1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 10 năm 2008

75 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh
Tác giả Bùi Thị Na Nam, Trần Thanh Hương, Võ Thị Hương Giang
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã Hội và Nhân Văn
Thể loại Công trình nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHIẾU ĐĂNG KÍ THAM DỰ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA Với đề tài “Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của Sinh Viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh”- Đâ

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU : XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THUỘC NHÓM NGÀNH : KHOA HỌC XÃ HỘI

Mã số công trình:

Trang 2

PHIẾU ĐĂNG KÍ THAM DỰ

GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA

Với đề tài “Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của Sinh Viên

Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh”- Đây là đề tài khá mới

mẻ tìm hiểu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên trong quá trình tham gia giao thông nhất là vấn đề đội mũ bảo hiểm khi

đi môtô xe gắn máy trước và sau khi có nghị định 32/2007/NQ - CP Với đề tài này chúng tôi đi tìm hiểu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên liệu sinh viên có chấp hành tốt các qui định trong luật giao thông đường bộ chưa? Từ những tư liêu, số liệu thu thập được chúng tôi thu được những kết quả cho đề tài để từ đó đưa ra những nhận xét và những giải pháp để khắc phục những vấn đề còn tồn tại

4 Tác giả/ nhóm tác giả (không quá 3 người) dự thi:

Trang 3

Họ tên: Trần Thanh Hương

Khoa/trường: : Xã Hội Học – Trường ĐHKHXH & NV

TM.Ban tố chức Eureka cấp trường: Tác giả (nhóm trưởng) ký tên:

(ký tên, đóng dấu)

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa hiện thực 4

6 Kết cấu đề tài 4

7 Tiến độ thực hiện 5

8 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài 5

Chương 1: Cơ sở lý luận 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cách tiếp cận đề tài 10

1.3 Già thuyết nghiên cứu 11

1.4 Mô hình khung phân tích 12

1.5 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài 12

1.6 Thao tác hóa các khái niệm 16

Chương II : Kết quả nghiên cứu 20

2.1 Thực trạng về ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 20

2.2 Nguyên nhân dẫn đến ý thức đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy 37 2.3 Các yếu tố tác động đến ý thức chấp hành luật GTĐB trên tất cả các tuyến đường khi tham gia giao thông của sinh viên ĐHQG TP.HCM 38

2.4 Hệ thống kiểm soát xã hội tác động đến ý thức đội mũ bảo hiểm của sinh viên ĐHQG TP.HCM 56

Kết luận và kiến nghị 66

I Kết luận 66

II Kiến nghị 67

Danh mục tài liệu tham khảo 70

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Tính cấp thiết của đề tài :

Tai nạn giao thông (TNGT) không chỉ là vấn nạn của Việt Nam mà nó trở thành thảm họa toàn cầu Mỗi năm trên thế giới có 1,2 triệu người chết và 50 triệu người bị thương tật do TNGT gây ra Ơ Việt Nam là 4 triệu người trong đó có 70.000 trường hợp tử vong, số người tử vong do TNGT tăng gấp 5 lần so với 10 năm trước Theo tính toán ngân hàng phát triển Á Châu (ACB) số người thiệt hại

vì TNGT trong cả nước là 900 triệu USD/ năm Đây thực sự là con số báo động và cần phải được quan tâm nghiên cứu để giảm và hạn chế tình hình vi phạm giao thông ở nước ta

Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước, là nơi tập trung nhiều các khu công nghiệp, các trường đại học Chính là nơi tập trung đông khu dân cư nên lưu lượng người tham gia giao thông trên địa bàn thành phố rất lớn Trong khi đó đường sá và các cơ sở hạ tầng đang trong tình trạng xuống cấp Đó là một trong những nguyên nhân gây ra các tình trạng như ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông – vấn đề các ngành, các cấp của thành phố cũng như các phương tiện truyền thông quan tâm

Theo TS Võ Văn Nho – Trưởng khoa ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết: mỗi năm Bệnh viện cấp cứu hơn 30.000 ca chấn thương sọ não do phải điều trị nội trú, có nguy cơ tử vong cao nhưng cho dù có cứu được cũng để lại di chứng bệnh tật nặng nề như chấn thương sọ não, mất ngôn ngữ, sống đời sống thực vật; số ca chấn thương sọ não bình quân tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong những năm gần đây là 14.000 -16.000 ca/năm, 50 người chết và bị thương/ngày do TNGT là con số bình quân tính vài tháng đầu năm 2007 tại TP HCM, đưa thành phố lọt vào tốp 17 tỉnh có số người chết vì TNGT cao nhất cả nước

Những con số chấn thương sọ não do TNGT không phải là nhỏ, còn để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội Qua đó cho ta thấy ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ (GTĐB) của người dân đặc biệt là sinh viên (SV), còn thể hiện

Trang 6

nhận thức về tầm quan trọng của việc đội mũ bảo hiểm (ĐMBH) đối với tính mạng

và sức khỏe của chính mình

Sinh viên là lực lượng tham gia giao thông đông đảo và thường xuyên nhất

Vì thế, nghiên cứu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ mà cụ thể là ĐMBH khi đi xe mô tô, xe gắn máy giúp SV có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn để từ đó định hướng hành vi khi tham gia giao thông

2 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, hành vi nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu : Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ (GTĐB) của sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh (SV ĐHQG

TP HCM) nhất là ý thức ĐMBH khi đi xe mô tô, xe gắn máy của SV ĐHQG TP HCM

mô tô, xe gắn máy thông qua việc thu thập ý kiến SV các trường

3 Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu :

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 7

- Tìm hiểu ý thức chấp hành việc ĐMBH của SV ĐHQG TP HCM khi tham gia giao thông (TGGT)

- Đưa ra cái nhìn khách quan về việc chấp hành ĐMBH của SV ĐHQG TP HCM

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài

- Đi tìm hiểu thực tế việc chấp hành ĐMBH của SV ĐHQG TP HCM trước

và sau khi có quy định về việc bắt buộc ĐMBH trên tất cả các tuyến đường khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy ( 15/12/2007 )

- Đưa ra các biện pháp và kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu :

Để đáp ứng yêu cầu đặt ra từ đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã áp dụng các phương pháp thu thập thông tin sau :

 Phương pháp định lượng :

+ Phỏng vấn 176 bảng hỏi dưới dạng khảo sát để thu thập từ đối tượng nghiên cứu

về thông tin cá nhân và khai thác nội dung xoay quanh ý thức ĐMBH của SV khi

đi xe mô tô, xe gắn máy

+ Xử lý bằng phần mềm SPSS

+ Mô tả mẫu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu của chúng tôi là cuộc nghiên cứu Xã Hội Học thực nghiệm mang tính chất tìm hiểu và thu thập ý kiến và khai thác đối tượng khảo sát là SV ba trường ĐH KHXH & NV, ĐH KHTN, ĐH Bách Khoa thuộc ĐHQG TP HCM Ở mỗi trường chúng tôi chọn mẫu là SV năm 3, năm 4, người được hỏi là SV thường xuyên đi học bằng xe máy và không đi bằng xe máy + Về phiếu điều tra cả 3 trường gồm 180 phiếu mỗi trường có 60 phiếu trong đó:

ĐH KHXH & NV: 20 nam và 40 nữ

ĐH Khoa Học Tự Nhiên : 30 nam và 30 nữ

ĐH Bách Khoa : 40 nam và 20 nữ Tổng số phiếu thu được đầy đủ thông tin là 176 phiếu

 Phương pháp định tính:

Trang 8

+ Phương pháp phân tích các tài liệu sẵn có: thu thập thông tin trên cở sở các tài liệu thu được qua báo chí, internet, các báo cáo, số liệu thống kê do các cơ quan có liên quan cấp kết hợp tham khảo một số công trình có liên quan đến đề tài

+ Phỏng vấn sâu mỗi trường 4 SV (1 sinh viên Nam năm 3, 1 sinh viên Nữ năm 3;

1 sinh viên Nam 4, 1 sinh viên Nữ năm 4) tại các địa điểm thực địa

+ Phương php quan sát : Quan sát việc chấp hnh luật GTĐB của SV 3 trường khi

đi xe mô tô, xe gắn máy đến trường và về nhà, thu lại hình ảnh về ý thức khi TGGT từ đó có cái nhìn thực tế hơn về vấn đề nghiên cứu

 Phương pháp xử lý thông tin:

+ Từ những thông tin tư liệu thu thập được chúng tôi tiến hành tổng quan tư liệu theo các chủ đề qua đó có những nhìn nhận và đánh giá ý thức ĐMBH của SV ĐHQG TP HCM khi đi xe mô tô, xe gắn máy

+ Các thông tin thu được từ bảng hỏi anket sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS Quá trình xử lý cho ta số liệu cần thiết để phân tích

+ Các cuộc phỏng vấn sâu được gỡ băng và ghi chép lại đầy đủ

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực hiện :

5.1 Ý nghĩa lý luận:

- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp điều tra Xã Hội Học nhằm tìm hiểu ý thức TGGT của SV ĐHQG TP HCM khi đi xe mô tô, xe gắn máy Qua đó chúng tôi – nhóm SV thực hiện đề tài tìm hiểu và áp dụng thực tế những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về Xã Hội Học

5.2 Ý nghĩa thực tiễn :

- Thấy được ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô xe máy của

SV ĐHQG TP HCM

- Giúp SV ý thức được tầm quan trọng của việc chấp hành luật GTĐB

- Đưa ra các giải php giải quyết vấn đề cịn tồn tại trong ý thức chấp hnh luật giao thông đường bộ của sinh viên ĐHQG TP.HCM

- Đề tài này có ý nghĩa tham khảo đối với các cơ quan tổ chức quan tâm đến

ý thức chấp hành luật GTĐB của SV toàn Thành Phố nói chung và SV các trường trong mẫu nghiên cứu nói riêng

Trang 9

6 Kết cấu đề tài :

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, đề tài gồm có 2 chương :

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thắng, trên internet

- Đọc tài liệu

-Xây dựng bảng hỏi

- Chọn mẫu

- Phát bảng hỏi tại 3 trường: ĐH KHXH&NV,

ĐH KHTN,

ĐH BK

- Phỏng vấn sâu tại 3trường:ĐH KHXH&NV,ĐH KHTN, ĐH BK

- Xử lý SPSS

- Gỡ băng phỏng vấn sâu

- Viết báo cáo các phần: dẫn nhập, cơ sở lý luận, kết quả nghiên cứu, kết luận – kiến nghị

- Chỉnh sửa báo cáo

- Nộp báo cáo

Trang 10

Học Bán Công Tôn Đức Thắng, Khoa Xã Hội Học - Trường ĐHKH XH & NV

TP HCM cùng các bạn trong tập thể K11B - Khoa xã hội học

Đặc biệt là sự tận tình chỉ bảo của người hướng dẫn đề tài cô giáo Nguyễn Thị Hồng đã bỏ không ít thời gian và công sức giúp đỡ nhóm hoàn thành đề tài này Ngoài ra các văn phòng Đoàn, Phòng Công Tác Quản Lý Sinh Viên cùng các bạn sinh viên các Trường Đại Học Bách Khoa, Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn thuộc ĐHQG TP HCM đã giúp

đỡ tận tình nhóm nghiên cứu hoàn thành tốt đề tài

Khó khăn

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thì nhóm chúng tôi cũng gặp phải một số khó khăn nhất định như kiến thức về phương pháp nghiên cứu xã hội học còn hạn chế, đây là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện đề tài NCKH nên cũng còn nhiều thiếu sót

do chưa có kinh nghiệm trong nghiên cứu và cũng gặp nhiều khó khăn trong việc

thu thập tài liệu từ các ban ngành liên quan đến đề tài này

Trang 11

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình tìm hiểu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ, chúng tôi nhận thấy rằng đây là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình thuộc nhiều ngành ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau Những đề tài, dự án hay những buổi thảo luận khoa học, hội nghị xoay quanh vấn đề đó như dự án xây dựng giao thông

đô thị, hội thảo giải quyết ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, … Việc nghiên cứu về ý thức đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông đường bộ của sinh viên là vấn đề khá mới mẻ; trong khuôn khổ thông tin mà chúng tôi tiếp cận có những đề tài, những nghiên cứu sau:

Kế hoạch “ Thực hiện một số giải pháp cấp bách nhằm giảm tai nạn giao

thông và giảm ùn tắc giao thông trên địa bàn TP.HCM từ nay đến quý 1 năm 2008” của Sở Giao thông công chính Kế hoạch chỉ ra nguyên nhân khách quan và

chủ quan của việc ùn tắc giao thông; đề tài nêu ra các giải pháp nhằm thực hiện như tổ chức thực hiện ngay việc học tập làm việc lệch ca, lệch giờ, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức việc chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông … Những giải pháp này đã và đang thực hiện có hiệu quả trên địa bàn thành phố

Trong đề tài luận văn tốt nghiệp “Ý thức chấp hành luật giao thông đường

bộ của SV TP.HCM” điển cứu 3 trường gồm: Trường ĐH KHXH & NV, Trường

ĐH Ngân Hàng, ĐH bán công Tôn Đức Thắng của sinh viên La Quốc Hùng - Khoa học xã hội - Trường Đại Học bán công Tôn Đức Thắng Trong đề tài tác giả

đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của

SV TP HCM, các yếu tố tác động đến ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ

Trang 12

của SV như quá trình xã hội hóa, hệ thống kiểm soát xã hội tác động đến ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của SV khi tham gia giao thông

Dự thảo “ Về ban hành chương trình giảm ùn tắc giao thông và tai nạn

giao thông trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2007 -2010” của Sở Giao thông công

chính TP HCM Dự thảo nêu rõ thực trạng giao thông TP HCM giai đoạn 2001 –

2006, tình hình tai nạn giao thông và sự đáp ứng cơ sở hạ tầng của quản lý giao thông đô thị… Đặc biệt đưa ra bảy nhóm giải pháp giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông trên địa bàn TP HCM đến năm 2010 như là phát triển tăng cường hiệu quả hoạt động vận tải hành khách công cộng và hạn chế các phương tiện giao thông cá nhân, tăng cường biện pháp quản lý nhà nước đảm bảo trật tự giao thông

đô thị …

Luận văn tốt nghiệp “ Khảo sát sự tham gia của người dân trong quá trình

nâng cấp, sửa chữa hạ tầng giao thông đô thị tại TP HCM “ điển cứu tại hẻm 118

- Đường Lê Trọng Tấn - Khu phố 5 - Phường Tây Thạnh - Quận Tân Phú - TP HCM của sinh viên Nguyễn Diệp Quý Vy - Khoa Xã hội học - Trường ĐH KHXH

& NV TP HCM Đề tài nhấn mạnh ý thức của người dân trong quá trình thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm“ Đề tài cho thấy rõ hơn về hiệu quả của việc làm này, qua đó nhằm hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của người dân trong việc thực hiện chính sách, nâng cao ý thức tự giác của người dân thành phố trong việc nâng cấp cở sở hạ tầng giao thông đô thị

Trên Báo Tuổi Trẻ ngày 08/12/2007 trước ngày có quy định bất buộc đội

mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường Bài “ Tôi thoát chết nhờ mũ bảo hiểm “

trong mục “ Người trong cuộc “ tác giả bài báo miêu tả vụ tai nạn giao thông chính mình may nhờ đội mũ bảo hiểm mà thoát chết Bài báo cho thấy rõ hơn về tác dụng của việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy, giúp người đọc thấy tầm quan trọng của chiếc mũ bảo hiểm

Cũng trên báo Tuổi Trẻ ra ngày 16/12/2007 có bài viết “Không đội, thấy … không

giống ai”.Bài báo viết “Sáng ngày 15/12/2007 trên đường phố TP HCM ngập tràn

hình ảnh người dân đội mũ bảo hiểm Theo ghi nhận của Báo Tuổi Trẻ không chỉ trong các trục đường lớn mà trong nhiều con đường hẻm đường nhánh người dân

Trang 13

tự giác đội mũ bảo hiểm dù không có lực lượng cảnh sát giao thông kiểm tra xử phạt Theo nhận định của Thượng Tá Trần Sơn Hà - Phó cục trưởng Cục cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt: trong ngày đầu tiên thực hiện bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người điều khiển phương tiện xe mô tô, xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường 99% người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy đã chấp hành tốt quy định đội mũ bảo hiểm

Tại hội thảo quốc tế về giao thông đô thị lần thứ 13, Ủy ban nhân dân thành phố có Cử đoàn công tác của Uỷ ban Khoa học Quốc tế Việt Nam do ông Nguyễn Trọng Hoà, Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc làm trưởng đoàn, đi công tác tại Hoa Kỳ, tham dự hội nghị của Uỷ ban khoa học Quốc tế từ ngày 14-16/01/2008, nhân dịp Ngân hàng Thế giới tổ chức hội nghị thường niên lần thứ 87 về giao thông đô thị Giao Giám đốc Sở Giao thông Công chính chủ trì, phối hợp với Sở Ngoại vụ và Sở Tài chính rà soát, đề xuất hạn mức kinh phí Phối hợp với Sở Quy hoạch Kiến trúc và Sở Ngoại vụ rà soát chương trình nghị sự năm 2008 giữa thành phố với phía Pháp Giao Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư thành phố phối hợp với Sở Ngoại vụ để hỗ trợ cho Vùng Rhone-Alpes làm thủ tục thành lập một Trung tâm xúc tiến thương mại của Vùng tại thành phố Hồ Chí Minh Những hội nghị quốc tế giúp chúng ta học hỏi những kinh nghiệm cũng như sự giúp đỡ của các nước trong quá trình phát triển giao thông đô thị

Ngoài ra, Ban an toàn giao thông thành phố phối hợp thành đoàn tổ chức các hoạt động tuyên truyền an toàn giao thông từ nay đến quý I năm 2008.Thực hiện kế hoạch liên tịch số 04/KHLT-TĐ-BATGT ngày 29/4/2007 ký kết giữa Ban ATGT Thành Phố và Thành đoàn về phối hợp thực hiện công tác bảo đảm trật tự

an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2008, ngày 15/11/2007, Thành đoàn đã có kế hoạch số 71-KH/TV về tổ chức các hoạt động tuyên truyền an toàn giao thông từ nay đến hết quý I năm 2008 chương trình này gồm các hoạt động cụ thể như thiết kế in ấn poster,pano,tờ rơi tuyên truyền giao thông, tổ chức cuộc thi “Câu chuyện An toàn giao thông”,…Theo đó, từ nay đến hết quý I năm 2008, Thành đoàn sẽ phối hợp với Ban ATGT TP tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động giáo dục ý thức tự giác chấp hành luật giao thông

Trang 14

đường bộ, tự giác chấp hành quy định đội mũ bảo hiểm trong đoàn viên, thanh niên, nhân dân thành phố, đặc biệt là học sinh, sinh viên, thanh niên công nhân tại các khu chế xuất, khu công nghiệp Đây là một trong những hoạt động thiết thực của thành đoàn thu hút giới trẻ tham gia

1.2 CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI

Mỗi một đề tài đều có cách tiếp cận riêng để giải quyết vấn đề Trong đề tài này chúng tôi sẽ tiếp cận trên góc độ xã hội học mà cụ thể là trên góc độ xã hội hóa và văn hóa

1.2.1 Góc độ xã hội hóa

Xã hội là nơi phản ánh những vấn đề xảy ra hàng ngày Để biết được một việc nào đó diễn ra như thế nào chúng ta nhìn vào xã hội Để biết được ý thức khi tham gia giao thông của người dân nói chung và của sinh viên nói riêng thì môi trường xã hội là nơi thể hiện rõ nhất vấn đề này

Ý thức là của mỗi cá nhân tuy nhiên từ ý thức của mỗi cá nhân hình thành nên ý thức của xã hội, và từ ý thức của xã hội có tác động đến các cá nhân Khi một cá nhân có ý thức trong việc chấp hành luật lệ giao thông sẽ có tác động đến

cá nhân khác Và như vậy tất yếu nó sẽ hình thành nên ý thức cho xã hội

Với đề tài “ Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên Đại học Quốc gia TP HCM” khi ngồi trên xe mô tô, gắn máy chúng tôi sẽ tiếp cận trên góc độ xã hội hóa Cùng với quá trình phát triển của xã hội thì mỗi cá nhân có sự thay đổi và điều chỉnh bản thân cho phù hợp với xã hội đó Xét trên phương diện

xã hội, chúng tôi nhận thấy rằng trước khi chưa có quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi trên xe môtô, xe gắn máy thì mọi người chỉ đội MBH ở những tuyến đường bắt buộc và từ sau khi có quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường khi ngồi trên xe môtô, xe gắn máy thì hầu như tất cả mọi người đều chấp hành nghiên chỉnh Từ đó xét một cách toàn diện quy định này được mọi người đồng tình, ủng hộ và sinh viên cũng không nằm ngoài số đó Bên cạnh đó cũng có một số trường hợp vì lý do chủ quan hay khách quan nào đó nên chưa thực hiện đúng quy định này

Trang 15

Tóm lại, khi đứng trên góc độ xã hội hóa để xem xét sẽ giúp chúng ta thấy được những quy định của luật giao thông nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng có được mọi người chấp hành đúng quy định hay không

1.2.2 Góc độ văn hóa

Khi xem xét vấn đề này ở góc độ văn hóa chúng tôi sẽ nhìn nó ở nhận thức của cá nhân Sinh viên là tầng lớp có thể nói rằng có nhận thức trong xã hội Do vậy ý thức về luật giao thông của sinh viên cao

Đứng trên góc độ văn hóa chúng ta có thể thấy được nhận thức của cá nhân khi tham gia giao thông Đó là những thái độ, hành vi khi tham gia giao thông của sinh viên nói riêng và của mọi người trong xã hội nói chung Văn hóa thể hiện trên đường phố để đánh giá được văn minh của người dân

Đồng thời qua cách tiếp cận trên góc độ văn hóa cũng giúp chúng tôi thấy được nhận thức của sinh viên như thế nào trong việc chấp hành luật giao thông và qua đó cũng thấy được mức độ tiếp thu luật của sinh viên đã tốt hay chưa

Tóm lại, khi tiếp cận ở góc độ văn hóa chúng tôi sẽ biết được hành vi ứng

xử trong những tình huống khi tham gia giao thông của sinh viên để qua đó có cái nhìn về nhận thức của sinh viên khi tham gia giao thông

1.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích của cuộc nghiên cứu trong đề tài này Đồng thời qua các

lý thuyết mà chúng tôi đã áp dụng, chúng tôi đưa ra một số các giả thuyết sau: Ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên Đại học quốc gia TP HCM rất tốt Sinh viên luôn chấp hành mọi quy định do luật giao thông đường bộ đưa ra

và nhanh chóng tiếp thu

Quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe môtô, gắn máy khi tham gia giao thông trên tất cả các tuyến đường được các sinh viên đồng tình và chấp hành

Trang 16

1.4 MÔ HÌNH KHUNG PHÂN TÍCH

1.5 CÁC LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

Để làm nền tảng cho bài viết có tính lôgic và hợp lý, trong đề tài này chúng

tôi sẽ áp dụng các lý thuyết sau:

1.5.1 Lý thuyết cấu trúc – chức năng

Lý thuyết cấu trúc – chức năng gắn liền với tên tuổi của Talcott Parsons,

ông là nhà xã hội học vi mô của Mỹ, ông đã phát triển lý thuyết cấu trúc – chức

năng đến đỉnh cao (Rorbert Merton…)

Việc chấp hành luật GTĐB (ĐMBH)

Suy nghĩ và hành động

Trang 17

Lý thuyết cấu trúc chức năng là lý thuyết mô tả các cấu trúc xã hội và các chức năng tương ứng với mỗi loại cấu trúc

Ơ đề tài này chúng tôi sẽ áp dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng của T Parsons Ông xem xã hội là một hệ thống “hành động” thể hiện qua lược đồ AGIL nổi tiếng của ông

AGIL: một chức năng là “một phức hợp các hoạt động trực tiếp hướng tới

sự gặp gỡ một nhu cầu hay những nhu cầu của hệ thống” Với định nghĩa này thì Parson tin rằng có 4 yêu cầu tất yếu đối với mọi hệ thống đó là : Sự thích nghi (A),

sự đạt được mục tiêu (G), sự hòa hợp (I), và sự tiềm tàng (L)

 Thích nghi (Adaption) : Theo Parsons một hệ thống xã hội phải tăng

khả năng thích ứng để thực hiện cc chức năng cơ bản của nĩ Nó phải thích nghi với môi trường và làm cho môi trường thích nghi với các nhu cầu của nó

 Đạt được mục tiêu (Goal attainment) : Một hệ thống phải xác định và

đạt được các mục tiêu cơ bản của nó

 Hòa hợp ( Integration) : Một hệ thống phải điều hòa mối tương quan

của các thành tố bộ phận Nó cũng phải điều hành mối quan hệ trong 3 yếu tố chức năng còn lại

 Sự tiềm tàng (Latenci) : Một hệ thống phải cung cấp, duy trì, và tân tạo

cả động lực thúc đẩy của các cá thể cũng như các khuôn mẫu văn hóa đã sáng tạo

và duy trì động cơ thúc đẩy.1

Theo lý thuyết cấu trúc chức năng áp dụng trong đề tài này thì ý thức tham gia giao thông cũng là một cấu trúc của xã hội

Thích nghi : Hệ thống luật giao thông được đề ra xuất phát từ việc mong

muốn của Nhà nước là mọi người đều chấp hành đúng Đồng thời cũng qua đó để các cơ quan chức năng thấy được những điều luật đã thực sự phù hợp hay chưa

Đạt được mục tiêu : Khi đưa ra một điều luật nào đó nhà làm luật luôn

muốn đạt được mục tiêu của mình đó là nhận được sự đồng tình của người dân Mục tiêu ở đây là tất cả mọi người đều có ý thức chấp hành góp phần làm cho giao thông được lưu thông thuận lợi hơn

1

Các lý thuyết Xã Hội Học – Vũ Quang Hà (Trang 146)

Trang 18

Sự phối hợp : Luật đưa ra phải xuất phát từ lợi ích của người dân Tạo cho

mọi ngừời chấp hành đúng luật, hình thành ý thức chấp hành của các cá nhân để từ

đó hình thành nên ý thức của xã hội Do đó phải có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân

Sự tiềm tàng : Tạo thói quen chấp hành luật giao thông đường bộ của mọi

người, Trong tương lai khi hệ thống giao thông được hoàn thiện hơn nó sẽ làm thỏa mãn mong muốn của người làm luật đó là tất cả mọi người đều thực hiện nghiêm chỉnh luật giao thông

Sự phát triển của hệ thống giao thông cũng như những luật lệ được ban hành sẽ góp phần làm cho người dân có ý thức hơn khi tham gia giao thông Từ đó

sẽ ảnh hưởng đến các tiểu cấu trúc còn lại như văn hóa, du lịch,… người dân có ý thức hơn khi tham gia giao thông thì sẽ tạo nên một đường phố văn minh

Ap dụng lý thuyết này của Parsons trong đề tài nghiên cứu này chúng ta có thể xem ý thức chấp hành luật giao thông mà trọng tâm là việc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe môtô, gắn máy của sinh viên là hệ thống cá nhân gồm nhiều mặt trong đó có nhận thức, rèn luyện, học tập, và hành vi điều khiển xe khi lưu thông

Hệ thống hành động xã hội này cũng bị chi phối của hệ thống cá nhân và nó thực sự chịu tác động của nhiều yếu tố như tâm sinh lý cá nhân, lứa tuổi, gia đình, bạn bè… và nó cũng bị chi phối bởi tình hình kinh tế – xã hội của cả nước hay bởi

mô hình văn hóa bao gồm văn hóa gia đình, lối sống, sở thích và tâm lý của từng người

1.5.2 Lý thuyết hành động

Max Weber và G.H Mead đều đưa ra lý thuyết về hành động nhưng hai ông lại có mục tiêu khác nhau Weber quan tâm tới các nhóm cá nhân, các nhóm người, Mead lại quan tâm tới cơ chế hình thành hành động xã hội thông qua quan hệ liên

cá nhân

Vào thế kỷ XX, Max Weber đưa ra thuyết hành động, ông cho rằng nếu một

lý thuyết tập trung vào cá nhân thì không thể bỏ qua các yếu tố chủ quan của cá nhân: tình cảm, suy nghĩ, tư tưởng Nếu coi ứng xử của con người như một phản

xạ trả lời một kích thích thì con người không khác bao nhiêu so với động vật Con

Trang 19

người ngoài việc phản xạ với các kích thích từ môi trường, còn suy nghĩ về nó và lựa chọn những cách ứng xử một cách có trí tuệ và tuân theo tình cảm của mình

Ông đã đưa ra một hệ thống mang tính khuôn mẫu bao gồm bốn kiểu hành động để các nhà nghiên cứu có thể dựa trên đó phân tích trong bối cảnh thực:

 Hành động do cảm xúc: Ông cho rằng phần lớn hành động của con

người thực hiện là do cảm xúc

 Hành động mang tính truyền thống: là khi con người hành động theo

một thói quen, xuất phát từ những gì được xã hội hóa ngay từ thủa còn thơ

 Hành động hợp lý về giá trị: là hành động có tính định hướng về giá trị

 Hành động hợp mục đích: người hành động phải suy nghĩ và quyết

định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích.2

Ap dụng lý thuyết hành động với quan điểm này của Max Weber trong đề tài này chúng ta thấy rằng: mỗi cá nhân có những hành động khác nhau trong việc thực hiện những quy định của luật GTĐB Mỗi cá nhân có những lựa chọn hành động riêng của mình mà cá nhân đó thấy hợp lý đối với bản thân mình Việc chấp hành luật GTĐB là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công nhân, tuy nhiên không phải ai cũng chấp hành nghiêm chỉnh

Để hành động của cá nhân phù hợp với những quy định đưa ra cá nhân đó phải được dạy dỗ và hướng dẫn ngay từ nhỏ để từ đó thấy được mục đích hành động của mình đem lại những lợi ích như thế nào

Vấn đề đội MBH khi ngồi trên xe môtô, xe gắn máy tuy là quy định bắt buộc mọi người chấp hành nhưng nó cũng tùy thuộc vào hành động của mỗi cá nhân Họ thấy đượnhững lợi ích khi đội MBH thì tất yếu họ sẽ có những hành động đúng đắn

Tóm lại, bốn loại hành động trên theo Weber phải đan xen nhau, nó không tách rời nhau Cá nhân muốn thực hiện hành động của mình phải trải qua quá trình tìm hiểu từ lợi ích đến mục đích của hành động đó

Trang 20

Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của Jame.S.Coleman Định hướng chọn lựa hợp lý của Coleman rõ ràng trong ý tưởng cơ bản của ông rằng “Hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó định hình bởi các giá trị hay sở thích” 3 và như vậy theo ông có nhiều nguyên tắc, cơ cấu đi từ sự chọn lựa hợp lý cá thể đến sự chọn lựa hợp lý của tập thể Đồng thời các hoạt động của các đoàn thể và hành động của con người đều có mục đích Vì thế cá thể cũng như tập thể lựa chọn cho mình những hướng đi thích hợp để đạt được mục đích của mình

Khi vận dụng lý thuyết này vào đề tài này chúng ta thấy rằng những suy nghĩ, lựa chọn hành vi hợp lý của nhóm đối tượng này dưới tác động của một loạt yếu tố là có sự khác nhau Bởi lẽ mỗi cá nhân tùy thuộc vào những đặc điểm về lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, lối sống, sở thích sẽ có hành động và chọn lựa hợp

lý phù hợp với quy định của pháp luật có lợi cho bản thân và giúp ích cho cuộc sống

Việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe môtô, gắn máy trên tất cả các tuyến đường được sinh viên nói riêng và người dân nói chung thực hiện

nghiêm chỉnh vì nó đảm bảo an toàn cho chính bản thân họ và gia đình

1.6 THAO TÁC HÓA CÁC KHÁI NIỆM

Đây là ý nghĩa mà đề tài sử dụng

Theo đó nói đến ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cụ thể ý thức ĐMBH khi đi mô tô xe máy của SV ĐHQG TP HCM là nói đến nhận thức thái độ hành động, hành vi trong chấp hành luật giao thông đường bộ

3

Các lý thuyết Xã Hội Học _ TS Vũ Quang Hà (trang 447)

Trang 21

1.6.2 LUẬT

Phép tắc quy định buộc mọi người phải tuân thủ (Từ điển Tiếng Việt nhiều tác giả, NXB thống kê, 1994 )

1.6.3 LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002, Luật GTĐB quy định những nguyên tắc GTĐB, các điều kiện đảm bảo an toàn GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ

Luật GTĐB áp dụng đối với cơ quan tổ chức cá nhân hoạt động sinh sống trên lãnh thổ nước CHXHCNVN; trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN ký kết hoặc tham gia có quyết định khác với luật giao thông đường

bộ thì áp dụng những quy định của điều ước quốc tế đó

1.6.4 SINH VIÊN (SV)

Từ ngữ ‘’Sinh Viên’’ có nguồn gốc từ tiếng La tinh, chữ Student, có nghĩa

là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, tìm hiểu khai thác trí thức

SV là bộ phận ưu tú trong thanh niên, là một tầng lớp xã hội được tuyển chọn qua thi cử, có sức khỏe, có văn hóa, nhạy cảm với cuộc sống; được giáo dục rèn luyện và đào tạo chuẩn bị cho hoạt động lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn nào

đó, là thế hệ kế thừa cho tương lai

SV là những người đã chuẩn bị để gia nhập đội ngũ tri thức xã hội Lênin đã đánh giá “SV là bộ phận nhạy cảm nhất của thế giới tri thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên’’

SV có lứa tuổi 18 – 25 tuổi Đây là lứa tuổi đang trưởng thành về mặt xã hội, chín muồi về thực lực, định hình về nhân cách và đang học tập, tiếp thu những tri thức, kĩ năng của một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định với trình độ cao đẳng, đại học

1.6.5 TAI NẠN GIAO THÔNG (TNGT)

Tai nạn giao thông đã có từ rất lâu trong lịch sử với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của nó Về cơ bản TNGT có đặc tính sau :

Trang 22

 Được thực hiện bằng những hành vi cụ thể

 Gây ra những thiệt hại nhất định về tính mạng, sức khỏe con người tài sản

 Chủ thể thực hiện hành vi cuối cùng trong TNGT cụ thể phải là đối tượng tham gia và hoạt động giao thông

Như vậy nhóm chúng tôi có thể định nghĩa TNGT như sau : TNGT là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường do vi phạm các nguyên tắc an toàn giao thông hay đã gặp tình huống sự việc đột xuất không kịp phòng tránh gây thiệt hại nhất định cho người và của

 Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB)

TNGTĐB là tai nạn giao thông xảy ra đối với những phương tiện giao thông đang tham gia giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên tuyến đường chuyên dùng đối với người đi bộ

+ Vật liệu làm mũ phải chịu được thời tiết, nhiệt độ, không gây độc hại, dị ứng cho

da tóc và ảnh hưởng đến sức khỏe con người

+ Khối lượng của mũ không nặng quá 1,5 kg đối với mũ che cả hàm và không quá 1,0 kg đối với mủ che nửa đầu, mũ cho trẻ em không quá 1,2 kg đối với mũ che cả hàm và 0,8 đối với mũ che nửa đầu

+ Mũ và các vật gắn trên mũ không được có gò sắt, nhọn không sử dụng các bu lông, ốc, vít bằng kim loại

+ Vỏ cứng của mũ phải che được các bộ phận cần bảo vệ của đầu và phải đảm bảo tầm nhìn cho người đội

+ Phải chịu được va đập ( không nứt vỡ ) và hấp thụ được xung động

+ Khi thứ đâm xuyên mũi không được chạm tới đầu

Trang 23

+ Quai đeo phải có khóa và phải đảm bảo độ bền, độ co giãn phải nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo ổn định theo tiêu chuẩn

+ Kính chắn gió (nếu có) không làm sai lệch hình ảnh, đảm bảo độ truyền sáng, khi vỡ không tạo thành các mảnh có góc quá nhỏ dể gây thương tích cho người đội

1.6.7 LUẬT BẮT BUỘC ĐỘI MŨ BẢO HIỂM ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐI XE MÔTÔ, XE GẮN MÁY

Công điện của thủ tướng chính phủ ngày 14/09/2007 tại Hà Nội đã đưa ra 6

yêu cầu để thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả một số giải pháp cấp bách kiềm chế tai nạn giao thông nêu tại nghị quyết 32/2007/NQ – CP ngày 29/06/2007 của Chính Phủ Điều đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đảm bảo an toàn giao thông Trong đó, việc thực hiện bắt buộc đội mũ bảo hiểm là điều đầu tiên trong công điện

- Các cán bộ ngành, địa phương truyền thông tuyên truyền rộng rãi việc quy định đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy và các quy định khác có liên quan đến trật tự an toàn giao thông, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, khẩu hiệu, pa nô, áp phích và các tờ rơi

- Đi cùng với công điện, Văn Phòng Chính Phủ cũng đã đưa công văn số 5008/VPCP - VN đến các Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ công thương, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải và Ủy ban an toàn giao thông quốc gia về việc quản

lý chất lượng mũ bảo hiểm

Trang 24

CHƯƠNG II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Thực trạng về ý thức chấp hành luật giao thơng đường bộ khi tham gia giao thơng của sinh viên Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP HCM)

2.1.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu:

 Điều kiện kinh tế xã hội

TP.HCM là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của đất nước, thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số so với cả nước (năm 2005) Là thành phố cĩ tốc độ phát triển kinh tế cao, cĩ nền kinh tế năng động nhất, đi đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng Do vậy, mức đĩng gĩp GDP lớn cho cả nước, tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cá nước Hiện nay khi cả nước bước vào thời kỳ cơng nghiệp hĩa – hiện đại hĩa thành phố phát huy những lợi thế của mình với những chính sách, phương pháp cải tiến thì trong tương lai khơng xa TP.HCM khơng chỉ là trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước mà cịn là điểm thu hút vốn đầu tư lớn của khu vực Tuy nhiên muốn đạt được điều đĩ thành phố cần nổ lực hơn nữa, nhất là

cơ sở hạ tầng thành phố chưa đáp ừng được cho quá trình cơng nghiệp hĩa hiện đại hĩa

Song song với nền kinh tế phát triển thì TP.HCM cũng là thành phố đơng dân cư Dân số Thành Phố năm 2001 là 5.285.454 người, đến cuối năm 2006 là 6.424.000, tức tăng 21.5% Do đĩ, thành phố thực hiện hạn chế gia tăng dân số để đạt đến ngưỡng là 7,2 triệu người năm 2010 theo Nghị quyết Đại hội Đảng thành phố lần thứ VIII đã đề ra Đặc biệt đây là thành phố cĩ số lượng dân nhập cư lớn, hầu hết dân nhập cư vào Thành Phố kiếm việc làm, học tập Chính điều này buộc thành phố phải đối mặt với tệ nạn xã hội, ơ nhiễm mơi trường,…Dân số tăng cùng quá trình cơng nghiệp hĩa hiện đại hĩa nhanh mà cơ sở hạ tầng của ngành giao thơng chưa đáp ứng được dẫn dến tình trạng như ngập lụt, ùn tắc giao thơng … đang làm đau đầu các nhà lãnh đạo thành phố Mặc dù cịn gặp khĩ khăn trong quá trình phát triển nhưng năm tháng đầu năm 2008 nền kinh tế thành phố đạt ước thực hiện 52.583,8 tỷ đồng đạt 53,2% dự tốn cả năm tăng 97,7% so cùng kì (cùng kỳ 23,3%), các khu vực kinh tế đều tăng, doanh nghiệp nhà nước 60,8%, doanh nghiệp doanh nhân tăng 78,5%, doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi 59,3%, và

sẽ tiếp tục tăng trưởng

TP.HCM luơn giữ vững là trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước, thành phố đĩng gĩp lớn vào trong quá trình xây dựng đất nước Để giữ vững và phát triển thành phố cần cĩ những chính sách cải tiến, phù hợp để giải quyết những khĩ khăn

và thu hút nhiều hơn vốn dầu tư vào thành phố

Tình hình giao thông ở TP HCM hiện nay

TP.HCM diện tích 2.095 Km2 hiện cĩ 3.365 con đường với tổng chiều dài khoảng 3.223 km, với mật độ diện tích giao thơng so với tổng diện tích của TP.HCM mới chỉ đạt 1,44 km 2 so với mật độ diện tích đường trên diện tích chung

Trang 25

là 1,7% Theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến để đáp ứng nhu cầu giao thông thông suốt mật độ diện tích đường so với diện tích chung phải đạt từ 10% – 20%

Ngoài ra, phần lớn các đường còn hẹp chỉ khoảng 14% số đường có lòng đường rộng trên 12m – có thể vận chuyển xe buýt và xe khách thuận lợi, 51% số đường có lòng đường rộng từ 7m – 12m chỉ phù hợp cho xe hai bánh lưu thông Tốc độ phát triển đường hiện nay không thể theo kịp quá trình đô thị hóa, mạng lưới đường còn yếu kém nhất là việc sữa chữa đường xá, đào và làm các lô cốt giữa đường gây cẩn trở và ách tác giao thông vào giờ cao điểm

Chính vì cơ sở hạ tầng chưa được nâng cấp, cải thiện nên tình hình giao thông thành phố vẫn dang còn nhiều bất cập Hàng ngày khi chúng ta tham gia giao thông trên địa bàn thành phố nhất là khu vực nội thị thì luôn phải chứng kiến cảnh tắc đường, tình trạng này có nút giao thông kéo dài hàng giờ đồng hồ Nguyên nhân ùn tắc giao thông có nhiều nguyên nhân được đề cập đến như người dân lấn chiếm lòng lè đường để buôn bán, … có nguyên nhân đặc biệt hơn đó là sự gia tăng của các loại phương tiện Theo số liệu thống kê của phòng CSGT - CA TP.HCM trong năm 2006 xe ô tô đã tăng 32.000 xe (10%), xe mô tô tăng 343000

xe Tính đến thời điểm hiện nay thành phố có 3.200000 các loại đăng kí lưu hành trong đó ô tô chiếm 10%

Với số lượng xe tham gia giao thông ngày càng tăng, mật độ diện tích thành phố dành cho việc việc xây dựng hệ thống giao thông mới đạt 1,44km/km2 ; mật độ diện tích đường trên diện tích chung là 1,7% Theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến, muốn đáp ứng nhu cầu giao thông thông suốt thì diện tích đường so với diện tích chung phải đạt từ 10-20% Qua đó ta thấy diện tích đất dành cho giao thông trên địa bàn thành phố còn thấp, phân bố không đồng đều, điều đó góp phần tăng

tai nạn giao thông

Bảng 1: Sự gia tăng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Đăng ký mới Tổng số phương tiện quản lý Thời gian

Trang 26

Với thực trạng tăng nhanh các phương tiện đặc biệt là các phương tiện cá nhân thì tình hình giao thông của thành phố đang đứng trước thách thức Nhìn vào bảng

số liệu cho ta thấy số lượng xe đăng kí tăng nhanh chóng nhất là ô tô, nếu năm

2000 số lượng ô tô chỉ chiếm 7537 chiếc đến năm 2006 lên tới 31985 chiếc Với tốc độ tăng nhanh chóng các loại ô tô trong hệ thống bãi đậu xe phát triển không kịp để đáp ứng nhu cầu đậu xe, thiếu chỗ đậu xe,… dẫn đến tình trạng đậu xe tràn lan đặc biệt là khu vực trung tâm thành phố đã làm gai tăng sự chật chội, giảm đi diện tích đường xe lưu thông, các vi phạm lại càng gia tăng hơn Theo Sở giao thông công chính thì thành phố hiện nay có 33 điểm có nguy cơ ùn tắc giao thông cao, tập trung các trục đường giao thông chính như trục Nam Kì Khởi Nghĩa, Nguyễn Thái Học – Trần Hưng Đạo,…tình hình ùn tắc ngày càng nghiêm trọng (đúng như dự đoán của 5 năm trước đây), có nguy cơ tắc nghẽn Chính vì vậy thời gian đi lại chậm hơn so với nhiều năm trước, đặc biệt là ô tô rất khó đi lạ trong nội

đô thành phố Tuy nhiên, tình trạng giao thông không dừng lại ở đó mà tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố có sự biến chuyển

Bảng 2: Tổng kết tình hình TNGT trên địa bàn TP HCM từ năm 2001-2006

( Nguồn: Phòng Cảnh Sát Giao Thông – Công An TP HCM )

Nhìn vào bảng số liệu cho thấy tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố có giảm nhất vào năm 2005 - 2006 so với trước đó Qua gần 06 năm thực hiện chương trình chống kẹt xe nội thị mà UBND TP ban hành tại QĐ số 90/2001/QĐ – UB ngày 05/10/2001, số vụ tai nạn giao thông giảm được 47%, số người bị thương giảm được 66% và số người chết giảm gần 17%

Theo ý kiến của bạn nam Sinh Viên Đại Học Bách Khoa cho rằng

nguyên nhân của tai nạn giao thông “Là do những người trẻ tuổi đi không ý

thức, cũng có thể do người ta nhậu nhẹt quá chén say xỉn mà tham gia giao thông

Trang 27

thì rất nguy hiểm Do nhiều nguyên nhân như mình cố tình vượt đèn đỏ sẽ xảy ra những sự việc ngoài ý muốn Ngoài những nguyên nhân chủ quan do người điều khiển thì nguyên nhân khách quan do tệ nạn xã hội gây ra như trộm cướp gây ra tai nạn ngoài ý muốn cho người khác Ngoài ra do hệ thống giao thông về mặt đường sá ở thành phố chưa đựơc tốt, có nhiều hầm hố bị hư hỏng chưa khắc phục kịp thời dẫn đến một số tai nạn” (Trích PVS SV Nam, Năm 3, ĐH BK).

Hay bạn sinh viên trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên cũng có ý kiến:

“Nguyên nhân là thứ nhất do ý thức chấp hành giao thông, thứ hai là do … do cái lưu lượng xe TGGT của người dân thành phố ngày càng đông Cho nên … cho nên xảy ra TNGT cũng thường xuyên hơn.” ( Trích PVS SV Nam, Năm 3,

ĐH KHTN)

Một ý kiến khác cũng cho rằng: “Mình nghĩ những yếu tố ảnh hưởng làm

cho tai nạn giao thông gia tăng đó là do một số người điều khiển không có chấp hành đúng luật giao thông, ví dụ như là vượt đèn đỏ hay lái xe quá tốc độ quy định Người đi đường thì đi qua đường không đúng cái vạch dành riêng cho người đi bộ Thì những cái đó nó gây ra tai nạn giao thông nhiều hơn, nếu như mọi người chấp hành đúng luật giao thông thì mình nghĩ tai nạn đó sẽ được giảm thiểu đáng kể Nguyên nhân nữa là có thể do “những tài xế bị say xỉn khi tham gia giao thông.” (Trích PVS SV Nữ, Năm 3, ĐH BK)

Thông tin từ báo Công an cho biết: tháng 4/2008 cả nước có 1.017 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 944 người chết, 684 người bị thương, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước Trên các tuyến đường sắt, tai nạn giao thông cũng giảm: xảy ra

35 vụ với 9 người chết, 23 người bị thương, xử lý 394.000 trường hợp, trong đó có 51.000 trường hợp không đội mũ bảo hiểm

Tuy cả ba mặt là số vụ, số người chết, số người bị thương đều giảm nhưng còn phải phấn đấu hơn nữa để đạt kết quả cao hơn Theo báo cáo tại hội nghị UBATGTQG (Ngày 30- 7- 2008 tại Đà Nẵng) thì 06 tháng đầu năm 2008 trên toàn quốc xẩy ra 6.462 vụ tai nạn giao thông (giảm 15,7% so với 06 tháng đầu năm

Trang 28

2007), làm chết 5.921 người ( giảm 14,4%), bị thương 4.278 người ( giảm 27,6%) Đây là một tín hiệu đáng mừng cho tình hình giao thông chung cả nước

Với những số liệu và phân tích trên cho chúng ta thấy điều kiện kinh tế xã hội

và lĩnh vực giao thông đường bộ ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có rất nhiều vấn đề bất cập đáng quan tâm; nó ảnh hưởng rất lớn đến ý thức chấp hành giao thông của mọi người Mặc dù những số liệu trên thể hiện sự giảm thiểu về tai nạn, thương vong và thương tích nhưng điều chúng ta mong muốn không phải dừng lại

ở đó mà vươn tới một con số thấp hơn nữa để người dân bớt lắng về nó

 Khái quát chung về Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh

ĐHQG TP HCM gồm có các thành viên, đó là khu công nghệ phần mềm; Đại học KHXH & NV; Đại Học Quốc Tế; Đại Học Khoa Học Tự Nhiên; Đại Học Bách Khoa; trường Đại học công nghệ - thông tin; và Khoa Kinh Tế của Đại Học Quốc Gia TP HCM Những trường thành viên nằm rải rác trong TP HCM Tuy nhiên trong giới hạn nhất định nhóm nghiên cứu của chúng tôi chỉ chọn mẫu ở 3 trường: ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn (Quận1), ĐH Bách Khoa( Quận 10),

ĐH Khoa Học Tự Nhiên ( Quận 5)

Nhìn chung vị trí của 3 trường đại học trên đều nằm trên những trục đường chính, giao thông đi lại phức tạp, lượt người cùng với xe cộ lưu thông trên đoạn đường đó tương đối nhiều và thường xuyên gây ách tắc, khó khăn trong việc sinh

viên đi tới trường

2.1.2 Ý thức chấp hành đội mũ bảo hiểm của Sinh Viên ĐHQG TP HCM khi tham gia giao thông đường bộ (khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy)

2.1.2.1 Khái quát mũ bảo hiểm

Nhắc tới MBH hầu như tất cả mọi người đều biết, nhưng từ khi nghị quyết của Chính phủ ban hành bắt buộc người tham gia giao thông ngồi trên xe môtô, xe gắn máy lưu thông trên tất cả các tuyến đường phải đội mũ bảo hiểm vào ngày 15 -12 -

2007 vấn đề này trở nên rất nóng bỏng và được nhiều người quan tâm Bởi mũ bảo hiểm có những ảnh hưởng rất lớn đối với bản thân người sử dụng

 Ưu điểm của mũ bảo hiểm

Trang 29

Mũ bảo hiểm được sản xuất với những ưu điểm nhất định: được cấu tạo bằng một lớp nhựa cứng bên ngoài, bên trong là xốp và thấm (tuy nhiên trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại mũ bảo hiểm có kiểu dáng và chất liệu khác nhau cũng như độ bền của nó) đáp ứng cho mọi thị hiếu của người tiêu dùng Mũ bảo hiểm có tác dụng bảo vệ đầu (sọ não) cho người ngồi trên xe môtô, xe gắn máy khi tham gia giao thông không may để xảy ra tai nạn hay những vật cứng rơi vào đầu

Hinh 1: Cách đội mũ đúng:

Một bạn nam nói về lơi ích của việc đội mũ bảo hiểm “ Nghĩa là nó thật

sự có ích khi mình tham gia giao thông ví dụ khi gây ra tai nạn bảo vệ được cái đầu của mình Cũng như khi đi ban đêm nhỡ người ta đánh lộn nhau hay những nơi không may ném những vật dụng xuống thì cũng bảo vệ được cái đầu” (Trích

PVS SV Nam, Năm 4, ĐH BK)

Việc đội MBH giảm 85% số người chết vì chấn thương sọ não (theo Giám đốc Sở Giao thông Công chính kiêm Phó Trưởng ban chỉ đạo Ban An toàn giao thông TP Trần Quang Phương) Mà theo số liệu thống kê, số người chết vì tai nạn giao thông trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ rất cao Điều này có nghĩa là chúng ta đang mất đi nguồn nhân lực, nguồn chất xám đáng kể hằng năm Chưa kể, có thể

họ là những trụ cột kinh tế, nuôi sống gia đình Họ mất đi sẽ tạo ra gánh nặng cho

xã hội khi phải chăm sóc, nuôi dưỡng những thành viên còn lại trong gia đình

Hiện nay, mũ bảo hiểm với kiểu dáng đẹp, hợp thời trang và trông bắt mắt cho mọi người lựa chọn Tuy nhiên điều đáng lo ngại là chất lượng của nó có đảm bảo cho người sử dụng hay không và điều này được nhiều người quan tâm (nhóm nghiên cứu chúng tôi đưa ra câu hỏi bằng cách phát phiếu (176 phiếu) và 12 bảng

phỏng vấn sâu thì họ đều trả lời: “Rất quan tâm đến chất lựơng của mũ bảo hiểm

Trang 30

vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của mình” – với con số này nói lên mũ

bảo hiểm không đủ chất lượng khi gặp tai nạn cũng không hạn chế được chấn thương sọ não

 Nhựơc điểm của mũ bảo hiểm

Mũ bảo hiểm có những ưu điểm và lợi thế nhất định, tuy nhiên nó có những bất tiện cho người sử dụng Khi được hỏi về sự bất tiện của mũ bảo hiểm thì chúng

tôi nhận được câu trả lời: “Bất tiện chứ, nhất là khi đi dự tiệc nên hầu như đi dự

tiệc người ta thường đi taxi nhiều hơn là vì vậy đó, chứ đi xe máy thường bị ràng buộc nhiều cái, được cái này mất cái kia, nói chung mình phải chấp nhận thôi Với đội mũ bảo hiểm hay bị mất cắp, vướng víu nữa Khi đội mũ sợ mất nên luôn phải giữ mang nhiều phiền phức” (Trích PVS SV Nữ, Năm 4, ĐH BK )

Hay ý kiến bạn nữ khác: “ Ngoài lợi ích đó nó có một số bất tiện như là các

bạn nữ cột mái tóc cao lên cho nó mát, cột ở nhà rất là đẹp rồi, khi đội mũ bảo hiểm lên kiểu tóc nó thay đổi.Với lại cái mũ nó nặng lắm, đeo lên đầu rồi khi mà lái xe nó lắc đi lắc lại khó chịu lắm.” (Trích PVS SV Nữ, Năm 3, ĐH BK)

MBH đã được chứng minh là giúp làm giảm mức độ nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của những ca chấn thương sọ não lên đến 80% do nó hạn chế lực va

đập mạnh lên vùng đầu Đây là đặc tính ưu việt của những chiếc mũ bảo hiểm

Trang 31

(Nguồn: Kết quả xử lý 176 bảng hỏi SV)

Sự không thoải mái hay bất tiện xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, như thói quen, sự vướng víu và thậm chí là do khi đội mũ bảo hiểm gửi xe phải mất thêm tiền hay bị mất trộm khi gửi, … Tuy nhiên khi đã đội thì họ chấp nhận sự bất tiện và điều mà người tiêu dùng quan tâm hiện nay chính là chất lượng của mũ bảo hiểm

Một bạn sinh viên Bách Khoa trả lời khi được chúng tôi hỏi về mức độ quan tâm đối với chất lượng của mũ bảo hiểm : “Đây là vấn đề mọi người lo

lắng nhất là chất lượng mũ bảo hiểm tức là chị thấy không, khi mình chấp nhận sự bất tiện để dành sự an toàn nếu như chiếc mũ bảo hiểm đó không an toàn thì mình không được gì hết.” (Trích PVS SV Nữ, Năm 4 ĐH BK)

Hiện nay trên thị trường MBH bày bán tràn lan không được kiểm định chất lượng, với giá cả thấp thì số lượng MBH này được nhiều người tiêu dùng chọn nhất là những người thực hiện mang tính đối phó Cần có những đoàn thường xuyên kiểm tra chất lượng MBH để đảm bảo an toàn chất lượng; bởi vì những chiếc mũ không đảm bảo chất lượng khi đội tham gia giao thông không những bảo

vệ cái đầu mà còn gây nguy hiểm cho người sử dụng

2.1.2.1 Ý thức chấp hành việc đội MBH của sinh viên ĐHQG TP HCM

Sinh viên là tầng lớp tri thức của xã hội, là những người có học thức và nắm bắt nhanh nhạy các vấn đề xã hội Chính vì vậy, khi chính phủ ban hành nghị quyết bắt buộc đội mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường khi đi mô tô, xe gắn máy sinh viên là những người nhận thức rõ tầm quan trọng của qui định này bởi sinh viên là lực lượng tham gia giao thông đông đảo và thường xuyên Việc tác động nâng cao ý thức giao thông cho đội ngũ này là rất quan trọng bởi là sinh viên

Trang 32

nhưng không phải ai cũng nhận thức đúng vấn đề Trong bảng phỏng vấn chúng tôi đạt ra câu hỏi “ khi gặp đèn đỏ bạn có dừng quá vạch vôi cho phép không?”

Nhìn vào bảng kết quả cho thấy số lượng sinh viên của Trường ĐHKHXH

& NV, trả lời thỉnh thoảng là 20%, ĐHKHTN chiếm 25%, ĐHBK chiếm 18% Ở trường hợp này sinh viên trường ĐHBK có tỷ lệ vi phạm thấp hơn so với hai trường còn lại Đó là con số cho thấy ý thức khi tham gia giao thông của sinh viên ĐHQG TP.HCM vẫn chưa cao

Bảng 4: Ý thức sinh viên khi TGGT đường bộ

Khi gặp đèn đỏ bạn có dừng quá vạch vôi cho phép

Chưa bao giờ

Còn với câu hỏi “Bạn đã bao giờ chở ba người trở lên chưa?” Kết quả chúng tôi thu được sau khi xử lý, số lượng sinh viên trả lời ít vi phạm chiếm tỷ lệ khá cao Trong đó, sinh viên Trường ĐHKHXH&NV chiếm tỉ lệ 28%, Trường ĐHKHTN chiếm tỉ lệ 28%, Trường ĐHBK chiếm tỉ lệ 33% trong tổng 176 người hỏi và trả lời Điều này chứng tỏ rằng tỷ lệ sinh viên thường xuyên chở quá người qui định rất ít, trong qui định này sinh viên chấp hành khá tốt – đúng với giả thuyết đưa ra

Bảng 5: Tỷ lệ vi phạm giao thông chở quá số người qui định

Bạn đã bao giờ chở ba người trở lên chưa?

Bạn sinh viên

trường nào? Thường Thỉnh Ít khi Chưa Khác Tổng

Trang 33

xuyên thoảng bao giờ

(Nguồn: Kết quả xử lý 176 bảng hỏi)

Nhìn chung, ý thức khi tham gia giao thông của sinh viên vẫn còn hạn chế,

tỷ lệ sinh viên chấp hành tốt luật giao thông đường bộ chưa cao Cần nâng cao hơn nữa nhận thức và hiểu biết của sinh viên về luật giao thông đường bộ

Khi chính phủ có nghị định bắt buộc đội mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường khi đi mô tô, xe gắn máy (15/12/2007), thì có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này cũng có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý Còn đối với sinh viên khi được hỏi “mức độ cần thiết của việc đội mũ bảo hiểm” thì phần lớn sinh viên đều cho rằng là cần thiết và quan trọng

Bảng 6: Mức độ cần thiết khi đội mũ bảo hiểm

(Nguồn: Kết quả xử lý 176 bảng hỏi)

Nhìn vào bảng số liệu cho thấy tỷ lệ nhận biết mức độ quan trọng của việc đội mũ bảo hiểm rất cao Số lượng sinh viên cho biết mức độ rất cần thiết là 75 người chiếm 42,6%, không cần thiết có 14 người chiếm tỷ lệ 8% Qua đó cho thấy hơn ai hết sinh viên là người hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việc đội mũ bảo hiểm tránh được những va đập khi gặp sự cố nhất tránh chấn thương sọ não Theo bác sĩ Hoàng Hoa Hải ( Bệnh viện Chợ Rẫy) thì thống kê của các nước tiên tiến trên Thế

Trang 34

giới cho thấy nếu 100% người chạy xe gắn máy đội mũ bảo hiểm (MBH) thì chắc chắn tỉ lệ tử vong do tai nạn giao thông sẽ giảm ít nhất 30% mỗi năm Đồng thời chi phí y tế trong việc chữa chạy các chấn thương do tai nạn giao thông cũng giảm

ít nhất là 25% Như vậy với luật bắt buộc đội MBH cho người đi xe gắn máy, chúng ta đã tiết kiệm một nguồn kinh phí khổng lồ cho Chính phủ Như chúng ta

đã thấy tác dụng của việc đội MBH là rất lớn

theo ban qui dinh doi MBH co can thiet khong?

Bảng 7: Mức độ SV đội mũ bảo hiểm trước khi có quy định bắt buộc của Chính Phuû

Trang 35

(Nguồn: Kết quả xử lý từ 176 bảng hỏi SV)

So sánh kết quả giữa bảng 6 và bảng 7 ta thu được một kết quả khá bất ngờ, có tới 82,9% số sinh viên cho rằng quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm là rất cần thiết bởi nó mang lại những lợi ích cho người tham gia giao thông Nhưng trước khi chưa có quy định thì chỉ có 13,1% số người có đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, tỷ lệ chênh lệch cao hơn 6 lần, điều đó nói lên ý thức tự giác của sinh viên chưa cao, khi chưa có quy định bắt buộc hay cưỡng chế thì không thực hiện

Một bạn nữ sinh viên ĐH Bách Khoa tâm sự: “Trước khi chưa có quy

định thì em không, em không đội chỉ trừ những đoạn đường bắt buộc đội thì em

có đội như đi trên đường xa lộ Từ khi có luật đến giờ em thực hiện đúng, không đội sẽ bị phạt thì sao chị” Nói chung là khi mà chưa có luật đội mũ bảo hiểm trên tất cả các tuyến đường mà có tuyến đường đội, có tuyến đường không đội chưa đồng đều hết nên nhiều lúc mình đội cũng thấy ngại Nhưng từ khi chính phủ có quy định tất cả mọi người đều đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông thì ai cũng như ai nếu mình không đội thì hơi khác người Từ khi có luật đến giờ

em thực hiện đúng, không đội sẽ bị phạt thì sao chị? …” (Trích PVS sv Nữ, năm

4, ĐH BK )

Trang 36

Hình 2 : Cổng trường ĐHKHXH & NV

Hay ý kiến một bạn khác: “ Trước kia đi xe máy trên đường thì mình

không có đội nhưng mà sau khi quy đình thì mình chấp hành nghiêm chỉnh là mình đội Tại vì lúc đó mình cũng chưa có…, tại vì thấy mọi người không ai đội hết trơn nên mình không có đội Mặc dù mình biết đội nó cũng bảo vệ cho mình, mình thấy cái mũ rất là nặng nề” (Trích PVS SV Nữ, Năm 3, ĐH BK)

Phần lớn sinh viên của các trường trước khi chưa có nghị quyết 32/2007/NQ/CP thì ít ĐMBH khi đi môtô, xe máy nhưng từ khi có qui định của chính phủ thì tỷ lệ sinh viên ĐMBH thay đổi mặc dù có những trường hợp đội mang tính chất đối phó

 Ý thức tham gia giao thông của sinh viên ĐHQG TP HCM

Sinh viên là nhóm người có khả năng tiếp cận thông tin và nhận thức cao về tầm quan trọng của luật giao thông Hơn thế nữa sinh viên khi đến trường bằng phương tiện xe máy hầu như tất cả phải có bằng lái xe và học luật giao thông Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên đã vi phạm nói chung và đã từng bị công an thổi phạt cũng chiếm một tỷ lệ rất lớn:

Bảng 8: Mức độ vi phạm luật giao thông của SV ĐHQG TP Tỷ HCM

Số người trả lời Tỷ Lệ (%)

Trang 37

Chưa 102 58.0

(Nguồn: Kết quả xử lý từ 176 bảng hỏi SV) Đây cũng là con số đáng báo động bởi sinh viên là thành phần biết về luật giao thông cao, hàng năm các trường đại học đều tổ chức cuộc thi “Sinh Viên với

An Toàn Giao Thông”, nhưng số vi phạm và bị thổi phạt 42% là con số khá cao Giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng thường thích “chơi trội” kiểu đi xe phóng nhanh vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm sợ làm hỏng kiểu tóc,…chính vì vậy

mà số lượng sinh viên vi phạm luật giao thông xu hướng gia tăng “Tôi có thể gọi giao thông Việt Nam là một cuộc khủng hoảng Ở phương Tây, vượt đèn đỏ là chuyện không thể chấp nhận Nhưng ở đây, nhiều thanh niên coi thế là sành điệu Rất ít người đi xe máy chịu đội MBH, nhiều lái xe thiếu kinh nghiệm” (Greig Craft – Chủ tịch Quỹ Phòng, Chống thương tích Châu Á)

 Ý thức của Sinh Viên ĐHQG sau khi có nghị quyết 32/2007/NQ/CP

Sau khi Chính Phủ ban hành quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm, sinh viên Đại Học Quốc Gia TP HCM phải chấp hành Mặc dù có những người không thích nhưng họ sợ bị thổi phạt nên phải đội Số liệu khảo sát đối với người đội mũ bảo hiển sau khi có quy định

Bảng 9: Mức độ chấp hành giữa nam - nữ khi đội MBH

Bạn cố đội mũ bảo hiểm khi đi môtô, xe gắn máy không?

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS – TS Trần Thị Kim Xuyến ( chủ biên), ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan : nhập môn xã hội học – NXB Đại Học Quốc gia TP. HCM Khác
2. TS Vũ Quang Hà ( chủ biên), ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan : Xã hội học đại cương – NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Jonh. Macionis : Xã hội học – NXB Thống Kê Khác
4. PGS – TS Nguyễn Đình Tấn : Xã hội học đại cương – NXB lý luận chính trị Hà Nội 2005 Khác
5. Trần Hữu Quang: Xã hội học truyền thông đại chúng 6. Tâm Lý học đại cương Khác
7. TS Vũ Quang Hà : Các lý thuyết xã hội học – NXB Đại học quốc gia Khác
8. Phạm Văn Quyết – TS. Nguyễn Quý Thanh, Phương Pháp Nghiên Cứu X hội học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Khác
9. Nguyễn Xun Nghĩa (bin soạn) – Phương Pháp Nghiên Cứu X Hội Học, Trường ĐH Mở Bn Cơng TP. HCM Khác
10. WWW.Google.com.vn 11. WWW.DANTRI.COM Khác
15. Ti liệu cung cấp sở giao thơng cơng chính TP. HCM 16. Ti liệu phịng cảnh st giao thơng TP. HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm