5- Phân tích dãy số biến động theo thời gian và dự đoán thống kê Chương 6- Phương pháp chỉ số

Chương 7- Điều tra chọn mẫu

Chương 8- Thống kê tài chính

Cuốn sách được biên soạn công phu do các giảng viên đã từng giảng dạy

môn học này trong nhiều năm biên soạn, trong đó:

Trang 3

NGƯT GS TS Phạm Ngọc Kiểm biên soạn các chương 2, 3 và 5

PGS TS Nguyễn Công Nhự biên soạn các chương 1, 4, 6, 7 và 8

Chúng tôi xin chân thành cám ơn một số nhà khoa học chuyên ngành thống

kê đó đọc và cho ý kiến bổ sung để cuốn sách này được hoàn thiện hơn

Do lần đầu biên soạn nên cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót và hạn chế

Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc

Các tác giả

Trang 4

Chương 1 NHẬP MÔN THỐNG KÊ HỌC

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Để lĩnh hội được các phương pháp của thống thống kê học, bạn đọc cần phải đi từ việc lĩnh hội các kiến thức chung ban đầu của nó, tạm gọi là các kiến

thức “Nhập môn thống kê học” Mục tiêu của chương này nhằm trang bị cho

bạn đọc một số khái niệm và một số vấn đề chung nhất của thống kê học, như:

- Thống kê học là gì;

- Lịch sử phát triển của thống kê học;

- Đối tượng nghiên cứu của thống kê học;

- Một số khái niệm thống kê cơ bản;

- Các loại thang đo trong thống kê;

- và, Hai hình thức trình bày tài liệu thống kê

Phần lớn trong số các kiến thức nhập môn nói trên sẽ được nhắc lại ở các chương tiếp theo của giáo trình này, với tư cách là các khái niệm và thuật ngữ đã

được hiểu thống nhất

1.1 THỐNG KÊ HỌC LÀ GÌ?

Thuật ngữ “thống kê” có hai nghĩa, theo nghĩa thứ nhất, thống kê là những

dữ liệu được ghi chép để phản ánh các hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội Chẳng hạn như số liệu ghi chép về lượng mưa, về nhiệt độ, về độ ẩm không khí trên các vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia; số liệu về dân số, GDP, vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế; giá trị sản xuất, lao động và vốn sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp… Theo nghĩa thứ hai, thống kê là khoa học về hệ thống các phương pháp thu thập và phân tích các dữ liệu về mặt định lượng những hiện tượng nói trên để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của chúng Chẳng hạn,

Trang 5

qua số liệu về kết quả sản xuất, lao động và thu nhập của lao động ở một doanh nghiệp theo thời gian Sử dụng các phương pháp của thống kê học, ta có thể tính được các chỉ tiêu năng suất lao động, thu nhập bình quân của lao động Qua đó phân tích được tính quy luật của sự biến động năng suất lao động và thu nhập bình quân của lao động, phân tích được tính quy luật giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng thu nhập bình quân của lao động… từ đó giúp lãnh đạo doanh nghiệp có những giải pháp kịp thời Trong giáo trình này, thống kê học được hiểu đầy đủ theo nghĩa thứ hai

1.2 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỐNG KÊ HỌC

Thống kê học ra đời và phát triển xuất phát từ nhu cầu của hoạt động thực tiễn xã hội Để trở thành một môn khoa học độc lập như ngày nay, thống kê học

đã có một quá trình phát triển lâu dài từ đơn giản đến phức tạp, đúc rút dần thành lý luận ngày càng hoàn chỉnh

Ngay từ thời bình minh của nhân loại, các di chỉ khảo cổ ở Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã, Ai Cập,… cho thấy các bộ lạc, bộ tộc đã biết cách ghi chép để nắm được số dân, số súc vật, số nô lệ… Mặc dù việc ghi chép còn rất đơn giản và cục

bộ trong từng phạm vi hẹp

Trong xã hội phong kiến, thống kê học đã có những bước phát triển vượt bậc so với thời cổ đại Việc ghi chép, đăng ký dân số, tài sản… đươc tiến hành ở phạm vi rộng hơn, mang tính thống kê rõ hơn Song, nó vẫn mang tính tự phát, chưa thật sự trở thành một môn khoa học độc lập

Đến cuối thế kỷ thứ XVII, cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, các phương pháp ghi chép và phân tích mặt lượng của các hiện tượng kinh tế - xã hội đã được các nhà khoa học đúc kết thành lý luận Nhiều ấn phẩm về lĩnh vực này đã được ra đời Ở một số trường đại học người ta bắt đầu giảng dạy về lý luận thống kê, về phương pháp nghiên cứu hiện tượng kinh tế - xã hội dựa vào số liệu điều tra cụ thể Công tác thống

kê phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin thường xuyên về tình

Trang 6

hình sản xuất và cung ứng hàng hóa, nguyên liệu, lao động… của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, phục vụ cho các mục đích kinh tế, chính trị và quân sự của nhà nước tư bản và của các nhà tư bản Năm 1682, William Petty (1623-1687) nhà kinh tế học người Anh đã cho xuất bản cuốn “Số học chính trị” Đây

là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu các hiện tượng xã hội thông qua sử dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích các dữ liệu thống kê K.Mark đã mệnh danh cho William Patty là người sáng lập ra môn thống kê học1 Đến giữa thế kỷ XVIII (năm 1759), G.Achenwall (1719-1772), một giáo sư đại học người

Đức, lần đầu tiên dùng từ “Statistik” (sau này được dịch là Thống kê) để chỉ

phương pháp nghiên cứu nói trên, và quan niệm đó là môn học so sánh các nước khác nhau về mọi mặt qua các dữ liệu thu thập được Những thành tựu của khoa học tự nhiên trong thời kỳ này, đặc biệt là sự ra đời của lý thuyết xác suất và thống kê toán, đã có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển và hoàn thiện của thống kê học, để nó trở thành một môn khoa học thật sự độc lập

Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cùng với những thành tựu nổi bật

về khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của thống kê học Thống kê trở thành một công cụ quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội V.I.Lênin đã khẳng định rằng: “Thống kê kinh tế-xã hội là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức xã hội”.2

Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý kinh tế và quản lý xã hội quan trọng Thông qua nghiên cứu tính quy luật về lượng của các hiện tượng, các dữ liệu thống kê giúp kiểm tra, đánh giá các chương trình, kế hoạch

và định hướng phát triển kinh tế-xã hội; cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin thống kê trung thực, khách quan cho các cấp quản lý từ vi mô đến vĩ mô

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ HỌC

Nghiên cứu định nghĩa, quá trình hình thành và phát triển của thống kê, có thể thấy: đối tượng nghiên cứu của thống kê học là các dữ liệu về mặt định

1 K.Mác, tư bản, Quyển thứ nhất, tập I, trang 368, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962

Trang 7

lượng của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn, trong điều kiện lịch sử cụ thể

- Thống kê học thông qua nghiên cứu các biểu hiện về lượng của hiện tượng kinh tế - xã hội để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của chúng Điều này

có nghĩa là thống kê học sử dụng các dữ liệu về quy mô, kết cấu, quan hệ so sánh, trình độ phổ biến, tốc độ phát triển… của hiện tượng nghiên cứu để qua đó biểu thị được bản chất và tính quy luật của chúng Do vậy, các dữ liệu thống kê không phải là những con số trừu tượng, hoặc mang tính số học thuần tuý, mà là những con số có ý nghĩa kinh tế, chính trị hoặc xã hội nhất định, giúp ta nhận thức được hiện tượng nghiên cứu

- Thống kê học nghiên cứu hiện tượng số lớn, tức là một tổng thể bao gồm nhiều đơn vị hợp thành Các số liệu thống kê về hiện tượng nghiên cứu thường được xử lý ra từ cơ sở dữ liệu thu thập trên một số lớn các đơn vị cá biệt của hiện tượng nghiên cứu Mặt lượng của các đơn vị này thường chịu tác động của nhiều nhân tố Trong đó có cả những nhân tố tất nhiên và ngẫu nhiên Mức độ và

xu hướng tác động của các nhân tố này thường không giống nhau trên từng đơn

vị cá biệt Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thì số liệu thống kê tính ra khó có thể phản ánh được bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu Song nếu tổng hợp mặt lượng trên một số lớn các đơn vị của hiện tượng, tác động của các nhân tố ngẫu nhiên sẽ được bù trừ và triệt tiêu, số liệu thống kê xử lý ra có thể biểu hiện được bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu

- Thống kê học nghiên cứu hiện tượng số lớn, song không có nghĩa là bỏ qua việc nghiên cứu các hiện tượng cá biệt (đơn vị tổng thể) Giữa hiện tượng số lớn và hiện tượng cá biệt có mối quan hệ biện chứng Mặt lượng của hiện tượng

số lớn được tổng hợp từ mặt lượng của các hiện tượng cá biệt, xử lý mặt lượng này theo một số tiêu chí nào đó sẽ làm bộc lộ bản chất và tính quy luật của hiện tượng số lớn Mặt khác, trong quá trình phát triển của hiện tượng nghiên cứu thường nảy sinh một số hiện tượng cá biệt tiên tiến và lạc hậu Nghiên cứu hiện

Trang 8

này sẽ giúp nhận thức đầy đủ hơn bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu

- Hiện tượng số lớn mà thống kê học nghiên cứu luôn tồn tại trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Trong những điều kiện lịch sử khác nhau hiện tượng nghiên cứu sẽ có đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng không giống nhau Chính vì thế, khi sử dụng các dữ liệu thống kê về hiện tượng nghiên cứu phải để ý tới điều kiện lịch sử cụ thể của nó

