1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Người lái đò sông Đà

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người lái đò sông Đà
Tác giả
Người hướng dẫn
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 191,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân”. Không chỉ đẹp ở dáng hình mà còn đẹp ở màu nước: mùa xuân dòng xanh ngọc bích, thu sang nước sông chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa. Bờ bãi sông Đà thì mênh mang, trải dài “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”. So sánh vô cùng gợi cảm khi miêu tả dòng sông “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

Trang 1

SÔNG ĐÀ TRỮ TÌNH

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của Sông Đà, từ đó nêu một vài nhận xét về cái tôi của Nguyễn Tuân được thể hiện trong đoạn trích sau:

“Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính

là cái con sông hàng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông của đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh “Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen” Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc mà ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi

ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh cánh hến của Sông Gâm , Sông

Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm

đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ

Con Sông Đà gợi cảm Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách

Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông

Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người

Trang 2

cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế

mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trên một mũi đỏ Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của một con vật lành: “Hỡi ông khách Sông

Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng

cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên

“Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con

đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”

(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD 2012)

Trang 3

PHÂN TÍCH CHI TIẾT

1 Mở bài

“Nhà văn là thứ côn trùng lấy cái râu mà thăm dò không khí của thời đại Nhưng nhà văn muốn mang tầm cỡ thời đại thì phải ngụp sâu vào dân tộc mình, nhân dân mình’’(Nguyễn Minh Châu) và Nguyễn Tuân là nhà văn như vậy Chính cái sự “ngụp lặn ấy’’ đã giúp nhà văn ghi dấu ấn rõ nét trên thi đàn văn học Việt Nam Hơn hết, Nguyễn Tuân là một nhà duy mỹ , người suốt đời đi tìm cái đẹp Nhà văn đã khám phá ra cái đẹp ấy qua bức tranh thiên nhiên hùng

vĩ và tráng lệ của con sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà, sông Đà còn là biểu tượng cho con người và thiên nhiên Tây Bắc Nhà văn Nguyễn Tuân đã say mê với nét đẹp đầy thơ mộng trữ tình của dòng sông này được thể hiện rõ nhất thông qua đoạn trích: “ Từ trên tàu bay mà nhìn xuống sông Đà… khác hẳn những con đò đuôi

én thắt mình dây cổ điển trên sông” Đồng thời đoạn trích làm nổi bật cái tôi cá tính độc đáo của nhà văn đầy tài hoa này

2 Giới thiệu tác giả - tác phẩm

Người yêu văn chương hẳn đã không còn xa lạ với tên tuổi Nguyễn Tuân - một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu coi Nguyễn Tuân

‘cái định nghĩa rất chuẩn về về người nghệ sĩ chân chính’ Bởi lẽ, trong từng con chữ của mình đậm chất phong cách tài hoa, uyên bác gắn liền với chữ “ngông” hiếm nhà văn nào có được Hiển nhiên Nguyễn Tuân không chấp nhận những thứ tầm thường nhạt nhẽo và con sông đà độc đáo với hai tính cách nổi bật vừa hung bạo vừa trữ tình đã trở thành đối tượng khai thác của nhà văn Áng văn “Người lái đò sông Đà” là kết tinh chuyến đi thức tế của nhà văn đến mảnh đất Tây Bắc hoang sơ, nên thơ được in trong tập tuỳ bút “sông Đà” Tác phẩm đã cho người đọc biết tới diện mạo độc đáo của con sông quê hương qua lăng kính của “nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp” - một công trình nghệ thuật tuyệt vĩ tạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống

Trang 4

3 Khái quát về Sông Đà

Đến với mảnh đất văn chương và tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Tuân, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng có quan niệm rằng: “Mỗi khi cầm bút dường như lại đặt minh trong yêu cầu phải chứng tỏ được cải tài hoa, uyên bác hơn đời của mình Ông có thói quen nhìn sự vật ở mặt mĩ thuật của nỏ, cổ tim cho ra ở đấy những gì nên họa, nên thơ Đồng thời mỗi đối tượng quan sát của ông là một đối tượng khảo sát đến kì cùng" Vì vậy, nếu như ở đoạn văn miêu tả sự hung bạo, dữ dội của sông Đà nhà văn đã sử dụng rất nhiều kiến thức về quân sự, võ thuật, hay nhiều động từ mạnh thì ở đoạn văn miêu tả

vẻ đẹp trữ tỉnh của con sông, ông hoàn toàn sử dụng con mắt tinh tế

để quan sát cùng ngôi bút lãng mạn để vẽ lại con sông thơ mộng, nhẹ nhàng Sông Đà tạo thành chất men say cho cuộc sống của con người Tây Bắc Từ nhiều góc nhìn khác nhau, Nguyễn Tuân đã có những phát hiện mới mẻ về vẻ thi vị, yên ả của con sông này Qua bao thác ghềnh, con sông trở nên hiền hòa, mềm mại, uyển chuyển hơn bao giờ hết

4 Gợi ý cảm nhận về vẻ đẹp sông Đà trong đoạn trích

* Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông giống

như “cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình”, đặc biệt là giống như mái tóc của người thiếu nữ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”

- Dòng sông mang vẻ đẹp của một áng tóc trữ tình mềm mại, tha thướt và duyên dáng

- Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng điểm tô thêm cho nhan sắc mĩ miều

Hành văn:

Gợi ý 1: Belinsky từng phân biệt: “Nhà triết học nói bằng phép tam

đoạn luận, nhà văn nói bằng các hình tượng và bức tranh” Bức tranh mà Nguyễn Tuân vẽ lên từ hai màu sắc đặc biệt không thể trộn lẫn: hình tượng con sông Đà và người lái đò trên dòng sông, trong đó con sông Đà để lại ấn tượng cho nhà văn hơn cả ở tính trữ tình thơ mộng Lấy máy quay phóng ống kính ra xa, nhà văn không khỏi bất ngờ trước hình dáng con sông Đà, trước tiên niềm ngạc nhiên kinh ngạc ấy là vì con sông Đà như sợi dây thừng ngoằn

Trang 5

ngoèo khác xa con sông dữ dằn thâm hiểm, con sông đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng dữ dội

vô tội vạ với người lái đò sông Đà Con sông còn được ghi dấu bởi đồng dao thần thoại theo truyền thuyết Sơn Tinh Thủy tinh, phải chăng như dân gian lưu truyền, cuộc chiến giành vợ của hai vị vua miền biển và miền núi này dẫn đến một phiên bản sông Đà độc dữ cho đến nay Tính trữ tình thơ mộng của dòng sông nổi bật hơn cả trong câu: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân’’, Nguyễn Tuân

đã sử dụng biện pháp so sánh áng tóc trữ tình kết hợp cùng cách điệp từ tuôn dài tuôn dài khiến cho câu văn thêm mềm mại nhẹ nhàng và hiền hòa Khi so sánh sông Đà với áng tóc trữ tình, người đọc đã mường tượng ngay trong đầu một cô thiếu nữ thướt tha với mái tóc dài mượt làm say đắm lòng người, từ ngữ áng tóc hết sức độc đáo là một lối so sánh cách tân sáng tạo chỉ có ở nhà văn họ Nguyễn Thông thường ta hay gặp áng văn chương hay áng thơ ca còn ở Nguyễn Tuân ông chỉ đích danh đó phải là áng tóc, nhưng cũng vì vậy câu văn càng thêm sức gợi hình, gợi cảm Đã từng có một nhân vật trong thơ ca trung đại Việt Nam có lối so sánh đầy mới

lạ này, ta đã bắt gặp thấy sự quen thuộc của hình ảnh áng tóc xuất hiện trong Dục Thúy Sơn của Nguyễn Trãi:

"Tháp ảnh trâm thanh ngọc,

Ba quang kính thúy hoàn ” (Bóng tháp hình trâm ngọc, Gương sông ánh tóc huyền)

Cả hai người nghệ sĩ đều lấy hình ảnh áng tóc là cảm hứng để gán đến sự vật mà mình miêu tả nhưng suy cho cùng áng tóc hiện lên trong Dục Thúy Sơn vẫn có vẻ đẹp riêng khác sông Đà với với áng tóc tuôn dài tuôn dài trong câu văn Nguyễn Tuân Tuy vậy họ vẫn có một điểm chung đầy thú vị cả hai ngòi bút đều hướng đến hình ảnh ẩn dụ một cô gái mang vẻ đẹp thướt tha dịu dàng nhẹ nhàng và hết mực e lệ Nguyễn Tuân thông qua đó cũng gửi vào Tây Bắc một tình yêu với thiên nhiên, con người và rộng ra là một tình cảm thiêng liêng với tổ quốc

Trang 6

Gợi ý 2: Khi xuống được hạ lưu, vẻ đẹp của con sông Đà đã thay đổi

một cách táo bạo Giờ đây con sông không còn những “luồng chết” hay những “cửa tử” đánh lừa con thuyền, không còn dáng vẻ đanh thép, hiểm nguy nữa Thay vào đó, Nguyễn Tuân đã lại một lần nữa

“mắt thấy tai nghe” những sự vật, sự việc nằm quanh Đà giang mà ở

đó toát lên một vẻ đẹp thơ mộng và đầy trữ tình Thật may mắn khi chính nhà văn đã không chỉ khám phá miền đất Tây Bắc bụi rậm hoang sơ mà có riêng cho mình một trải nghiệm, một góc nhìn thoáng đãng từ trên “tàu bay” xuống mặt đất Với chính trải nghiệm

và góc nhìn lạ ấy chắc chắn tác phẩm càng có sức hấp dẫn hơn với người đọc Trước mắt tác giả, Đà Giang hiện lên với một hình dáng dài và được sử dụng biện pháp so sánh làm sinh động hóa nên vẻ đẹp dài ấy đẹp “như một áng tóc trữ tình” Chính phép so sánh độc đáo ấy đã cho người đọc có sự liên tưởng thú vị tới người thiếu nữ Tây Bắc kiều diễm ẩn khuôn mặt mình trong làn mây mờ ảo Chưa dừng lại ở đó, với cái nhìn tinh tế của một cây bút tài ba, những bông ban hoa gạo trắng xóa nở rộ làm điểm sáng cho bức tranh được ví như như chiếc cặp tóc có họa tiết bông hoa nhí trắng trẻo cài lên trên áng tóc của thiếu nữ Tây Bắc Với điểm nhấn độc đáo nhưng không kém phần gợi cảm ấy, người đọc còn cảm nhận được hình ảnh ấy giống với câu thơ “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” của Đại thi hào Nguyễn Du Độc giả đều cảm nhận được rất rõ trên cả hai nền tranh thiên nhiên mát mẻ

ấy đều được “điểm” lên một vài bông hoa trắng tươi ngát, càng gợi cho bức tranh ấy trở nên thơ mộng, tinh khôi hơn đáng kể Nhưng

có thể trong chính cái nhìn say mê đắm đuối cái đẹp ấy, Đà giang hiện lên như một người bạn “cố nhân”, như một người bạn tri kỉ bởi

sự mềm mại, dẫu khác biệt nhưng vẫn thân thương, say đắm sự đa dạng, đa vẻ của sông Đà Có thể nói đây chính là điểm khác biệt lớn nhất so với con sông, suối thác dữ dội ở thượng lưu – một sự chuyển mình của Đà Giang mà “không ai nghĩ tới” Thậm chí, hình ảnh sông Đà ở nguồn còn được gắn với câu đồng dao thần thoại

“Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”

để chỉ sự hung ác của con sông ở thượng nguồn Không chỉ vậy, sự hung ác còn được gắn với liên tưởng độc đáo của Nguyễn Tuân chính là “đòi nợ suýt” Chính sự đối lập và khác biệt ấy tạo sự bất ngờ và mang đến cho người đọc xúc cảm cũng như hình dung mới

mẻ thú vị về sông Đà

Trang 7

* Màu nước sông Đà: Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác

nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của dòng sông Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa có vẻ đẹp riêng trong cách so sánh rất cụ thể:

- Mùa xuân, nước Sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh

- Mùa thu, nước Sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”

- Đặc biệt, nhà văn khẳng định chưa bao giờ con sông có màu đen như thực dân Pháp đã “đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào”, và gọi bằng cái tên lếu láo Sông Đen

Hành văn: Helen Keller từng tâm niệm: “Cuộc sống là cuộc phiêu

lưu đầy táo bạo hoặc không có gì cả” Quả thật đúng là như vậy ! Hành trình khám phá và cảm nhận miền Tây Bắc của Nguyễn Tuân vẫn chưa dừng lại ở việc đơn thuần là ngắm cảnh mà ông còn thấm thía, nếm mùi vị của từng nét đẹp con sông Đà Phải công nhận rằng một điều, việc nhà văn tiếp tục “ngục sâu” xuống cảm nhận vẻ đẹp trữ tình qua màu nước của mặt sông quả thật đúng là một sự phát hiện vô cùng tinh tế và đắt giá Nguyễn Tuân đã vận dụng trí đồng thời có sự quan sát tài tình của mình để phác họa lại màu nước bằng phép so sánh độc nhất của chính mình Từ màu “xanh ngọc bích” cho đến màu đỏ “lừ lừ”, “như da mặt của một người bầm đi rượu bữa”, tất cả các phép so sánh ấy đều khiến người đọc thích thú bởi

sự miêu tả đầy chân thực đến khó tin của Nguyễn Tuân đã được ông

cụ thể hóa qua các sự vật, hiện tượng vô cùng gần gũi với đời sống quanh ta Và ta có thể khẳng định rằng những ngôn từ, những hình ảnh đậm chất thi vị ấy đúng là làm nên “bụi vàng của tác phẩm” (Paustovsky) Không chỉ vậy, màu sắc của bức tranh Đà giang được tác giả khắc họa lên “nhìn miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng

ba Đường thi” và chính hình ảnh tươi sáng, trong trẻo ấy khác hoàn toàn với định kiến của bọn thực dân Pháp về một Đà giang “đen” đuốc, lấm bẩn, “một dòng sông đổ ra mực” Những gam màu sắc thực tế đầy rực rỡ như một lời khẳng định chắc nịch, như một lời bác bỏ mạnh mẽ và phá tan những lời xuyên tạc của giặc ngoại xâm Với niềm yêu thiên nhiên mãnh liệt hòa với sự tự hào về một Việt Nam hùng vĩ, Nguyên Tuân đã không ngần ngại, thẳng thừng lên án bọn Pháp là “láo lếu” Chính những nét vẽ phác họa nên Đà giang

Trang 8

cùng với lời lẽ đanh thép với kẻ phá hoại quê hương mình, tất cả những giá trị ấy đã nói lên tình cảm sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Tuân đối với miền Tây Bắc nói chung và thiên nhiên đất mẹ nói riêng Nhà văn khéo léo khi so sánh dòng sông với con người, khéo léo trao thần sắc, tâm trạng của con người vào dòng sông vô tri, vô giác Ta cũng bắt gặp vẻ đẹp màu mỡ ấy trong “Nhớ sông Đà (Quang Lâm):

“Đẹp ngàn đời biển trời sông bát ngát

Cá dầm xanh, anh vũ nhảy theo mùa Khi mùa lũ thác reo gầm dữ dội

Thu chớm lạnh sóng nước lặng lờ trôi”

Vẻ đẹp ấy sẽ luôn nằm ở đó, sẽ vẫn còn qua từng bờ dâu, bãi mía như qua từng ngóc ngách của dải đất này để làm trù phú thêm

vẻ đẹp của tổ quốc mà tạo hóa đã ban tặng cho con người Việt Nam

* Bờ bãi sông Đà: Góc nhìn từ bờ bãi sông Đà, dòng sông mang vẻ

đẹp của một “cố nhân”

- Vẻ đẹp của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò chơi của con trẻ

“trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”, đẹp một cách hồn nhiên và trong sáng

- Vẻ đẹp của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Xuôi thuyền về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói)

- Vẻ đẹp của bờ bãi sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên trong khu vườn cổ tích “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”

khi gặp lại sau một thời gian “ở rừng đi núi đã hơi lâu”

Gợi ý 1: Sau khi khắc họa vẻ đẹp Sông Đà từ góc độ trên cao, nhà

văn tiếp tục dẫn dắt người đọc đến với dòng sông từ một góc độ khác: đứng trên bờ mà nhìn ngắm dòng sông Từ góc độ này, Sông

Đà bỗng hiện lên như một cố nhân Cố nhân là một từ gốc Hán, vốn dùng khi nói đến bạn cũ, người xưa giờ đã xa cách Trong thơ ca xưa, không ít lần hai tiếng “cố nhân” vang lên khắc khoải:

“Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu Tây xuất Dương Quan vô cố nhân”

( “Vị Thành khúc” – Vương Duy )

Trang 9

Trong thơ ca cổ là thế, còn trong bài bút kí hiện đại này, Nguyễn Tuân cũng dùng chữ “cố nhân” khi nói về con Sông Đà, tác giả không chỉ dừng lại trên bề mặt để ghi lại cái chất thơ của dòng sông để đi sâu vào tâm hồn để nhận thấy chất trữ tình trong tính cách, trong quan hệ của dòng sông và con người Bởi vậy, khi phải

xa cách dòng sông, Nguyễn Tuân nhớ dòng sông như nhớ da diết một người bạn tri kỉ.Lúc đầu, đó mới chỉ là cảm giác “thấy thèm chỗ thoáng” của nhà văn khi “ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu”, thậm chí

“quên mất là mình sắp đổ ra Sông Đà” Thế rồi, con sông mà cụ Nguyễn mong đợi như “cố nhân” ấy cũng đã hiện ra, với một miếng sáng loang loáng mà “lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi” Chao ôi, sau bao ngày sống nơi rừng núi rậm rạp, khuất bóng mặt trời, giờ đây gặp cái nắng Đường thi vàng hoe, ấm áp, khỏi phải nói Nguyễn Tuân đã sung sướng đến nhường nào Cái vui như tràn ra trên bề mặt câu chữ: “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà” Câu văn mang một trật tự cú pháp rất đặc biệt, chỉ đơn thuần là những cụm từ đặt cạch nhau, nhưng sức gợi hình, gợi cảm lại vô cùng lớn Thậm chí niềm vui ấy lớn đến độ khiến nhà văn phải hạ bút viết nên một phép so sánh có một không hai: “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” Từng từ, từng chữ trong câu văn đều được sử dụng vô cùng chuẩn xác, cơ hồ không thể thay thế được Bàn về lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ ngôn từ, nhà văn Tô Hoài từng tâm niệm: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, phải là hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có” Và điều đó quả thực đúng với Nguyễn Tuân, khi mỗi chữ của ông quả là “hạt ngọc” mà ông đã lục tìm trong cái kho cảm xúc, liên tưởng phong phú, độc đáo của mình Hẳn rằng, cái vui như thấy “nắng giòn tan”, như “nối lại chiêm bao đứt quãng ấy” sẽ còn khiến độc giả nhớ mãi Nối tiếp niềm vui ấy, nhà văn viết: “Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân” Thử hỏi, nếu không yêu, không quý, không nhớ dòng Đà giang thì làm sao có được cái cảm giác “đằm đằm ấm ấm” thân thương ấy ? Kể cả khi cố nhân có “lắm bệnh lắm chứng”, “chốc lại bẳn tính và gắt gỏng ngay đấy” thì cũng làm sao ngăn được niềm vui của nhà văn Bởi lẽ, có còn gì đẹp hơn, hạnh phúc hơn khi được gặp lại cố nhân trong cái nắng Đường thi

mơ mộng như tự thuở xa xưa nào

Trang 10

Gợi ý 2: Nguyễn Tuân lại một lần nữa cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng

của sông Đà ở trong một hoàn cảnh đặc biệt, ông xem dòng sông như một vị “cố nhân” Nhà văn kể lại nỗi thèm thuồng khoảng không gian thoáng đãng trên sông Đà khi ông lạc vào rừng sâu Tây Bắc Nguyễn Tuân không chỉ xem con sông như một con người mà còn là một người tri âm tri kỉ, một người đồng điệu về tâm hồn nghệ

sĩ Cảm xúc của người lâu ngày gặp lại sông Đà “vui như thấy giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” Làm sao không yêu cho được lỗi viết thi vị hóa của “phù thủy văn chương”,

sự nhân hóa đó làm con sông gần gũi hơn bao giờ hết Như Tản Đà từng viết:

“Dải sông Đà bọt nước lênh đênh Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”

Nguyễn Tuân am hiểu dòng sông “chốc dịu dàng đấy rồi chốc lại bẳn tính” nhưng khi gặp lại “cố nhân” thì lại trào dâng một cảm xúc “đằm đằm, thắm thắm” trong lòng mỗi người Để rồi khi đổi điểm nhìn thì trước mắt nhà văn, cảnh vật ven sông “lặng tờ” Dường như nhà văn đang sống ở một thời đại nào đó xa xôi lắm, xưa

cổ lắm, không có tiếng âm thanh của cộ xe, của thành phố náo nhiệt Hai bên bờ sông, cảnh vật yên ả, thanh bình, tràn trề nhựa sống như đang bắt đầu vào mùa sinh sôi nảy lộc Trên đồi, cỏ gianh xanh mơn mởn đang phun trào những lộc búp: “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp” Có một đàn hươu thơ ngộ đang “cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Ôi khung cảnh an yên quá đỗi! Ngay cả cử chỉ cúi đầu nhai cỏ của đàn hươu cũng thật nhẹ nhàng, trầm lắng Chưa dừng lại ở đó, nhà văn còn miêu tả sự hoang sơ, cổ kính của quãng sông này Bờ sông Đà nguyên sơ như chưa có đôi bàn tay nào đến đây khai phá, để rồi: “Bờ sông hoang dại như một

bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Đúng rồi, đây là một bờ sông trong câu chuyện cổ tích năm nào ta nghe kể Tĩnh vắng như vậy, hoang sơ như vậy thì còn gì mà không phải nữa chứ? Đoạn văn miêu tả cảnh hai bên bờ sông Đà có lẽ là đoạn văn mượt mà, ngọt ngào và thơ mộng nhất trong tác phẩm Câu văn mang dáng dấp mềm mại, êm trôi, không khí mơ màng khiến người đọc đắm say ngây ngất

Ngày đăng: 04/07/2023, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w