1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM THỐNG KÊ CƠ BẢN

1.4.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là khái niệm quan trọng của thống kê học Thống kê nghiên cứu các hiện tượng kinh tế-xã hội về mặt định lượng và nghiên cứu theo quy luật số lớn nên trước hết cần phải xác định cụ thể phạm vi của hiện tượng nghiên cứu Phạm vi đó được gọi là tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là hiện tượng số lớn, gồm những đơn vị hoặc phần tử cá biệt hợp thành, cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng Những đơn

vị hoặc phần tử cá biệt cấu thành hiện tượng nghiên cứu được gọi là đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là bộ phận nhỏ nhất trong tổng thể thống kê, nơi phát sinh

ra nguồn thông tin ban đầu cần thu thập Chẳng hạn, toàn bộ các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam tại một thời điểm nào đó là một tổng thể thống kê, trong

đó mỗi doanh nghiệp là một đơn vị tổng thể Dân số Việt Nam là một tổng thể thống kê, trong đó mỗi người dân là một đơn vị tổng thể…

Như vậy, thực chất của việc xác định tổng thể thống kê chính là việc xác định các đơn vị của nó

- Dựa vào đặc điểm nhận biết được hay không nhận biết được của các đơn

vị tổng thể, người ta chia tổng thể thống kê ra thành tổng thể bộc lộ và tổng thể tiềm ẩn Tổng thể gồm các đơn vị cấu thành có thể xác định được bằng trực quan gọi là tổng thể bộc lộ (ví dụ, tổng thể dân số của một quốc gia, tổng thể doanh nghiệp đóng trên địa bàn của một địa phương…) Tổng thể gồm các đơn

Trang 9

vị cấu thành không thể nhận biết được bằng trực quan được gọi là tổng thể tiềm

ẩn (chẳng hạn, tổng thể những người tham nhũng, tổng thể những người chuyên buôn bán và tàng trữ các chất ma tuý…) Nghiên cứu thống kê đối với các tổng thể bộc lộ tiến hành khá thuận lợi, song sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi nghiên cứu các tổng thể tiềm ẩn, đòi hỏi phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, chi phí nghiên cứu tốn kém gấp nhiều lần mới có được kết quả mong đợi

- Dựa vào các đặc điểm chung giống nhau và không giống nhau, người ta phân chia tổng thể thống kê thành tổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất Tổng thể đồng chất gồm các đơn vị cấu thành có các đặc điểm chung giống nhau theo mục đích nghiên cứu, các đặc điểm chung này cũng chính là các đặc điểm hình thành nên tổng thể thống kê Chẳng hạn, tổng thể sinh viên của một trường đại học, tổng thể các bác sĩ trong một bệnh viện… Tổng thể không đồng chất gồm các đơn vị cấu thành khác nhau về loại hình và không có các đặc điểm chung giống nhau theo mục đích nghiên cứu Ví dụ, tổng thể hành khách trên một chuyến tàu là tổng thể không đồng chất nếu mục đích nghiên cứu là tìm hiểu tình hình thu nhập, việc làm hoặc trình độ tay nghề

- Ngoài ra, còn có thể phân chia thành tổng thể chung (bao gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu) và tổng thể bộ phận (chỉ gồm một phần các đơn vị của tổng thể chung) Cả hai tổng thể này, nếu là đồng chất, thì đều có thể thực hiện được các nghiên cứu thống kê khác nhau

1.4.2 Tiêu thức thống kê

Nghiên cứu thống kê phải dựa vào các đặc điểm của đơn vị tổng thể Mỗi đơn vị tổng thể đều có nhiều đặc điểm Ví dụ, trong tổng thể nhân khẩu nước ta, mỗi người dân có đặc điểm chung: đều là người Việt Nam; ngoài ra còn có các đặc điểm khác như giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Các đặc điểm này được gọi là các tiêu thức thống kê Như vậy, tiêu thức thống kê là các đặc điểm của đơn vị tổng thể Khi nghiên cứu về một tổng thể thống kê, do gặp phải giới hạn về thời gian, về nhân lực, vật lực và tài lực

Trang 10

quan để thu thập thông tin ban đầu

Tiêu thức thống kê được chia thành hai loại là tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng

- Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức mà các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh tính chất hoặc loại hình của các đơn vị tổng thể, không biểu hiện được bằng con số Ví dụ, giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thành phần kinh tế…

- Tiêu thức số lượng là tiêu thức biểu hiện trực tiếp được bằng con số Ví

dụ, GDP của một quốc gia, doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, dân số của một địa phương…

Các tiêu thức chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể được gọi là tiêu thức thay phiên Ví dụ, tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau là nam và nữ Trong tổng thể dân số hoặc lao động, một người đã nhận biểu hiện này thì không nhận biểu hiện kia, và ngược lại

1.4.3 Chỉ tiêu thống kê

Chỉ tiêu thống kê là sự biểu hiện bằng định lượng của các mặt, các tính chất, các mối quan hệ cơ bản của hiện tượng số lớn trong điều kiện lịch sử cụ thể

Trong khoản 3, Điều 3, Chương I của Luật Thống kê cụm từ chỉ tiêu thống

kê được giải thích như sau: “Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số

của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế-xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể”.3

Ví dụ, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2011 là 2.000 USD; thu nhập bình quân hàng tháng của một lao động trong khu vực nhà nước năm

Trang 11

hiện tượng kinh tế-xã hội, phản ánh nội dung của chỉ tiêu thống kê Mặt con số của chỉ tiêu thống kê là trị số được phát hiện, đo tính được theo các đơn vị tính toán phù hợp

Căn cứ vào nội dung, có thể chia các chỉ tiêu thống kê thành hai loại: chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng (hay số lượng) Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện các tính chất, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể như giá bán đơn vị sản phẩm, năng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận tính trên tổng vốn (ROA)… Chỉ tiêu khối lượng (hay số lượng) biểu hiện quy mô của tổng thể, ví dụ: số lượng sản phẩm sản xuất, doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh… Việc phân loại này nhằm đáp ứng yêu cầu của một số phương pháp phân tích thống kê

Tập hợp các chỉ tiêu số lượng và chất lượng theo từng yêu cầu nghiên cứu

cụ thể ta được các hệ thống chỉ tiêu thống kê

Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp những chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hệ giữa tổng thể với các hiện tượng liên quan

Hệ thống chỉ tiêu thống kê được cấu thành từ nhiều nhóm chỉ tiêu và được xây dựng theo những yêu cầu nghiên cứu riêng Chẳng hạn, hệ thống chỉ tiêu thống kê chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm các nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất và nhóm các chỉ tiêu khác Nếu yêu cầu nghiên cứu cần chi tiết và cụ thể hơn thì có thể thêm các nhóm chỉ tiêu về giá thành, giá bán sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh…

Hệ thống chỉ tiêu là cơ sở để thu thập, tổng hợp thông tin từ các đơn vị tổng thể, tính toán trị số của chỉ tiêu giúp nhận thức được bản chất, tính quy luật và

xu hướng biến động, phát triển của hiện tượng số lớn

Vấn đề xây dựng (hay xác định) hệ thống chỉ tiêu thống kê cho một hướng nghiên cứu cụ thể phải dựa trên các căn cứ sau đây:

Trang 12

- Phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu quyết định nhu cầu thông tin về những mặt, những khía cạnh của đối tượng nghiên cứu

- Phải dựa vào tính chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu càng phức tạp thì số lượng chỉ tiêu xây dựng (hay xác định) càng nhiều, và ngược lại

- Phải dựa vào khả năng cho phép về thời gian và về nhân, tài, vật lực để tiến hành thu thập và tổng hợp thông tin cho các chỉ tiêu Căn cứ này đòi hỏi người xây dựng (hay xác định) hệ thống chỉ tiêu thống kê phải cân nhắc để xây dựng (hay xác định) những chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất, sao cho với số lượng chỉ tiêu không nhiều nhưng vẫn đáp ứng được mục đích nghiên cứu

Ngoài việc tuân thủ các căn cứ mang tính nguyên tắc nói trên, hệ thống chỉ tiêu thống kê xây dựng (hay xác định) cho một hướng nghiên cứu cụ thể nào đó còn cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu lên được mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt của đối tượng nghiên cứu và giữa đối tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan theo mục đích nghiên cứu đã đề ra

- Trong hệ thống chỉ tiêu ngoài các chỉ tiêu mang tính chất chung (tổng hợp) còn phải có các chỉ tiêu phản ánh các bộ phận của đối tượng nghiên cứu và các chỉ tiêu phản ánh các nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu

- Các chỉ tiêu trong hệ thống phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp, phạm vi tính toán và có khả năng thu thập được số liệu

1.5 CÁC LOẠI THANG ĐO TRONG THỐNG KÊ

Theo tính chất của việc đo lường, người ta thường sử dụng bốn loại thang

đo sau đây:

1.5.1 Thang đo định danh (hay đặt tên)

Thang đo này dùng để đếm tần số biểu hiện của tiêu thức thuộc tính Khi sử dụng thang đo này để tổng hợp dữ liệu thống kê cần tiến hành đánh số (hay đặt tên) các biểu hiện cùng loại của tiêu thức Ví dụ, khi tổng hợp giới tính của dân

Trang 13

số, biểu hiện “nam” được đánh số 1 và “nữ” được đánh số 2 Giữa các con số ở đây không có quan hệ hơn, kém Vì thế, các phép tính với chúng đều là vô nghĩa

1.5.2 Thang đo thứ bậc

Thang đo thức bậc là thang đo định danh, được dùng để đếm số lần biểu hiện của tiêu thức thuộc tính có sự hơn kém khi tổng hợp dữ liệu thống kê Chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải bằng nhau Ví dụ, chất lượng sản phẩm gồm ba loại: loại một, hai và ba; trình độ văn hóa phổ thông có

ba cấp: cấp một, hai và ba; chất lượng học tập của sinh viên trong các trường đại học được phân loại thành: xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu kém; bậc thợ của công nhân cơ khí gồm: bậc 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7,… con số có trị số lớn hơn không

có nghĩa ở bậc cao hơn và ngược lại, mà là do sự quy định Thang đo này được dùng để tính toán đặc trưng chung của tổng thể một cách tương đối như tính bậc thợ bình quân, bậc chất lượng bình quân của sản phẩm…

1.5.3 Thang đo khoảng

Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau Có thể đánh giá được sự khác biệt cụ thể về lượng giữa các biểu hiện của tiêu thức Ví

dụ, thu nhập hàng tháng tính bằng triệu đồng của lao động trong doanh nghiệp:

Trang 14

bằng nhau

Như vậy, thang đo khoảng luôn có đơn vị đo và được dùng để tổng hợp lượng biến của các tiêu thức số lượng, có thể thực hiện được các phép tính số học đối với các lượng biến của tiêu thức nghiên cứu, nên có thể tính được các đặc trưng thống kê như số trung bình, trung vị, mốt, phương sai…

Trong bốn loại thang đo trên, hai loại đầu được gọi là thang đo định danh (hay định tính), còn hai loại sau được gọi là thang đo định lượng Phương pháp xây dựng thang đo cụ thể được trình bày trong các giáo trình thống kê ứng dụng

1.6 HAI HÌNH THỨC TRÌNH BÀY TÀI LIỆU THỐNG KÊ

Sau khi tổng hợp về mặt định lượng của hiện tượng nghiên cứu, dữ liệu thống kê được trình bày trên các vật mang thông tin phục vụ cho hoạt động phân tích, truyền đạt và lưu trữ

Có hai hình thức trình bày dữ liệu thống kê đó là bảng (biểu) thống kê và

đồ thị thống kê

1.6.1 Bảng (biểu) thống kê

1.6.1.1 Khái niệm bảng thống kê

Bảng thống kê là sự sắp xếp theo hệ thống hai chiều số liệu về các chỉ tiêu thống kê trên các hàng và cột

Trang 15

1.6.1.2 Tác dụng của bảng thống kê

- Các dữ liệu trong bảng đã được sắp xếp một cách hệ thống, nên có thể sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu và các phương pháp phân tích khác để nêu lên bản chất của hiện tượng nghiên cứu

- Bảng thống kê được thiết kế và trình bày một cách khoa học sẽ trở thành

cơ sở dữ liệu quan trọng để phân tích, chứng minh hiện tượng nghiên cứu một cách sinh động

1.6.1.3 Kết cấu của một bảng thống kê, gồm có:

- Tên bảng hoặc tiêu đề: được viết ngắn gọn, dễ hiểu phản ánh nội dung của bảng và của từng chi tiết trong bảng Trước hết có tiêu đề chung hay tên gọi chung, đặt ở phía trên đầu của bảng thống kê; phía trong bảng có các tiêu đề nhỏ (hay tiêu mục) là tên riêng của mỗi hàng và cột

- Phần chủ đề (hay chủ từ): nêu lên tổng thể nghiên cứu được trình bày trong bảng và được phân chia thành những bộ phận nào

- Phần giải thích (hay tân từ): gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, nghĩa là giải thích phần chủ đề của bảng

- Thân bảng: Phần giao nhau giữa các hàng và cột tạo thành các ô, dùng để ghi các số liệu thống kê

Dưới đây là sơ đồ về cấu thành của một bảng thống kê:

Bảng 1.1 Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)

Phần giải thích Phần chủ đề Các chỉ tiêu giải thích (tên cột)

Tên chủ đề (tên hàng)

Tổng số:

1.6.1.4 Các loại bảng thống kê

Trang 16

Căn cứ vào kết cấu của phần chủ đề, có thể chia bảng thống kê thành ba loại như sau:

- Bảng giản đơn: là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ sắp xếp

các đơn vị tổng thể theo tên gọi, theo địa phương hoặc theo thời gian nghiên cứu

- Bảng phân tổ: Là loại bảng trong đó hiện tượng nghiên cứu ghi trong

phần chủ đề được phân tổ theo một tiêu thức cụ thể

- Bảng kết hợp: là loại bảng, trong đó hiện tượng nghiên cứu ghi ở phần

chủ đề được phân tổ theo hai hoặc ba tiêu thức kết hợp với nhau

1.6.1.5 Những yêu cầu chung về xây dựng bảng thống kê

Khi xây dựng bảng thống kê cần tuân thủ các yêu cầu sau:

- Quy mô của bảng không nên quá lớn (tức là không nên gồm quá nhiều phân tổ và quá nhiều hàng, cột)

- Các tiêu đề và tiêu mục (tên riêng của mỗi hàng và cột) cần được ghi chính xác, gọn và dễ hiểu

- Các chỉ tiêu giải thích trong bảng cần được sắp xếp theo thứ tự hợp lý, phù hợp với mục đích nghiên cứu Các chỉ tiêu có liên hệ với nhau nên sắp xếp gần nhau

- Các hàng và cột có thể sử dụng các ký hiệu hoặc đánh số để tiện cho việc trình bày hoặc giải thích nội dung (riêng các cột ở phần chủ đề thường được ký hiệu bằng các chữ cái viết hoa A, B, C… còn các cột ở phần giải thích thường được ký hiệu bằng các chữ số 1, 2, 3, …)

- Các số tổng cộng có thể ghi ở hàng (hay cột) đầu hoặc ở hàng (hay cột) cuối của phần thân bảng tuỳ theo mục đích nghiên cứu Nếu ghi ở ngay hàng (hay cột) đầu tiên thì mục đích nghiên cứu tổng hợp là chính, phần chi tiết chỉ có tác dụng phân tích thêm, còn nếu ghi ở hàng (hay cột) cuối thì mục đích đi sâu nghiên cứu từng bộ phận là chủ yếu

- Các ô ở thân bảng (phần giao nhau giữa hàng và cột) dùng để ghi các số liệu thống kê Song nếu không có số liệu thì dùng các ký hiệu quy ước sau đây:

Trang 17

+ Ký hiệu (-): biểu thị hiện tượng nghiên cứu không có số liệu ở ô đó

+ Ký hiệu (…): biểu thị số liệu về hiện tượng nghiên cứu còn bị thiếu, sẽ

bổ sung sau

+ Ký hiệu (x): biểu thị hiện tượng nghiên cứu không có liên quan đến tiêu

đề ghi ở hàng và cột, nếu ghi số liệu vào ô đó sẽ vô nghĩa

- Trong bảng thống kê cần ghi rõ đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu

- Số liệu ghi trong bảng có thể làm tròn (khi mục đích nghiên cứu không đặt ra số liệu phải tỉ mỉ hoặc chi ly)

- Phần ghi chú ở cuối bảng dùng để giải thích rõ nội dung của một số chỉ tiêu trong bảng và nói rõ nguồn tài liệu

- Tiếp theo phần ghi chú ở cuối bảng, để đảm bảo tính pháp lý cho bảng thống kê, cần phải ghi rõ: ngày, tháng, năm lập bảng; người lập bảng và người đứng đầu đơn vị ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu

Phương pháp khai thác thông tin từ các bảng thống kê sẽ được đề cập ở chương 2

1.6.2 Đồ thị thống kê

1.6.2.1 Khái niệm về đồ thị thống kê

Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để mô tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê về hiện tượng nghiên cứu

1.6.2.2 Tác dụng của đồ thị thống kê

Các đồ thị thống kê sử dụng các con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét

và màu sắc để trình bày một cách khái quát các đặc điểm số lượng của hiện tượng nghiên cứu Do đó, nó giúp người đọc nhận thức được các đặc điểm cơ bản của hiện tượng một cách dễ dàng, nhanh chóng Vì thế nó trở thành một phương tiện truyền thông có tính quần chúng, có sức hấp dẫn và sinh động làm cho những người ít hiểu biết về thống kê vẫn lĩnh hội được vấn đề chủ yếu về hiện tượng nghiên cứu một cách dễ dàng

Trang 18

1.6.2.3 Các loại đồ thị thống kê

a) Theo nội dung phản ánh, có thể phân chia các đồ thị thống kê thành các

loại sau:

- Đồ thị phát triển: phản ánh sự phát triển của hiện tượng qua thời gian

- Đồ thị kết cấu: biểu thị kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng

- Đồ thị liên hệ: mô tả mối liên hệ giữa các hiện tượng

- Đồ thị phân phối: phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng

- Đồ thị hoàn thành kế hoạch (hoặc định mức): biểu thị tình hình thực hiện

kế hoạch (hoặc định mức)

b) Theo hình thức biểu hiện, có thể phân chia đồ thị thống kê thành:

- Đồ thị đường biểu diễn (đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc)

- Biểu đồ hình cột (dọc, ngang)

- Biểu đồ diện tích (hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật)

- Biểu đồ tượng hình

- Bản đồ thống kê

1.6.2.4 Những yếu tố chính của đồ thị thống kê

Để đồ thị thống kê đáp ứng được các yêu cầu: chính xác, dễ xem, dễ hiểu thì khi xây dựng đồ thị phải chú ý đến các yếu tố chính sau:

- Hệ tọa độ: giúp cho việc xác định chính xác vị trí các ký hiệu hình học

trên đồ thị Các đồ thị thống kê thường dùng hệ toạ độ Đề-Các vuông góc Trên

hệ tọa độ này, trục hoành thường dùng để biểu thị thời gian, trục tung biểu thị trị

số của chỉ tiêu Trường hợp phân tích mối liên hệ giữa hai tiêu thức thì tiêu thức nguyên nhân được ghi ở trục hoành, còn tiêu thức kết quả ghi ở trục tung

- Các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ: các ký hiệu hoặc hình vẽ này quyết

định hình dáng của đồ thị (gồm các đường chấm, đường thẳng hoặc cong, các hình cột, vuông, chữ nhật, tròn…) Các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ trên đồ thị

có thể thay đổi tùy theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu Việc lựa chọn này

Trang 19

rất quan trọng, vì mỗi ký hiệu hình học hoặc hình vẽ có khả năng diễn tả riêng Chẳng hạn, khi cần biểu hiện kết quả của hiện tượng nghiên cứu có thể dùng hình cột (chia thành nhiều đoạn), hình tròn (chia thành các hình quạt), hình vuông hoặc chữ nhật… nhưng thường dùng hình tròn vì hình này biểu hiện rõ nhất kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng nghiên cứu

- Thang và tỷ lệ xích: giúp tính chuyển các đại lượng lên đồ thị theo các

khoảng cách thích hợp Thường dùng thang đường thẳng (hệ toạ độ Đề - Các vuông góc), một số trường hợp dùng thang đường cong (đồ thị hình tròn chia thành

3600) Khi dùng hệ toạ độ vuông góc để vẽ đồ thị thì thang tỷ lệ chia trên từng trục phải bằng nhau, song giữa hai trục thang tỷ lệ chia có thể không bằng nhau

- Tên và lời ghi chú: mọi đồ thị đều phải có tên rõ ràng và chính xác; có lời

ghi chú giải thích các ký hiệu quy ước, các con số và ghi chú dọc theo thang tỷ

lệ, các con số và ghi chú bên cạnh từng bộ phận của đồ thị

Phương pháp mô tả số liệu bằng đồ thị thống kê sẽ được đề cập ở chương 2

PHẦN CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày đối tượng nghiên cứu của thống kê học

2 Trình bày một số khái niệm thống kê cơ bản

3 Trình bày các loại thang đo trong thống kê

4 Trình bày khái niệm, tác dụng, kết cấu và phân loại bảng thống kê Cho

ví dụ minh hoạ

5 Trình bày khái niệm, các yêu cầu khi xây dựng một bảng thống kê

6 Trình bày khái niệm, tác dụng và phân loại đồ thị thống kê Cho ví dụ minh hoạ

7 Nêu những yếu tố chính của một đồ thị thống kê

Trang 20

Chương 2

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH

NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo quan điểm triết học về quá trình nhận thức của con người phải trải qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn một là sao chép lại hiện thực khách quan;

- Giai đoạn hai là tổng hợp nhận thức về hiện thực khách quan;

- Giai đoạn ba là suy lý, phán đoán xu hướng vận động, tìm ra tính quy luật vận động của hiện tượng và tìm cách cải tạo nó

Quá trình nghiên cứu thống kê cũng đi từ sao chép hiện thực khách quan; tổng hợp nó sau đó suy lý và phán đoán

2.1 ĐIỀU TRA THỐNG KÊ

2.1.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc của điều tra thống kê

2.1.1.1 Khái niệm điều tra thống kê

Để có được thông tin ban đầu về hiện tượng kinh tế mà ta cần nghiên cứu người ta phải tổ chức thu thập thông tin Quá trình thu thập thông tin ấy gọi là quá trình điều tra thống kê

Điều tra thống kê là tiến hành một cách khoa học, theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập các thông tin ban đầu về các hiện tượng và quá trình kinh tế-

xã hội mà người ta cần nghiên cứu, là khâu mở đầu cho quá trình nghiên cứu thống kê Điều tra thống kê được thực hiện theo một phương án điều tra đã được xây dựng trước khi tiến hành thu thập thông tin

Điều tra thống kê có thể tiến hành trên trên phạm vi cả nước hoặc trong phạm vi từng vùng hoặc từng địa phương Phạm vi điều tra có thể tiến hành trên

Trang 21

tất cả các đơn vị của tổng thể (điều tra toàn bộ) hoặc chỉ thu thập thông tin trên một số đơn vị đại diện (điều tra không toàn bộ)

2.1.1.2 Mục tiêu của điều tra thống kê

Mục tiêu của điều tra thống kê nhằm:

a) Thu thập thông tin ban đầu để tổng hợp và phân tích thống kê để đánh giá chính xác thực trạng về hiện tượng nghiên cứu Đây là cơ sở quan trọng để phân tích nguyên nhân tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến thực trạng phát triển của hiện tượng nghiên cứu

b) Cung cấp thông tin có căn cứ khoa học để ra quyết định cần thiết trong quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

c) Cung cấp thông tin phục vụ cho việc hoạch định chiến lược phát triển của hiện tượng nghiên cứu trong tương lai

Từ phân tích cho thấy, để thoả mãn được mục tiêu trên thông tin ban đầu của điều tra thống kê phải đảm bảo 4 yêu cầu: Trung thực, khách quan; chính xác; đầy đủ và kịp thời

- Trung thực, khách quan được hiểu là sao chép lại (thu thập dữ liệu) phải

đảm bảo đúng đắn thực trạng của hiện tượng nghiên cứu Phái viên điều tra không được phép ghi chép sai lệch thực tế khách quan

- Chính xác được hiểu là phản ánh đúng tình hình, hiện tượng tính chất

chính xác của dữ liệu thống kê có thể bị ảnh hưởng bởi nhiễu vật lý như các phương tiện cân đong, đo, đếm khi thu thập số liệu ; kỹ thuật truyền tin và đặc biệt là kỹ thuật xử lý tin Kể cả những công cụ và phương tiện, phương pháp tính toán các chỉ tiêu thống kê cũng gây ra những sai sót hoặc sai số trong điều tra và tổng hợp thống kê Tính chính xác cũng có thể bị ảnh hưởng của nhiễu ngữ nghĩa (hiểu sai ý) hoặc nhiễu thực dụng (ý thức trách nhiệm của người cung cấp, ghi chép hoặc xử lý số liệu)

Trang 22

- Đầy đủ được hiểu là đúng và đủ nội dung số đơn vị hiện tượng thuộc

phạm vi nghiên cứu Tính đầy đủ cũng có thể chịu ảnh hưởng của nhiễu vật lý, nhiễu ngữ nghĩa và nhiễu thực dụng

- Kịp thời được hiểu là cung cấp tài liệu đúng lúc mà cần sử dụng Tính

chất kịp thời chịu ảnh hưởng nhiều và rõ rệt nhất của các loại nhiễu vật lý và đặc biệt là nhiễu thực dụng

Trong thực tế, việc thoả mãn cả 4 mục tiêu trên là rất khó vì muốn cung cấp thông tin kịp thời phải thu thập và tổng hợp thông tin thật nhanh mà muốn có nhanh thường thì độ chính xác bị hạn chế Mối quan hệ giữa đầy đủ và kịp thời cũng rất khó giải quyết Muốn đầy đủ phải điều tra với nội dung phong phú mà điều này tất yếu phải có thời gian thu thập và tổng hợp thông tin kéo dài tất yếu khó đáp ứng được kịp thời

Để đảm bảo tính trung thực khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời của số liệu thống kê liên quan đến toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê, trước hết phải đảm bảo tài liệu sơ cấp thu được qua điều tra chính xác, đầy đủ, kịp thời Vì

nó là nguyên liệu đầu vào cho tổng hợp thống kê Nếu chất lượng nguyên liệu đầu vào kém thì không thể làm ra sản phẩm đầu ra có chất lượng cao đươc

2.1.1.3 Nguyên tắc điều tra thống kê

Bất kỳ một cuộc điều tra thống kê nào cũng phải thực hiện được các nguyên tắc cơ bản sau:

a) Thông tin thu thập được đảm bảo sự thống nhất: thống nhất về phạm vi nghiên cứu; thống nhất về hệ thống chỉ tiêu; thống nhất về thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra; thống nhất về nội dung và phương pháp tính các chỉ tiêu; thống nhất về phương pháp tổng hợp thông tin

b) Phải đảm bảo tiết kiệm chi phí cho điều tra thống kê: thông thường một cuộc điều tra thống kê phải chi phí nhiều về sức lao động và tài chính Tuỳ theo quy mô của cuộc điều tra mà mức chi phí phải chi ra phù hợp Chẳng hạn để thực hiện tổng điều tra dân số Nhà nước phải chi ra hàng trăm tỷ đồng Đây là

Trang 23

một khoản chi phí rất lớn Nhưng cũng có những cuộc điều tra chỉ cần chi phí vài ba tỷ đồng Vì vậy cần sử dụng hình thức điều tra thích hợp nhằm tiết kiệm chi phí

c) Quá trình điều tra thống kê phải phù hợp với những quy định trong Luật Thống kê

d) Nội dung thu thập thông tin phong phú nhưng kết cấu phiếu điều tra phải đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu đối với người điều tra và cả người được điều tra Không nên đặt quá nhiều câu hỏi làm cho cả hai phía cảm thấy nặng nề dễ dẫn tới tình trạng cung cấp thông tin “Chiếu lệ cho qua chuyện”

2.2.2 Phân loại điều tra thống kê

Điều tra thống kê có các loại sau:

2.2.2.1 Xét theo sự liên tục của thu thập thông tin chia điều tra thống kê

làm 2 loại: Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên

2.2.2.1.1 Điều tra thường xuyên

Điều tra thường xuyên là việc tiến hành thu thập, ghi chép các tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách liên tục, có hệ thống, thường xuyên về

sự vận động của hiện tượng đó

Chẳng hạn như hàng ngày ghi chép chấm công, ghi chép và tổng hợp số nguyên, nhiên vật liệu sử dụng, sản phẩm sản xuất ra, số sản phẩm, hàng hoá bán được

Ưu điểm của điều tra thường xuyên:

+ Điều tra thường xuyên tạo khả năng theo dõi tình hình phát triển của hiện tượng theo thời gian, có ý nghĩa quan trọng đối với việc sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá và dịch vụ

Điều tra thường xuyên giúp ta theo sát được diễn biến của hiện tượng nghiên cứu, phục vụ kịp thời cho việc ra quyết định của người có trách nhiệm một cách kịp thời, có cơ sở khoa học

Trang 24

+ Theo dõi thường xuyên sự biến động của hiện tượng nghiên cứu

+ Cung cấp thông tin để kiểm tra tiến độ sản xuất kinh doanh, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của đơn vị

Hạn chế của điều tra thường xuyên là chi phí tốn kém vì phải theo dõi liên tục hàng ngày về hiện tượng nghiên cứu

Hiện tượng cần sử dụng điều tra thường xuyên: Là những hiện tượng có quá trình phát triển liên tục, không ổn định Hình thức của điều tra thường xuyên thường thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ và điều tra chuyên môn

a) Báo cáo thống kê định kỳ

Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức thu thập thông tin bằng cách cơ quan thống kê nhà nước lập sẵn biểu báo cáo và quy định rõ nội dung, phương pháp tính, phạm vi tính của từng chỉ tiêu, thời gian mà các đơn vị cơ sở tổng hợp và gởi báo cáo về các chỉ tiêu cần theo dõi đến cơ quan thống kê và các cơ quan hữu quan được quy định được ghi trên biểu mẫu Báo cáo thống kê bao gồm các nội dung chính sau:

- Các quy định về thẩm quyền lập và ban hành biểu mẫu báo cáo;

- Các quy định về biểu mẫu và giải thích biểu mẫu báo cáo, bao gồm: mục đích, ý nghĩa, khái niệm, nội dung, phạm vi, phương pháp tính các chỉ tiêu báo cáo, danh mục các loại chỉ tiêu ghi trong báo cáo;

- Các quy định về việc thực hiện chế độ báo cáo, đơn vị báo cáo, thời hạn nộp báo cáo, đơn vị nhận báo cáo

Theo Điều 17 Luật Thống kê quy định: “Chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm các quy định về đối tượng thực hiện, phạm vi, nội dung báo cáo, kỳ hạn, thời hạn thực hiện, nơi nhận báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thu thập thông tin thống kê từ các chứng từ, sổ ghi chép số liệu ban đầu” (Tổng cục Thống kê: Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành – NXB Thống kê Hà Nội, 2004; tr 21)

Trang 25

Thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở: Cũng theo Luật Thống kê, Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia do cơ quan thống kê Trung ương được phân công thực hiện

Báo cáo thống kê được chia làm 2 loại: báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp

- Báo cáo thống kê cơ sở là loại báo cáo do các đơn vị cơ sở (doanh nghiệp

nhà nước có hạch toán độc lập, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) lập từ số liệu ghi chép ban đầu theo hệ thống biểu mẫu thống nhất và báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, cơ quan thống kê nhà nước được quy định trong chế độ báo cáo Báo cáo thống kê định

kỳ của các đơn vị cơ sở hiện nay chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước Để thu thập thông tin với doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước phải thực hiện bằng phương pháp điều tra thống kê chuyên môn

- Báo cáo thống kê tổng hợp là loại báo cáo do các cơ quan thống kê các

cấp (phòng thống kê quận, huyện; Cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thống kê các Bộ, ngành lập trên cơ sở tổng hợp thông tin từ các báo cáo thống kê cơ sở, từ kết quả các cuộc điều tra thống kê chuyên môn nhằm phục vụ cho công tác quản lý và nhu cầu thông tin của các cấp các nhà đầu tư

b) Điều tra chuyên môn

Đây cũng là một phương pháp thu thập thông tin thống kê bằng các

phương pháp chuyên môn riêng có của thống kê để thu thập thông tin thống kê định kỳ Chẳng hạn để tính CPI (Chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng) hàng tháng Tổng cục Thống kê đều phảI tổ chức điều tra chuyên môn để thu thập thông tin

2.2.2.1.2 Điều tra không thường xuyên

Trang 26

Điều tra không thường xuyên là việc tiến hành thu thập, ghi chép các tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách không liên tục Người ta chỉ tổ chức thu thập thông tin khi có nhu cầu

Phương pháp điều tra này thường áp dụng để thu thập thông tin đối với hiện tượng nghiên cứu:

- Hiện tượng nghiên cứu phát sinh không thường xuyên nhưng cần phải nghiên cứu;

- Hoặc hiện tượng nghiên cứu không đòi hỏi phải theo dõi thường xuyên;

- Hiện tượng nghiên cứu biến động tương đối liên tục và đều đặn Những trường hợp này thống kê thường sử dụng số liệu của quá khứ để ngoại suy Sau một thời gian dài người ta mới tổ chức điều tra để kiểm tra và điều chỉnh lại thông tin ngoại suy trong quá khứ và dự đoán cho tương lai

Hình thức chủ yếu của điều tra không thường xuyên là điều tra chuyên môn Đây là hình thức cơ bản để thu thập thông tin trong điều kiện nền kinh tế thị trường

2.2.2.2 Xét theo phạm vi thu thập thông tin chia ra điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ

2.2.2.2.1 Điều tra toàn bộ

Điều tra toàn bộ là tiến hành thu thập thông tin ban đầu trên tất cả các đơn

vị thuộc đối tượng điều tra, không loại trừ bất kỳ đơn vị nào

Chẳng hạn, cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm 2009 người ta phải thu thập thông tin mọi người dân của Việt Nam

Ưu điểm của điều tra toàn bộ:

- Nó cung cấp tài liệu đầy đủ nhất cho việc nghiên cứu;

- Cung cấp thông tin ban đầu phục vụ đầy đủ, toàn diện phục vụ cho việc ra quyết định có tính chất quyết sách;

Trang 27

- Cung cấp thông tin để tính tính các số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân;

- Điều tra toàn bộ không có các loại sai số do phương pháp chọn mẫu, sai

số do quy mô mẫu nhưng lại phát sinh các sai số do qui mô điều tra lớn nên phái viên dễ chủ quan nên thu thập thông tin không chuẩn xác

Nhược điểm của điều tra toàn bộ là chi phí rất tốn kém, thời gian điều tra kéo dài, việc tổng hợp thông tin phức tạp Nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội không thể áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ

2.2.2.2.2 Điều tra không toàn bộ

Điều tra không toàn bộ là tiến hành thu thập thông tin ban đầu trên một số đơn vị được chọn trong số các đơn vị thuộc tổng thể chung

Các đơn vị được chọn ra để điều tra gọi là tổng thể mẫu Quy mô của tổng thể mẫu nhỏ Về mặt lý thuyết quy mô mẫu phụ thuộc vào:

- Phương pháp chọn mẫu: chọn hoàn lại thường có số đơn vị mẫu lớn hơn

so với chọn không hoàn lại

- Phụ thuộc vào độ đồng đều của tổng thể chung: phương sai của tổng thể chung càng lớn thì tổng thể mẫu càng lớn và ngược lại

- Phụ thuộc vào độ tin cậy theo xác suất

Để đơn giản, trong thực tế Tổng cục Thống kê quy định tổng thể mẫu thường chỉ chiếm khoảng 0,01-20% so với tổng thể chung Tuỳ theo quy mô của tổng thể chung; tính chất và mục đích của từng cuộc điều tra mà quy mô mẫu có

sự khác nhau

Ưu điểm của điều tra không toàn bộ:

- Do quy mô mẫu nhỏ nên tiết kiệm được chi phí điều tra; thời gian điều tra được rút ngắn đáp ứng được tính kịp thời của cuộc điều tra

- Do quy mô mẫu nhỏ nên tập trung được lực lượng điều tra viên có trình

độ chuyên môn sẽ giảm dược sai số trong điều tra thống kê

Trang 28

- Do quy mô mẫu nhỏ nên có thể đi sâu nghiên cứu tổng thể mẫu bằng việc tăng thêm tiêu thức thu thập thông tin, tức là mở rộng nội dung điều tra Nó sẽ giúp ích cho việc nghiên cứu sâu sắc hơn về tổng thể cần nghiên cứu

Hạn chế của điều tra không toàn bộ:

Thường phát sinh sai số do kích thước mẫu; do phương pháp chọn mẫu Thông thường tổng thể mẫu được chọn ra để điều tra không thể hoàn toàn phù hợp với tổng thể chung Do đó đã gây ra sai số, loại sai số này người ta gọi là sai

số chọn mẫu

2.2.2.2.3 Căn cứ vào phương pháp chọn đơn vị điều tra chia điều tra không toàn bộ thành 3 loại:

- Điều tra chọn mẫu

- Điều tra trọng điểm

- Điều tra chuyên đề

a) Điều tra chọn mẫu

Từ tổng thể chung chọn ra 1 tổng thể mẫu theo nguyên tắc chọn ngẫu nhiên

để điều tra Từ các đặc trưng của kết quả điều tra của tổng thể mẫu suy rộng cho tổng thể chung như số trung bình; tỷ trọng (cơ cấu); phương sai

Tổng thể chung là tổng thể gồm tất cảc các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu Số lượng đơn vị của tổng thể chung được ký hiệu là N

Tổng thể mẫu là những đơn vị được lấy ra từ tổng thể chung Gọi n là số đơn vị của tổng thể mẫu thì n < N Có hai cách chọn ngẫu nhiên n đơn vị của tổng thể mẫu: chọn hoàn lại ( còn gọi là chọn lặp hay chon nhiều lần) và chọn không hoàn lại (chọn một lần hay chọn không lặp)

Điều tra chọn mẫu là loại điều tra thống kê không toàn bộ mà trong đó một

số đơn vị được chọn ra đủ lớn (gọi là đơn vị mẫu) theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo tính đại diện cho tổng thể chung để điều tra thực tế và dựa vào kết quả điều tra được có thể tính toán suy rộng cho toàn bộ tổng thể chung

Trang 29

Trong thực tế có nhiều hiện tượng kinh tế-xã hội không thể điều tra toàn bộ được Ví dụ, để xác định năng suất sản lượng cây trồng người ta không thể gặt hoặc cân đong toàn bộ sản lượng cây trồng trong các hộ dân cư Để xác định chất lượng đồ hộp người ta không thể mở tất cả các hộp ra để kiểm tra vì làm như vậy vô hình chung đã xoá bỏ toàn bộ thành quả lao động Bằng hai ví dụ nêu trên cho thấy muốn có thông tin chỉ có con đường duy nhất là tiến hành điều tra không toàn bộ

Điều tra chọn mẫu là một phương pháp rất phức tạp và được ứng dụng nhiều trong thực tế Nó được trình bày cụ thể hơn trong chương 7

b) Điều tra trọng điểm

Là loại điều tra chỉ tiến hành ở bộ phận chủ yếu nhất, quan trọng nhất của

tổng thể chung Kết quả điều tra không dùng để suy ra đặc điểm của tổng thể chung nhưng có thể giúp ta nắm được tình hình cơ bản của hiện tượng Loại điều tra này thích hợp với việc nghiên cứu của hiện tượng phân bố tương đối tập trung Chẳng hạn nghiên cứu chất lượng sản phẩm cà phê ở Tây Nguyên; chất lượng quả vải ở Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang hoặc Thanh Hà tỉnh Hải Dương Từ

đó có thể đề ra biện pháp thích hợp để phát huy mặt ưu điểm cần khai thác và hạn chế mặt tiêu cực của hiện tượng nghiên cứu

c) Điều tra chuyên đề

Chỉ tiến hành thu thập thông tin ở rất ít đơn vị tổng thể (thậm chí chỉ điều tra ở 1 đơn vị tổng thể) Do số đơn vị mẫu quá nhỏ nên có thể đi sâu nghiên cứu được nhiều vấn đề Mục đích của điều tra chuyên đề là nghiên cứu sâu các nhân

tố mới trong xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc cũng có thể là những thiếu sót để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung Kết quả của điều tra chuyên đề không dùng để suy rộng cho tổng thể chung Loại điều tra này thường được dùng để nghiên cứu những nhân tố mới phát sinh để quảng bá (với hiện tượng tích cực) hoặc hạn chế (với hiện tượng tiêu cực

Trang 30

Giữa các loại điều tra không toàn bộ có sự khác nhau về phạm vi thu thập thông tin; ý nghĩa của nó đối với công tác thu thập và suy rộng dữ liệu được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

+ Quy mô mẫu đủ lớn

+ Cơ cấu tổng thể mẫu

tương thích tổng thể

chung

+ Chỉ điều tra ở bộ phận chủ yếu của tổng thể

+ Nghiên cứu tính chất điển hình của hiện tượng

+ Chỉ điều tra một số rất ít đơn vị;

+ Đi sâu nghiên cứu chuyên đề

+ Từ kết quả điều tra

của tổng thể mẫu suy

rộng cho tổng thể

chung

+ Kết quả điều tra không suy rộng được cho tổng thể chung

+ Kết quả điều tra không suy rộng cho tổng thể chung

2.2.2.3 Xét về cách tiếp cận (hay phương pháp) để thu thập thông tin chia thành điều tra trực tiếp và điều tra gián tiếp

2.2.2.3.1 Điều tra trực tiếp

Là phương pháp thu thập thông tin mà phái viên điều tra phải trực tiếp gặp

gỡ, tiếp xúc với đối tượng điều tra để thu thập thông tin Phái viên điều tra có thể trực tiếp cân, đong, đo , đếm về quy mô, khối lượng hoặc kích thước của đối tượng điều tra; hoặc trực tiếp phỏng vấn đối tượng điều tra…Chẳng hạn để điều tra mức sống của dân cư, phái viên điều tra phải đến từng hộ thuộc mẫu điều tra

để phỏng vấn trực tiếp chủ hộ đẻ thu thông tin Với điều tra chăn nuôi thì phái viên điều tra phải “đến từng nhà, ra tận chuồng của hộ điều tra” để thu thập thông tin

Phương pháp này thường có độ chính xác cao bởi phái viên điều tra trực tiếp thu thập thông tin, đồng thời họ phải cân đối các thông tin mà người cung cấp thông tin không nhớ chính xác để đôi bên cùng chỉnh lý lại thông tin

2.2.2.3.2 Điều tra gián tiếp

Là phương pháp thu thập thông tin mà phái viên điều tra không phải trực

Trang 31

thu thập tài liệu qua bản viết (Phiếu điều tra gửi cho đối tượng cần thu thập thông tin rồi họ gửi lại thông tin cần thu thập) hoặc qua chứng từ, sổ sách hoặc văn bản, tư liệu sẵn có

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là gọn, nhẹ; tiết kiệm được chi phí Hạn chế của phương pháp này thể hiện:

- Mức độ chính xác phương pháp này thường bị hạn chế vì người gửi thông tin ghi có thể bị sai hoặc nhầm lẫn hoặc không hiểu đầy đủ nội dung chỉ tiêu mà mình cung cấp Người thu thập thông tin không thể biết rõ địa chỉ của người cung cấp thông tin nên khi phát hiện ra sai sót trong thông tin được cung cấp cũng không thể gặp gỡ để chỉnh lý thông tin được

- Nhiều phiếu phỏng vấn không thu lại được do nhiều nguyên nhân

- Các phiếu thường ghi thiếu thông tin làm cho việc tổng hợp gặp nhiều khó khăn; tỷ lê phiếu được sử dụng bị hạn chế Điều này đôi khi làm cho người

ta lầm tưởng rằng khi tổng hợp tài liệu người ta “cố ý” loại bỏ những phiếu trả lời không theo ý đồ của lãnh đạo

Để phân biệt được các phạm trù: Loại điều tra; hình thức điều tra; phương pháp điều tra được tổng hợp ở bảng dưới đây:

Cuộc điều tra Loại điều tra Hình thức điều tra Phương pháp điều tra

Năng suất, sản lượng cây

trồng

Tổng điều tra diện tích

Trang 32

2.2.3 Phương án điều tra thống kê

Phương án điều tra thống kê là một bản đề cương chi tiết được xây dựng trong bước chuẩn bị cho toàn bộ quá trình của một cuộc điều tra thống kê từ khâu chuẩn bị cho quá trình điều tra, quá trình điều tra, nội dung và phương pháp tiến hành điều tra; phương pháp tổng hợp thông tin cho đến công bố kết quả cuối cùng của cuộc điều tra Phương án điều tra càng chi tiết, tỷ mỷ thì quá trình tiến hành điều tra càng thuận lợi và giảm bớt sai số trong điều tra và tổng hợp thông tin Tuỳ theo tính chất, mục đích của từng cuộc điều tra mà phương

án điều tra được xây dựng có mức độ khác nhau Chẳng hạn, với các cuộc điều tra thường xuyên như điều tra hàng tồn kho; Điều tra về lượng sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng tháng; Điều tra chăn nuôi hàng năm; Điều tra năng suất-sản lượng cây trồng thì phương án chỉ do Tổng cục Thống kê xây dựng và tập huấn cho các địa phương thực hiện thống nhất cho nhiều năm Nhưng nếu là tổng điều tra dân số và nhà ở có liên quan đến nhiều ngành thì mỗi lần điều tra phải xây dựng phương án điều tra cho phù hợp và phải bàn bạc với nhiều bộ, ngành có liên quan Bởi kết quả điều tra này phục vụ cho chỉ đạo và đề ra chiến lược phát triển của nhiều ngành Về cơ bản, một phương án điều tra gồm những nội dung sau:

- Mục đích, yêu cầu đặt ra cho cuộc điều tra;

- Phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra;

- Nội dung điều tra;

- Thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra;

- Phương pháp điều tra, lược đồ điều tra, lược đồ chọn mẫu (nếu là điều tra chọn mẫu);

- Phiếu điều tra (bảng hỏi) và giải thích cách ghi chép;

- Kế hoạch thời gian tiến hành điều tra;

- Phương thức tổ chức chỉ đạo, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và công bố kết quả điều tra

Trang 33

2.2.3.1 Mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra thống kê

Bất kỳ một hiện tượng kinh tế-xã hội nào cũng bao gồm nhiều mặt, nhiều góc độ mà ta cần nghiên cứu Vấn đề đặt ra là trong cuộc điều tra này người ta cần nghiên cứu trọng tâm nhất là vấn đề gì ? (tức là xác định rõ mục đích của cuộc điều tra) Xác định mục đích điều tra phải căn cứ vào yêu cầu của cuộc điều tra đó Yêu cầu của mỗi cuộc điều tra có sự khác nhau Có cuộc điều tra chỉ nhằm thoả mãn yêu cầu để lập báo cáo cho cấp trên nhưng có cuộc điều tra phục

vụ trực tiếp cho công tác quản lý của đơn vị Và tất nhiên cũng có những cuộc điều tra vừa phục vụ yêu cầu quản lý của cấp cơ sở vừa thoả mãn nhu cầu thông tin của các cấp lãnh đạo trên cấp cơ sở

Việc xác định mục đích điều tra có quan hệ đến việc xác định đối tượng điều tra, phạm vi điều tra; đơn vị và nội dung điều tra Đây là căn cứ quan trọng để xác định thành phần chỉ đạo cuộc điều tra và kinh phí cần thiết đáp ứng cho việc thực hiện nhiệm vụ Mục đích điều tra rõ ràng tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu đầy đủ, tránh lãng phí và đáp ứng tốt yêu cầu nghiên cứu Mục đích mỗi lần điều tra hoặc mỗi cuộc điều tra không nên quá nhiều khiến cho cuộc điều tra nặng nề

dễ dẫn tới tình trạng cung cấp thông tin thiếu cẩn trọng, chiếu lệ

Yêu cầu của bất kỳ cuộc điều tra nào cũng phải đảm bảo: Chính xác; đầy đủ; kịp thời Nếu cuộc điều tra đòi hỏi quá nhiều thông tin (đầy đủ) thì rất khó thực hiện được yêu cầu chính xác và kịp thời được

2.2.3.2 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra bao gồm các đơn vị tổng thể thuộc phạm vi điều tra Như vậy, đối tượng điều tra là toàn thể các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu (còn gọi

là đơn vị tổng thể) cần phải thu thập tài liệu Xác định đối tượng điều tra có nghĩa

là quy định rõ phạm vi của hiện tượng nghiên cứu, vạch rõ ranh giới giữa hiện tượng đó với các hiện tượng khác không thể nhầm lẫn khi thu thập tài liệu

Để xác định đúng đắn đối tượng điều tra, trước hết phải căn cứ vào mục đích điều tra, mặt khác còn phải xuất phát từ lý luận kinh tế - xã hội, làm rõ

Trang 34

những tiêu chuẩn phân biệt giữa hiện tượng nghiên cứu với hiện tượng khác có liên quan Chẳng hạn, khi nghiên cứu về tình trạng thiếu việc làm hay xác định

số người thất nghiệp cần xác định những đối tượng nào được tính vào là người thất nghiệp Không phải mọi người trong độ tuổi lao động mà họ không có công

ăn việc làm đều là người thất nghiệp

2.2.3.3 Đơn vị điều tra

Đơn vị điều tra là bộ phận nhỏ nhất cấu thành lên tổng thể, nơi phát sinh các tài liệu ban đầu cần thu thập trong điều tra thống kê Muốn xác định đơn vị điều tra phải căn cứ vào đối tượng điều tra, mục đích điều tra Đơn vị điều tra cần phân biệt có thể là một cá thể (người công nhân, một sản phẩm ) nhưng cũng có thể là một nhóm (tổ thợ, lớp học, lô sản phẩm) và phải phân biệt với đơn vị báo cáo Nếu điều tra toàn bộ đơn vị điều tra bao gồm tất cả các đơn vị trong tổng thể chung đó còn nếu điều tra không toàn bộ thì đơn vị điều tra là các đơn vị thuộc mẫu đại diện để thu thập thông tin

2.2.3.4 Nội dung điều tra và tiêu thức điều tra

Xác định nội dung điều tra là xác định cần thu thập những vấn đề gì của hiện tượng nghiên cứu Mỗi hiện tượng nghiên cứu bao gồm rất nhiều đơn vị cấu thành dù đó là tổng thể chung hay là tổng thể mẫu Mỗi đơn vị tổng thể lại

có rất nhiều đặc điểm (hay còn gọi là tiêu thức hay dấu hiệu) mà có thể mọi đơn

vị trong tổng thể đều có hoặc chỉ một bộ phận trong tổng thể có đặc điểm đó Chẳng hạn, khi nghiên cứu về tôn giáo mà người lao động trong doanh nghiệp thì có người theo đạo này có người theo đạo kia nhưng cũng có người thuộc loại

vô thần.Vì thế việc xác định nội dung điều tra là rất cần thiết để xác định các tiêu thức cần thu thập thông tin Việc xác định nội dung điều tra cần căn cứ vào các yếu tố sau:

- Phải xuất phát từ mục đích của cuộc điều tra:

Muốn xác định nội dung điều tra phải xuất phát từ mục đích điều tra Bởi vì mục đích của điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin gì, thông tin đó đáp

Trang 35

ứng cho cấp quản lý nào: Cấp cơ sở sản xuất kinh doanh hay cấp Tổng công ty; hay chỉ để lập báo cáo thống kê cho cơ quan thống kê chuyên môn…Những cấp quản lý khác nhau có nhu cầu về loại thông tin và mức độ chi tiết có thể khác nhau Chẳng hạn ở cấp cơ sở thường đòi hỏi thông tin tỷ mỷ, cả thông tin về hiện vật và giá trị Nhưng ở cấp Tổng công ty thường quan tâm nhiều hơn đến chỉ tiêu giá trị Mục đích điều tra càng nhiều thì nội dung điều tra càng rộng và phong phú

- Phải xuất phát từ đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu:

Hiện tượng kinh tế -xã hội mà chúng ta nghiên cứu đều gắn với điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Khi môi trường xung quanh của hiện tượng thay đổi (tức là điều kiện thời gian và không gian thay đổi thì nội dung của điều tra cũng phải thay đổi Chẳng hạn, trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá, khi thu thập thông tin về kết quả sản xuất người ta phải theo dõi rất tỷ mỷ lượng sản phẩm từng loại mà đơn vị đó sản xuất ra Mục đích của việc theo dõi này nhằm phục

vụ cho quản lý của cơ quan nhà nước cung cấp trở lại cho cơ sở lượng vật tư, tiền lương tương ứng Đồng thời nhà nước đưa lượng hàng đó vào phân phối Chính vì thế thống kê cần nắm chắc tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán buôn và lưu chuyển hàng hoá bán lẻ; tổng mức lưu chuyển hàng hoá nói chung, tổng mức lưu chuyển hàng hoá thuần tuý, số khâu lưu chuyển qua kho.Nhưng trong kinh tế thị trường người ta ít quan tâm hơn đến chỉ tiêu hiện vật mà để tâm nhiều đến chỉ tiêu giá trị Đồng thời hầu như không để ý đến chỉ tiêu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán buôn; tổng mức lưu chuyển hàng hoá nói chung, tổng mức lưu chuyển hàng hoá thuần tuý, số khâu lưu chuyển qua kho

- Phải xuất phát từ năng lực thực tế của cơ quan tổ chức điều tra:

Điều này có nghĩa là nội dung điều tra phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan của cơ quan tiến hành điều tra như:

+ Trình độ của cơ quan tổ chức điều tra và trình độ chuyên môn của phái viên điều tra:

Trang 36

Nếu tổ chức điều tra và phái viên điều tra có trình độ chuyên môn cao thì

số tiêu thức điều tra, nội dung điều tra được mở rộng Trường hợp ngược lại thì nội dung điều tra chỉ nên thu thập thông tin cần thiết giới hạn chứ không thể mở rộng nội dung thu thập thông tin được

+ Phụ thuộc vào khả năng tài chính:

Cha ông ta đã có câu: “Có bột mới gột nên hồ” được Nếu mở rộng nội dung điều tra cần có nhiều tiêu thức phải thu thập thông tin Một khi đã mở rộng nội dung điều tra tất yếu chi phí cho điều tra phải tốn kém hơn, chi phí về nhân công, về tài chính nhiều hơn

+ Phụ thuộc vào phương tiện đi lại, phương tiện thu thập, phương tiện truyền tin và tổng hợp thông tin.Trong điều kiện hiện nay khi mà thông tin liên lạc và tin học phát triển thì thông tin về kết quả điều tra và tổng hợp sẽ nhanh và chính xác hơn

Nhưng mặt khác cũng phải tuỳ theo khả năng thực tế bao gồm điều kiện chi phí, số người huy động, thời gian cho phép để quyết định nội dung điều tra

2.2.3.5 Thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra

2.2.3.5.1 Thời điểm điều tra

Trong phương án điều tra phải quy định rõ thời điểm điều tra Thời điểm điều tra là mốc thời gian quy định chung cho cuộc điều tra phải thu thập thông tin tại một thời gian quy định thống nhất tính đến mốc thời điểm đó Việc ghi chép tài liệu ban đầu của tất cả các đơn vị được điều tra quy định tính đến thời điểm điều tra cũng có nghĩa là xác định chỉ tiêu nghiên cứu ở vào trạng thái của hiện tượng vào lúc đó Ví dụ, trong cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở lấy thời điểm điều tra là 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 Điều đó có nghĩa là dân số và nhà ở được đăng ký tính tại thời điểm đó Mọi sự di biến động của hiện tượng nghiên cứu xẩy ra trước và sau mốc thời gian đó không cần quan tâm Chẳng hạn, gia đình ông A có bà mẹ già, lúc 0h2 phút ngày 1 tháng 4- 2009 qua đời Đến ngày 5-4-2009 phái viên điều tra đến thu thập thông tin thì vẫn tính bà mẹ

Trang 37

ông A là dân số của địa phương Gia đình anh B lúc 0 h 2 phút ngày 1 tháng 4-

2009 sinh thêm 1 cháu trai Đến ngày 5-4-2009 phái viên điều tra đến thu thập thông tin thì không tính cháu đó là dân số của địa phương

Nguyên tắc xác định thời điểm điều tra phải đảm bảo:

- Hiện tượng nghiên cứu ít di biến động;

- Điều kiện đi lại để thu thập thông tin thuận lợi Chẳng hạn với điều tra dân số và điều tra chăn nuôi vào thời điểm 1 tháng 4 chưa phải là mùa mưa đi lại thuận lợi

- Là thời điểm thu thập thông tin có nhiều thuận lợi Cũng 2 cuộc điều tra trên tiến hành vào 1 tháng 4 là lúc dân thường ở nhà vì lúc này là thời gian nông nhàn nên phái viên điều tra dễ tiếp cận đối tượng điều tra

- Ngành thống kê dễ huy động phái viên điều tra

2.2.3.5.2 Thời kỳ điều tra

Là độ dài thời gian để hiện tượng nghiên cứu đủ tích luỹ về mặt lượng mà

ta cần thu thập thông tin (ngày, tuần, 10 ngày, tháng, năm) Thời kỳ điều tra là khoảng thời gian được tính từ cuộc điều tra trước đến lần điều tra sau Nó là khoảng thời gian được quy định để thu thập tài liệu về những tiêu thức điều tra được tích luỹ của tất cả các đơn vị điều tra đã diễn ra trong cả thời kỳ đó Thời

kỳ điều tra quy định tuỳ theo đặc điểm của hiện tượng nhưng cũng phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Ví dụ, tổng điều tra chăn nuôi 1 tháng 10 hàng năm cần thu thập thông tin về lượng sản phẩm sản xuất được từ 1 tháng 10 năm trước đến 30-9 năm điều tra

2.2.3.5.2 Thời hạn điều tra

Là khoảng thời gian quy định để hoàn thành việc thu thập thông tin ban đầu

về hiện tượng nghiên cứu Tuỳ theo quy mô, tính chất phức tạp của mỗi cuộc điều tra và năng lực điều tra mà người ta quy định thời hạn điều tra khác nhau Chẳng hạn, với tổng điều tra dân số và nhà ở thường thời hạn điều tra là 20 ngày

Trang 38

không nên quá ngắn hoặc quá dài Nếu quá ngắn sẽ không đủ thời gian để thu thập thông tin làm cho phái viên điều tra nẩy sinh tư tưởng đối phó cho kịp thời hạn Ngược lại nếu quy định thời hạn điều tra quá dài so với thời điểm điều tra

sẽ dẫn tới tình trạng hồi tưởng lại thông tin dễ dẫn đến sai số trong điều tra

2.2.3.6 Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra thử

Để cuộc điều tra thu được kết quả tốt thì phải lập kế hoạch tiến hành điều tra thật chi tiết và cụ thể Công việc đó là những công việc chuẩn bị cho cuộc điều tra Nó bao gồm các công việc sau:

- Lập ban chỉ đạo cuộc điều tra;

- Chuẩn bị lực lượng tham gia điều tra;

- Tập huấn nghiệp vụ cho phái viên điều tra: Hướng dẫn cụ thể phương pháp thu thập thông tin; hiểu thống nhất nội dung, phạm vi thu thập thông tin và phương pháp tính của từng chỉ tiêu

- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết rõ

sự cần thiết, ý nghĩa, mục đích của cuộc điều tra và tạo điều kiện cho phái viên điều tra thực thi nhiệm vụ thuận lợi và mọi người cung cấp thông tin chuẩn xác

- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp;

- Định rõ các bước điều tra và thời hạn thực hiện nhiệm vụ của từng bước đó

- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra; vẽ sơ đồ, đánh số thứ tự của đối tượng điều tra Bước này nhằm hạn chế tình trạng bỏ sót hoặc trùng lặp khi xác định đối tượng và phạm vi thu thập thông tin cho từng phái viên điều tra

- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm trước khi triển khai đại trà Trong điều tra thử vừa hoàn thiện kiến thức cho phái viên điều tra vừa hoàn thiện nội dung của các tiêu thức điều tra, hoàn chỉnh phiếu điều tra

- Lập kế hoạch về tài chính, kế hoạch về các yếu tố vật chất kỹ thuật phục

vụ cho điều tra và tổng hợp thống kê

- Lựa chọn phương pháp tổng hợp tài liệu điều tra thích hợp

Trang 39

2.2.3.7 Tổ chức phúc tra tài liệu thống kê

Để kiểm chứng lại kết quả điều tra (đối với cuộc tổng điều tra) thường người ta phải tổ chức phúc tra lại Phúc tra thống kê là tiến hành một cuộc điều tra mẫu nhỏ để thu thập các thông tin mà cuộc điều tra chính thức đã thực hiện nhằm từ kết quả cuộc điều tra ở mẫu nhỏ này làm căn cứ để điều chỉnh kết quả cuộc tổng điều tra (nếu xét thấy cần thiết) Do điều tra ở mẫu nhỏ sẽ tập trung được lực lượng điều tra có chất lượng nên thông tin thu được đảm bảo độ chuẩn xác cao hơn

2.2.4 Xây dựng phiếu điều tra

Phiếu điều tra (còn gọi là bảng hỏi) là một hệ thống các tiêu thức thống kê được thiết kế theo dạng tiêu thức thống kê hoặc dạng câu hỏi để thu thập các thông tin ban đầu về hiện tượng nghiên cứu Các tiêu thức hoặc câu hỏi được sắp xếp một cách khoa học, logic nhằm đảm bảo cho việc thu thập thông tin ít bị sai sót; đảm bảo độ chính xác cao; thuận lợi cho người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin

2.2.4.1 Nguyên tắc xây dựng phiếu điều tra (bảng hỏi)

Chất lượng thông tin thu nhận được phụ thuộc rất nhiều vào mức độ khó

dễ của tiêu thức được khảo sát Khó hay dễ ở đây là khả năng có sẵn thông tin hoặc khả năng hồi tưởng thông tin của đại đa số đối tượng điều tra và độ nhạy cảm của thông tin cần thu thập

Phiếu điều tra phải thiết kế gọn, câu hỏi rõ ràng tạo được sự gợi nhớ cho đối tượng điều tra Các nội dung thông tin cần thu thập phải đặt thành các câu hỏi đơn giản để cho cả hai phía dễ nhập cuộc, tạo cơ hội để cho người thu thập thông tin và người cung cấp thông tin dễ hiểu và hiểu theo một nghĩa duy nhất, không nên hỏi các vấn đề trừu tượng, hoặc trả lời thế nào cũng được

2.2.4.2 Các loại câu hỏi trong bảng hỏi

Trang 40

Trong phiếu điều tra có những câu hỏi chung cho cả địa bàn điều tra (cho tất cả các đối tượng điều tra) như: Địa điểm điều tra (thôn; xã; huyện; tỉnh) và câu hỏi cụ thể cho đổi tượng điều tra Xét theo tính chất của thông tin thu thập chia làm 2 loại câu hỏi:

2.2.4.2.1 Câu hỏi định tính

Loại câu hỏi này rất đa dạng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn câu hỏi định tính khác nhau Ví dụ để nghiên cứu tình hình sử dụng lao động; năng suất lao động và thu nhập của lao động thì giới tính có ảnh hưởng tương đối nhiều, do đó câu hỏi định tính đó là “Giới tính” ảnh hưởng đến năng suất lao động:

a) Rất nhiều

b) Nhiều

c) Không đáng kể

2.2.4.2.2 Câu hỏi định lượng

Câu hỏi định lượng được người cung cấp thông tin lượng hoá bằng con số

cụ thể Vì thế tuỳ theo nội dung cụ thể mà có cách lập bảng hỏi một cách khoa học nhằm đảm bảo độ chính xác của thông tin thu thập được

Thông tin thu thập được trên cơ sở cân, đong, đo đếm cụ thể để ghi chép hoặc thông qua tổng hợp từ số sách

Trường hợp này để tránh bỏ sót nội dung điều tra thì các câu hỏi được xây dựng theo trình tự công việc tiến hành

2.2.5 Sai số trong điều tra thống kê

Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa giá trị thực của hiện tượng nghiên cứu so với trị số của nó do điều tra thống kê thu thập được Chính sai số của điều tra thống kê làm giảm mất tính chính xác của thông tin thống kê Điều này ảnh hưởng đến chất lượng của tổng hợp và phân tích thống kê Nguyên nhân

Ngày đăng: 13/07/2023, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dr.Pr.Vincent Giard: Thống kê ứng dụng trong quản lý (bản tiếng Việt của trung tâm Pháp – Việt đào tạo về quản lý), NXB Thống kê, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ứng dụng trong quản lý (bản tiếng Việt của trung tâm Pháp – Việt đào tạo về quản lý)
Tác giả: Dr.Pr.Vincent Giard
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
3. GS.TSKH. Từ Điển – GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm, Giáo trình Thống kê doanh nghiệp, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thống kê doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
Năm: 2009
4. GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm – PGS.TS. Nguyễn Công Nhự, Giáo trình Lý thuyết Thống kê, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Thống kê
Tác giả: GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm, PGS.TS. Nguyễn Công Nhự
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm – PGS.TS. Nguyễn Công Nhự, Giáo trình Thống kê kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thống kê kinh doanh
Tác giả: GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm, PGS.TS. Nguyễn Công Nhự
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
6. PGS.TS. Trần Ngọc Phác – PGS.TS. Trần Thị Kim Thu, Giáo trình Lý thuyết Thống kê, NXB Thống kê, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Thống kê
Tác giả: PGS.TS. Trần Ngọc Phác, PGS.TS. Trần Thị Kim Thu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm